Những vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định chặt chẽ và tiến bộ về chế độ tài sản của vợ chồng. Các văn bản quy định, hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành sau đó cũng đã dự liệu được một số trường hợp phát sinh trong vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng luật. Khi mà sự phát triển của kinh tế - xã hội kéo theo vai trò ngày càng quan trọng của yếu tố tài sản trong mối quan hệ vợ chồng, thì tính ứng dụng của các quy định đó bị giảm bớt, không dự liệu được nhiều tình huống phát sinh trong thực tế tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng, gây lúng túng khi xử lý. Vì vậy cần có những đề xuất, sửa đổi kịp thời để các quy định đó thực sự đi vào đời sống gia đình.

doc14 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 1877 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trong một gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ nền tảng ảnh hưởng tới mọi mối quan hệ khác của gia đình. Quan hệ vợ chồng được phát sinh từ một sự kiện pháp lý đặc biệt đó là kết hôn và được xây dựng từ hai yếu tố: tình cảm và vật chất. Tình cảm là điều kiện cần cho một cuộc hôn nhân bắt đầu và vật chất là điều kiện đủ để duy trì cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Vật chất ở đây hiểu đơn giản là tài sản có thể của chung hoặc của riêng vợ, chồng, liên quan tới quan hệ vợ chồng. Nếu như tình cảm là một yếu tố khó kiểm soát thì ngược lại vấn đề tài sản giữa vợ và chồng được nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua một quy chế trong pháp luật về hôn nhân và gia đình, đó là chế độ tài sản của vợ chồng. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có những quy định chặt chẽ và tiến bộ về chế độ tài sản của vợ chồng. Các văn bản quy định, hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành sau đó cũng đã dự liệu được một số trường hợp phát sinh trong vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng luật. Khi mà sự phát triển của kinh tế - xã hội kéo theo vai trò ngày càng quan trọng của yếu tố tài sản trong mối quan hệ vợ chồng, thì tính ứng dụng của các quy định đó bị giảm bớt, không dự liệu được nhiều tình huống phát sinh trong thực tế tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng, gây lúng túng khi xử lý. Vì vậy cần có những đề xuất, sửa đổi kịp thời để các quy định đó thực sự đi vào đời sống gia đình. Trong phạm vi một bài tiểu luận em xin trình bày những nghiên cứu của bản thân về những vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng. Tuy đã tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhưng bài viết không tránh khỏi những sai sót, rất mong sự chỉ bảo của các thầy cô. A – LÝ luËn chung I. Tài sản chung của vợ chồng 1, Khái niệm Tại Khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.” 2, Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Đối với khối tài sản chung hợp nhất vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình, để thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, hay việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải có sự bàn bạc, thỏa thuận của vợ chồng. Khi hôn nhân còn đang tồn tại, vợ chồng vẫn có thể chia tài sản chung bằng cách tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi chia tài sản chung thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người. II. Tài sản riêng của vợ, chồng 1, Khái niệm Tại Khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.” 2, Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó. Tài sản riêng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng. Trong trường hợp tài sản riêng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt phải có sự thỏa thuận của cả vợ chồng. B – Nh÷ng v­íng m¾c, bÊt cËp vµ h­íng hoµn thiÖn quy ®Þnh cña LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh vÒ chÕ ®é tµi s¶n cña vî chång Vấn đề 1: Xác định tài sản chung, riêng của vợ, chồng 1, Những tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu Khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.” Trong Khoản 1 Điều 5 Nghị Định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 có quy định thêm về các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng bao gồm “nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu” Trong quy định trên bên cạnh nhà ở, quyền sử dụng đất là những tài sản tương đối dễ xác định thì những tài sản khác là tài sản gì vẫn chưa được quy định cụ thể. Trong thực tế khi có tranh chấp về loại tài sản này, một bên vợ hoặc chồng thường dựa vào việc giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên một người để yêu cầu xếp tài sản đó thuộc khối tài sản riêng, cho dù tài sản đó trên thực tế thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy quy định này đưa ra nằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án xác định đúng đắn tài sản chung, tài sản riêng và việc phân chia tài sản. Đây không phải trường hợp duy nhất vướng mắc trong quy định về chứng cứ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng. Tại Khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.” Tuy nhiên tại Nghị định số 70/2001 lại quy định: Việc đăng ký các tài sản, quyền tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng phải ghi tên cả vợ và chồng được thực hiện kể từ ngày Nghị định có hiệu lực; trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã đăng ký quyền sở hữu trước ngày Nghị định có hiệu lực mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ. Nghĩa là không bắt buộc vợ chồng phải đăng ký lại những tài sản chung đã đứng tên một người, nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản riêng của mình thì có nghĩa vụ chứng minh. Trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại Khoản 3 Điều 27 cũng không quy định cụ thể về việc chứng minh tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung ” Quy định này làm nảy sinh vấn đề: cần phải đưa ra những loại bằng chứng nào để chứng minh? Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện không quy định rõ. Trong thực tiễn có nhiều loại bằng chứng như các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng, lời khai của nhân chứng, hóa đơn, chứng từ… thậm chí là cả sự thừa nhận của bên còn lại. Vậy bằng chứng nào có thể chấp nhận được? Luật hôn nhân và gia đình nên có những quy định cụ thể trong vấn đề này để đảm báo tính thống nhất khi giải quyết các vụ việc thực tế. 2, Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân. Hiện chưa có quy định nào ghi rõ hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Có hai quan điểm ngược nhau trong việc giải quyết vấn đề này. Ø Quan điểm thứ nhất xem xét vấn đề dưới góc độ Luật dân sự cho rằng hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của một bên vì chỉ chủ sở hữu tài sản mới có quyền thu lợi phát sinh từ tài sản đó. Ø Quan điểm thứ hai xuất phát từ tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng: tài sản do bất cứ ai, vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt mức đóng góp, không đòi hỏi phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra. Vì vậy, hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân phải thuộc khối tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp ngoại lệ: hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của mỗi người). 3, Đồ dùng, tư trang cá nhân. Theo Khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đồ dùng, tư trang cá nhân được ghi nhận là tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là quy định phù hợp với thực tế bởi đồ dùng, tư trang cá nhân là những tài sản không thể thiếu và thường gắn liền với một người. Tuy nhiên do pháp luật không quy định rõ thế nào là đồ dùng, tư trang cá nhân nên dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau. Mặt khác, do sự phát triển của nền kinh tế, đồ dùng, tư trang cá nhân ngày càng có giá trị lớn, thậm chí rất lớn. Có những đồ dùng, tư trang cá nhân thực sự cần thiết cho công việc, cuộc sống của vợ hoặc chồng và có giá trị không lớn so với khối tài sản chung của vợ chồng. Nhưng cũng có trường hợp những thứ đó tuy không cần thiết lắm nhưng lại có giá trị rất lớn ví dụ như trang sức. Việc quyết định xem đồ dùng, tư trang cá nhân thuộc khối tài sản chung hay riêng cần phải xem xét lại kỹ càng. Nên phân loại cụ thể từng loại đồ dùng, tư trang theo giá trị sử dụng và giá trị quy đổi bằng tiền để dự liệu được tối đa các trường hợp có thể phát sinh. Nếu tiếp tục giải quyết như luật hiện nay thì đã quên mất lợi ích chung của gia đình trong việc sử dụng các tài sản đó. Có ý kiến còn cho rằng nên xem xét đến nguồn gốc của đồ dùng, tư trang cá nhân. Những thứ được mua bằng tài sản chung thì thuộc khối tài sản chung còn những thứ mua bằng tài sản riêng của ai thì thuộc tài sản riêng của người đó. Thực ra việc xem xét nguồn gốc tài sản không đơn giản như vậy bởi tài sản còn có thể có được từ thừa kế hoặc được tặng cho. Thực tế, có nhiều trường hợp trong gia đình khi có con kết hôn, cha mẹ thường tuyên bố cho các con một số đồ dùng hoặc nữ trang. Khi ly hôn, một bên sẽ cho rằng đó là tài sản bố mẹ cho riêng mình nên thuộc khối tài sản riêng, còn bên kia thì cho rằng đó là tài sản chung vì được tuyên bố là cho chung. Thậm chí, cha mẹ khi cho thì tuyên bố là cho chung nhưng khi thấy có tranh chấp lại khảng định là cho riêng. VD: Năm 2001, anh M kết hôn hợp pháp với chị H. Chung sống với nhau được bốn năm thì xảy ra mâu thuẫn và đến năm 2006 hai người thuận tình ly hôn. Về con cái, anh chị đã tự thỏa thuận được với nhau, còn tài sản, đặc biệt là bộ nữ trang tổng trị giá hơn 5 triệu đồng hai người phải nhờ Tòa án giải quyết. Bộ nữ trang là tài sản đáng giá nhất, các tài sản còn lại giá trị không cao, hai người cũng không có bất động sản để tranh chấp. Theo anh M bộ nữ trang này do mẹ anh tặng cho hai vợ chồng vào ngày cưới nên thuộc khối tài sản chung. Còn chị H lại cho rằng đây là tư trang của cá nhân chị nên thuộc tài sản riêng của chị. Như vậy nếu căn cứ vào Khoản 1 Điều 27 thì số nữ trang đó thuộc tài sản riêng của chị H nhưng nếu căn cứ theo lời của anh M thì đây là tài sản hai vợ chồng được tặng cho chung. Đây là trường hợp tương đối phức tạp, không thể chỉ căn cứ máy móc vào luật được vì trong luật trường hợp này không được quy định rõ ràng. Thẩm phán phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra phán quyết vì đây là tài sản có giá trị lớn nhất trong số tài sản tranh chấp. Đối với anh M và chị H việc chia tài sản có thể ảnh hưởng tới cuộc sống sau khi ly hôn của hai người. 4, Tiền trợ cấp thất nghiệp, tiền phụ cấp thương tật của thương binh… Khái niệm về tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Khoản 1 Điều 27 là chưa rõ ràng khi coi những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản chung của vợ chồng. Tiền trợ cấp thất nghiệp, tiền phụ cấp thương tật của thương binh, tiền bồi thường do mất khả năng lao động… có được coi là những thu nhập hợp pháp khác không? Nếu coi đó là tài sản chung để chia thì chẳng khác nào cắt nguồn sống của những người đó. VD: Chị T và anh K sau khi kết hôn được 7 năm thì đưa đơn ra Tòa án xin ly hôn. Tài sản chung của hai người là một ngôi nhà nhỏ, một chiếc xe máy Trung Quốc. Ngoài ra anh K còn được nhận trợ cấp thôi việc một lần với số tiền là 45 triệu đồng. Tại Tòa, anh K cho rằng đó là tài sản riêng của mình còn chị T cho rằng đó là tài sản chung của vợ chồng. Tiền trợ cấp thất nghiệp cũng là một dạng thu nhập về nghề nghiệp, giống như lương hàng tháng chỉ khác là nhận tất cả một lần, vì vậy cũng phải được tính vào tài sản chung. Tuy nhiên bất cập ở chỗ đối với tiền lương hưu, không ai tính số tiền lương hưu sẽ nhận sau khi ly hôn là tài sản chung để chia, vậy tiền trợ cấp thất nghiệp như một khoản “lương hưu sớm” để giúp người được nhận tìm việc làm mới lại bị chia như tài sản chung. Trong cuộc sống vợ chồng nhằm đảm bảo những lợi ích và nhu cầu thiết yếu của gia đình, không tránh khỏi việc trộn lẫn các loại tài sản chung, tài sản riêng với nhau. Ví dụ như tài sản chung của vợ chồng đã được tu sửa bằng phần tài sản riêng của vợ, chồng hoặc ngược lại và trong cả hai trường hợp tài sản đó được làm tăng giá trị lên nhiều lần so với giá trị ban đầu. Luật hôn nhân và gia đình cũng cần dự liệu cụ thể những trường hợp đó để xác định rõ ràng tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Vấn đề 2: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Bên cạnh trường hợp thường gặp là chia tài sản khi vợ chồng ly hôn thì trong thực tế có nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể vì nhiều lí do khác nhau như mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung nên muốn độc lập về tài sản nhưng không muốn ly hôn; một bên muốn đầu tư kinh doanh riêng hoặc thực hiện các nghĩa vụ riêng… Từ thực tế trên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tiếp tục quy định về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30 (Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng đã quy định về vấn đề này tại Điều 18). Quy định này đã khảng định nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ của cá nhân, trong trường hợp này là vợ, chồng khi tham gia vào các quan hệ kinh tế; đồng thời tránh tình trạng những hậu quả không tốt do một bên tự ý gây ra ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình. Tuy trên lí luận quy định này là cần thiết, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nhưng khi áp dụng vào đời sống lại tồn tại nhiều bất cập. 1, Nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chưa quy định cụ thể về nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trước đây trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, tại Điều 18 có quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lí do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.”, tức là chia tài sản như khi ly hôn. Tuy đã dự liệu nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng nếu hiểu theo quy định trên thì chế độ tài sản chung của vợ chồng sẽ chấm dứt kể từ thời điểm phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp lý. Hiểu như vậy là không hợp lý vì quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại nên khối tài sản chung của vợ chồng phát sinh sau đó là không tránh khỏi, chế độ sở hữu chung của vợ chồng trên thực tế là không hề chấm dứt. Đối với trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng không quy định cụ thể vì vậy cũng cần bổ sung nguyên tắc chia đôi cho trường hợp này. Quay trở lại Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nên bổ sung nguyên tắc chia đôi (giống như chia tài sản khi ly hôn) trong việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bởi trong thực tế khi giải quyết các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng từ trước đến nay thì nguyên tắc chia đôi luôn được áp dụng trước tiên. Tuy nhiên rút kinh nghiệm từ Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, chỉ nên bổ sung nguyên tắc chia đôi chứ không nên quy định cụ thể chia như khi ly hôn. 2, Quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và hủy bỏ thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Luật hôn nhân và gia đình chỉ công nhận quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mà không công nhận quyền của người thứ ba trong trường họp này; đồng thời luật cũng không quy định ai là người có thể yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng. Vậy có trường hợp vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng bằng tài sản riêng của họ, nhưng tài sản riêng của người đó không có hoặc không đủ và vợ chồng không có ý định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để trốn tránh nghĩa vụ. Khi đó quyền lợi của người thứ ba có liên quan tới nghĩa vụ tài sản riêng của vợ hoặc chồng sẽ được đảm bảo như thế nào? Trong trường hợp khác, vợ chồng lại thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người có lợi ích liên quan đến nghĩa vụ đó có được yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng hay không? Hay những trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc chăm sóc, giáo dục con cái…, ai là người có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận của vợ chồng? Như vậy pháp luật cũng cần quy định rõ: trong trường hợp người thứ ba có đủ chứng cứ cho rằng việc chia (hoặc không chia) tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là để trốn tránh nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuân chia (hoặc chia) tài sản chung của vợ chồng. 3, Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 có quy định: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.” Quy định này hoàn toàn không hợp lý và mâu thuẫn với nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: tài sản do bất cứ ai, vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt mức đóng góp, không đòi hỏi phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra. Mặt khác, khối tài sản chung của vợ chồng chủ yếu có được từ chính lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác. Áp dụng quy định này có nghĩa là chế độ tài sản chung của vợ chồng gần như không còn tồn tại. 4, Trách nhiệm của vợ, chồng đối với lợi ích chung của gia đình sau khi chia tài sản chung Việc pháp luật không quy định trách nhiệm của vợ chồng đối với lợi ích chung của gia đình sau khi chia tài sản chung là một thiếu sót lớn. Bởi sau khi chia tài sản chung, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng vẫn còn, vợ chồng vẫn có trách nhiệm với nhau và với lợi ích của gia đình, nhưng nhiều trường hợp vợ, chồng thỏa thuận chia toàn bộ số tài sản chung, sau khi chia ai làm người đó hưởng mà quên đi lợi ích chung của gia đình. Luật hôn nhân và gia đình cần bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung. Trong đó ghi rõ về việc vợ, chồng phải đóng góp tài sản để đảm bảo cho những nhu cầu chung của gia đình. Mặc dù trong quan hệ vợ chồng yếu tố tình cảm là nền tảng cơ bản cho sự hình thành nhưng khi xét tới tầm quan trọng thì không thể khảng định được giữa tình cảm và vật chất, cái nào quan trọng hơn. Bên cạnh tình cảm là yếu tố có từ trước hôn nhân thì việc phát sinh và thực hiện các quan hệ về tài sản giữa vợ và chồng là hệ quả tất yếu sau hôn nhân. Phải có quan hệ tài sản mới đáp ứng được những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình cả về vật chất lẫn tinh thần. Thậm chí trong nhiều gia đình hiện đại ngày nay, yếu tố vật chất còn đóng vai trò quyết định cho việc hình thành, duy trì hay chấm dứt quan hệ hôn nhân. Việc này dẫn tới sự thay đổi về bản chất của quan hệ hôn nhân dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa “hôn nhân…là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau. Sự liên kết đó không phụ thuộc vào tính toán vật chất”. Để đảm bảo cho hôn nhân tồn tại theo đúng bản chất của nó dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, pháp luật về hôn nhân và gia đình cần đưa ra những quy định chặt chẽ nhưng đồng thời cũng phải tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Đặc biệt chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những quy chế cần được xem xét, sửa đổi và bổ sung khá nhiều trong giai đoạn hiện nay. Tµi liÖu tham kh¶o 1, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2009 – Trường Đại học Luật Hà Nội. 2, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2003 – Trung tâm đào tạo từ xa, Đại học Huế. 3, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam năm 2009 – Trường Đại học Luật Hà Nội. 4, Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – Nguyễn Văn Cừ - Luận án tiến sĩ luật học năm 2005 – Trường Đại học Luật Hà Nội. Website tham kh¶o 1, 2,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững vướng mắc, bất cập và hướng hoàn thiện quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng.doc
Luận văn liên quan