Khóa luận Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH thương mại Tùng Bách

Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của các doanh nghiệp. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước và tình trạng trong nước và khu vực có nhiều biến động, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp . Quá trình phân tích ở trên đã cho thấy việc sử dụng đồng vốn như thế nào để mang lại hiệu quả cao quả là một vấn đề không đơn giản. Đồng vốn sử dụng không hiệu quả sẽ kéo theo sự trì trệ của quá trình kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh nghiệp sẽ là không hiệu quả nếu như là vốn kinh doanh không được đảm bảo. Để đồng vốn có hiệu quả đòi hỏi phải có những quyết định đúng đắn về phương thức sử dụng vốn . Qua việc nghiên cứu tình hình thực tế tại công ty TNHH TM Tùng Bách, chúng ta thấy thời gian qua công ty đã đạt được những thành tích đáng khích lệ đó là: sản xuất kinh doanh có lãi, đời sống của cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao, đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng nhiều, vị thế của công ty cũng tăng lên. Tuy nhiên, để đạt được những điều đó công ty đã phải trải qua nhiều khó khăn và điều không tránh khỏi là vẫn có những tồn tại. Vì vậy bằng khả năng nhận thức và sự hiểu biết của mình sau thời gian thực tập tại công ty, em mạnh dạn đề xuất một số ý kiến để công ty xem xét nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty.

pdf90 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 11/08/2017 | Lượt xem: 424 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH thương mại Tùng Bách, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DH 94,66% TSLĐ 5,94% TSCĐ 94,06% NVNH 5,34% Năm 2013 TSLĐ 14,25% TSCĐ 85,75% NVNH 7,82% TSLĐ 10,86% NVDH 92,33% NVNH 3,64% TSCĐ 89,14% NVDH 96,36% Năm 2012 Năm 2011 44 Biểu đồ 2.2.Cơ cấu tài sản ngắn hạn Qua biểu đồ cho ta thấy quy mô VLĐ có sự biến động trong giai đoạn 2011 – 2013. Cụ thể là VLĐ năm 2012 tăng so với năm 2011 là 2.528 triệu đồng (tăng 57,72%). Năm 2013 giảm 52,69% so với năm 2012. Sự biến động của từng khoản mục là: Về lượng tiền mặt Hàng năm công ty TNHH TM Tùng Bách luôn giữ một lượng tiền mặt nhất định để đảm bảo việc chi trả thường nhật. Trong năm 2011, mức dự trữ được giữ ở mức 995.441 nghìn đồng (trong đó tiền mặt tại quỹ là 73.243 nghìn đồng, tiền gửi ngân hàng 922.199 nghìn đồng), điều này giúp cho công ty có sự đảm bảo về tính thanh khoản, tuy nhiên cũng khiến công ty mất đi những cơ hội để đầu tư vào các lĩnh vực khác. Nhưng sang đến năm 2012 thì lượng tiền mặt dự trữ của công ty là 409.628 triệu đồng (tiền mặt tại quỹ là 84.824 nghìn đồng, tiền gửi ngân hàng là 324.805 nghìn đồng), đã giảm 585.812 nghìn đồng so với năm 2011, khiến tỷ trọng của khoản mục tiền giảm từ 22,73% xuống 5,93% trong tổng tài sản ngắn hạn. Lượng tiền mặt giảm xuống ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nhanh của công ty. Nhưng sang đến năm 2013 mức dự trữ tiền mặt tăng mạnh so với năm 2012, tăng 968.473 nghìn đồng (tỷ lệ tăng 236,43%), tương đương với tỷ trọng đạt được là 42,16% trong tổng TSNH. Lượng tiền mặt dự trữ của công ty tăng lên giúp cho công ty có thể thanh toán được những tình huống cấp bách. Trong ba năm 2011, 2012 và 2013 ta thấy công ty dự trữ tiền mặt ở mức cao nhưng tiền gửi của ngân hàng luôn cao hơn lượng tiền mặt tại quỹ. Tiền gửi ngân hàng của công ty cao sẽ giúp cho công ty nhận được một mức lãi suất mặc dù mức lãi suất này không cao nhưng vẫn có khả năng sinh lời không như các khoản tiền được quản lý tại quỹ của công ty. .0 2000000000.0 4000000000.0 6000000000.0 8000000000.0 Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn Thang Long University Library 45 Về các khoản phải thu ngắn hạn Biểu đồ 2.3. Các khoản phải thu ngắn hạn (Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2011 – 2013) Từ biểu đồ ta thấy khoản phải thu khách hàng trong cả 3 năm chiếm phần lớn trong các khoản phải thu. Năm 2011 khoản mục phải thu khách hàng chiếm 93,23%, năm 2012 chiếm 99,48%, năm 2013 chiếm 86,54% các khoản phải thu (dựa vào phụ lục 6. Các khoản phải thu ngắn hạn). Theo Phụ lục 3 các khoản phải thu năm 2012 tăng 601.364 nghìn đồng so với năm 2011. Điều này chứng tỏ công ty nới lỏng chính sách tín dụng thương mại, dẫn đến việc có một lượng vốn khá lớn bị khách hàng chiếm dụng, khiến gia thăng các khoản chi phí để thu hồi nợ và rủi ro không thanh toán nợ từ khách hàng. Tuy nhiên đến năm 2013 các khoản phải thu giảm 1.990 triệu đồng tương ứng giảm 79,95% so với năm 2012. Tỷ trọng các khoản phải thu giảm còn 15,27% so với tổng tài sản ngắn hạn. Do công ty nhận thấy những rủi ro và biến động không thuận lợi thị trường, công ty đã thắt chặt chính sách tín dụng hơn so với năm 2012 để cố gắng giảm thiểu rủi ro. Về hàng tồn kho Hàng tồn kho trong công ty có xu hướng giảm qua các năm, từ mức 1.372 triệu đồng ở năm 2011 xuống còn 550.601 nghìn đồng năm 2013, tương đương tỷ trọng trong tổng TSNH là 31,34% năm 2011 giảm xuống 16,85% năm 2013. Hàng tồn kho của công ty năm 2012 giảm 469.910 nghìn đồng, tương ứng giảm 34,23% so với năm 2011. Đến năm 2013 khoản mục này tiếp tục giảm 352.133 nghìn đồng (tỷ lệ giảm 39,01%) so với năm 2012. Chi phí lưu kho chiếm một phần không nhỏ trong phần chi phí của công ty và từ đó làm giảm đi khoản lợi nhuận của công ty. Công ty kinh doanh chủ yếu là vận tải nên kho của doanh nghiệp chủ yếu là dầu Diezel. Để quản lý kho công ty phải bỏ ra không ít các khoản chi phí như chi phí cho bộ phận quản lý kho, chi .0 500000000.0 1000000000.0 1500000000.0 2000000000.0 2500000000.0 3000000000.0 Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Phải thu khách hàng Thuế GTGT được khấu trừ 46 phí hao mòn tự nhiên của nhiên liệu, hàng tháng công ty còn phải bỏ tiền trả lương cho các nhân viên bảo vệ trông kho. Ngoài ra, công ty còn kinh doanh nhà ăn cho nhân viên nên việc hàng tồn kho nhiều sẽ làm các thực phẩm dễ hư hỏng. Vì vậy công ty giảm hàng tồn kho cho thấy công ty đang có chiến lược kinh doanh tốt. Nhưng trong hiện tại công ty chưa áp dụng mô hình quản lý kho, do đó trong thời giam tới công ty nên áp dụng một số mô hình quản lý kho nhằm tối đa hóa lợi nhuận. 2.3.2.2 Cơ cấu nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là một bộ phận quan trong của công ty, đó là những khoản vốn vay có trách nhiệm trả trong vòng một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tại công ty TNHH TM Tùng Bách, nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng thấp hơn nguồn vốn chủ sở hữu của công ty. Dựa vào phụ lục 6 cho ta thấy thống kê chi tiết các khoản nợ ngắn hạn của công ty qua ba năm 2011, 2012 và 2013. Phải trả người án Phải trả người bán là khoản vốn mà công ty chiếm dụng được thông qua tín dụng thương mại được cấp. Các doanh nghiệp hiện nay cấp tín dụng cho Công ty là: Công ty xăng dầu khu vực I, Phòng giao dịch công ty TNHH ô tô Ngôi Sao, Công ty TNHH TM Sao Việt Sáng, một số thu mua ngoài từ khách lẻ, Năm 2011 khoản phải trả người bán của công ty chiếm tỷ trọng 99,5%, năm 2012 tăng 2.330 triệu đồng tương ứng tăng 159,49% so với năm 2011. Sang năm 2013 thì khoản mục này giảm 925.085 triệu đồng, tương ứng giảm 24,4% so với năm 2012. Điều này cho thấy công ty đã cải thiện chính sách trả nợ cho các nhà cung cấp và thực hiện đúng theo các chính sách tín dụng cho người bán để tăng uy tín với các bạn hàng. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước Trong giai đoạn 2011 – 2013 khoản mục thuế và các khoản phải nộp nhà nước chỉ phát sinh năm 2011 là 7.376 nghìn đồng còn 2 năm 2012 và 2013 khoản mục này có giá trị bằng 0. Sự giảm đi của khoản mục này cho thấy công ty đã thực hiện đúng nghĩa vụ đóng thuế và chú trọng đến các khoản nợ phải trả nhà nước. Các khoản phải trả, phải nộp khác Năm 2013 các khoản phải trả phải nộp khác là 73.540.500 đồng, trong khi đó năm 2012, 2011 không phát sinh khoản này. Và khi hoản mục này phát sinh thì chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nợ ngắn hạn (2,5%) nên cũng không ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận của công ty. Nhưng khoản phải trả phải nộp khác phát sinh do công ty nhận kí cược, kí quỹ để thực hiện các hợp đồng kinh doanh. Phân tích về tình hình cơ cấu nợ ngắn hạn của Công ty, ta có thể thấy trong giai đoạn 2011 – 2013 nợ ngắn hạn có sự biến động qua các năm. Chiếm tỷ trọng lớn trong Thang Long University Library 47 tổng nợ ngắn hạn là khoản mục phải trả người bán cho thấy công ty đã tận dụng khá tốt các nguồn vốn từ người bán để sử dụng bổ trợ cho nguồn tín dụng vay các Ngân hàng thương mại đây là một sự kết hợp đúng đắn trong điều kiện kinh tế thị trường. 2.4 Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ 2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp Như trình bày ở chương I, hiệu quả sử dụng vốn lưu động được thể hiện qua các chỉ tiêu tài chính tổng hợp: các hệ số thanh toán, vốn lưu động ròng, tốc độ luân chuyển vốn lưu động; Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động; Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động; Hệ số sinh lời của VLĐ Để có thể đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty, ta không thể không tính toán cụ thể các chỉ tiêu này của công ty. 2.4.1.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán là nhóm chỉ tiêu nhằm đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp thông qua khả năng trả nợ (khả năng thanh toán) dựa trên ba chỉ tiêu quan trọng là: Khả năng thanh toán hiện hành, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời. Từ Phụ luc 7 ta có thể thấy ba chỉ tiêu của Công ty thể hiện như sau: + Khả năng thanh hiện hành: Khả năng thanh hiện hành cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán được bao nhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của mình. Năm 2011 khả năng thanh toán hiện hành của công ty là 2,98 lần. Sang năm 2012 hệ số này là 1,82 lần, giảm 1,16 lần tương ứng giảm 38,91% so với năm 2011. Do tổng nợ ngắn hạn tăng với tốc độ nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn dẫn tới hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2012 giảm. Năm 2013 khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty giảm 0,71 lần (tỷ lệ giảm 38,98%) so với năm 2012. Chỉ số này cho thấy 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng 1,11 đồng tài sản ngắn hạn trong năm 2013 và 1,82 đồng tài sản ngắn hạn trong năm 2012. Nguyên nhân làm giảm hệ số này là tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn nhanh và nhiều hơn nợ ngắn hạn. Hệ số này cho thấy khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn của công ty năm 2013 giảm so với năm 2012 là 0,71 đồng, qua đó rủi ro thanh toán của công ty trong năm 2013 cao hơn so với năm 2012. + Khả năng thanh toán nhanh: Đây là chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của công ty, được xác định bằng tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho và chia cho nợ ngắn hạn. Ở đây, hàng tồn kho bị loại ra vì trong tài sản lưu động, hàng tồn kho được coi là loại tài sản lưu độn có tính thanh khoản thấp nhất. Ta thấy hệ số thanh toán nhanh của công ty TNHH 48 TM Tùng Bách năm 2011 là 2,05 lần, năm 2012 là 1,58 lần và năm 2013 là 0,92 lần. Hệ số thanh toán nhanh của công ty có xu hướng giảm dần cũng vẫn do nguyên nhân . Mà tổng tài sản ngắn hạn năm 2013 giảm 52,69% so với năm 2012, và hàng tồn kho cũng giảm 39,01% so với năm 2012 mà nợ ngắn hạn chỉ giảm 20,96% nên tỉ lệ của chỉ số khả năng thanh toán nhanh công ty sẽ giảm. Sự giảm này phù hợp với công ty khi năm 2013 đã giảm bớt lượng hàng tồn kho và tăng dự trữ tiền mặt. + Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được bao nhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền của mình. Trong năm 2011, hệ số thanh toán tức thời của công ty là 0,68 lần, sang năm 2012 hệ số này giảm 84,06% so với năm 2011 xuống còn 0,11 lần. Nguyên nhân của việc sụt giảm này là do giảm đi về tiền mặt, do công ty đầu tư và mua thêm ô tô 5 chỗ phục vụ cho dịch vụ thuê ô tô. Năm 2012 chỉ số khả năng thanh toán tức thời của công ty là 0,47 lần, tăng 0,36 lần so với năm 2011. Trong năm 2012 nợ ngắn hạn của công ty giảm (giảm 20,96% so với năm 2011) song tiền và các khoản tương đương tiền được gia tăng (tăng 236,43% so với năm 2011). Dấu hiệu tăng trong hệ số thanh toán tức thời là dấu hiệu tốt cho công ty về khả năng thanh toán tức thời bằng tiền của công ty, song hệ số nay vẫn còn thấp (nhỏ hơn 1) cho thấy công ty không thể thanh toán hết các khoản nợ ngắn hạn ngay bằng tiền và các khoản tương đương tiền tại một thời điểm. Tóm lại, các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của Công ty đạt mức an toàn, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Chênh lệch giữa hệ số thanh toán nợ hiện hành và hệ số thanh toán nhanh ở mức vừa phải, cho thấy DN dự trữ hàng tồn kho hợp lý, tuy nhiên DN cần chú ý quản lý các khoản phải thu cho hợp lý tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn quá nhiều. Nhìn chung, các hệ số thanh toán của Công ty khá tốt, điều này cho thấy DN sẽ ngày càng tạo được uy tín đối với các nhà cung cấp. 2.4.1.2 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Đồng thời đây cũng là nguồn thông tin quantrongj để các nhà quản lý đưa ra quyết định về tài chính trong tương lai. Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời bao gồm 3 chỉ số: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE). Dựa vào Phụ lục 8, ta vẽ được biểu đồ tăng giảm của ba chỉ tiêu ROS, ROA, ROE trong giai đoạn 2011 – 2013. Thang Long University Library 49 Biểu đồ 2.4. Chỉ số ROS, ROA, ROE trong giai đoạn 2011 – 2013 ĐVT: % Từ biều đồ ta có một số nhận xét như sau: + Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): từ năm 2011 đến năm 2013 có xu hướng tăng lên. Năm 2011 cứ 100 đồng doanh thu thuần đem lại 1,04 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2012 tăng lên 1,11 đồng có nghĩa tăng 0,07 đồng tương ứng tăng 7,19% so với năm 2011, năm 2013 tiếp tục tăng 0,35 đồng tương ứng 31,92% so với năm 2012. Năm 2013 tỷ suất sinh lời trên doanh thu tăng cho thấy công ty quản lý tốt các khoản phải thu. Bên cạnh đó, ta cũng thấy được khả năng cân đối hợp lý giữa doanh thu và chi phí trong kì làm khả năng sinh lời trên doanh thu tăng. Chỉ tiêu ROS của công ty tăng đều trong giai đoạn 2011 – 2013 cho thấy công ty trong giai đoạn này hoạt động kinh doanh sản xuất có hiệu quả. Bởi vì công ty đã có những chính sách mới để nâng cao chất lượng dịch vụ bên cạnh đó công ty còn mở rộng các lĩnh vực kinh doanh (cho thuê xe có người lái và không có người lái). + Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) Chỉ tiêu này giảm trong giai đoạn 2011 – 2012 và tăng vào năm 2013. Năm 2011 cứ 100 đồng tài sản tạo ra 1,02 đồng lợi nhuận sau thuế; năm 2012 giảm xuống còn 0,94 đồng tương đương là giảm 0,08 đồng và giảm 7,89% so với năm 2011; năm 2013 tăng lên 1,11 đồng, nghĩa là tăng 0,17 đồng tương ứng tăng 18,2% so với năm 2012. Chỉ số ROA năm 2012 thì giảm so với năm 2011, sang đến năm 2013 có tăng trở lại nhưng mức tăng của khả năng sinh lợi chưa cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tổng tài sản của công ty là chưa tốt, từ đócác nhà quản lý nên cân nhắc khi quyết định đầu tư 001 001 001 001 001 001 003 002 002 .00 .500 1.00 1.500 2.00 2.500 3.00 Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 ROS ROA ROE 50 theo chiều rộng như mua thêm TSCĐ, mở rộng thị trường, để tăng khả năng sinh lời của vốn. + Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Chỉ số này cho biết cứ 100 đồng vốn CSH sẽ tạo ra cho công ty 1,98 đồng trong năm 2011, sang năm 2012 tỷ số này tăng lên 2,14 đồng tức tăng 0,16 đồng (tỷ lệ tăng 8,32%) so với năm 2011; năm 2013 ROE tiếp tục tăng 0,65 đồng tương ứng tăng 30,49% so với năm 2012 lên tới 2,79 đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này của công ty cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là rất tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Đó là nhân tố giúp nhà quản trị tăng vốn chủ sở hữu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đánh giá một cách đúng đán hơn về khả nawg sinh lời của công ty, ta tính hai chỉ số ROA và ROE theo phương pháp Dupont: ( ) ( ) ROA năm 2011 ROA năm 2012 ROA năm 2013 ROE năm 2011= ROE năm 2012= ROE năm 2012= Như vậy, chỉ số ROA và ROE tính theo phương pháp Dupont bằng với kết quả của cách tính thông thường. ROA của Công ty trong năm 2012 đã tăng lên là do ROS và hiệu suất sử dụng tổng tài sản tăng. Để chỉ số ROA tăng cao, Công ty có thể tăng ROS bằng cách thực hiện chính sách tiết kiệm chi phí hoặc tăng vòng quay tổng tài sản theo cách nâng hiệu quả đầu tư vốn vào từng loại tài sản. Trong giai đoạn 2011 - 2013 chỉ số ROE của Công ty đều tăng vì ROS của công ty cũng tăng đều trong ba năm. Để duy trì được chỉ số ROS tăng, Công ty phải luôn giữ được mức tăng tăng của lợi nhuận sau thuế và có thể tăng việc sử dụng nợ để đẩy hệ số đòn bẩy tài chính tăng lên nhưng cần đảm bảo và quản lý tốt các khoản nợ vay để hạn chế rủi ro vay nợ. Tóm lại, trong điều kiện kinh tế khó khăn mà nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi của Công ty vẫn tăng cho thấy đây là một tín hiệu tốt đối với công ty. Vì vậy, Công ty Thang Long University Library 51 nên thực hiện tốt các chính sách hiện thời và thêm vào đó quản lý tài sản chặt chẽ hơn, giảm bớt chi phí, tăng lợi nhuận để nhóm chỉ tiêu này cao hơn trong thời gian tới. 2.4.1.3 Nhóm chỉ tiêu về quản lý tài sản + Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Dựa vào Phụ lục 9 ta vẽ được biểu đồ: Biểu đồ 2.5 Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Theo như biểu đồ ta có nhận xét: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2012 là 0,84 lần giảm 0,14 lần so vói năm 2011, năm 2013 chỉ số này lại giảm 0,84 lần so với năm 2012. Con số này cho biết 1 đồng tài sản tạo ra 0,75 đồng doanh thu thuần năm 2013; 0,84 đồng doanh thu thuần năm 2012 và 0,98 đồng doanh thu thuần năm 2011. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản giảm bởi vì doanh thu thuần của công ty năm 2013 tăng 1,76% so với năm 2012 nhưng tổng tài sản của công ty năm 2013 lại tăng 13,57% so với năm 2012. Cả doanh thu thuần và tổng tài sản của công ty đều tăng nhưng do tổng tài sản tăng mạnh hơn doanh thu thuần nên nó đã làm giảm chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản của công ty. Chỉ số này còn cho thấy khả năng quản lý tài sản của công ty còn chưa cao. 2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành VLĐ Nhóm chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển vốn lưu động Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng VLĐ của công ty được tính theo Phụ lục 10. Nhìn kết quả tính toán các chỉ tiêu tài chính phản ánh tốc độ luân chuyển VLĐ của công ty, ta có nhận xét: +Vòng quay vốn lưu động Năm 2012 vốn lưu động luân chuyển được 9,03 vòng giảm 34,53% tương ứng 3,12 vòng so với năm 2011, điều này phản ánh sự thiếu hiệu quả trong sử dụng vốn lưu động của công ty. Nguyên nhân của sự giảm này là: Trong hoạt động sản xuất các .75000 .84000 .98000 - .200 .400 .600 .800 1.00 1.200 Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Hiệu suất sử dụng tổng TS Hiệu suất sử dụng tổng TS 52 đơn đặt hàng lâu năm, công ty có những chính sách ưu đãi như: không cần ứng trước tiền hàng, khách hàng được thanh toán trước,vì thế một phần gây kéo dài thời gian luân chuyển vốn lưu động, giảm vòng quay vốn. Năm 2013 vốn lưu động quay vòng được 12,71 vòng, tăng 6,8 vòng tương ứng 115,08% so với năm 2012. Tốc độ luân chuyển VLĐ tăng là do DTT năm 2013 tăng 718.869 nghìn đồng (tỷ lệ tăng 1,76%) và VLĐ lại giảm 3.640 triệu đồng tương ứng giảm 52,69% so với năm 2012. Do đó, vòng quay vốn lưu động có xu hướng tăng (vì tốc độ tăng của DTT nhỏ hơn tốc độ giảm của VLĐ). Điều này thể hiện việc doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư các thiết bị phục vụ kinh doanh sản xuất có hiệu quả, cũng như hiệu quả sử dụng vốn lưu động đã được cải thiện và nâng cao. + Thời gian luân chuyển VLĐ Theo kết quả đã tính toán ở Phụ lục 10, ta thấy năm 2011 vốn lưu động phải mất 40,44 ngày mới quay được một vòng, năm 2012 tăng lên 61,77 ngày (tăng 52,75%). Kết quả này phản ánh: Lượng VLĐ bị tồn đọng lớn, đa số nằm ở khoản phải thu khách hàng; mặt khác phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, doanh thu thuần không phù hợp với lượng vốn đầu tư. Là chỉ tiêu ngược với số vòng quay của VLĐ, vòng quay VLĐ giảm thì thời gian luân chuyển VLĐ sẽ tăng lên. Năm 2013 thời gian luân chuyển VLĐ giảm xuống còn 28,72 ngày (giảm 53,51%) thì VLĐ quay được một vòng. Công ty đã nỗ lực hơn trong việc nâng cao tốc độ luân chuyển VLĐ, nâng cao hiệu quả hoạt động để đảm bao được một chỗ đứng vững chắc và sự phát triển lâu dài của công ty. Thông qua những phân tích trên, ta có thể thấy tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu rất tổng hợp và cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của một doanh nghiệp. + Tỷ suất sinh lời VLĐ Tỷ suất sinh lời của VLĐ như đã tính toán ở Phụ lục 11 cho thấy hệ số này giảm một lượng nhỏ vào năm 2012 và tăng mạnh ở năm 2013. Nếu như năm 2011, một đồng vốn lưu động tạo ra 0,0936 đồng lợi nhuận sau thuế thì năm 2012 với một đồng VLĐ công ty chỉ tạo được ra 0,657 đồng lợi nhuận sau thuế (giảm 0,0279 đồng tương ướng giảm 29,82% so với năm 2011 ) và đến năm 2013 tăng lên 0,1863 đồng (tăng 183,73% so với năm 2012). Như vậy, ta thấy việc công ty quyết định giảm quy mô vốn lưu động (năm 2013 giảm 52,69% so với năm 2012) là một quyết định đúng. Bởi vì trong thời điểm nền kinh tế thị trường còn nhiều khó khăn mà công ty vẫn đầu tư nhiều thì thật là rủi ro, nguy hiểm, nên công ty đã có quyết định phù hợp để nâng chất lượng sử dụng vốn lưu động và sử dụng có hiệu quả hơn. Thang Long University Library 53 + Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ còn được đánh giá thông qua mức tiết kiệm VLĐ khi tăng tốc độ luân chuyển VLĐ và được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu: mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối. Dựa vào kết quả trong Phụ lục 12 ta có nhận xét sau: Mức tiết kiệm tuyệt đối Trong năm 2012 Công ty đã tiết kiệm được 2.310 triệu đồng, điều này cho thấy để đạt được mức doanh thu bằng năm 2011 Công ty bỏ ra một lượng VLĐ ít hơn so với năm 2011 là 2,310 triệu đồng. Nhưng đến năm 2013 thì con số này lại ở mức báo động khi đạt được mức doanh thu bằng năm 2012 Công ty phải bỏ ra nhiều hơn so với năm 2012 là 3.696 triệu đồng. Con số này cho thấy khả năng quản lý VLĐ trong năm 2013 của Công ty là chưa tốt. Mức tiết kiệm tương đối Trong năm 2012 Công ty đã tiết kiệm được một khoản 2.386 triệu đồng có nghĩa trong năm 2012 công ty không cần bỏ thêm 2.386 đồng VLĐ đáng lẽ phải bỏ ra để mở rông doanh thu. Tuy nhiên, sang năm 2013 con số này hoàn toàn trái ngược so với năm 2012 khi mà 2013 Công ty phải bỏ ra đến 3.761 triệu đồng để mở rộng doanh thu. Có thể thấy rằng trong năm 2012 công ty đã tiết kiệm được một phần VLĐ nhờ tốc độ luân chuyển VLĐ tăng lên, mà lẽ ra phải bỏ ra để đạt được mức doanh thu như cũ hay mở rộng doanh thu. Với mức tiết kiệm đạt được Công ty có thể rút ra khỏi luân chuyển để dung đầu tư các tài sản sinh lời khác. Nhưng sang đến năm 2013 điều này hoàn toàn ngược lại, Công ty phải bỏ ra nhiều tiền hơn rất nhiều so vói năm 2012 để có thể đạt được doanh thu như cũ. Bởi vậy, cần phải chú trọng hơn đến việc sử dụng VLĐ trong các năm tiếp theo để có thể đạt được mức doanh thu ổn định hoặc lớn hơn. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động một cách khái quát trên tổng VLĐ mới chỉ cho ta biết được sự tăng, giảm và vấn đề quản lý sử dụng của tổng thể, chứ chưa cho biết được cơ cấu phân bổ, sử dụng của từng thành phần cấu thành nên VLĐ, chưa thấy việc sử dụng là hợp lý hay bất hợp lý của từng thành phần này. Để làm được điều đó ta cần đánh giá một cách chi tiết trên từng thành phần cấu thành lên VLĐ thông qua các chi tiêu cơ bản là: Số vòng quay và thời gian của vòng quay. Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho + Vòng quay hàng tồn kho Dựa vào Phụ lục 13, vòng quay hàng tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra doanh thu. Vòng quay hàng tồn kho của công ty tăng đều trong giai đoạn 2011 – 2013. Vòng quay hàng tồn kho của công ty 54 năm 2011 là 26,14 vòng mới tạo ra doanh thu. Năm 2012, chỉ tiêu này tăng lên 41,90 vòng, tăng 15,76 vòng so với năm 2011. Đến năm 2013 số vòng quay hàng tồn kho tăng 22,23 vòng tương ứng tăng 53,06% (đạt 64,13 vòng) so với năm 2012. Chỉ tiêu này tăng do hàng tồn kho của công ty giảm trong cả ba năm 2011, 2012 và 2013; còn GVHB thì tăng lên (trong giai đoạn 2011 - 2012), năm 2013 GVHB giảm nhưng giảm nhẹ hơn hàng tồn kho. Ta có thể thấy hàng tồn kho của công ty trong năm 2011 – 2013 dự trữ ít hơn khiến cho khả năng thanh khoản của công ty tăng lên phần nào. + Thời gian lưu kho TB Thời gian lưu kho TB cho biết bình quân tồn kho của doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày hay số ngày trung bình của một vòng quay kho. Theo như kết quả đã tính ở phụ lục 13, ta thấy số ngày tồn kho TB có xu hướng giảm mạnh. Cụ thể trong năm 2012, thời gian lưu kho TB là 8,17 ngày, giảm 5,25 ngày so với năm 2011. Sang năm 2013 chỉ tiêu này lại giảm 3,02 ngày so với năm 2012. Toám lại, do đặc tính của ngành nghề kinh doanh của Công ty nên không cần dự trữ hàng lưu kho quá nhiều ở trong kho để cắt giảm các chi phí dự trữ kho. Chính vì thế số lần quay vòng hàng tồn kho trong một năm ở mức cao và thời gian lưu kho trung bình cũng ngắn hơn so với các ngành nghề sản xuất - kinh doanh khác. Nhưng nhược điểm của việc dự trữ hàng tồn kho ở mức thấp khiến cho công ty bị động trước các hợp đồng bổ sung. Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu + Vòng quay các khoản phải thu Từ số liệu của Phụ lục 14 cho thấy, tình hình thu hồi công nợ của Công ty trong năm 2012 nhìn chung là không tốt, cụ thể số vòng quay các khoản phải thu của công ty năm 2012 thấp hơn năm 2011, năm 2011 số vòng quay các khoản phải thu là 22,46 vòng, nhưng sang đến năm 2012 giảm 5,98 vòng (chỉ còn 16,49 vòng). Điều này chứng tỏ hiệu quả công tác thu hồi các khoản nợ của công ty là chưa tốt. Khi số vòng quay các khoản phải thu giảm sẽ làm cho số vốn bị khách hàng chiếm dụng sẽ tăng cụ thể năm 2012 số vốn này đã tăng 40,69% so với năm 2011. Năm 2013 số vòng quay các khoản phải thu đã tăng mạnh, tăng lên tới 96,16 vòng tương ứng tăng 79,67 vòng (tỷ lệ tăng 483,29%) so với năm 2012. Sự tăng này cho thấy trong giai đoạn 2012 – 2013 công ty đã có những chính sách hiệu quả trong việc thu hồi các khoản phải thu để tránh tình trạng ứ đọng vốn trong thanh toán làm giảm hiệu quả sử dụng VLĐ. + Thời gian thu nợ TB Là một chỉ tiêu do thời gian của vòng quay các khoản phải thu, nên khi vòng quay các khoản phải thu giảm thì thời gian thu nợ TB sẽ tăng và ngược lại. Theo kết quả tính toán ở Phụ lục 14 thì thời gian thu nợ TB của công ty từ mức 16,25 ngày (năm 2011) tăng lên 22,14 ngày (năm 2012) và giảm mạnh xuống còn 3,80 ngày (năm Thang Long University Library 55 2013). Chứng tỏ thời gian chiếm dụng vốn của đối tác đối với những khoản nợ với công ty ngày càng được rút ngắn do công ty đã thức hiện chính sách thắt chặt tín dụng bên cạnh đó công ty còn áp dụng một số biện pháp thu hồi công nợ như: nghiên cứu kỹ khả năng tài chính của khách hàng trước khi ký kết hợp đồng và sử dụng giá chiết khấu trong thanh toán nhằm làm giảm các khoản nợ phải thu, giảm tình trạng vốn bị chiếm dụng trong kinh doanh. Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải trả Dựa vào phụ lục 15 ta vẽ được biểu đồ 2.6 như sau: Biểu đồ 2.6 Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải trả Vòng quay các khoản phải trả cho chúng ta biết trong một năm Công ty phải tiến hành thanh toán nợ bao nhiêu lần. Trong giai đoạn 2011 – 2012, vòng quay các khoản phải trả của công ty khá cao. Năm 2011, vòng quay các khoản phải trả là 24,44 vòng, năm 2012 là 9,98 vòng, năm 2013 là 12,01 vòng. Vòng quay các khoản phải trả giảm xuống nhưng vẫn giữ ở mức cao cho thấy công ty muốn tạo lập uy tín với nhà cung cấp nên trả nợ sớm hơn và đúng thời hạn. Vòng quay các khoản phải trả giảm xuống làm cho thời gian trả nợ TB của công ty tăng lên, từ 14,94 ngày (năm 2011) lên 36,59 ngày (năm 2012) và năm 2013 là 30,39 ngày. Thời gian trả nợ trung bình tăng lên cho thấy Công ty chiếm dụng được vốn từ nhà cung cấp, tạo được uy tín với nhà cung cấp để nhà cung cấp đồng ý cấp tín dụng cho công ty. 96.15928 16.48577 022 3.79579 22.14030 016 - 5.000 10.000 15.000 20.000 25.000 10 30 50 70 90 110 Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 N g à y V ò n g Vòng quay các khoản phải thu Thời gian thu nợ TB 56 Thời gian quay vòng tiền Dựa vào Phụ lục 16 ta có thể thấy, thời gian quay vòng tiền của công ty giảm dần qua các năm. Hệ số này đạt cao nhất là trong năm 2011, khi công ty có thời gian lưu kho và thời gian trả nợ trung bình ở mức cao trong 3 năm và kết quả là 15,27 ngày. Nhưng con số này đã có xu hướng giảm đi qua các năm, thể hiện ở năm 2012 là (5,74) ngày (giảm 137,59% so với năm 2011), năm 2013 là (20,90) ngày tương ứng giảm 15,16 này so với năm 2011. Điều này cho thấy công tác quản lý vốn lưu động ở công ty đã có hiệu quả. Trong giai đoạn 2012 – 2013 công ty có thời gian quay vòng tiền “âm”, có nghĩa là công ty không cần sử dụng vốn lưu động mà còn có thể tạo ra doanh thu tài chính nhờ “chiếm dụng” được vốn lưu động của nhà cung ứng. 2.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại công ty TNHH TM Tùng Bách 2.5.1 Kết quả đạt được Công ty đã cố gắng trong việc phấn đấu tăng lợi nhuận. Cụ thể kết quả đạt được trong năm 2013 như sau: + Công ty đã có chính sách phù hợp trong việc quản lý tốt các khoản phải thu. Năm 2013 các khoản phải thu đã được giảm mạnh. + Khả năng thanh toán của công ty luôn được đảm bảo và ở mức cao. Những kết quả đạt được trong việc sử dụng vốn lưu động của Công ty: + Vốn lưu động ròng > 0 cho thấy tài trợ từ các nguồn là tốt giúp cho thấy thời gian quay vòng vốn nhanh hơn. + Công ty luôn đạt được tốc độ chu chuyển vốn lưu động cao, việc tăng vòng quay VLĐ giúp cho công ty (năm 2013) giúp cho công ty tiết kiệm được VLĐ trong sản xuất kinh doanh. + Công ty đã giảm lượng tiền mặt dự trữ và tăng lượng tiền gửi ngân hàng. Điều này đã làm giảm ứ đọng vốn và chi phí phát sinh, thêm vào đó doanh nghiệp còn nhận được một lượng tiền lãi từ việc gửi ngân hàng. + Lượng hàng dự trữ trong kho giảm làm giảm chi phí lưu kho. + Khả năng sinh lời VLĐ của công ty ở năm 2011 chưa cao nhưng sang năm 2012 và năm 2013 đã có sự thay đổi theo chiều hướng tốt. cho thấy công ty đang làm ăn có hiệu quả hơn. 2.5.2 Hạn chế và nguyên nhân Bên cạnh những kết quả đạt được, việc quản lý và sử dụng vốn tại công ty TNHH TM Tùng Bách vẫn tồn tại những hạn chế sau: Thang Long University Library 57 + Công ty vẫn duy trì chính sách quản lý vốn thận trọng, bằng việc sử dụng lượng vốn dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn (tuy rằng tỷ lệ đầu tư đã được giảm). Điều này khiến công ty vẫn tồn tài chi phí sử dụng vốn ở múc cao. Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng vốn lưu động của năm 2012 giảm so với năm 2011 nhưng sang năm 2013 đã tăng trở lại. + Công ty tuy có mức tăng trưởng doanh thu rất khả quan, nhưng điều này có được nhờ chủ yếu nới lỏng chính sách tín dụng, khiến chi phí năm 2011 và 2012 đặc biệt tăng mạnh. Sang năm 2013 các khoản phải thu trong ngắn hạn đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao, gây nên tình trạng bị chiếm dụng vốn lớn, làm luân chuyển vốn bị chậm. + Công ty chưa xác định nhu cầu vốn lưu động hàng năm, từ đó dẫn đến việc chủ động tính toán để đưa ra các phương án huy động vốn nếu thiếu. + Công ty vẫn chưa xây dựng được hệ thông chính sách tín dụng khách hàng một cách hợp lý, đồng bộ. Hiện tại, việc đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách tín dụng là do một số nhân viên trong Phòng tài chính – Kế toán đảm nhận, và chỉ dựa trên kinh nghiệm trong việc xem xét tín dụng của khách hàng mà sẽ quyết định giá bán chịu, tỷ lệ chiết khấu hay kỳ hạn trả chậm. do đó những quyết định đưa ra mang nặng tính chủ quan. Bên cạnh đó, việc chưa có một hệ thống đánh giá chính sách tín dụng hợp lý đã khiến công ty chưa đánh giá đúng thực chất khả năng tài chính của khách hàng, do đó không lường trước được những rủi ro sẽ gặp phải, hay khiến Công ty mất đi những khách hàng tiềm năng. Một hạn chế khác là công ty chưa có quy trình quản lý các khoản phải thu một cách rõ rang, dẫn đến một số tiêu cực như: dễ tạo điều kiện để nhân viên có hành vi gian lận, cấu kết với khách hàng, thậm chí chưa thật sự có trách nhiệm trong việc thu hôi các kản nợ khiến thời gian bị chiếm dụng vốn của công ty kéo dài hơn dự kiến. Kết luận chƣơng 2 Chương 2 cho thấy được điểm mạnh, điểm yếu của công ty trong sử dụng và quản lý vốn lưu động qua từng bộ phận chi tiết. Đặc biệt, vấn đề hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty qua chỉ tiêu vòn quay, tỷ suất sinh lời cùng với việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho. Từ đi sau tìm ra nguyên nhân cốt lõi sẽ nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động trong các năng tiếp theo của công ty. Nếu thực hiện được điều đó góp phần giúp công ty huy động vốn dẽ dàng và ngày càng củng cố được đơn vị trên thị trường. Tuy vậy, công ty cũng cần nhìn nhận những mặt chưa làm được để xây dựng kế hoạch nhằm khắc phục tình trạng đó, thúc đẩy công ty ngày một lớn mạnh trong quá trình phát triển. 58 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH TM TÙNG BÁCH 3.1 Phƣơng hƣớng phát triển trong thời gian tới của công ty TNHH TM Tùng Bách 3.1.1 Nhận xét khái quát về môi trường kinh doanh của TNHH TM Tùng Bách 3.1.1.1 Ưu điểm Công ty TNHH Thương Mại Tùng Bách có đội ngũ lãnh đạo nhạy bén, có năng lực quản lý, sáng suốt trong mọi lĩnh vực kinh doanh. Công ty ngày càng mở rộng các lĩnh vực kinh doanh để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường. Công ty có cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ kinh doanh tốt. Bên cạnh đó còn liên tục đổi mới để phù hợp với các giai đoạn phát triển. Chất lượng dịch vụ ở công ty ngày càng được cải thiện và năng cao, để có được uy tín trong lòng khách hàng. Công ty có đội ngũ nhân viên trẻ năng động đầy nhiệt huyết với công việc. 3.1.1.2 Tồn tại Tuy công ty hoạt động có hiệu quả nhưng vẫn có những hạn chế về việc sử dụng vốn, khả năng quay vòng vốn. Do tài sản ngắn hạn giảm nên khả năng thanh toán ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh còn hạn chế. Tài sản cố định tăng nhưng hiệu suất sử dụng tổng tài không cao cho thấy việc quản lí tài sản chưa được hiệu quả. 3.2 Định hƣớng phát triển của công ty TNHH TM Tùng Bách Năm 2013 là năm mà công ty TNHH Thương Mại Tùng Bách đánh dấu mốc thành công của công và khả năng thích ứng trong nền kinh tế hiện nay. Định hướng phát triển công ty đến năm 2020: Tiếp tục xây dựng và phát triển công ty, đưa công ty thành một thương hiệu nổi tiếng trong ngành vận tải.; tạo ra sự bền vững và phát triển lực lượng lao động tích cực và trung thành với phương châm: - Trở thành nhà cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức được ưa chuộng và tin cậy với cam kết đem lại dịch vụ chất lượng cao. - Đưa ra các giải pháp hợp lý và sang tạo cho việc vận tải phục vụ khách hàng. Thang Long University Library 59 - Điều chỉnh hệ thống và phương thức nội bộ nhằm thích nghi và đáp ứng các yêu cầu thị trường. - Luôn duy trì môi trường văn hóa doanh nghiệp với tinh thần hợp tác và công bằng để CBCNV của Công ty có thể phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Công tác đổi mới doanh nghiệp: Tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, xây dựng và phát triển Công ty thành Công ty mạnh, bền vững, có tốc độ tăng trưởng nhanh và có tính cạnh tranh cao. Công ty chủ trương kết hợp hài hòa và tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại hình dịch vụ. Song song với việc giữ thị trường hiện có, công ty không ngừng tìm biện pháp để mở rộng các hoạt động dịch vụ nhằm tăng lợi nhuận. Công tác quản lý: Hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành công ty Phân cấp và giao quyền chủ động cho các đơn vị trực thuộc trong quá trình SXKD, gắn trách nhiệm và quyền lợi đối với cán bộ quản lý. Công tác phát triển nguồn lực: Tổ chức các lớp đào tạo dài hạn và ngắn hạn cho cán bộ công nhân viên công ty để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường. Trong đó chú trọng vào đào tạo luật pháp, kỹ năng nghiệp vụ, nâng cao trình độ ngoại ngữ cũng như tiếp cận với các loại hình dịch vụ mới hiện đại trên thế giới. 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động của công ty TNHH TM Tùng Bách Trên cơ sở nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty TNHH TM Tùng Bách, ta thấy tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với việc hiệu quả tổng thể của công ty – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Trong cơ cấu tổng tài sản của một doanh nghiệp dịch vụ hiện nay, tài sản lưu động chiếm một tỷ trọng tương đối. Tài sản lưu động nằm ở tất cả các khâu như nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng mới và chăm sóc khách hàng cũ Việc sử dụng hiệu quả tài sản lưu động phải giải quyết được mâu thuẫn giữa khối lượng tài sản lớn và tốc độ luân chuyển nhanh. Sau đây là một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tai Công ty TNHH TM Tùng Bách. 3.3.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động Vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, đây là khoản vốn có tính linh hoạt cao, thay đổi theo từng giai đoạn. Vì vậy, việc xác định được nhu cầu về vốn lưu động sẽ tránh việc lãng phí cũng 60 như thiếu hụt vốn lưu động trong kỳ kinh doanh tiếp theo. Hiện tại công ty chưa áp dụng phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động đồng nhất, chủ yếu là dựa trên kinh nghiệm và tình hình sản xuất từ năm trước. Do đó, việc áp dụng phương pháp dự báo dựa vào chu kỳ vận động vốn là một trong những cách làm hữu hiệu nhất để xác định nhu cầu vốn lưu động. Việc tính toán, xác định lượng vốn cần đầu tư cho kỳ kinh doanh tiếp theo dựa vào số liệu trong những kỳ kinh doanh trước, nên vẫn gặp hạn chế do số liệu thuộc quá khứ. Tuy nhiên, với một phương pháp tính toán cụ thể vẫn sẽ giúp công ty ước lượng trước được nhu cầu trong tương lai, giảm được mức chênh lệch giữa việc ước lượng và thực tế phát sinh. Từ đó, công ty sẽ chủ động trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ, tránh việc dự trữ quá nhiều, dẫn đến phát sinh các khoản chi phí không cần thiết, hoặc thiếu hụt sẽ gây nên việc trì trệ cũng như khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với Công ty TNHH TM Tùng Bách, nhu cầu VLĐ có thể xác định theo phương pháp sau: Phương pháp ước tính nhu cầu VLĐ ằng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu Căn cứ vào báo cáo của Công ty trong năm 2012 – 2013 ta tiến hành xác định nhu cầu VLĐ cho năm kế hoạch. Theo báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty, năm 2013 Công ty đạt doanh thu thuần là 41.538.878.726 đồng. Dưới đây ta có bảng tỷ lệ các khoản mục có quan hệ chặt chẽ với doanh thu. Bảng 3.1. Tỷ lệ phần trăm các khoản mục có tỷ lệ chặt chẽ với doanh thu Đơn vị tính: % Tài sản Tỷ lệ trên doanh thu Nguồn vốn Tỷ lệ trên doanh thu 1. Tiền và các khoản tương đương tiền 3,32 1. Phải trả người bán 6,90 2. Các khoản phải thu NH 1,20 2. Các khoản phải trả, phải nộp NH 0,18 3. Hàng tồn kho 1,33 4. Tài sản ngắn hạn khác 2,02 Tổng 7,87 Tổng 7,08 (Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán, Tác giả tự tổng hợp) Nhận xét Theo số liệu đã tính toán ở bảng 3.1 cho ta thấy để tăng thêm 1 đồng doanh thu thuần cần phải tăng thêm 0,0787 đồng VLĐ và 1 đồng doanh thu thuần tăng lên thì công ty chiếm dụng được 0,0708 đồng nguồn vốn. Vậy thực chất 1 đồng doanh thu thuần tăng lên Công ty cần số VLĐ ròng là: 0,0782 – 0,0708 = 0,0079 (đồng). Thang Long University Library 61 Theo bảng kế hoạc doanh thu chi phí của năm 2014, doanh thu thuần dự kiến của công ty sẽ tăng lên 25% so với năm 2013. (Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán) Như vậy, nhu cầu VLĐ ròng của Công ty là: 3.3.2 Quản lý tiền mặt Tiền mặt chiếm 1 tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của công ty và có vai trò quan trọng trong thanh toán tức thời. Nhưng dự trữ một khoản tiền mặt lớn sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty vì tiền mặt là khoản tiền không sinh lợi hoặc sinh lợi ít. Chính vì vậy, công ty nên xác định một mức dự trữ tiền mặt hợp lý và tối ưu nhất để vừa đảm bảo thanh toán nhanh trong những trường hợp cần thiết, vừa tránh mất chi phí cơ hội của việc giữ tiền. Công ty có thể sử dụng mô hình Baumol để xác định mức dự trữ tối ưu cho năm kế hoạch (vì mô hình này xác định mức dtại đó tổng chi phí của việc dự trữ tiền mặt mà tại đó tổng chi phí của việc giữ tiền là nhỏ nhất). Áp dụng mô hình Baumol để xác định mức dự trữ tiền tối ưu nhất cho công ty năm 2013 như sau: Tại Công ty TNHH TM Tùng Bá.ch để xác đinh nhu cầu về tiền trong năm kế hoạch sẽ dựa trên lượng tiền thực tế đã phát sinh của năm báo cáo với tỷ lệ lạm phát ở mức 7%. (Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán) Từ đó, xác định nhu cầu về tiền trong năm 2014 của công ty: ( ) (đồng) Tuy nhiên để đạt được mức cân bằng về lượng vốn bằng tiền công ty có thể sử dụng các biện pháp sau: - Xác định nhu cầu vốn bằng tiền và thời gian vốn bằng tiền cần được tài trợ. Để làm được điều này thì phải thực hiện tốt các công tác quan sát, nghiên cứu vạch rõ quy luật của việc thu chi. - Song song với việc xác định nhu cầu vốn bằng tiền, Công ty rút ngắn chu kỳ vận động của tiền mặt càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận, bằng cách giảm thời gian thu hồi những khoản thu bằng việc tăng tốc độ thu, kéo dài thời gian trả những khoản phải trả bằng việc trì hoãn thanh toán. Tuy nhiên, việc kéo dài thời gian trả nợ có thể làm doanh nghiệp mất đi uy tín, chính vì vậy cần tìm ra thời gian chiếm dụng vốn một cách hợp lý để vừa rút ngắn thời gian quay vòng tiền mà vẫn giữ được uy tín cho doanh nghiệp mình. 62 3.3.3 Quản lý các khoản phải thu Phải thu khách hàng là khoản mục cao nhất trong số các khoản phải thu ngắn hạn và chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong cơ cấu VLĐ tại công ty trong năm 2011, 2012; riêng sang năm 2013 thì khoản mục này đã giảm xuống trong tỷ trọng VLĐ. Tuy nhiên, công ty vẫn cần có những chính sách để nâng cao hiệu quả quản lý khoản phải thu khách hàng để giúp hạn chế tối đa lượng vốn mà công ty bị chiếm dụng. Công ty đã áp dụng một số chính sách như nới lỏng chính sách tín dụng để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, điều này lại làm tăng các khoản phải thu nếu công ty không có biện pháp quản lý hiệu quả sẽ khiến lượng vốn bị chiếm dụng ngày càng nhiều, thậm chí là không thu hồi lại được làm mất đi nguồn vốn kinh doanh. Như đã phân tích ở chương 2, ta thấy lượng vốn mà công ty bị chiếm dụng lớn hơn rất nhiều so với lượng vốn mà công ty chiếm dụng được của các doanh nghiệp khác. Để nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý các khoản phải thu, công ty có thể sử dụng một số biện pháp sau: Xây dựng hệ thông thông tin về tín dụng của khách hàng Công ty sử dụng những thông tin tín dụng của khách hàng từ những số liệu của họ tại bộ phận kế toán và bộ phận kinh doanh. Những thông tin cần thiết phải thu thập để lưu lại là: thời gian khách hàng giao dịch với công ty, các tiêu chí thể hiện năng lực tài chính của khách hàng như: khả năng thanh toán, tỷ lệ khoản phải trả trong tổng nợ ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận; thông tin về thời hạn trả nợ đúng hạn, quá hạn; doanh số nợ. Hoặc công ty cũng có thể đánh giá tín dụng khách hàng theo năm tiêu chí áp dụng đối với khách hàng của các ngân hàng thương mại như: năng lực, vốn, thế chấp hay bảo lãnh, điều kiện kinh tế tổng thể và môi trường ảnh hưởng đến khả năng kinh doanh của khách hàng. Để đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay chính sách thương mại cho khách hàng hay không công ty phải dựa vào tiêu chí thu nhập và tổng hợp lại trong hệ thống thông tin khách hàng. Để thực hiện được điều này, công ty nên sử dụng phương pháp phân nhóm khách hàng theo mức độ rủi ro. Theo phương pháp này khách hàng của công ty có thể được chia thành các nhóm như sau: Thang Long University Library 63 Bảng 3.2. Danh sách các nhóm rủi ro Nhóm rủi ro Tỷ lệ doanh thu không thu hồi đƣợc ƣớc tính Tỷ lệ khách hàng thuộc nhóm rủi ro ( ) 1 0 - 1 35 2 1 – 2,5 30 3 2,5 – 4 20 4 4 – 6 10 5 >6 5 (Nguồn: Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại – Tác giả: Nguyễn Hải Sản) Như vậy, các khách hàng thuộc nhóm 1 có thể được mở tín dụng mà không cần phải xem xét nhiều và vị thế của khách hàng này có thể được xem xét mỗi năm một lần. Các khách hàng thuộc nhóm 2 có thể được cung cấp tín dụng trong một thời hạn nhất định và vị thế của các khách hàng này có thể được xem xét lại mỗi năm hai lần. Và cứ tương tự như vậy, công ty xem xét đến các nhóm 3, 4, 5. Để giảm tổn thất có thể xảy ra, công ty sẽ phải yêu cầu khách hàng nhóm 5 thanh toán tiền ngay khi nhận hàng. êu cầu tín dụng khác nhau đối với các khách hàng ở những nhóm khác nhau. Tuy nhiên, để phân nhóm rủi ro chính xác, doanh nghiệp có thể sử dụng mô hình cho điểm tín dụng sau: Điểm tín dụng = + 1 Số năm hoạt động Bảng 3.3. Mô hình cho điểm tín dụng để phân nhóm rủi ro Biến số Trọng số Điểm tín dụng Nhóm rủi ro Khả năng thanh toán lãi 4 >47 1 Khả năng thanh toán nhanh 11 40 - 47 2 Số năm hoạt động 1 32 – 39 3 24 – 31 4 <24 5 (Nguồn: Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nguyễn Hải Sản) Sau khi đã thu thập và phân tích thông tin tín dụng của khách hàng như trên, công ty sẽ quyết định về các khoản tín dụng mà khách hàng đề nghị dựa vào các mô hình đã trình bày ở chương 1 của bài luận. 64 Tăng cường công tác thu hồi nợ + Công ty cần lập bảng phân tuổi các khoản phải thu để nắm rõ về quy mô các khoản phải thu, thời hạn của từng khoản và có biện pháp thu nợ đến hạn + Trong công tác thu hồi nợ, công ty nên áp dụng các biện pháp khuyến khích khách hàng trả tiền trước thời hạn nhằm thu hồi nợ nhanh như sử dụng hình thức triết khấu cho khách hàng trả nợ trước thời hạn. + Khi khoản nợ chuẩn bị đến hạn trả công ty nên gửi giấy báo, gọi điện cho khách hàng biết để khách hàng chuẩn bị tiền trả nợ. + Đối với những khoản nợ quá hạn trong thanh toán công ty có thể tuỳ vào tình hình thực tế của khách hàng có thể gia hạn nợ, hoặc phạt chậm trả theo quy định của hợp đồng. + Đối với các khoản nợ khó đòi: một mặt công ty thực hiện trích lập quỹ dự phòng các khoản phải thu khó đòi đảm bảo sự ổn định về mặt tài chính. Mặt khác, công ty có biện pháp xử lý khoản nợ khó đòi này một cách phù hợp như: gia hạn nợ, thậm chí giảm nợ nhằm thu hồi những khoản nợ một phần coi như bị mất. 3.3.4 Một số iện pháp khác Trong điều kiện công nghệ phát triển như hiện nay, việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động SXKD là một trong những điều kiện giúp công ty giành được lợi thế và tăng khả năng canh tranh. Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ để quản lý, Công ty nên áp dụng để giảm thiểu những sai sót, thất thoát, giảm bớt nhân lực để tập trung vào các hoạt động khác. Nhân tố con người luôn đóng vai trò quyết định trong sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào, đặc biệt trong tình hình thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Để có thể khai thác tối đa nguồn nhân lực, công ty nên Thường xuyên đánh giá, tổng kết về cơ cấu tổ chức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ công nhân viên. Tổ chức những khóa đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu, nâng cao trình độ để đáp ứng nhu cầu ngày càng đổi mới, phát triển. - Công tác quản lý cán bộ cần được thực hiện nghiêm túc, công minh, nhìn nhận đánh giá đúng đắn những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình hoạt động của đội ngũ lao động trong công ty. Từ đó có những biện pháp phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của mỗi người. - Trong quá trình hoạt động, công ty cần thường xuyên tổng kết định kỳ để kịp thời có kế hoạch khen thưởng đối với những cá nhân, tổ, phân xưởng có thành tích tốt, đồng thời nghiêm khắc phê bình, kiểm điểm đối với những cá nhân, tổ chức có hành vì sai trái ảnh hưởng đến công ty. Thang Long University Library 65 - Cơ cấu bộ máy quản lý kinh tế tinh giảm, gọn nhẹ. - Mục tiêu hướng vào khách hàng mà phục vụ bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hoa sản phẩm. - Cần đưa ra chiến lược đào tạo và phát triển nhân lực và chiến lược phát triển lâu dài của công ty. Kết luận chƣơng 3 Trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn, luận văn đã phần nào khái quát được tình hình sử dụng vốn lưu động của Công ty. Trong chương này, luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Với những giải pháp đã đề ra, tôi mong rằng Công ty sẽ đưa ra các quyết định về chính sách quản lý, sử dụng vốn lưu động, sử dụng các nguồn lực hợp lý và có thể nắm bắt, tận dụng các cơ hội từ đó cải thiện những mặt hạn chế, bên cạnh đó phát huy điểm mạnh để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty. KẾT LUẬN Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của các doanh nghiệp. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay của đất nước và tình trạng trong nước và khu vực có nhiều biến động, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp . Quá trình phân tích ở trên đã cho thấy việc sử dụng đồng vốn như thế nào để mang lại hiệu quả cao quả là một vấn đề không đơn giản. Đồng vốn sử dụng không hiệu quả sẽ kéo theo sự trì trệ của quá trình kinh doanh. Mọi hoạt động của doanh nghiệp sẽ là không hiệu quả nếu như là vốn kinh doanh không được đảm bảo. Để đồng vốn có hiệu quả đòi hỏi phải có những quyết định đúng đắn về phương thức sử dụng vốn . Qua việc nghiên cứu tình hình thực tế tại công ty TNHH TM Tùng Bách, chúng ta thấy thời gian qua công ty đã đạt được những thành tích đáng khích lệ đó là: sản xuất kinh doanh có lãi, đời sống của cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao, đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng nhiều, vị thế của công ty cũng tăng lên. Tuy nhiên, để đạt được những điều đó công ty đã phải trải qua nhiều khó khăn và điều không tránh khỏi là vẫn có những tồn tại. Vì vậy bằng khả năng nhận thức và sự hiểu biết của mình sau thời gian thực tập tại công ty, em mạnh dạn đề xuất một số ý kiến để công ty xem xét nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty. Do trình độ và khả năng còn nhiều hạn chế nên những vấn đề đưa ra chắc chắn còn chưa đầy đủ và sai sót, em mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô để bài luận được hoàn thiện hơn. Thang Long University Library TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS. Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (2011) , Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.155-200 2. TS. Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê 3. PGS.TS. Nguyễn Đình Kiệm – TS. Bạch Đức Hiền, Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê 4. Nguyễn Hải Sơn, Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Thang Long University Library Thang Long University Library Thang Long University Library Thang Long University Library Thang Long University Library Thang Long University Library Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftoan_van_a19324_9037.pdf
Luận văn liên quan