Khóa luận Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần tu tạo và phát triển nhà

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có vai trò hết sức quan trọng của các doanh nghiệp nói chung và của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà nói riêng. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn góp phần nâng cao công tác quản lý tài chính, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không phải là vấn đề giải quyết ngày một ngày hai mà nó là mục tiêu phấn đấu lâu dài của công ty. Trong những năm qua công ty đã có nhiều cố gắng, tích cực vươn lên trong sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sau thuế ổn định tuy nhiên cũng gặp phải không ít những khó khăn về việc sử dụng tài sản ngắn hạn sao cho có hiệu quả. Việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà Bình trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang chuyển sang cơ chế thị trường có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn.

pdf88 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 30/07/2018 | Lượt xem: 667 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần tu tạo và phát triển nhà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
êu này đạt 0,02 lần tăng 0,01 lần so với năm 2011 và bằng với con số của năm 2010. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế nhanh hơn so với tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn bình quân. Cụ thể, lợi nhuận sau thuế của công ty tăng từ 9.017,94 triệu đồng ở năm 2011 lên 13.126,41 triệu đồng tương ứng 45,56% ở năm 2012 trong khi TSNH bình quân năm 2012 chỉ tăng 9,84 % tương ứng 64.980,54 triệu đồng so với năm 2011. Xét một cách tổng quan, tỷ suất sinh lời của TSNH của công ty thấp hơn rất nhiều so với trung bình ngành. Cụ thể, năm 2012 một đồng tài sản ngắn hạn chỉ tạo ra 0,02 đồng lợi nhuận sau thuế trong khi các doanh nghiệp trong ngành tạo ra khoảng 47 đồng (nguồn số liệu tham khảo từ trang web www.cophieu68.vn). Công ty đã dùng phần lớn vốn huy động được để đầu tư mạnh vào các dự án lớn như: lớn và trọng điểm của Hà Nội như: Dự án mở rộng căn hộ cao cấp 254 Thụy Khuê, Dự án đặc biết gara ngầm tại vườn hoa Hàng Đậu, Dự án Khu đô thị mới Mễ Trì Hạ, Dự án chung cư 9 tầng A6 Giảng Võ,và ở cả các tỉnh thành khác như Dự án khu nhà ở Hoàn Sơn-Bắc Ninh, Dự án khu nhà ở Đặng Xá-Bắc Ninh,.. Điều đó lý giải tại sao tài sản ngắn hạn của công ty tăng mạnh qua các năm nhưng hiệu quả sử dụng TSNH luôn ở mức thấp so với các doanh nghiệp cùng ngành bởi các dự án này chưa tạo ra toàn bộ doanh thu mà vẫn đang ở dạng đầu tư phát triển hoặc chưa hoàn thiện để bàn giao. Biểu đồ 2.9. Tỷ suất sinh lời của TSNH của công ty giai đoạn 2010-2012 0,56 0,44 0,45 0 0,2 0,4 0,6 0,8 0 200000 400000 600000 800000 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Doanh thu thuần TSNH bình quân Hiệu suất sử dụng TSNH Thang Long University Library 56 Kết luận: Tóm lại, qua phân tích ở trên có thể nói hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà chưa cao. Vốn đầu tư vào TSNH của công ty bị dàn trải và chưa được sử dụng một cách hiệu quả, công ty bị các đơn vị khác chiếm dụng vốn trong thời gian dài và với số lượng khá lớn. Vốn đầu tư vào tài sản ngắn hạn liên tục tăng qua các năm nhưng hiệu quả sử dụng lại không tăng tương ứng dẫn đến tình trạng lãng phí vốn. Mặc dù công ty kinh doanh vẫn có lãi nhưng để tồn tại và phát triển được trong giai đoạn hiện nay công ty cần có những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, cũng như nâng cao hiệu quả sử TSNH. 2.4. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng TSNH 2.4.1. Kết quả đạt được Qua kết quả phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà ở trên cho phép em đưa ra những nhận xét như sau: Trong 3 năm trở đây sản xuất kinh doanh của công ty duy trì ở mức độ ổn định. Doanh thu bình quân đạt hơn 320 triệu đồng/năm. Riêng 2011, mặc dù xảy ra suy thoái kinh tế nhưng doanh thu vẫn đạt trên 290 triệu đồng và LNST khoảng 9 tỷ đồng. Với 04 phòng chức năng, 02 ban quản lý dự án trực thuộc và 13 công ty con, xí nghiệp, trung tâm. Các công trình tiêu biểu đạt chất lượng cao mà công ty đã thực hiện đó là: Văn phòng làm việc Việt Nam thông tấn xã tại 33 Lê Thánh Tông; Trụ sở làm việc Tổng Công ty công trình Giao thông I - số 2 Thành Công; Gara ô tô Văn phòng Chính phủ; Nhà ở gia đình A3 Giảng Võ; Thư viện Tỉnh Bắc Giang Công ty đã được Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn - Tổng Cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng chứng nhận là đơn vị đạt tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000. Công ty đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực kinh doanh chính là xây dựng và tư vấn thiết kế công trình. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, vấp phải không ít khó khăn, nhưng tập thể cán bộ công nhân viên của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đã không ngừng cố gắng, phấn đấu đưa công ty ra khỏi khó khăn, sản xuất kinh doanh có lãi. Tính đến năm 2012, công ty đã đạt được nhiều thành tựu, doanh thu và lợi nhuận tăng trưởng, hoàn thành kế hoạch đề ra. Ngành xây dựng với lợi thế là thị trường rộng lớn, đặc biệt là trong điều kiện nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng như hiện nay, luôn thu hút vô số các công ty lớn nhỏ thuộc mọi thành phần kinh tế. Chính vì lẽ đó, mà môi trường kinh doanh của ngành luôn sôi động, nhiều cơ hội nhưng cũng vô vàn thách thức. Các chỉ tiêu tài chính về hoạt động quản lý sử dụng TSNH của công ty đều có chiều hướng cải thiện tốt hơn đồng thời với quy mô tổng tài sản, cũng như TSNH không 57 ngừng được mở rộng đã cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả của công ty. Qua quá trình phân tích ở trên ta có thể thấy, TSNH của công ty được sử dụng có hiệu quả. Hiệu quả đó không chỉ thể hiện trực tiếp bằng số lợi nhuận thu được hàng năm và đang tiếp tục tăng mà còn được thể hiện trong cơ cấu từng thành phần của TSNH và qua các chỉ tiêu đánh giá. Về cơ cấu nguồn vốn: Công ty có nguồn vốn chủ sở hữu không lớn, nguồn vay nợ chủ yếu trong ngắn hạn, công ty bị phụ thuộc vào chủ nợ và khả năng tài chính thấp. Khoản nợ vay trong ngắn hạn cao mà nguồn vốn của công ty không cao sẽ làm ảnh hưởng tới tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty hiện tại chưa có sự cân đối một cách hợp lý giữa tài sản ngắn hạn và dài hạn. Đặc thù về sản xuất kinh doanh của công ty thường diễn ra trong thời gian dài vì vậy công ty cần có sự cân đối về những khoản vay trong dài hạn để phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của mình. Ưu điểm của công ty là có lượng vốn lưu động cao cho phép công ty chủ động trong việc mua hàng trả tiền ngay để hưởng chiết khấu thanh toán và cũng đảm bảo tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn. Nếu lượng vốn bằng tiền cao hơn nhu cầu sử dụng thường xuyên thì công ty nên nhanh chóng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh để tăng quay vòng vốn, tạo lợi nhuận và tránh tình trạng ứ đọng vốn. Về khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán hiện hành ở mức cao qua từng năm, trong 2 năm 2010 và 2011 đều đạt 1,47 lần và năm 2012 đạt 1,38 lần. Mặc dù hệ số thanh toán hiện hành có sự biến động qua các năm nhưng nhìn chung thì giá trị đều lớn hơn 1. Hệ số khả năng thanh toán hiện hành này lớn hơn 1 chứng tỏ giá trị tài sản ngắn hạn của công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, điều đó cho thấy tài sản ngắn hạn của công ty đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Về khả năng quản lý các khoản phải thu: Các khoản phải thu được duy trì thông qua quan hệ tín dụng thương mại, tạo mối làm ăn lâu dài. Tuy nhiên nhược điểm của nó là công ty bị chiếm dụng vốn, và vì thế làm giảm hiệu quả hoạt động. Qua các năm, công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà thông qua các chính sách tín dụng và quản lý bài bản đã dần thu hồi được lượng vốn bị chiếm dụng, giảm số ngày của kỳ thu tiền bình quân, tăng số vòng quay khoản phải thu, thông qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động. Vòng quay các khoản phải thu đã liên tục ở mức cao từ 3,22 vòng vào năm 2010, 1,92 vòng vào năm 2011 và 2,11 vòng vào năm 2012, giảm được kỳ thu tiền bình quân từ 187 năm 2011 xuống 170 ngày năm 2012, đây đúng là một kết quả đáng khích lệ trong công tác thu hồi nợ. Thang Long University Library 58 Về khả năng sinh lời: Tỷ suất sinh lời trên TSNH của công ty khá ổn định là một thành tích đáng khích lệ. Đặc biệt là trong giai đoạn phân tích 2010-2012, khi mà nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, lạm phát cao, đẩy giá nguyên vật liệu lên cao trong khi thị trường khách hàng thu hẹp lại, nhiều công ty đã bị phá sản do không nhận được công trình, không đủ để chi trả chi phí duy trì hoạt động. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy công ty vẫn làm ăn có hiệu quả, sinh lời, đó là do công sức cố gắng phấn đấu của tập thể cán bộ, công nhân. Công tác quản lý TSNH đã góp phần tích cực trong tăng hiệu quả hoạt động của công ty, thúc đẩy lợi nhuận, đảm bảo sản xuất thông suốt, mọi quá trình được bôi trơn, không bị tắc nghẽn, ứ đọng. Tập thể cán bộ công nhân viên của công ty đã đưa công ty tiến lên, cạnh tranh bằng chất lượng và uy tín của mình. Bên cạnh những thành công trong công tác sử dụng và quản lý TSNH, không thể không nhìn nhận rằng công ty vẫn còn những tồn tại đáng quan tâm cần được xem xét và thay đổi sao cho hợp lý và hiệu quả hơn. 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân 2.4.2.1. Hạn chế Phân tích đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của bất kỳ công ty nào, ta không chỉ ghi nhận những thành tích tốt của nó, mà còn cần phải nhìn nhận những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân để tìm ra giải pháp khắc phục. Trong phần trên của chương II, qua nhìn nhận, phân tích và đánh giá một cách tổng hợp hiệu quả sử dụng tải sản lưu động tại CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà, có thể thấy thành tựu mà công ty đã đạt được là rất lớn, nhưng bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế cần tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục để công ty hoạt động ngày một hiệu quả hơn: Cơ cấu TSNH: Hàng tồn kho và các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng cao trong TSNH, điều này làm ảnh hưởng đến nguồn vốn cho tình hình hoạt động và sản xuất kinh doanh của công ty. Nếu công ty không kiểm soát tốt các khoản nợ, không nắm được tình hình tài chính của đối tượng nợ để thu hồi nợ kịp thời, thì có thể công ty sẽ bị thiệt hại về vốn. Ngoài ra việc cho khách hàng nợ tiền quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của công ty đồng thời có thể làm tăng chi phí cho việc quản lý, giám sát nợ. Lợi nhuận thu được của công ty là vẫn còn thấp vẫn chưa tương xứng với quy mô cũng như những gì công ty đã đầu tư vào TSNH trong thời gian qua, các khoản làm giảm trừ doanh thu còn cao (chi phí lãi vay, chi phí quản lý doanh nghiệp,) công ty cần cải 59 thiện lại cách quản lý của mình, có chiến lược sử dụng TSNH hiệu quả hơn để có lợi nhuận cao hơn. Đồng thời cắt giảm các khoản chi phí không cần thiết nhằm gia tăng thêm lợi nhuận. Vòng quay TSNH: Mặc dù có xu hướng tăng, nhưng tăng không đều, xét riêng 2 năm 2011, 2012 thì chỉ tiêu này đã tăng lên 0,03 vòng, nhưng nếu so với năm 2010 thì lại là giảm. Điều này cho thấy công ty vẫn chưa thực sự nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH tốt như trước. Điều này kéo theo thời gian luân chuyển TSNH vẫn còn ở mức rất cao: 871 ngày năm 2011 và 820 ngày năm 2012, có nghĩa là công ty phải mất trung bình gần 2 năm 4 tháng để dùng tiền mua nguyên vật liệu, xây dựng, bán sản phẩm và thu tiền về. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Các chỉ số về khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời của công ty đều ở mức nhỏ hơn 1. Điều này đặt công ty vào nguy cơ rủi ro thanh toán lớn. Đặc biệt, năm 2010, tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh toán tức thời của công ty xuống thấp kỷ lục lần lượt là 0,44 và 0,77 lần trong khi chỉ số này của năm trước là 0,57 và 0,28 lần. Điều này cho thấy công ty đã mất cân đối, đầu tư nhiều vào hàng tồn kho và có rủi ro thanh toán rất lớn làm ảnh hưởng đến khả năng tín dụng của công ty, gây khó khăn nếu muốn vay vốn ngân hàng hay xét tín dụng thương mại với nhà cung cấp. Công ty cần có những điều chỉnh để cải thiện các chỉ số này. Vòng quay hàng tồn kho: Số vòng quay hàng tồn kho đã giảm từ 0,91 xuống 0,59 vòng và số ngày tồn kho bình quân tăng từ 396 lên 610 ngày trong 2 năm 2010, 2011. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng hàng tồn kho đã bị giảm sút nghiêm trọng, tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho chậm lại, hàng hóa bị ứ đọng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên sang năm 2012, các chỉ số đã được cải thiện khi số vòng quay hàng tồn kho tăng lên đạt 0,65 vòng tương ứng thời gian luân chuyển kho trung bình chỉ còn 550 ngày. Như vậy, hiệu quả sử dụng hàng tồn kho được nâng lên vào năm 2012 nhưng ở mức thấp so với năm 2010, cho thấy các chính sách quản lý hàng tồn kho vẫn còn nhiều hạn chế. Kết luận:  Công ty đã quản lý nợ tương đối chặt chẽ nhưng việc khách hàng nợ đọng kéo dài vẫn còn nhiều, hiện nay công ty chưa có biện pháp để khắc phục tình trạng này khi thực tế các khoản phải thu đang tăng lên. Điều này làm cho công ty gặp phải rất nhiều khó khăn trong Thang Long University Library 60 việc quay vòng vốn vì khoảng 20% tỷ trọng TSNH của công ty là nợ phải thu khách hàng. Vì vậy công ty đã bị chiếm dụng một lượng vốn khá lớn tử khách hàng.  Tài sản dài hạn của công ty chiếm tỷ trọng thấp làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty, làm hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cũng như lợi nhuận chưa cao và thấp hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Điều này cho thấy bất cập trong công tác quản lý, sử dụng vốn tài trợ cho TSNH, đặc biệt là chú ý chưa đúng mức đến TSDH. Đồng thời nó cũng phần nào phản ánh công tác sử dụng TSNH chưa thực sự hiệu quả.  Việc vay nợ của công ty ngày càng có xu hướng tăng, nhưng đồng thời với việc vay nợ công ty cũng phải trả các chi phí ngày càng tăng. Mặt khác số tiền có thể vay ngân hàng không phải là vô hạn. Do đó nếu tình trạng vay nợ tiếp tục diễn ra ngày càng tăng thì đến lúc công ty sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán hoặc phải đi vay với mức lãi suất cao hơn. Vì vậy trong tương lai công ty cần phải có các biện pháp để huy động nguồn vốn khác để đầu tư cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Với những hạn chế kể trên, công ty cần phải đánh giá lại tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và tình hình sử dụng TSNH nói riêng để tìm ra các biện pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả tổ chức quản lý và sử dụng TSNH mang lại lợi nhuận ngày càng cao cho công ty. 2.5. So sánh các chỉ tiêu tài chính giữa công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà và công ty CP Sông Đà 2 Để có một cái nhìn khái quát hơn về tình hình tài chính của CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà chúng ta đi vào so sánh các chỉ tiêu tài chính của công ty với các công ty khác cùng ngành và cùng khu vực. Công ty được đem ra so sánh với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà là công ty cổ phần Sông Đà 2. Công ty cổ phần Sông Đà 2 là một công ty hoạt động trong lĩnh vực ngành xây dựng, chuyên xây lắp các công trình thuỷ điện, giao thông, dân dụng, công nghiệp, ngoài ra công ty còn đầu tư mở rộng qui mô kinh doanh trong các lĩnh vực: kinh doanh nhà ở và hạ tầng, đầu tư thủy điện vừa và nhỏ. Địa chỉ công ty nằm tại số Km10-Đường Nguyễn Trãi, Hà Đông, Hà Nội, ra đời và hoạt động hơn 6 năm, có cơ cấu tổ chức vốn, cũng như hình thức kinh doanh gần tương đương với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đồng thời có chính sách tập trung vào sử dụng nhiều tài sản ngắn hạn. Mặc dù vậy, thời kỳ được đem so sánh là giai đoạn nền kinh tế cũng như ngành xây dựng gặp nhiều khó khăn chưa đánh giá được hết tiềm năng phát triển của cả 2 công ty. Dưới đây là sự so sánh một vài chỉ số về khả năng tài chính của hai công ty trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012: 61 Bảng 2.15. Các chỉ tiêu tài chính của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà và công ty cổ phần Sông Đà 2 Chỉ tiêu Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà Công ty cổ phần Sông Đà 2 Năm Năm 2010 2011 2012 2010 2011 2012 Tỷ trọng TSNH (%) 95,33 96,05 94,85 79,42 86,37 88,73 Vốn lƣu động ròng (triệu đồng) 199.002 223.853 204.265 114.404 137.641 137.986 Hệ số thanh toán hiện hành (lần) 1,47 1,47 1,38 1,36 1,29 1,26 Hệ số thanh toán nhanh (lần) 0,57 0,44 0,45 0,94 0,62 0,57 Hệ số thanh toán tức thời (lần) 0,28 0,07 0,12 0,25 0,08 0,12 Vòng quay TSNH (vòng) 0,55 0,41 0,44 1,20 0,86 0,78 Thời gian luân chuyển TSNH (ngày) 650 871 820 300 416 459 Suất hao phí của TSNH (lần) 1,78 2,28 2,21 0,83 1,16 1,27 Vòng quay HTK (vòng) 0,91 0,59 0,65 3,82 1,66 1,44 Thời gian luân chuyển kho trung bình (ngày) 396 610 550 94 217 251 Vòng quay khoản phải thu (vòng) 3,22 1,92 2,11 3,90 3,21 3,10 Thời gian thu tiền trung bình (ngày) 112 187 170 92 112 116 Hiệu suất sử dụng TSNH (lần) 0,56 0,44 0,45 1,35 1,02 0,82 Tỷ suất sinh lời của TSNH (lần) 0,02 0,01 0,02 0,07 0,05 0,03 (Nguồn: Tổng hợp từ www.cafef.vn/hastc/SD2-cong-ty-co-phan-song-da-2.chn ) Qua bảng so sánh 2.15 có thể đưa ra một đánh giá chung, tình hình sử dụng tài sản ngắn hạn của hai công ty ở mức rất cao, tuy nhiên qua ba năm lợi nhuận đang có xu hướng giảm đi. Thang Long University Library 62 Về tỷ trọng TSNH: công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà có tỷ trọng tài sản ngắn hạn lớn hơn so với công ty cổ phần Sông Đà 2. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà phụ thuộc vào nguồn tài sản ngắn hạn nhiều hơn so với công ty CP Sông Đà 2. Tuy nhiên đầu tư vào tài sản ngắn hạn của công ty CP Sông Đà 2 khá ổn định và tăng đồng đều trong cả 3 năm trong với tỷ trọng TSNH lần lượt là 79,42% năm 2010, 86,37% năm 2011 và 88,73% năm 2012. Trong khi đó tỷ trọng TSNH của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà năm 2012 chỉ đạt 94,85% giảm khoảng 1,2% so với năm 2011. Lý giải cho sự giảm xuống này là do năm 2012 công ty mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh mua thêm máy móc thiết bị dẫn tới việc đầu tư vào tài sản dài hạn tăng lên. Nhìn chung, công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đang có xu hướng tập trung đầu tư hơn tới TSDH còn công ty CP Sông Đà 2 thì ngược lại ngày càng đầu tư nhiều hơn vào TSNH. Về vốn lƣu động ròng: công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà có lượng vốn lưu động ròng lớn hơn so với công ty CP Sông Đà 2. Trong khoảng 3 năm gần đây vốn lưu động ròng của cả 2 công ty đều dương, điều này cho thấy cả 2 công ty đều có lượng TSNH đủ để đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn phải trả. Mặc dù nợ ngắn hạn tăng lên cùng với TSNH nhưng có tốc độ và quy mô ít hơn so với TSNH nên vốn lưu động ròng của cả 2 công ty vẫn khá cao. Đặc biệt, vốn lưu động ròng công ty CP Sông Đà 2 đang có phần chững lại và khá ổn định trong khi công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà thì lượng vốn này lại đang tăng lên trong năm 2012. Như vậy, có thể thấy khả năng tài chính của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà tốt hơn và có tính tự chủ, ít bị lệ thuộc vào các chủ nợ so với công ty CP Sông Đà 2. Cả 2 công ty đã có những chính sách hợp lý trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng TSNH để đảm bảo khả năng thanh toán, nâng cao hiệu quả và uy tín của công ty trên thị trường. Về các hệ số thanh toán: là biểu hiện mối quan hệ giữa TSNH mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ ngắn hạn phải trả.  Hệ số thanh toán hiện hành được sử dụng phổ biến nhất và nó là một trong những thước đo cơ bản để đánh giá khả năng thanh toán của một doanh nghiệp, dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Cả 2 công ty đều đang có hệ số này lớn hơn 1 cho thấy mức độ uy tín của hai công ty đều khá cao, đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.  Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng trả nợ ngắn hạn bằng các tài sản có khả năng chuyển thành tiền một cách nhanh nhất không tính đến hàng tồn kho vì hàng tồn kho là tài sản không dễ dàng chuyển đổi thành tiền. Chỉ tiêu này của cả 2 công ty đều 63 ở mức khá thấp đặc biệt còn đang có xu hướng giảm dần qua các năm ở công ty CP Sông Đà 2. Đây là chỉ tiêu được các nhà đầu tư rất quan tâm vì thông qua các chỉ tiêu này, các nhà đầu tư có thể đánh giá được tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không. Nhìn chung tỷ số này qua các năm đều nhỏ hơn 1 cho thấy tài sản ngắn hạn có thể sử dụng ngay của công ty không đủ để đảm bảo cho việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn.  Hệ số thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bất kỳ lúc nào, đặc biệt là nợ ngắn hạn đến hạn, bởi vì nguồn trang trải các khoản nợ của doanh nghiệp hết sức linh hoạt. Cả CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà và CP Sông Đà 2 đều có sự tương đồng ở chỉ tiêu này khi biến động giảm trong năm 2011 so với năm 2010 nhưng rồi đã tăng trở lại vào năm 2012. Đây là dấu hiệu cho thấy cả 2 công ty đều sử dụng chính sách tích trữ nhiều lượng tiền và các khoản tương đương tiền để tăng khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cũng như phục vụ nhu cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Về vòng quay TSNH và thời gian luân chuyển TSNH : công ty nào có số vòng quay càng cao, chứng tỏ TSNH vận động càng nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Có thể thấy công ty CP Sông Đà 2 sử dụng TSNH hiệu quả hơn rất nhiều so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà khi có số vòng quay TSNH lớn tuy nhiên lại đang có xu hướng giảm dần qua 3 năm gần đây. Trong khi đó công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đang tận dụng TSNH tốt hơn khi chỉ tiêu này đã tăng lên trong năm 2012 nhưng vẫn còn khá thấp. Tốc độ luân chuyển TSNH còn được thể hiện dưới dạng thời gian của một vòng quay, thời gian của một vòng quay ngắn , tức là tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn nhanh và DN có thể thu hồi vốn sớm. Chỉ tiêu này cũng có xu hướng tương tự với vòng quay TSNH khi công ty CP Sông Đà 2 đang có thời gian luân chuyển TSNH nhanh và tốt hơn rất nhiều so với CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà nhưng trái lại chỉ tiêu này cũng đang tăng lên đáng kể. Về suất hao phí của TSNH: qua 3 năm, suất hao TSNH của công ty CP Sông Đà 2 tăng. Năm 2010, công ty có 1 đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần 0,83 đồng giá trị TSNH, năm 2012 tăng lên 1,16 đồng và năm 2012 đạt 1,27 đồng TSNH. Chỉ số này có giá trị thấp nhất là năm 2010, chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH của công ty CP Sông Đà 2 đang giảm đi. Công ty đầu tư nhiều vào TSNH nhưng doanh thu tạo ra không tăng cùng với tốc độ tăng của TSNH. Trong khi đó chỉ số này của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà rất cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản kém, doanh nghiệp đầu tư nhiều tài sản Thang Long University Library 64 ngắn hạn nhưng lại tạo ra ít doanh thu. Cả 2 công ty cần có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tạo ra được thêm doanh thu và lợi nhuận. Về vòng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển kho trung bình: vòng quay hàng tồn kho lớn thì thời gian quay vòng nhanh hay hàng tồn kho lưu trong kho ngắn hơn, công ty thu hồi vốn từ hàng tồn kho nhanh hơn và ngược lại. Theo bảng so sánh ta thấy vòng quay hàng tồn kho của công ty CP Sông Đà 2 cao hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. Điều này cho thấy công ty Sông Đà 2 thu hồi vốn từ hàng tồn kho nhanh hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà từ đó sẽ tiết kiệm được các chi phí liên quan đến hàng tồn kho như chi phí cơ hội, chi phí đầu tư, chi phí lưu khokhả năng sinh lời cao hơn và nhanh hơn so với công ty công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. Tuy nhiên, dựa vào đặc thù của ngành xây dựng thì đều có lượng hàng tồn kho lớn và thời gian lưu kho dài. Hơn nữa, nền kinh tế trong những năm gần đây đang nằm trong thời kỳ khủng hoảng dẫn tới thời gian lưu kho của hàng tồn kho khá lớn. Để có cái nhìn trực quan hơn về sự chênh lệch của số vòng quay hàng tồn kho và thời gian quay vòng hàng tồn kho của 2 công ty trong biểu đồ dưới đây: Biểu đồ 2.10. Số vòng quay hàng tồn kho và thời gian luân chuyển kho trung bình của hai công ty giai đoạn 2010-2012 Về vòng quay khoản phải thu và thời gian thu tiền trung bình: qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy năm 2011, khoản phải thu của công ty CP Sông Đà 2 đã giảm 0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 3,5 4 Công ty CP TTVPTN Công ty CP SĐ2 0,91 3,82 0,59 1,66 0,65 1,44 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Vòng quay HTK 0 100 200 300 400 500 600 700 Công ty CP TTVPTN Công ty CP SĐ2 396 94 610 217 550 251 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Thời gian luân chuyển kho TB 65 khoảng 17,8% so với năm 2010 và sang tiếp tục giảm 3,38% vào năm 2012. Tương tự ở công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà vòng quay các khoản phải thu đã giảm trầm trọng khoảng 40,3% khi sang năm 2011 nhưng xu hướng giảm đã có phần dừng lại khi chỉ tiêu này tăng lên vào năm 2012. Mặc dù doanh thu thuần được vẫn tăng nhưng các khoản phải thu lại tăng nhiều hơn chứng tỏ chính sách quản lý các khoản phải thu của cả 2 công ty đều kém dẫn đến số vòng quay các khoản phải thu giảm đi. Thời gian thu tiền trung bình của năm 2012 cao hơn năm 2010 và 2011, đây là một dấu hiệu không tốt với doanh nghiệp khi mà doanh nghiệp khó thu hồi được tiền. Thời gian thu tiền của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà cao hơn khá nhiều so với công ty CP Sông Đà 2 chứng tỏ công ty bị chiếm dụng vốn lớn và lâu, làm tăng áp lực huy động vốn để đầu tư. Công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà cần phải có chiến lược hợp lý hơn để quản lý tốt các khoản phải thu để nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Về hiệu suất sử dụng TSNH: trong cả 3 năm qua, chỉ tiêu này của công ty CP Sông Đà 2 đều cao hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà mặc dù hệ số này đang giảm dần qua các năm. Kết quả phân tích cho thấy một đồng TSNH của công ty CP Sông Đà 2 tạo ra ngày càng ít hơn doanh thu thuần. Điều tương tự cũng đang xảy ra ở công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà khi chỉ tiêu này khá thấp và chưa có dấu hiệu tích cực nào. Lí giải cho sự giảm xuống này là do gần như cả 2 công ty đều mở rộng sản xuất nhưng lợi nhuận thu được chưa tăng. Hơn nữa, việc nới lỏng hơn các chính sách bán chịu và đầu tư thêm vào hàng tồn kho khiến cho vòng quay của TSNH giảm mạnh qua ba năm. Vì vậy, công ty cần có những chính sách hợp lý hơn trong quản lý hàng tồn kho và khoản phải thu để tăng hiệu quả quản lý TSNH và tăng khả năng sinh lời. Về tỷ suất sinh lời của TSNH: tỷ suất này của công ty CP Sông Đà 2 cao hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà trong cả 3 năm. Điều này công ty CP Sông Đà 2 mang lại nhiều lợi nhuận hơn mặc dù tỷ trọng đầu tư TSNH ít hơn nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ tốt hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đầu tư nhiều vào TSNH mà lợi nhuận thu được lại thấp. Công ty CP Sông Đà 2 có lượng TSNH nhỏ hơn nhưng tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản lại cao hơn điều này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty CP Sông Đà 2 tốt hơn công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. Kết luận: Qua việc đánh giá các chỉ số tài chính ở trên, có thể nhận thấy công ty CP Sông Đà 2 có các chỉ tiêu khá tốt và hiệu quả hơn so với công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. Tuy nhiên, thị trường bất động sản cũng như nền kinh tế nói chung còn nhiều biến động nên Thang Long University Library 66 những so sánh ở trên chỉ mang tính tương đối. Công ty CP Sông Đà 2 có các chỉ số cao hơn nhưng chưa hẳn công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà là kém hơn so với công ty CP Sông Đà 2. Khả năng thanh toán hiện hành của cả 2 công ty đều tốt cho thấy sự đảm bảo cũng như uy tín của công ty đối với các chủ đầu tư là tốt. Mặc dù vậy, hiệu quả sử dụng TSNH và khả năng sinh lời từ TSNH của cả 2 công ty hiện chưa cao, vốn đầu tư vào TSNH bị các đơn vị khác chiếm dụng trong thời gian dài với giá trị lớn. Đầu tư vào TSNH liên tục tăng nhưng hiệu quả sử dụng không tăng dẫn đến lãng phí vốn. Cả 2 công ty vẫn đang kinh doanh có lãi nhưng để tồn tại và phát triển được trong tương lai cần có thêm những biện pháp tích cực để nâng cao hiệu quả hoạt động của mình và đặc biệt là nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. 67 CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TU TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ 3.1. Định hƣớng hoạt động của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà Trong những năm qua hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết định hướng của Nhà nước, việc sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà ngày càng hoàn thiện hơn, đã đạt được một số thành tích, kết quả nhất định. Song bên cạnh đó thì công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn gặp phải một số vướng mắc và thiếu sót như đã phân tích và đánh giá ở trên. Từ thực tế đó, để quản lý và khai thác sử dụng tốt hiệu quả về tài sản ngắn hạn và nâng cao hiệu quả sử dụng nó công ty đã đề ra một số phương hướng cụ thể sau:  Tăng cường đầu tư chiều sâu của hoạt động tìm kiếm dự án, tìm hiểu nhu cầu thị trường nhà ở cũng như nhu cầu của khách hàng.  Chấn chỉnh hoạt động của các khâu cho đồng bộ hơn từ lúc dự đoán nhu cầu, làm hợp đồng kinh tế, giao nhận và phân phối hàng hóa đến các dịch vụ nhà ở sau bán hàng, đối chiếu các khoản phải thu, tiết kiệm tối đa các khoản chi phí. Đây là một khâu rất quan trọng trong công tác tổ chức hoạt động kinh doanh.  Hoàn thiện hơn việc phân cấp, phân công quản lý.  Công ty đã chủ động giao việc cụ thể cho từng đơn vị phòng ban, cuối tháng kế toán của công ty có đối chiếu cụ thể về doanh số cùng như các khoản công nợ, các khoản phải thu từ khách hàng và báo lại cho phòng kinh doanh biết về khách hàng do mình quản lý. Về mặt tài sản cố định công ty đã lập biên bản bàn giao cụ thể cho từng bộ phận và từng cá nhân trong việc bảo quản và giữ gìn tránh trường hợp hư hỏng mất mát, lập kế hoạch kiểm tra định kỳ từng tài sản này trong từng quý..  Là một doanh nghiệp xây dựng có các giao dịch với các đối tượng nước ngoài vốn phụ thuộc rất nhiều vào tỷ giá ngoại tệ, từ nét đặc thù đó, công ty cần lập kế hoạch cụ thể kịp thời điều chỉnh giá mua thiết bị để phù hợp với giá ngoại tệ nhập khẩu đảm bảo tỷ lệ lãi suất của công ty. Tránh được hiện tượng mất giá của đồng tiền làm giảm vốn trong hoạt động kinh doanh. Đây là một khâu rất quan trọng trong nét đặc thù của các doanh nghiệp kinh doanh xây dựng.  Khai thác triệt để hơn các nguồn vốn mà công ty đang có.  Từ bảng cân đối kế toán ta nhận thấy rằng lượng vốn mà công ty cần cho các hoạt động kinh doanh là rất lớn mà nguồn vốn chủ sở hữu của công ty lại rất hạn hẹp, công ty cần Thang Long University Library 68 phải sử dụng nguồn vốn vay từ bên ngoài dẫn tới chi phí sử dụng vốn lên cao. Góp phần tăng được vòng quay của vốn và lợi nhuận, giảm đi các khoản chi phí. 3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một trong những biểu hiện của năng lực sản xuất kinh doanh, là thước đo so sánh giữa chi phí bỏ ra và lợi nhuận mang lại cho công ty. Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn luôn là mục tiêu hướng tới của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. Xuất phát từ việc đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn, cùng với định hướng phát triển trong thời gian tới em xin trình bày một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà. 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Trong các năm qua Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà chưa lập kế hoạch để xác định lượng tài sản ngắn hạn sử dụng thường xuyên cho dài hạn mà thực tế lượng tài sản ngắn hạn được xác định dựa vào kinh nghiệm là chính, nghĩa là căn cứ vào số liệu của năm trước để ước tính cho năm sau nếu thiếu hụt thì đi vay để bổ sung. Cho nên, đôi khi công ty sẽ không chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh do thiếu hụt vốn hoặc thừa vốn ngắn hạn mà không biết đầu tư vào đâu dẫn đến lãng phí nên hiệu quả đem lại không cao. Do đó, để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn Công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà cần lập kế hoạch xác định nhu cầu tài sản ngắn hạn sử dụng thường xuyên cho dài hạn để có kế hoạch tài trợ thích hợp nhằm tránh trường hợp bị thiếu hụt hoặc dư thừa. 3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tiền Hiên tại công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà đang áp dụng mô hình xác định lượng tiền cần thiết dựa vào kinh nghiệm chứ chưa có chính sách quản lý tiền cụ thể nào cũng như chưa lập kế hoạch sử dụng ngân quỹ cho dài hạn do đó còn nhiều hạn chế trong việc quản lý ngân quỹ của công ty. Để cho ngân quỹ được sử dụng hiệu quả hơn công ty nên yêu cầu phòng Tài chính - Kế toán lập kế hoạch thu chi để xác định nhu cầu chỉ tiêu và nguồn thu tiền tương ứng. Kế hoạch thu chi nên chi tiết cho từng ngày, tuần, tháng, quý và năm; kế hoạch thu chi càng chi tiết thì lượng tiền được xác định có độ chính xác càng cao và nên có sự tham gia của các bộ phận, phòng ban liên quan để có độ khách quan cao. Mục đích của việc lập kế hoạch thu chi là nhằm cân đối khả năng chi trả, giảm thiểu các chi phí liên quan và làm tăng tính luân chuyển của tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh. 69 3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hàng tồn kho Xuất phát từ thực trạng của công ty: tỷ trọng hàng tồn kho của công ty ở mức cao trong tổng tài sản ngắn hạn, hơn nữa, vòng quay kho chậm, thời gian luân chuyển kho dài. Công ty chưa áp dụng một mô hình tiên tiến nào vào trong quá trình quản lý nguyên vật liệu sao cho nó có một cách khoa học, hầu hết việc quản lý là theo kinh nghiệm, việc đặt hàng với khối lượng như thế nào, lượng dự trữ trong kho là bao nhiều chưa được quản lý một cách khoa học, và chuyên nghiệp. Giải pháp cụ thể được đặt ra ở đây là nghiên cứu và lựa chọn phương pháp quản lý tồn kho nguyên vật liệu một các hợp lý. Đó là thông qua các định mức tiêu dùng nguyên vật liệu và công tác mua sắm nguyên vật liệu. Do vậy hiệu quả nó phụ thuộc nhiều vào công tác quản lý sát sao để xác định được định mức và thiết lập các mối quan hệ với nhà cung ứng đầu vào để có thể mua sắm. Trong công tác xác định mức tiêu hao nguyên vật liệu:  Với các đặc điểm riêng của công ty, việc xây dựng một mức tiêu thụ nguyên vật liệu công ty sẽ gặp nhiều khó khăn. Với mỗi một lĩnh vực, sản phẩm công ty cần có các định mức tiêu hao cụ thể. Công việc xác định này chiếm khoản thời gian khá lớn do việc sản xuất có nhiều công đoạn, nhiều khâu khác nhau.  Xây dựng định mức cụ thể cho từng khâu trong quá trình sản xuất. Việc xây dựng định mức này sẽ giúp công ty quản lý dễ dàng các nguồn nguyên vật liệu, nâng cao ý thức trách nhiệm trong từng bộ phận sản xuất. Do vậy việc quản lý toàn diện hơn, giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí, tránh sự lãng phí nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất.  Cần tiến hành kiểm tra định mức tiêu hao để có những điều chỉnh kịp thời và phù hợp khi sản xuất kinh doanh. Xác định mức tồn kho nguyên vật liệu:  Đó chính là việc xác định mức nguyên liệu dự trữ tối đa và tối thiểu để đảm bảo hoạt động sản xuất liên tục và không làm ứ đọng vốn của công ty. Bên cạnh đó việc xác định với mỗi loại nguyên vật liệu có khối lượng dự trữ cụ thể kết hợp với các phương pháp quản lý các nguyên liệu này phù hợp. Do đó cần có các phương pháp xác định lượng dự trữ thường xuyên cho các nguyên vật liệu trên để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường giữa khoảng mua sắm nguyên vật liệu. Công tác mua sắm nguyên vật liệu: Việc mua sắm nguyên vật nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất là rất phức tạp. Việc mua sắm này không chỉ đơn thuần là đi chọn và mua, mà công ty cũng cần phải tìm hiểu các nhà cung cấp các nguyên liệu, đàm phán về giá cả, phải đảm bảo rằng các nhà cung Thang Long University Library 70 cấp sẽ cung cấp ổn định cho công ty và khi có biến động về giá cả thì công ty cũng ko tự ý thay đổi về giá cả. Khi công ty cần phải có được nguồn nguyên liệu luôn. Ngoài ra công ty cũng thiết lập với nhiều nhà cung ứng để tránh tình trạng bị phụ thuộc và ép giá. Khi lập kế hoạch cho việc mua sắm công ty cũng cần chú ý:  Nêu rõ chủng loại và quy cách các loại nguyên vật liệu trong từng thời gian cụ thể.  Chỉ rõ thời gian đi mua, thời gian giao hàng, thời gian sử dụng nguyên vật liệu  Xác định khoảng thời gian kiểm tra nguyên vật liệu trong kho và dự trù khoảng thời gian ngắn để đi mua sắm nguyên vật liệu.  Kiểm kê phân loại các nguyên vật liệu. Ngoài việc quản lý nguyên vật liệu trên giấy tờ sổ sách công ty cần có những cách thức quản lý nguyên vật liệu đó là trực tiếp kiểm kê, phân loại khi nhập kho. Công việc này cần phải được thực hiện tốt ngày từ đầu. Vì khi thực hiện tốt công việc này thì công tác quản lý bảo quản sau này gặp nhiều thuận lợi. khi cần cho sản xuất có thể dễ dàng vận chuyển và vào sổ lại lượng tồn kho. Lập dự phòng hàng tồn kho: Đây là công tác cần thiết nó làm cho công tác sản xuất được ổn định, lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động. Công việc này đòi hỏi phải đánh giá phân loại và kiểm kê, giá cả thực tế trên thị trường. Để có những dự đoán chính xác, giúp phòng kế toán có thể dự trù ngân sách cho việc mua sắm vật tư. Từ đó công tác cung cấp và sử dụng mới kịp thời, không gây ứ đọng vốn. 3.2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản phải thu Tỷ lệ các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong tổng tài sản ngắn hạn. Bên cạnh đó thì kỳ thu tiền bình quân của công ty là khá cao điều đó nó thể hiện vốn lưu động của công ty đang bị chiếm dụng là rất lớn. Do đó để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cần hạn chế được lượng vốn mà công ty bị chiếm dụng. Để hạn chế được thì công ty cần nhanh chóng thu hồi lượng vốn bị chiếm dụng, hạn chế sự chiếm dụng từ ngay từ khâu ký kết hợp đồng, cung ứng sản phẩm. Đối với các khoản thu hiện tại:  Thành lập ra các ban thu hồi công nợ với nhiệm vụ theo dõi tình hình tài chính, đôn đốc việc thanh quyết toán và tìm thời điểm thích hợp yêu cầu thanh toán.  Với các khoản nợ khó đòi cần xác định được nguyên nhân và tình hình làm ăn của công ty đối tác. Tuỳ vào tình hình thực tế mà công ty có thể áp dụng các hình thức thanh 71 toán linh hoạt. Có thể là thanh toán nợ bằng sản phẩm, bằng cách nhượng lại các dự án, nguyên vật liệu,  Có hình thức khuyến khích người lao động trong việc thu hồi công nợ cho công ty. Nếu cá nhân nào thu hồi được công nợ đặc biệt là công nợ khó đòi, công nợ từ lâu thì cần trích thưởng, đãi ngộ bằng vật chất.  Hạn chế tối đa các khoản phải thu nội bộ, phải thu khác để đảm bảo cho lượng vốn được đưa vào lưu thông là nhiều nhất. Trong thời gian tới: Trước khi ký kết hợp đồng cung cấp sản phẩm hàng hoá thì cần điều tra xem xét các công nợ, tình hình tài chính của công ty trong những năm về trước và những năm tiếp theo. Các thông tin này đảm bảo cho ta biết được các đối tác là công ty có uy tín, đảm bảo nguồn tài trợ cho công ty. Bên cạnh đó công ty cần tìm hiểu rõ các nguồn vốn mua sắm máy móc thiết bị của đối tác. Bởi vì giá trị của các tài sản này có giá trị cao do vậy nguồn vốn đầu tư cho các thiết bị này thường bao gồm các trường hợp sau:  Vốn do công ty đầu tư: đối với trường hợp này công ty cần xem xét tình hình tài chính của công ty đó. Khả năng thanh toán cũng như tiềm năng phát triển của công ty đó. Các chỉ số tài chính như tỷ suất tự tài trợ, tỷ suất thanh toán là cơ sơ quan trọng đánh giá năng lực tài chính của công ty. Bên cạnh đó ngân hàng mà công ty đối tác mở tài khoản cũng là nơi cung cấp thông tin về tình hình tài chính, khả năng thanh toán của công ty. Do vậy việc tiếp cận được nguồn thông tin này là rất quan trọng để công ty lựa chọn đối tác phù hợp nhất.  Nguồn vốn được tài trợ từ bên ngoài, từ Nhà Nước: đối với trường hợp này công ty cần tìm hiểu quyết định cấp vốn, các khâu cấp vốn hạn chế các khâu trung gian giảm thiểu chi phí phát sinh và tiếp cận nguồn vốn đó một cách nhanh nhất.  Khi ký kết các hợp đồng cần có các điều khoản quy định rõ điều kiện về các khoản như: tiền ứng trước, thời gian thanh toán từng giai đoạn, phương thức thanh toán và quy định rõ trách nhiệm khi mà không thực hiện đúng các khoản trong hợp đồng. Bên cạnh đó khuyến khích đối tác thanh toán trước thời hạn. Tạo lập quỹ dự phòng phải thu: Quỹ dự phòng phải thu được tạo lập nhằm hạn chế của những tác động khi có rủi ro không thu được các khoản nợ. Thời điểm lập quỹ dự phòng, mức lập dự phòng dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và tổng mức nợ của khách hàng. Công ty cần xác lập những tiêu Thang Long University Library 72 chí cụ thể về thời gian quá hạn trả nợ, khối lượng các khoản nợ, đặc điểm loại hình doanh nghiệp và lịch sử thanh toán của khách hàng để việc trích tỷ lệ quỹ dự phòng được chính xác và phù hợp nhất. Việc trích lập quỹ dự phòng là cần thiết, nó phản ánh rõ ràng và sát thực hơn bản chất các khoản phải thu. Nó cũng tạo ra một quỹ dự phòng để đảm bảo cho hoạt động của công ty được ổn định, không bị xáo trộn, và không có biến động lớn xảy ra cho lợi nhuận của công ty, một điều mà nhà đầu tư quan tâm đặc biệt trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay. Mặt khác việc nhận định, đánh giá thường xuyên các khoản phải thu sẽ nâng cao nhận thức và từ đó nâng cao trách nhiệm và hiệu quả thu nợ. 3.2.5. Nâng cao vai trò của lãnh đạo công ty về công tác quản lý tài sản ngắn hạn Xuất phát từ đặc điểm của ngành xây dựng, cho nên công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty, đồng thời để công ty hoàn thành trách nhiệm trong việc ổn định và thúc đẩy ngành xây dựng nước nhà phát triển. Do đó, lãnh đạo công ty cần quan tâm đúng mức tới công tác quản lý tài sản ngắn hạn, từ đó có sự đầu tư thoả đáng nhằm tổ chức nghiên cứu các biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty hơn nữa. 3.2.6. Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý Nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy là rất cần thiết cho công ty tác quản lý của công ty. Nguồn thông tin cung cấp bao gồm: thông tin từ kế toán và thông tin từ bên ngoài.  Thông tin kế toán: là số liệu của các báo cáo tài chính phục vụ cho công tác quản trị doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh nghiệp dựa vào số liệu của các báo cáo tài chính đưa ra các quyết định kịp thời mang tính chiến lược cho công tác quản lý của mình hoặc đưa ra quyết định đầu tư cho các dự án phát triển công ty trong tương lai.  Thông tin bên ngoài: công ty có thể thu thập thông tin bên ngoài từ nhiều luồng khác nhau thông qua trên báo, đài, các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên mạng internet để phục vụ cho công tác quản lý của mình. Khi thu thập thông tin bên ngoài cần phải tổng hợp, phân loại và chỉ chọn những thông tin hữu ích phục vụ cho công tác quản lý của công ty, đặc biệt như:  Sử dụng thông tin kế toán và thông tin bên ngoài để lập công tác kế hoạch hoá tài chính nhằm xác định nhu cầu vốn sử dụng thường xuyên cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một thời hạn nhất định, nhất là vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn. 73  Sử dụng thông tin bên ngoài để theo dõi giá thành của sản phẩm trên thị trường, theo dõi giá của đối thủ cạnh tranh để có chính sách thích hợp cho từng mặt hàng ở từng thời điểm khác nhau.  Mua thông tin chuyên ngành để phục vụ công tác lập dự báo cho kế hoạch sản xuất kinh doanh. 3.2.7. Giải pháp tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ Trong quá trình sản xuất, con người là nhân tố quan trọng. Con người có nhiệm vụ trực tiếp biến các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra. Cán bộ quản lý có chuyên môn, kinh nghiệm mới đưa ra quyết định một cách khoa học chính xác, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các phòng ban tổ chức năng có nhiệm vụ điều hoà, phối hợp các hoạt động các phòng ban với nhau trong công ty. Việc nâng cao trình độ quản lý đặc biệt là trình độ chuyên môn là vấn đề vô cùng quan trọng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ. Giải pháp hiện nay đó là:  Đối với cán bộ lãnh đạo, họ đều là những người có kinh nghiệm, có chuyên môn, một số người đã qua đào tạo bài bản, một số người trưởng thành từ công nhân qua kinh nghiệm học hỏi rồi phấn đấu lên. Chính vì vậy mà thời điểm hiện nay có thể vẫn đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo nhưng trong tương lai cần một ban lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy với thời cuộc. Cần tìm kiếm những nhân viên trẻ có trình độ, đạo đức, nhiệt tình để bồi dưỡng dần dần đưa họ vào các vị trị phó phòng, trưởng phòng, để xây dựng lên đội ngũ kế cận năng động sáng tạo.  Đối với nhân viên quản lý, thường xuyên thì công ty nên tổ chức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn để bổ sung kiến thức, đặc biệt là các kiến thức công nghệ xây dựng hiện đại. Tạo điều kiện, khuyến khích nhân viên đi học thêm các chương trình đào tạo của đối tác nước ngoài.  Đối với nhân viên kỹ thuật, trình độ của họ quyết định trực tiếp tới việc sử dụng máy móc thiết bị trong công ty từ đó quyết định tới khả năng suất trong qua trình sản xuất. Trong thời gian vừa qua nhiều máy móc, thiết bị mới được đầu tư đổi mới hoàn toàn, vì thế mà trình độ của họ cần phải được nâng cao để có thể vận hành được các máy móc thiết bị một cách có hiệu quả. Để thực hiện được điều này thì khi chuyển giao các công nghệ mới công ty cần ưu tiên chuyên giao các công nghệ bao gồm cả phần cứng và phần mềm. Tổ chức các lớp tập huấn trước khi đưa các thiết bị này vào sử dụng.  Đối với công nhân cần khuyến khích họ nâng cao tay nghề qua việc tổ chức các lớp đào tạo công nhân trẻ, học hỏi từ các công nhân đã có tay nghề, tổ chức thi đua giữa các Thang Long University Library 74 đội, Công ty cũng cần có những sự quan tâm bằng vật chất để động viên các anh em công nhân trong các đơn vị khi hành thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 3.2.8. Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quản lý  Nâng cấp và phát triển các phần mềm tin học phục vụ cho công tác quản lý tài chính của công ty, ưu tiên phát triển các phần mềm phục vụ cho công tác nghiên cứu, dự báo thị trường như: thị trường khách hàng, thị trường tài chính tiền tệ để tăng tính cạnh tranh về vốn của công ty với các đối thủ.  Đầu tư nghiên cứu phát triển các công nghệ sản xuất.  Đầu tư phát triển cơ sở vật chất như các thiết bị máy tính, văn phòng làm việc, nhà xưởng, kho hàng theo hướng hiện đại tránh lạc hậu. Rà soát lại danh mục tài sản, thiết bị quản lý đã lỗi thời, lạc hậu hết giá trị sử dụng nhằm mục để xuất giải pháp là thanh lý, bán đấu giá để loại chúng ra khỏi danh mục tài sản hoặc đầu tư nâng cấp đối với những thiết bị, tài sản còn sử dụng được để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty. 3.2.9. Một số giải pháp khác  Nâng cao công tác tài trợ cho tài sản ngắn hạn từ đó tiết kiệm chi phí sử dụng vốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.  Đưa ra chính sách bán hàng thích hợp để tăng doanh thu. Từ đó làm tăng vòng quay vốn lưu động kéo theo làm giảm chi phí sử dụng vốn.  Đẩy nhanh tiến độ thi công, giảm bớt khối lượng công trình dở dang. Tập trung đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhân lực, vật tư để rút ngắn thời gian thi công. Đồng thời công ty nên đề ra các chính sách khuyến khích người lao động tăng năng suất thi công bằng hình thức khen thưởng vật chất, tinh thần đồng thời xử lý kỷ luật các cá nhân, tập thể thờ ơ, thiếu trách nhiệm với công việc, tổ chức giám sát thi công tại công trình một cách chặt chẽ và nghiêm khắc xử lý vi phạm. KẾT LUẬN Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có vai trò hết sức quan trọng của các doanh nghiệp nói chung và của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà nói riêng. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn góp phần nâng cao công tác quản lý tài chính, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không phải là vấn đề giải quyết ngày một ngày hai mà nó là mục tiêu phấn đấu lâu dài của công ty. Trong những năm qua công ty đã có nhiều cố gắng, tích cực vươn lên trong sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sau thuế ổn định tuy nhiên cũng gặp phải không ít những khó khăn về việc sử dụng tài sản ngắn hạn sao cho có hiệu quả. Việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà Bình trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang chuyển sang cơ chế thị trường có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn. Với thời gian thực tập quý báu tại công ty công ty CP Tu Tạo Và Phát Triển Nhà bằng việc so sánh, đánh giá những kiến thức lý thuyết, áp dụng chúng vào điều kiện cụ thể của công ty đã cho em cái nhìn trực quan sinh động về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty. Có thể thấy trong những năm qua hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty còn thấp nhưng để đứng vững và phát triển trong môi trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, công ty luôn cố gắng tích cực vươn lên, công tác quản lý và sử dụng vốn được chú trọng hơn, nhiều giải pháp hữu hiệu được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tạo ra sự vững chắc về tài chính và khả năng sinh lời cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Lan Anh, cùng ban lãnh đạo công ty, các anh chị trong phòng tài chính kế toán đã giúp em hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2014 Sinh viên Nguyễn Đức Thịnh Thang Long University Library DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS Lưu Thị Hương (2005), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê 2. Nguyễn Hải Sản (1998), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê. 3. Trường đại học kinh tế quốc dân (2002), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản giáo dục. 4. Trường đại học kinh tế quốc dân (2005), Giáo trình pháp luật kinh tế, Nhà xuất bản thống kê. 5. Luật doanh nghiệp 2005. 6. Vũ Duy Hào – Đàm Văn Nhuệ (1998), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê. 7. Nguyễn Thế Khải (1997), Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội 8. Trần Ngọc Thơ (2003), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê. 9. Website tài chính, chứng khoán – www.cophieu68.com , www.cafef.vn PHỤ LỤC 1. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà giai đoạn 2010 – 2012. 2. Bảng cân đối kế toán của công ty Cổ Phần Tu Tạo Và Phát Triển Nhà trong giai đoạn 2010 – 2012. 3. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty CP Sông Đà 2 giai đoạn 2010 – 2012. 4. Bảng cân đối kế toán của công ty CP Sông Đà 2 giai đoạn 2010 – 2012. Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa16401_9674_6155.pdf
Luận văn liên quan