Khóa luận Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội

- Theo dõi tình hình, xu hƣớng vận động và phát triển của các ngành nghề để có biện pháp điều chỉnh việc cho vay khách hàng ở những ngành nà y cho kịp thời khi có những biến động đột xuất. - Đánh giá chính xác khả năng khả nợ của khách hàng. Khi đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn, Ngân hàng cần nắ m rõ nguồn trả nợ chính, tức khả năng sinh lời của phƣơng án vay và các nguồn thu khác mà khách hàng có thể cam kết để trả nợ cho ngân hàng khi nguồn trả nợ có vấ n đề. - Định kỳ hàng tháng, hàng quý tổ chức phân tích nợ quá hạn, theo đó để phân loại nợ tốt hay xấu và kịp thời xử lý chế tài về tín dụng. Bên cạnh đó, tăng cƣờng công tác kiể m tra, kiểm soát các chuyên đề về tín dụng của cấp trên để uốn nắn kịp thời sai sót nhằm hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh. - Nâng cao khả năng đo lƣờng các loại rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Muốn vậy, ngân hàng phải xem xét môi trƣờng kinh doanh trong tƣơng lai và dự đoán sự ảnh hƣởng của nó đối với cán cân lợi nhuận và rủi ro cũng nhƣ tình thế hiện tại của ngân hàng trƣớc khi quyết định lựa chọn mức độ rủi ro có thể chấp nhận đƣợc. - Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng phải đƣợc hình thành cho từng khoản vay và phải đƣợc lập ngay từ đầu nă m tài chính. Ngân hàng cần theo dõi, đánh giá rủi ro theo mức độ tổn thất trung bình trong 6 năm gần đây để từ đó là m cơ sở tạo lập quỹ. - Thực hiện tốt các bƣớc và quy trình tài trợ sẽ giúp cho cán bộ ngâ n hàng dễ dàng trong việc kiểm tra xét duyệt các dự án tài trợ, chỉ ra đƣợc các sai sót từ đó có điều chỉnh kịp thời tránh rủi ro sau này. - Ngân hàng có thể tham gia bảo hiểm tín dụng xuất nhập khẩu vì nó có thể góp một phần để ngân hàng bồi thƣờng khi rủi ro xảy ra theo quy định. - Tăng cƣờng công tác quản lý một cách chặt chẽ. Một khi công tác quản lý, quản trị đƣợc thực hiện sát sao sẽ giúp các ngân hàng tránh đƣợc những rủi ro không đáng có, nhanh chóng tìm ra các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.

pdf109 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 27/03/2015 | Lượt xem: 1126 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
- Duy trì, củng cố mối quan hệ với các khách hàng truyền thống, đồng thời tiếp cận với các khách hàng mới, có tiềm năng. Đẩy mạnh hoạt động marketing ngân hàng nhằm thu hút thêm nhiều khách hàng. II. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG Á - CHI NHÁNH HÀ NỘI 1. Nhóm giải pháp vĩ mô 78 1.1. Tạo môi trƣờng pháp lý thuận lợi thúc đẩy hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Nhà nƣớc ta đã ban hành hai Pháp lệnh ngân hàng vào năm 1990 và năm 1997 và các văn bản dƣới luật tạo khung pháp lý cho hoạt động của ngành ngân hàng. Tuy nhiên các văn bản này trong quá trình thực hiện còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho hoạt động của các ngân hàng. Vì vậy, Nhà nƣớc cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện môi trƣờng pháp lý đầy đủ, thống nhất, chặt chẽ cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Hoạt động bảo lãnh của ngân hàng hiện nay chƣa có Luật bảo lãnh chi phối mà mới chỉ có bộ luật dân sự Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng quy định một số điều khoản về nghiệp vụ này. Các văn bản luật này cũng có quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch bảo lãnh, các hình thức, phạm vi, nguyên tắc của bảo lãnh. Thủ tục bảo lãnh chƣa thuận tiện, các yêu cầu về tài sản thế chấp xin bảo lãnh còn gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Ngoài ra, phần lớn các văn bản quy định về bảo lãnh mới chỉ có các quy định về bảo lãnh nƣớc ngoài mà chƣa có các quy định cụ thể về nghiệp vụ bảo lãnh trong nƣớc, việc ký quỹ của khách hàng, việc trích lập quỹ và sử dụng quỹ bảo lãnh chƣa khoa học… Do đó cần cụ thể hoá các quy định về nghiệp vụ bảo lãnh, cụ thể các thủ tục bảo lãnh để tạo thuận lợi cho hoạt động bảo lãnh của ngân hàng. Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm quyết định 324 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc còn nhiều vƣớng mắc. Các quy định về tài sản thế chấp, đảm bảo tiền vay còn nhiều bất cập gây khó khăn cho hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo quy định của Chính phủ, doanh nghiệp nhà nƣớc không phải thế chấp tài sản khi làm thủ tục vay vốn. Nhƣng khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, giải thể hay phá sản thì việc thu hồi khoản vay của ngân hàng hết sức khó khăn. Khi doanh nghiệp bị giải thể, chủ nợ đảm bảo đƣợc phần tài sản đảm bảo còn khoản vay ngân hàng đƣợc xác định là nợ không có đảm bảo nên việc xử lý tài sản của doanh nghiệp để 79 trả nợ ngân hàng cũng rất rắc rối. Trong thời gian trƣớc mắt, Chính phủ cần ban hành đầy đủ các văn bản pháp lý về hoạt động cho vay, đặc biệt là ban hành một Nghị định về đảm bảo tiền vay. Đồng thời bổ sung, hoàn thiện những điểm chƣa hợp lý của các văn bản hiện hành nhƣ điều kiện cho vay, xác định vấn đề đảm bảo nợ gốc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc, cụ thể trách nhiệm của các bên trong việc thẩm định xét duyệt dự án… Các văn bản luật và dƣới luật điều chỉnh hoạt động thuê mua tài chính cũng thiếu đồng bộ gây khó khăn cho các công ty thuê mua. Các vấn đề về quan hệ giữa quyền sử dụng và quyền chiếm hữu, vấn đề chuyển quyền sở hữu tài sản sau khi ký kết hợp đồng thuê mua, đồng tiền áp dụng trong thanh toán hợp đồng thuê mua cũng chƣa rõ ràng. Do vậy, để tín dụng thuê mua phát triển phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế thì nhà nƣớc phải có sự điều chỉnh, tạo cơ chế hoàn thiện cho hoạt động này. 1.2. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khai thác và cập nhật những thông tin liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu Một vần đề bức xúc hiện nay đang đƣợc đặt ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam là thiếu thông tin: thông tin về thị trƣờng, kinh tế, chính trị, xã hội của các nƣớc đối tác, năng lực tài chính của các đối tác... và cả thông tin về hoạt động tài chính của Chính phủ nhằm hỗ trợ cho họ trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Trong vấn đề này, Việt Nam nên học tập các nƣớc có nền kinh tế phát triển (Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông...) về việc thu thập thông tin từ thị trƣờng, đối tác nƣớc ngoài nhƣ: thiết lập các văn phòng ở các nƣớc chuyên làm nhiệm vụ thu thập và cung cấp thông tin miễn phí cho các doanh nghiệp của họ, phát triển thị trƣờng chứng khoán qua đó nêu bật đƣợc tình hình tài chính của các doanh nghiệp và khuếch trƣơng uy tín của họ. Ngoài ra, cần có chƣơng trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia các cuộc hội chợ triển lãm, quảng cáo trong và ngoài nƣớc, khảo sát tìm hiểu thị trƣờng nƣớc ngoài, nâng cao vai trò của các đại diện thƣơng mại, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có đại diện tại các thị trƣờng quốc tế. Thêm vào đó là phải tổ chức tốt công tác thông tin về tình hình thị 80 trƣờng, hàng hoá, giá cả; tổ chức thông tin thông suốt, nhiều chiều giữa Bộ Thƣơng mại- Thƣơng vụ- Doanh nghiệp. Yêu cầu về chất lƣợng thông tin trong thời gian tới phải là: phản ánh tình hình cung cầu thị trƣờng kịp thời, có tính dự báo và hƣớng dẫn kinh doanh. 1.3. Hỗ trợ cho các ngân hàng tham gia hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Chính sách mở cửa nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng của nƣớc ta trong những năm gần đây đã thu hút sự đầu tƣ của nhiều ngân hàng lớn trên thế giới. Việc các ngân hàng nƣớc ngoài này mở chi nhánh hay liên doanh tại Việt Nam vừa mang lại những lợi ích do mở rộng thị trƣờng tài chính vừa tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt đối với các ngân hàng trong nƣớc. Các ngân hàng nƣớc ngoài với thế mạnh về vốn, công nghệ và kinh nghiệm vƣợt trội đã chiếm lĩnh thị trƣờng tín dụng của các ngân hàng trong nƣớc đặc biệt là lĩnh vực xuất nhập khẩu – một lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, các ngân hàng này lại chỉ chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm tới hiệu quả kinh tế xã hội mà Nhà nƣớc ta đề ra. Do vậy, Nhà nƣớc cần có các biện pháp hỗ trợ giúp các ngân hàng trong nƣớc nhƣ cấp thêm vốn điều lệ, giảm thuế thu nhập trên phần thu từ tài trợ xuất nhập khẩu, trợ giúp về kỹ thuật công nghệ… để các NHTM trong nƣớc có đủ sức cạnh tranh, thực hiện thành công nhiệm vụ tài trợ xuất nhập khẩu theo đúng chủ trƣơng của Nhà nƣớc. 1.4. Huy động vốn quốc tế phục vụ cho tài trợ xuất nhập khẩu Việc thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài trong điều kiện nguồn vốn trong nƣớc còn nhỏ bé là vô cùng cần thiết để phát triển hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Chính phủ có thể thu hút vốn quốc tế từ nhiều nguồn nhƣ tín dụng nhà nƣớc đƣợc ký kết qua các hiệp định giữa các Chính phủ, tín dụng từ các tổ chức tài chính quốc tế dành cho Chính phủ nƣớc đi vay nhiều điều kiện thuận lợi nhƣ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính 81 quốc tế cũng nhƣ của Chính phủ các nƣớc phát triển dành cho các nƣớc đang phát triển nhƣ nƣớc ta ngày càng giảm. Vì vậy, Chính phủ cần tạo ra một môi trƣờng kinh tế vĩ mô ổn định, xây dựng hệ thống pháp lý hoàn thiện và cơ chế chính sách thu hút vốn đồng bộ thông thoáng; đồng thời giám sát việc sử dụng vốn một cách hiệu quả để có thể thu hút đƣợc các nhà tài trợ quốc tế. 2. Nhóm giải pháp vi mô 2.1. Giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 2.1.1. Tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trƣờng là một khâu quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì việc nghiên cứu, tìm hiểu thị trƣờng lại càng có tính chất quyết định đến thành bại của thƣơng vụ xuất nhập khẩu. Nếu doanh nghiệp xuất nhập khẩu không nghiên cứu kỹ tình hình thị trƣờng hàng hoá, biến động cung cầu, tình hình chính trị, chính sách thƣơng mại của nƣớc đối tác cũng nhƣ các thông tin về bạn hàng nhƣ tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính… thì rất dễ gặp rủi ro trong kinh doanh và làm giảm hiệu quả của hoạt động tài trợ của ngân hàng. Vì vậy, tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trƣờng sẽ nâng cao tính khả thi của dự án kinh doanh xuất nhập khẩu, từ đó phát huy vai trò tài trợ của ngân hàng. Để có thể thực hiện tốt công tác nghiên cứu thị trƣờng thì các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn nhƣ từ các phƣơng tiện thông tin đại chúng, từ chính khách hàng của đối tác nƣớc ngoài, từ các văn phòng đại diện về thƣơng mại của Chính phủ, thông qua các cuộc hội chợ triển lãm… Dựa trên các thông tin thu thập đƣợc, phân tích đối chiếu để từ đó xây dựng đƣợc một phƣơng án kinh doanh hiệu quả nhất vừa mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp vừa tránh rủi ro cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng. 2.1.2. Nâng cao năng lực của cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu 82 Các doanh nghiệp muốn thực hiện thành công các thƣơng vụ kinh doanh xuất nhập khẩu, nhận đƣợc sự tài trợ của ngân hàng thì các cán bộ phải có năng lực, thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu cũng nhƣ am hiểu về các dịch vụ tài trợ xuất nhập khẩu của các NHTM bao gồm Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cung cấp. Chỉ có am hiểu về các loại hình tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể lựa chọn cho mình một phƣơng thức tài trợ phù hợp và hiệu quả nhất. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tuyển chọn và đào tạo đƣợc một đội ngũ các cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu có trình độ cao để tiến hành thƣơng vụ thành công, tránh rủi ro khi làm ăn với đối tác nƣớc ngoài, phát huy hiệu quả tài trợ của ngân hàng. 2.1.3. Tăng cường phối hợp hoạt động với ngân hàng Ngân hàng là nơi có thể cung cấp các thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nhất là đối với các đơn vị mới bƣớc ra thƣơng trƣờng quốc tế còn thiếu hiểu biết về đối tác nƣớc ngoài cũng nhƣ chƣa có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngân hàng có thể giúp các doanh nghiệp tiến hành thẩm tra tƣ cách pháp lý, khả năng tài chính, khả năng thực hiện hợp đồng của đối tác nƣớc ngoài cũng nhƣ tƣ vấn cho doanh nghiệp để họ có thể ký kết, thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu và hƣớng dẫn sử dụng nguồn vốn tài trợ một cách có hiệu quả nhất. Ngƣợc lại, doanh nghiệp cũng nên cung cấp các thông tin trung thực để ngân hàng có thể giám sát hoạt động xuất nhập khẩu cũng nhƣ việc sử dụng vốn tài trợ nhằm mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và doanh nghiệp. 2.2. Giải pháp đối với Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội 2.2.1. Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn Trƣớc hết phải thấy rằng, việc xây dựng chiến lƣợc kinh doanh dài hạn là một trong những nhân tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng trong tƣơng lai. Chiến lƣợc kinh doanh dài hạn mang tính chất định hƣớng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng trong hiện tại và tƣơng lai. Nếu xây dựng chiến lƣợc không phù hợp với thực lực của ngân hàng và nhu cầu 83 của thị trƣờng thì ngân hàng đó sẽ lựa chọn các bƣớc đi sai lầm, do đó sẽ tác động xấu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Còn nếu không có chiến lƣợc kinh doanh dài hạn thì ngân hàng đó sẽ không thể lƣờng trƣớc những biến động có thể xảy ra, từ đó cũng không có những biện pháp để khắc phục. Trong những năm qua, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội luôn luôn xây dựng chiến lƣợc kinh doanh dài hạn nhƣ kế hoạch 2001-2005 và thƣờng xuyên lập kế hoạch cho từng năm nên ngân hàng luôn chủ động trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ ngày càng gay gắt, thị trƣờng tín dụng hết sức sôi động. Qua nghiên cứu tình hình thị trƣờng và khả năng hiện tại của ngân hàng, xin đề xuất một số ý kiến sau về công tác xây dựng chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng: - Ngoài việc tiếp tục giữ mối quan hệ với khách hàng truyền thống thì ngân hàng cần thu hút thêm nhiều khách hàng mới. - Phải có đƣợc một cơ cấu huy động và cho vay mục tiêu. Cơ cấu đó phải đảm bảo khả năng sinh lời và an toàn cho ngân hàng, đồng thời dễ dàng thay đổi cơ cấu về số lƣợng khách hàng khi tham gia giao dịch với khách hàng. - Phải đảm bảo tính linh hoạt trong hoạt động huy động và cho vay. Muốn đạt đƣợc những mục tiêu này, cần phải thực hiện một số các giải pháp cụ thể sau: - Ngân hàng phải đẩy mạnh hoạt động quan hệ tốt hơn nữa, cung cấp các dịch vụ tối ƣu đối với những khách hàng truyền thống của mình, qua đó thu hút thêm các khách hàng mới. - Phục vụ tất cả các khách hàng có nhu cầu vay vốn, có đủ điều kiện theo quy định. - Khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Đông Á là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, do vậy ngân hàng cần phải có biện pháp cho vay linh hoạt hơn nữa mà vẫn đảm bảo các yêu cầu an toàn trong công tác cho vay để tránh 84 tình trạng không đáp ứng đƣợc nhu cầu vay vốn của họ khi mà họ không có đủ các điều kiện về tài sản đảm bảo trong quy trình nghiệp vụ tín dụng. Ngân hàng cần đánh giá kế hoạch kinh doanh, uy tín sức mạnh của họ đối với các ngân hàng khác chứ không chỉ dựa vào tài sản đảm bảo, Ngân hàng chỉ nên xem tài sản đảm bảo là một yếu tố cần thiết để gán trách nhiệm của khách hàng với khoản vay chứ không nên coi đó nhƣ là điều kiện để thực hiện khoản vay. 2.2.2. Đẩy mạnh công tác huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ phục vụ cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Bất cứ một tổ chức kinh tế nào muốn hoạt động đều phải có vốn, đặc biệt là đối với một ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, chủ yếu đi vay để cho vay. Vì vậy, để hoạt động hiệu quả trong các lĩnh vực nói chung và trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng thì ngân hàng cần phải có những biện pháp tích cực nhằm thu hút vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội có thể áp dụng các biện pháp để đẩy mạnh công tác huy động vốn nhƣ sau: - Tiến hành một chƣơng trình thu hút nguồn vốn trong các tầng lớp dân cƣ và doanh nghiệp tƣ nhân bằng cách mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng, mở tài khoản tiền gửi cá nhân tại ngân hàng, tài khoản tiền gửi hƣu trí, tiền gửi các tổ chức xã hội. Đồng thời đa dạng hoá các lĩnh vực huy động: ngoài tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn thì ngân hàng có thể huy động kỳ phiếu trả lãi trƣớc, phát triển các hình thức gửi rút tiền tự động, nhân rộng hình thức trả lƣơng hộ cho các doanh nghiệp để có điều kiện huy động vốn. - Thực hiện chính sách lãi suất hợp lý và linh hoạt, phù hợp với từng đối tƣợng khách hàng, từng loại tiền gửi để sao cho thuận tiện nhất cho khách hàng. - Ngân hàng luôn phải đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng khi họ có nhu cầu, đảm bảo uy tín của mình với khách hàng, tạo sự tin tƣởng cho khách hàng gửi tiền. 85 - Khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện thanh toán qua ngân hàng bằng cách cắt giảm biểu phí thanh toán xuất khẩu qua ngân hàng để thu đƣợc thêm ngoại tệ. - Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hoàn thiện dịch vụ chi trả kiều hối… 2.2.3. Đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu Nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng. Hoạt động ngân hàng nghèo nàn là điều bất lợi khi hội nhập vào thị trƣờng tài chính trong nƣớc cũng nhƣ thị trƣờng tài chính quốc tế, nơi có rất nhiều ngân hàng và tổ chức phi ngân hàng. Hiện nay, hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của các NHTM Việt Nam nói chung và của Ngân hàng Đông Á nói riêng còn đơn điệu về hình thức, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu tài trợ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Vì vậy, đa dạng hoá hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu là một yêu cầu tất yếu để phát triển hoạt động này. Trong hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng, việc đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ thu hút đƣợc nhiều khách hàng đến với ngân hàng vì khách hàng có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn hình thức tài trợ phù hợp với đặc thù kinh doanh của mình. Trong tình hình hiện nay, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cần mở rộng các loại hình tài trợ cung cấp cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhƣ triển khai thực hiện các hình thức tài trợ mới mà thế giới đang áp dụng hiệu quả nhƣ factoring, forfaiting. Nhà nƣớc vừa công bố cho phép Ngân hàng Đông Á thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, vì vậy Ngân hàng Đông Á Hội sở và chi nhánh Hà Nội cần có kế hoạch về huy động vốn đủ lớn, về đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ... để có thể triển khai sớm nghiệp vụ này, mang lại hiệu quả cao hơn nữa cho hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng. Ngay cả với những loại hình tài trợ truyền thống, Ngân hàng cũng cần hoàn thiện, đa dạng hoá để phù hợp với nhu cầu hiện nay. Về tài trợ nhập khẩu, Ngân hàng nên tiến hành nghiệp vụ thuê mua tài chính chứ không chỉ dừng lại ở dịch vụ cho vay thông thƣờng hay mở L/C nhập khẩu hàng hoá 86 nhƣ hiện nay. Đối với hình thức chiết khấu bộ chứng từ theo L/C xuất, để có thể đạt đƣợc doanh thu về chiết khấu chứng từ cao hơn nữa mà vẫn đảm bảo đƣợc các yêu cầu về an toàn trong công tác tài trợ, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội có thể đƣa ra một số yêu cầu nhƣ sau khi thực hiện chiết khấu: - Bộ chứng từ khách hàng xuất trình phải hoàn hảo, phù hợp với quy định trong L/C. - Ngân hàng mở L/C hoặc ngân hàng đƣợc uỷ quyền trả tiền là ngân hàng có uy tín, có quan hệ tốt với Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, có giao dịch thƣờng xuyên, thanh toán nhanh. - Khách hàng cam kết hoàn trả số tiền ngân hàng đã chiết khấu khi nhận đƣợc thông báo từ chối thanh toán chứng từ của ngân hàng nƣớc ngoài. - Thị trƣờng kinh doanh là thị trƣờng quen thuộc. Ngoài hình thức cấp tín dụng thông thƣờng mà Chi nhánh vẫn thƣờng thực hiện là cấp tín dụng từng lần theo mục đích tài chính cụ thể, Chi nhánh có thể thực hiện cấp tín dụng theo hạn mức. Theo phƣơng thức này, sau khi Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội và khách hàng thoả thuận một hạn mức tín dụng, cán bộ tín dụng sẽ cho phép doanh nghiệp rút tiền vay trong phạm vi hạn mức đã cấp trong một thời hạn cụ thể. Lãi suất tín dụng là do Chi nhánh và khách hàng thoả thuận. Hạn mức tín dụng có thể đƣợc tái lập vào cuối kỳ. Đặc biệt, Chi nhánh nên thực hiện mở rộng nghiệp vụ bảo lãnh. Hiện nay, phần lớn các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam chủ yếu là các nhà doanh nghiệp chƣa có tiếng trên thị trƣờng quốc tế nên ít đƣợc các đối tác nƣớc ngoài tin tƣởng. Do vậy, việc bảo lãnh cho các doanh nghiệp là nhu cầu không thể thiếu, đặc biệt là trong quá trình tìm kiếm khả năng xuất khẩu. Việc mở rộng các loại hình bảo lãnh chứ không chỉ dừng lại ở việc bảo lãnh vay vốn nƣớc ngoài nhƣ hiện nay vừa góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong kinh doanh vừa thu hút thêm nhiều khách hàng mới mang lại thu nhập cho ngân hàng nhờ tăng thu phí bảo lãnh. 87 Nhằm đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng, ngoài việc cần triển khai các nghiệp vụ cụ thể trên, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cần có biện pháp phối hợp các nghiệp vụ ngân hàng tạo thành một chu trình tài trợ khép kín, tránh những trƣờng hợp nhƣ khách hàng giao dịch nội tệ tại Chi nhánh, nhƣng lại sang Ngân hàng Ngoại thƣơng hay một ngân hàng khác để giao dịch ngoại tệ. Để làm đƣợc điều này, Chi nhánh phải không ngừng cải tiến công nghệ, kỹ thuật, nâng cao uy tín trong các dịch vụ mình cung cấp. Đồng thời Chi nhánh có thể đƣa ra các quy định với khách hàng nhƣ là: cho vay với lãi suất và thời hạn ƣu đãi với những khách hàng xuất khẩu có hiệu quả, uy tín nhƣng khách hàng phải cam kết chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất khẩu tại Chi nhánh và bán ngoại tệ thu đƣợc cho Chi nhánh; quy định chỉ cho vay thực hiện hợp đồng xuất khẩu nếu khách hàng cam kết tiến hành thanh toán qua Chi nhánh... Đối với những khách hàng truyền thống kinh doanh xuất khẩu có hiệu quả, vay trả đúng cam kết thì Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội nên mạnh dạn kết hợp nghiệp vụ ứng trƣớc tiền hàng với những điều kiện ƣu đãi về lãi suất, thời hạn hoàn trả... nhằm giúp Chi nhánh mở rộng dƣ nợ cho vay xuất khẩu. Làm đƣợc nhƣ vậy sẽ giúp Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội phát triển đồng đều và đa dạng các nghiệp vụ trong các lĩnh vực, đặc biệt là với sự phát triển hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu bởi đây là nghiệp vụ đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều phòng ban nghiệp vụ khác nhau. 2.2.4. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả vốn vay sau này, vì qua công tác thẩm định giúp cho ngân hàng có thể chủ động trong việc tham gia tƣ vấn, nhận định tình hình thực tế của khách hàng và từ chối ngay từ đầu những dự án không khả thi, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu, trƣớc khi đƣa ra quyết định có tài trợ cho doanh nghiệp hay không thì việc đầu tiên mà ngân hàng phải làm là phải đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính và tổ chức 88 hoạt động của doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Những yếu tố này sẽ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả các khoản tài trợ cho ngân hàng của doanh nghiệp. Để có thể đánh giá đƣợc các yếu tố này của doanh nghiệp thì ngân hàng phải có đầy đủ thông tin cần thiết về mọi hoạt động của đơn vị. Việc thu thập thông tin có thể đƣợc tiến hành từ nhiều nguồn nhƣ từ hồ sơ của chính khách hàng, các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý, đối tác của khách hàng, từ trung tâm thông tin tín dụng hay từ các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Ngân hàng cần xác định nguồn thông tin nào là đáng tin cậy và qua đó phân tích có đối chiếu, so sánh với các số liệu báo cáo của doanh nghiệp. Để nâng cao chất lƣợng công tác điều tra, khai thác thông tin về khách hàng, có thể sử dụng các biện pháp sau: - Phỏng vấn ngƣời xin vay: đây có thể coi nhƣ một nghệ thuật để có thể đánh giá và hiểu rõ khách hàng hơn về các mặt: mục đích vay vốn, phƣơng án kinh doanh và các thông tin khác về tình hình tài chính của họ. Trong quá trình này, cán bộ tín dụng có thể đƣa ra những lời khuyên, tƣ vấn cho khách hàng của mình. Tuy nhiên, không thể tin tƣởng tuyệt đối vào các thông tin nhận đƣợc qua phỏng vấn vì rất có thể họ đƣa ra thông tin sai sự thật và thiếu khách quan. - Căn cứ vào hồ sơ khách hàng: dựa vào hồ sơ khách hàng đệ trình và các thông tin ghi trong sổ sách tại Chi nhánh để hiểu thêm về họ. - Thu thập thông tin từ bên ngoài: từ các Bộ, ngành, từ báo chí, từ các ngân hàng mà khách hàng có quan hệ. - Trực tiếp xem xét nơi sản xuất kinh doanh: cán bộ tín dụng phải đến tận nơi khách hàng thực hiện sản xuất kinh doanh để có đánh giá chân thực, khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng. Ngoài ra, sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng vẫn phải giám sát để đảm bảo khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích và hiệu quả, phát hiện kịp thời các sai phạm để xử lý, tránh tình trạng mất vốn. Cán bộ tín dụng có thể tiến hành công tác kiểm tra đột xuất và định kỳ việc sử dụng vốn vay của khách hàng. 89 Bên cạnh công việc kiểm tra trên, cán bộ tín dụng phải thu thập thêm thông tin về biến động lãi suất, tỷ giá trên thị trƣờng để có biện pháp hạn chế rủi ro. Đối với những tài sản thế chấp cán bộ tín dụng phải bám sát những quy định hiện thời về hồ sơ pháp lý, đánh giá và tự tính khả năng phát mại các tài sản thế chấp đó. Khi xác định tài sản thế chấp phải căn cứ vào giá thị trƣờng và dự kiến những biến động bất lợi. Các NHTM nói chung và Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội nói riêng nên có một bộ phận thông tin tín dụng riêng cho mình để xử lý thông tin một cách khoa học, chính xác; từ đó xây dựng đƣợc các chỉ tiêu an toàn phù hợp để tiến hành hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của mình hiệu quả nhất. Bƣớc tiếp theo mà ngân hàng phải tiến hành trong công tác thẩm định đó là phân tích phƣơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tính khả thi của phƣơng án sản xuất kinh doanh liên quan trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động tài trợ của ngân hàng. Nhƣ đã nêu trong phần thực trạng, dƣ nợ quá hạn và dƣ nợ khó đòi trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu của Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội chủ yếu là do doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ. Vì vậy, khi thẩm định tính khả thi của phƣơng án sản xuất kinh doanh, ngân hàng cần xem xét xem sản phẩm xuất khẩu của khách hàng có phù hợp với các quy định, chuẩn mực, nhu cầu tiêu dùng của nƣớc nhập khẩu hay không đồng thời phải tìm hiểu tình hình kinh tế chính trị của nhập khẩu và khả năng tài chính của đối tác nƣớc ngoài của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, phải xét xem sản phẩm nhập khẩu có phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc không, mặt hàng đó có thuộc danh mục cấm nhập khẩu không… Phƣơng án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi cao thì việc bán hàng trong tƣơng lai sẽ thuận lợi và doanh nghiệp có thể thực hiện trả nợ cho ngân hàng. Từ đó có thể thấy nếu thực hiện tốt công tác thẩm định thì Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội có thể đánh giá đƣợc mức độ thành công của các thƣơng vụ xuất nhập khẩu cũng nhƣ tính hiệu quả của các dự án tài trợ xuất 90 nhập khẩu mà Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội dành cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. 2.2.5. Tổ chức thực hiện tốt công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu Rủi ro là một vấn đề không thể tránh khỏi trong hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Ngân hàng khi tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp thƣờng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro nhƣ rủi ro khách hàng không hoàn trả tín dụng, rủi ro khách hàng mất khả năng thanh toán, rủi ro về lãi suất, về hối đoái, rủi ro từ việc mất khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành L/C hay rủi ro trong quá trình tác nghiệp... Nhiệm vụ của các ngân hàng là phải phân tích các loại rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tài trợ để đƣa ra những biện pháp nhằm giảm thiểu và chống đỡ rủi ro một cách hữu hiệu nhất. Cụ thể, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cần thực hiện một số các biện pháp sau: - Thực hiện phân tán rủi ro bằng cách tiến hành tài trợ cho nhiều khách hàng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, cấp tín dụng cho các thƣơng vụ xuất nhập khẩu thuộc nhiều lĩnh vực, đa dạng hoá loại hình tài trợ. - Thực hiện nghiêm túc chế độ đảm bảo tiền vay, chế độ bảo lãnh hoặc cho vay không có đảm bảo theo quy định của Chính phủ, đồng thời giảm tỷ lệ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, thực hiện chỉ tiêu do Hội sở giao hàng quý bằng cách: + Yêu cầu doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ thế chấp cầm cố để bổ sung tài sản đảm bảo. Rút dần dƣ nợ đối với khách hàng có năng lực tổ chức không lành mạnh nhƣng đang vay với lớn mà không có tài sản đảm bảo đặc biệt là các khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng. + Đối với trƣờng hợp nhận tài sản hình thành từ vốn vay làm đảm bảo nợ vay, Chi nhánh cần yêu cầu khách hàng phải cam kết việc mua bảo hiểm đối với tài sản đó. 91 - Theo dõi tình hình, xu hƣớng vận động và phát triển của các ngành nghề để có biện pháp điều chỉnh việc cho vay khách hàng ở những ngành này cho kịp thời khi có những biến động đột xuất. - Đánh giá chính xác khả năng khả nợ của khách hàng. Khi đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn, Ngân hàng cần nắm rõ nguồn trả nợ chính, tức khả năng sinh lời của phƣơng án vay và các nguồn thu khác mà khách hàng có thể cam kết để trả nợ cho ngân hàng khi nguồn trả nợ có vấn đề. - Định kỳ hàng tháng, hàng quý tổ chức phân tích nợ quá hạn, theo đó để phân loại nợ tốt hay xấu và kịp thời xử lý chế tài về tín dụng. Bên cạnh đó, tăng cƣờng công tác kiểm tra, kiểm soát các chuyên đề về tín dụng của cấp trên để uốn nắn kịp thời sai sót nhằm hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh. - Nâng cao khả năng đo lƣờng các loại rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. Muốn vậy, ngân hàng phải xem xét môi trƣờng kinh doanh trong tƣơng lai và dự đoán sự ảnh hƣởng của nó đối với cán cân lợi nhuận và rủi ro cũng nhƣ tình thế hiện tại của ngân hàng trƣớc khi quyết định lựa chọn mức độ rủi ro có thể chấp nhận đƣợc. - Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng phải đƣợc hình thành cho từng khoản vay và phải đƣợc lập ngay từ đầu năm tài chính. Ngân hàng cần theo dõi, đánh giá rủi ro theo mức độ tổn thất trung bình trong 6 năm gần đây để từ đó làm cơ sở tạo lập quỹ. - Thực hiện tốt các bƣớc và quy trình tài trợ sẽ giúp cho cán bộ ngân hàng dễ dàng trong việc kiểm tra xét duyệt các dự án tài trợ, chỉ ra đƣợc các sai sót từ đó có điều chỉnh kịp thời tránh rủi ro sau này. - Ngân hàng có thể tham gia bảo hiểm tín dụng xuất nhập khẩu vì nó có thể góp một phần để ngân hàng bồi thƣờng khi rủi ro xảy ra theo quy định. - Tăng cƣờng công tác quản lý một cách chặt chẽ. Một khi công tác quản lý, quản trị đƣợc thực hiện sát sao sẽ giúp các ngân hàng tránh đƣợc những rủi ro không đáng có, nhanh chóng tìm ra các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu. 92 Tóm lại, việc tổ chức thực hiện tốt công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu sẽ giúp ngân hàng tiến hành hoạt động tài trợ một cách hiệu quả nhất và mang lại nhiều doanh thu cho ngân hàng cũng nhƣ đảm bảo an toàn chung cho toàn bộ hoạt động của ngân hàng. 2.2.6. Triển khai hoạt động marketing trong lĩnh vực tài trợ xuất nhập khẩu Công tác marketing ngân hàng là rất cần thiết trong việc thực thi hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng. Đối với Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, cùng với việc đa dạng hoá các hình thức tài trợ xuất nhập khẩu thì không thể thiếu công tác marketing để thu hút khách hàng đặc biệt là khi triển khai các hình thức tài trợ mới. Hơn nữa, hiện nay quy mô thị trƣờng và khách hàng trong kinh doanh của Chi nhánh còn hẹp nên việc đẩy mạnh tiếp thị để gây thanh thế và thu hút khách hàng, mở rộng thị trƣờng hoạt động mang tính cần thiết và tính cấp bách cao. 2.2.6.1. Chính sách thông tin, nghiên cứu thị trường: Chính sách này đòi hỏi Chi nhánh phải xem xét phân tích một cách tổng hợp các yếu tố môi trƣờng, mặt mạnh, mặt yếu, triển vọng của những mặt hàng xuất nhập khẩu của từng địa phƣơng để lập danh sách và phân loại từng nhóm khách hàng theo từng tiêu chí nhất định để xem xét những nhóm nào Chi nhánh nên tập trung vào nhiều nhất. Qua đó, Chi nhánh xây dựng đƣợc danh sách khách hàng và tìm cách tiếp cận thu hút họ đến với mình một cách hiệu quả nhất. 2.2.6.2. Chính sách sản phẩm, giá cả: Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện nay, muốn thu hút đƣợc khách hàng đến với mình, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cần xây dựng danh mục sản phẩm đa dạng, giá cả hợp lý. - Về chính sách sản phẩm: nhu cầu tài trợ của khách hàng là đa dạng về thời hạn cũng nhƣ về phƣơng thức tài trợ. Để đáp ứng đƣợc nhiều nhất nhu cầu khách hàng, Chi nhánh cần tiếp tục mở rộng các hình thức tài trợ khác 93 ngoài cho vay đơn thuần nhƣ một số gợi ý ở trên. Khách hàng là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động kinh doanh đối ngoại nói riêng đến với ngân hàng không chỉ với nhu cầu tài trợ vốn mà họ còn có nhu cầu về các sản phẩm ngân hàng khác. Vì vậy, thiết lập một hệ thống dịch vụ ngân hàng đầy đủ và hoàn hảo chính là phƣơng thức marketing tốt nhất đối với khách hàng là những doanh nghiệp. - Về chính sách giá cả: cạnh tranh về giá cả cũng là một yếu tố quyết định lƣợng khách hàng đến giao dịch. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội phải đƣa ra mức giá hợp lý với từng loại khách hàng, từng loại đối tƣợng, từng loại dịch vụ và phù hợp với từng địa bàn. Mặt khác, mức giá cả đƣa ra phải dựa trên quy định của Nhà nƣớc và đảm bảo có lợi cho Chi nhánh. Thêm vào đó, mức lãi suất phải nhạy cảm với biến động của chỉ số giá cả trên thị trƣờng, và phải có tính cạnh tranh với các NHTM khác. Cụ thể, với khách hàng có số dƣ tiền gửi, tiền vay cao nên có chính sách ƣu đãi hợp lý về mặt lãi suất, phí dịch vụ... Riêng đối với doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để xuất khẩu, ngân hàng thực hiện ƣu đãi lãi suất đối với một số mặt hàng xuất khẩu nhƣ rau quả tƣơi và chế biến, thịt gia súc gia cầm, phần mềm máy tính, xe đạp, quạt máy... 2.2.6.3. Chính sách phân phối Chính sách này góp phần tạo ra mối liên hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông qua chính sách này, các sản phẩm của ngân hàng đến tận tay khách hàng. Đối với chính sách này, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội cần: - Mở rộng phòng giao dịch tại Chi nhánh - Mở rộng mạng lƣới thực hiện thanh toán quốc tế và tín dụng tài trợ. 2.2.6.4. Chính sách quảng bá Có rất nhiều hình thức và phƣơng pháp quảng bá khác nhau, nhƣng cần phải lựa chọn các hình thức phù hợp, hiệu quả đối với từng đối tƣợng, từng khu vực khách hàng. Hiện nay, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội hầu nhƣ mới tập trung vào việc quảng cáo trên các báo, tạp chí... với lƣợng 94 thông tin rất vắn tắt và đối tƣợng ngƣời đọc bị giới hạn, mà phần lớn trong đó là các cơ quan hành chính sự nghiệp. Việc áp dụng nhiều hình thức khác nhau theo từng đối tƣợng cụ thể là cần thiết. Cụ thể là: - Trực tiếp tìm đến khách hàng. - Giới thiệu các tiện ích và hoạt động của Chi nhánh thông qua các Bộ, Sở, Ban, Ngành; tham gia để tìm kiếm giới thiệu với khách hàng tại các hội chợ triển lãm... - Giới thiệu kỹ các thủ tục, điều kiện vay vốn và chính sách tài trợ xuất nhập khẩu tại Chi nhánh Hà Nội qua các đài phát thanh, truyền hình, niêm yết trên bảng ghi tại nơi giao dịch. - Tiếp thị gián tiếp dựa vào chính khách hàng của Chi nhánh thông qua việc cải tiến thủ tục, nhanh gọn về thời gian, tiến bộ về phong cách giao tiếp để khách hàng tự giới thiệu cho các bạn hàng của họ. - Đối với các hoạt động kinh doanh đối ngoại, khách hàng thƣờng có quan hệ với VCB hay các NHTM khác thì cần tuyên truyền rộng rãi về các tiện ích khi khách hàng mở tài khoản ngoại tệ thực hiện mua bán, thanh toán quốc tế tại Chi nhánh, về sự hiện đại và mạng lƣới ngân hàng đại lý rộng rãi của mình; thƣờng xuyên phát hành các báo cáo thƣờng niên tới khách hàng, định kỳ tổ chức hội nghị khách hàng nhằm thông báo cho khách hàng sử dụng những dịch vụ ngân hàng mới cung cấp; những quy định, chính sách mới của ngân hàng với khách hàng. 2.2.7. Tăng cường phương tiện kỹ thuật, công nghệ ngân hàng trong thanh toán quốc tế phù hợp với nhịp độ phát triển chung của thế giới. Trong môi trƣờng cạnh tranh, các dịch vụ ngân hàng đa dạng, hoàn thiện là công cụ hữu hiệu thu hút khách hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng. Đối với nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, cung cấp tốt các dịch vụ đi kèm, đặc biệt là dịch vụ thanh toán quốc tế có ý nghĩa quan trọng mang tính chiến lƣợc lâu dài. Trên cơ sở phải đáp ứng đƣợc yêu cầu cao của khách hàng với dịch vụ thanh toán quốc tế là: nhanh chóng- chính xác- an toàn, với tiện ích cao nhất, 95 ngân hàng phải tự trang bị các thiết bị hiện đại cũng nhƣ phƣơng pháp làm việc kinh doanh sao cho phù hợp với trình độ thế giới đồng thời chú ý đến điều kiện thực tế tại Việt Nam để có những cải tiến hợp lý. Sau đây là một số công việc mà Chi nhánh cần thực hiện để hiện đại hoá trong lĩnh vực thanh toán quốc tế: - Tiếp tục triển khai quan hệ thanh toán qua mạng SWIFT với các ngân hàng trên thế giới, đồng thời nâng cấp, đảm bảo vận hành chính xác, kịp thời, an toàn, phục vụ nhu cầu thanh toán với dung lƣợng lớn. - Tham gia hệ thống thanh toán liên hàng CHIP (hệ thống thanh toán tự động bằng USD) của Hội thanh toán bù trừ NewYork. - Tiếp tục hoàn thành các thủ tục đối với thẻ quốc tế của dự án thẻ tín dụng quốc tế VISA và MASTER. - Khai thác tối đa chức năng của máy tính và các phần mềm nghiệp vụ trong việc lƣu giữ hồ sơ, dữ liệu tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh toán. 2.2.8. Duy trì và phát triển quan hệ đại lý với ngân hàng nước ngoài Hệ thống ngân hàng đại lý có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế vì các hoạt động thanh toán chỉ an toàn khi các bên đối tác là ngân hàng lớn, có uy tín và thiện chí, đồng thời thắt chặt quan hệ với các ngân hàng đại lý sẽ giúp cho Chi nhánh tranh thủ sự giúp đỡ của họ về chuyên môn, kinh nghiệm, công nghệ ngân hàng, vốn... Hiện nay, hệ thống ngân hàng trên thế giới đang ở vào giai đoạn mới với hệ thống khách hàng phức tạp hơn, cạnh tranh gay gắt hơn. Để đáp ứng trong thời kỳ mới, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội nên xây dựng đƣờng lối chiến lƣợc cho công tác quan hệ đại lý, đó là quan hệ đại lý phải gắn liền với quan hệ khách hàng và tập trung vào những điểm chính: - Tôn trọng các quy ƣớc, cam kết và tập quán quốc tế để không ảnh hƣởng đến uy tín hình ảnh của Chi nhánh. - Xây dựng một chƣơng trình thông tin, báo cáo và quản lý thống nhất về ngân hàng đại lý kết hợp với thu thập thông tin từ bên ngoài để có đƣọc 96 những thông tin tổng hợp, cập nhật và cụ thể, tạo lợi thế trong nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu. - Đánh giá mức độ rủi ro của các ngân hàng đại lý, nhất là các ngân hàng đại lý chính. - Tăng cƣờng thắt chặt các mối quan hệ truyền thống. - Không thụ động chờ các ngân hàng nƣớc ngoài đến chào giao dịch mà phải chủ động chào giao dịch với các ngân hàng khác. 2.2.9. Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Con ngƣời luôn đóng vai trò quyết định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu nói riêng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu thì cần tăng cƣờng công tác đào tạo và bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội hiện nay có trên 50% đội ngũ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học. Tuy nhiên trên thực tế, do tính chất phức tạp của kinh tế thị trƣờng, sự phức tạp và đầy khó khăn của công tác tài trợ thì với đội ngũ cán bộ nhƣ hiện nay chƣa thể đáp ứng kịp thời. Do vậy để mở rộng và phát triển có hiệu quả hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu thì trƣớc hết Chi nhánh phải có cơ cấu tổ chức và quản lý chặt chẽ, đồng bộ, hợp lý, luôn bám sát tình hình thực tế, xây dựng một đội ngũ tập thể cán bộ đoàn kết, nhiệt tình, có trình độ và nghiệp vụ chuyên môn cao. Muốn làm đƣợc việc này, Chi nhánh cần phải thực hiện một số biện pháp sau: - Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khắc phục tình trạng bất cập về trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng bằng việc khuyến khích tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao nghiệp vụ, thƣờng xuyên tổ chức các lớp tập huấn, các cuộc hội thảo, các cuộc thi cho cán bộ tín dụng, thƣờng xuyên cung cấp tài liệu cần thiết cho cán bộ tạo điều kiện cho cán bộ nắm vững quy định thể lệ tín dụng. - Tuyển chọn cán bộ thực sự có năng lực cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn trình độ ngoại ngữ tin học và kiến thức xã hội khác. 97 - Xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực, bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ hợp lý để phát huy đƣợc điểm mạnh, hạn chế đƣợc điểm yếu của từng ngƣời. Cần có chính sách hỗ trợ và khuyến khích cả về vật chất và tinh thần nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và khả năng sáng tạo của từng cán bộ tạo lập bộ máy thống nhất hiệu quả. - Tổ chức phân công công việc cụ thể, kế hoạch đến từng ngƣời, từng vị trí theo các hƣớng công việc chuyên môn. III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG ĐÔNG Á - CHI NHÁNH HÀ NỘI Để có thể thực hiện đƣợc và thực hiện có hiệu quả các giải pháp nêu trên cần có sự hỗ trợ của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc và Hội sở Ngân hàng Đông Á bằng những chƣơng trình hành động cụ thể, những hoạt động cụ thể. 1. Một số kiến nghị đối với Chính phủ - Đảm bảo môi trƣờng kinh tế ổn định Một môi trƣờng kinh tế không ổn định sẽ cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh cỉa các doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới và hoàn thiện nên không tránh khỏi những bất cập. Các chính sách về thuế, giá cả... chƣa hợp lý, thƣờng xuyên thay đổi dẫn đến các doanh nghiệp chuyển hƣớng và điều chỉnh phƣơng án sản xuất kinh doanh không theo kịp với sự thay đổi này. Vì vậy, Nhà nƣớc cần phải hoạch định chính sách dài hạn về định hƣớng phát triển kinh tế, đảm bảo một môi trƣờng kinh tế ổn định cho các doanh nghiệp đầu tƣ phát triển sản xuất. Đồng thời, Nhà nƣớc tăng cƣờng hơn nữa hiệu lực pháp lý của các chính sách về thuế, chính sách bảo hộ sản xuất trong nƣớc, chính sách trợ giá đối với hàng nông sản, chính sách hỗ trợ với các mặt hàng xuất khẩu cần khuyến khích... để đảm bảo tác dụng tích cực của các chính sách này. 98 - Ban hành, hoàn thiện và đồng bộ các bộ luật, văn bản pháp luật có liên quan để tạo môi trƣờng pháp lý vững chắc cho mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. + Về cơ chế chính sách và các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc và các bộ ngành trong việc xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, phát mại tài sản cầm cố thế chấp... tuy đã đƣợc hoàn chỉnh một bƣớc nhƣng vẫn chƣa tạo môi trƣờng thuận lợi về quản lý cho ngân hàng và các doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động. Nên chăng Chính phủ nên đệ trình quốc hội nghiên cứu, ban hành luật thế chấp tài sản, luật sở hữu tài sản chứ không chỉ dừng ở mức ban hành nghị định về các vấn đề này. Với việc ra đời của hai bộ luật thế chấp tài sản và sở hữu tài sản sẽ giúp giải toả đƣợc ách tắc trong vấn đề tài sản thế chấp hiện nay. Nó sẽ giúp cho ngân hàng giảm đƣợc rủi ro đồng thời xử lý nhanh tài sản thế chấp khi ngƣời vay không còn khả năng thanh toán. + Việc ban hành, hoàn thiện và đồng bộ các bộ luật, văn bản pháp luật phải tạo ra sự bình đẳng các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, dần xoá bỏ những ƣu đãi đối với các doanh nghiệp Nhà nƣớc trong việc cấp vốn, vay vốn ngân hàng, thế chấp tài sản... + Nhà nƣớc cũng cần có chính sách buộc các doanh nghiệp phải thực hiện pháp lệnh kế toán, thống kê một cách đầy đủ, chính xác. Điều này sẽ giúp cho ngân hàng có đƣợc những thông tin chính xác, kịp thời về tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị xin vay vốn, hạn chế rủi ro tín dụng, tránh tình trạng cùng một doanh nghiệp mà những báo cáo nộp ngân hàng ngân hàng đều có lãi nhƣng nộp cho ngành thuế lại ghi là thua lỗ hoặc mức lợi nhuận thấp. + Nhà nƣớc phải nhanh chóng tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nƣớc trong đó tập trung vào đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá. Đây là một biện pháp nhằm huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác tham gia vào phát triển kinh tế. Thực hiện cổ phần hoá sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Nhà nƣớc tăng vốn tự có, trang trải nợ nần, tạo sức cạnh tranh mới trong một hình thức quản lý mới. 99 2. Một số kiến nghị với Ngân hàng Nhà nƣớc - Ngân hàng Nhà nƣớc và Bộ Tài chính cần nghiên cứu và đệ trình Chính phủ xem xét để sớm cho ra hình thức bảo hiểm tín dụng xuất nhập khẩu. Đây cũng không phải là nghiệp vụ gì mới, ở nhiều nƣớc đã thực hiện nghiệp vụ này qua ngân hàng xuất nhập khẩu của họ. Đây là một biện pháp nhằm san sẻ rủi ro, góp phần hạn chế những thiệt hại do rủi ro gây ra trong quan hệ tín dụng. Nghiệp vụ này có thể do các công ty bảo hiểm hoặc một quỹ riêng biệt lập ra. - Tăng cƣờng thúc đẩy tài trợ xuất nhập khẩu qua chính sách tiền tệ: ở nƣớc ta, Ngân hàng Nhà nƣớc có vai trò xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để chính phủ xem xét trình quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nƣớc có thể tăng cƣờng thúc đẩy hỗ trợ xuất nhập khẩu thông qua việc xây dựng chính sách tiền tệ hợp lý, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ, trong đó tập trung vào chính sách lãi suất và tỷ giá: + Chính sách lãi suất: Nhà nƣớc cần tiếp tục hoàn thiện chính sách lãi suất tạo một hành lang lãi suất cạnh tranh, có chính sách lãi suất ƣu đãi với những mặt hàng xuất nhập khẩu cần khuyến khích. Đồng thời, việc điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội không nên quá nhiều lần trong một năm, gây ảnh hƣởng đến tâm lý ngƣời gửi tiền, ảnh hƣởng đến việc huy động vốn dài hạn, tác động xấu đến hoạt động tín dụng. + Chính sách tỷ giá hối đoái: chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nƣớc cần có cơ chế điều hành theo một trật tự ƣu tiên hợp lý. Để thúc đẩy xuất khẩu, có thể điều chỉnh tỷ giá cao để tạo sức cạnh tranh về giá hàng xuất khẩu trên thị trƣờng quốc tế. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái rất nhạy cảm, những thay đổi của nó sẽ gây ra những tác động rất phức tạp, ảnh hƣởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, điều chỉnh tỷ giá cần đặt trọng tâm hàng đầu vào ổn định kinh tế vĩ mô. - Ban hành những văn bản hƣớng dẫn cụ thể việc thực thi Luật ngân hàng và Luật các tổ chức tín dụng nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện nay cho 100 các NHTM nhất là trong việc thực hiện quy chế đảm bảo tiền vay. Tiếp tục xem xét và hoàn thiện nghị định 178/QĐ-CP. - Tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm soát từ phía Ngân hàng Nhà nƣớc. Thƣờng xuyên kiểm tra giám sát, bắt buộc các ngân hàng phải thực hiện đầy đủ các quy định ghi trong Luật ngân hàng và các nghị định ngân hàng để nâng cao năng lực và tính ổn định trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. 3. Một số kiến nghị với Hội sở Ngân hàng Đông Á - Trên cơ sở các văn bản pháp luật hƣớng dẫn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nƣớc về quy chế đảm bảo tiền vay; các quy định về tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, quy định về việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…, Hội sở Ngân hàng Đông Á cần nghiên cứu, bổ sung sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, từ đó ban hành các văn bản hƣớng dẫn để các chi nhánh thực hiện có hiệu quả. - Tăng cƣờng hiệu quả hoạt động của công tác thanh tra, kiểm soát toàn hệ thống, giám sát và đôn đốc kịp thời những biểu hiện sai phạm của các chi nhánh, nhất là trong hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu. - Nghiên cứu và cho ra đời công ty chuyên phát mại tài sản trực thuộc Ngân hàng Đông Á để giúp đỡ và tƣ vấn cho các chi nhánh gặp khó khăn trong việc phát mại tài sản hoặc trực tiếp thực hiện đối với những tài sản có giá trị lớn mà các chi nhánh không giải quyết đƣợc. 101 KẾT LUẬN CHUNG Cùng với sự phát triển chung của đất nƣớc, kinh tế đối ngoại cũng đạt đƣợc nhiều bƣớc tiến đáng kể và dần khẳng định đƣợc vị trí trong quá trình hội nhập. Để có đƣợc những kết quả đó, không thể không kể đến hệ thống các NHTM với vai trò cầu nối huy động vốn phục vụ phát triển kinh tế theo những định hƣớng của Chính phủ. Với chủ trƣơng phát triển ngoại thƣơng hƣớng về xuất khẩu đồng thời nhập khẩu thay thế của Chính phủ, các NHTM Việt Nam đã không ngừng phát triển mảng dịch vụ ngân hàng quốc tế, trong đó có nghiệp vụ tài trợ ngoại thƣơng. Và thực tế, các NHTM Việt Nam bƣớc đầu đã thu đƣợc kết quả khả quan, thể hiện vai trò tài trợ ngoại thƣơng khá tốt. Nhƣng so với xu hƣớng chung này thì hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội còn khiêm tốn, chƣa thực sự phát huy hết tiềm năng của mình trƣớc nhu cầu ngày càng lớn của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích kết quả đạt đƣợc cùng những mặt tồn tại trong tài trợ xuất nhập khẩu, khoá luận đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động này tại Chi nhánh. Song để thực hiện những giải pháp này có hiệu quả đòi hỏi chúng phải đƣợc tiến hành một cách đồng bộ và có sự phối hợp từ nhiều phía mới có thể phát huy hết tác dụng. Mặc dù khó khăn tồn tại đặt ra với Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội là lớn, song hoàn toàn có thể tin tƣởng rằng với sự quan tâm của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nƣớc, Hội sở Ngân hàng Đông Á và sự nỗ lực của bản thân Chi nhánh trên cơ sở phát huy lợi thế sẵn có, Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội chắc chắn sẽ đạt đƣợc mục tiêu mở rộng hoạt động tài trợ xuất nhập khẩu và đƣa hoạt động này trở thành một trong những thế mạnh của mình, phù hợp với định hƣớng của Đảng và Chính phủ. 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (2006), Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê. 2. PTS. Đỗ Linh Hiệp, PTS. Ngô Hƣớng, Hồ Trung Bửu (1999), Thanh toán quốc tế, tài trợ ngoại thương và kinh doanh ngoại hối, NXB Thống kê. 3. GS.TS. Bùi Xuân Lƣu (2002), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Giáo dục. 4. Phan Thế Ruệ (2006), Xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2005: Thành tựu và những bài học kinh nghiệm, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 1/2006. 5. PTS. Lê Văn Tề (1998), Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh. 6. GS. Đinh Xuân Trình (2004), Thanh toán quốc tế trong ngoại thương, NXB Giáo dục. 7. PTS. Lê Văn Tƣ, Lê Tùng Vân (1999), Tín dụng tài trợ xuất khẩu, thanh toán quốc tế và kinh doanh đối ngoại, NXB Thống kê. 8. GS.TS. Lê Văn Tƣ (2005), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính Hà Nội. 9. Luật các tổ chức tín dụng (1998), NXB Chính trị quốc gia. 10. Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 6/2005, Mục tiêu và giải pháp chủ yếu của kế hoạch xuất nhập khẩu 5 năm 2006-2010. 11. Bộ Thƣơng mại (2006), Báo cáo hoạt động thương mại năm 2005 và phương hướng công tác năm 2006. 12. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội (2005), Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh năm 2005. 13. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội (2006), Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh 6 tháng đầu năm 2006. 103 14. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, Báo cáo tín dụng các năm 2004, 2005 và 6 tháng đầu năm 2006. 15. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, Báo cáo thanh toán quốc tế các năm 2004, 2005 và 6 tháng đầu năm 2006. 16. Ngân hàng Đông Á - Chi nhánh Hà Nội, Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ. 17. Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (2006), Báo cáo thường niên 2005 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 18. (6/7/2006), Việt Nam sẽ đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế. 19. (6/2/2006), Tình hình xuất nhập khẩu tháng 12 và cả năm 2005. 20. 21.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf3521_621.pdf
Luận văn liên quan