Kiến thức thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên trường đại học y dược Hải phòng năm 2015

Nghiên cứu có sự tham gia của sinh viên từ năm thứ 2 tới năm thứ 5 thuộc hai hệ bác sỹ đa khoa và cử nhân điều dưỡng, trường Đại học Y Dược Hải Phòng từ tháng 1/2018 tới tháng 4/201 8 thu được kết quả như sau: 1. Kiến thức và thái độ của sinh viên về phòng ngừa chuẩn. 1.1. Kiến thức của sinh viên về phòng ngừa chuẩn Nhìn chung các kiến thức về phòng ngừa chuẩn là tương đối tốt. Các kiến thức về vệ sinh tay, phòng hộ cá nhân, vệ sinh khi ho và hô hấp, sắp xếp người bệnh hợp lí, xử lí đồ vải, quản lí chất thải y tế có tỷ lệ trả lời đúng trên 50%. Đặc biệt kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất 83%. Tuy nhiên các kiến thức về tiêm an toàn và xử trí với vật sắc nhọn, xử lí dụng cụ y tế, vệ sinh môi trường trong chăm sóc còn chưa tốt, có tỷ lệ trả lời đúng dưới 50%. Trong đó thấp nhất là kiến thức về xử lí dụng cụ y tế (45%).

docx59 trang | Chia sẻ: anhthuong12 | Ngày: 29/09/2020 | Lượt xem: 577 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Kiến thức thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên trường đại học y dược Hải phòng năm 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chuẩn 31 Biểu đồ 3.3. Số năm đào tạo và kiến thức về PNC 33 Biểu đồ 3.4. Năm đào tạo và thái độ của sinh viên về PNC 35 DANH MỤC HÌNH Hình 2.1. Quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ câu hỏi. 15 ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn bệnh viện là hậu quả không mong muốn trong thực hành khám bệnh, chữa bệnh. Nhiễm khuẩn bệnh viện góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh, tăng sử dụng thuốc kháng sinh, kéo dài ngày nằm viện cho người bệnh, gia tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ tử vong. Kiến thức về phòng ngừa chuẩn là một phần cơ bản trong kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn. Thực hiện các biện pháp của phòng ngừa chuẩn đóng góp quan trọng vào việc giảm tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện. Từ đó hạn chế sự lây truyền bệnh cho nhân viên y tế và người bệnh cũng như từ người bệnh sang môi trường, đảm bảo an toàn người bệnh, góp phần làm tăng chất lượng khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện [1], [2]. Những cơ sở khám chữa bệnh không tuân thủ đầy đủ quy trình đảm bảo vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị, những nơi chưa có kiến thức và thái độ đúng về phòng ngừa chuẩn có nguy cơ mắc nhiễm trùng bệnh viện cao hơn các cơ sở khác. Do vậy kiến thức và thái độ về phòng ngừa chuẩn có vai trò quan trọng đối với thực hành phòng ngừa chuẩn cho nhân viên y tế. Tại mỗi thời điểm, mỗi quốc gia khác nhau có các giải pháp thực hiện phòng ngừa chuẩn khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm các bệnh nhiễm trùng nhưng đều dựa trên hướng dẫn của trung tâm ngăn ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kì về phòng ngừa chuẩn công bố năm 2007. Sinh viên y khoa là những nhân viên y tế tương lai, chịu trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị cho người bệnh. Trong chương trình học, bên cạnh học lý thuyết tại trường sinh viên còn học lâm sàng và trực tại bệnh viện với tính chất công việc tương tự như các ngành học. Sinh viên cũng là người trực tiếp thực hiện các thủ thuật chăm sóc, thăm khám trên người bệnh do đó cũng đóng góp một phần lớn vào việc giảm thiểu các rủi ro liên quan đến các hậu quả do nhiễm khuẩn bệnh viện [3]. Sinh viên có nguy cơ cao tiếp xúc với máu và dịch tiết do thời gian tiếp xúc lâm sàng của sinh viên chưa nhiều so với nhân viên y tế, các kỹ năng thăm khám hay kỹ năng thực hiện các thủ thuật chăm sóc trên người bệnh chưa thuần thục như những nhân viên y tế [4]. Ngoài ra, sinh viên trước khi học tại viện cần phải được cung cấp đầy đủ các kiến thức về phòng ngừa chuẩn là một điều kiện cần thiết cho sự tuân thủ các thủ thuật đảm bảo vô khuẩn. Tuy nhiên phần lớn sinh viên thực tập tại lâm sàng đều chưa hoàn thiện đầy đủ các kĩ năng lâm sàng, chưa hiểu rõ về hệ thống quản lí bệnh viện và liên tục phải thay đổi môi trường thực tập[5]. Do vậy nghiên cứu “Kiến thức, thái độ về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên tại Đại học Y Dược Hải Phòng” được tiến hành với hai mục tiêu sau: Mô tả kiến thức, thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện của sinh viên trường Đại học Y Hải Phòng Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THỰC TRẠNG NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN Nhiễm khuẩn bệnh viện hay còn gọi là nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế (Healthcare Associated Infection - HAI) là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không hiện diện hoặc ủ bệnh khi nhập viện. Nhìn chung, các nhiễm khuẩn xảy ra sau nhập viện 48 giờ (2 ngày) thường được coi là NKBV. Tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở các nước phát triển khác nhau dao động trong khoảng 3,5% – 12%. Trung tâm phòng ngừa và Kiểm soát bệnh dịch châu Âu (ECDC) báo cáo tỷ lệ hiện nhiễm ở các nước châu Âu trung bình là 7,1%. Số liệu về nhiễm khuẩn bệnh viện tại các quốc gia chậm và đang phát triển thường không đầy đủ và không có sẵn. Tuy nhiên, phân tích gần đây của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy các ca nhiễm khuẩn bệnh viện ở các nước đang phát triển thường xảy ra với tần suất cao hơn do hạn chế nguồn lực so với các nước phát triển. Tổn thất tài chính hằng năm do nhiễm khuẩn bệnh viện cũng rất lớn, ước tính khoảng 7 tỷ Euro ở châu Âu, khoảng 6,5 tỷ USD ở Mỹ. Hiện nay, tại Việt Nam tỷ lệ NKBV chung ở NB nhập viện từ 5%-10% tùy theo đặc điểm và quy mô bệnh viện. Những bệnh viện tiếp nhận càng nhiều NB nặng, thực hiện càng nhiều thủ thuật xâm lấn (TTXL) thì nguy cơ mắc NKBV càng cao. Tỷ lệ NKBV có thể lên tới 20%-30% ở những khu vực có nguy cơ cao như Hồi sức tích cực, sơ sinh, ngoại khoa Các loại NKBV thường gặp là viêm phổi bệnh viện (bao gồm viêm phổi thở máy), nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM), nhiễm khuẩn tiết niệu (NKTN). NKBV thường biểu hiện chủ yếu dưới dạng dịch lưu hành (endemic rate), là tỷ lệ thường xuyên xuất hiện NKBV trong một quần thể xác định. Có khoảng 5%-10% NKBV biểu hiện ở dạng dịch hoặc bùng phát dịch (epidemic)[7]. Nhiễm khuẩn bệnh viện làm tăng thời gian viện, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ mắc bệnh và đặc biệt làm tăng tỷ lệ tử vong. Nhiễm khuẩn bệnh viện sẽ tăng ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tuân thủ nghiêm ngặt các quy tình vô khuẩn trong chăm sóc người bệnh và ở những nơi kiến thức và thái độ về KSNK còn hạn chế [6]. KHÁI NIỆM VỀ PHÒNG NGỪA CHUẨN 1.2.1. Phòng ngừa chuẩn và vai trò của phòng ngừa chuẩn tới kiểm soát nhiễm khuẩn. Năm 1970, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kì (CDC) đưa ra khái niệm về cách ly phòng ngừa lần đầu tiên với 7 phương pháp cách ly theo mã màu khác nhau bao gồm: phòng ngừa tuyệt đối, phòng ngừa bảo vệ, phòng ngừa lây truyền qua hô hấp, đường ruột, vết thương, chất thải và máu. Năm 1985 CDC ban hành hướng dẫn phòng ngừa mới gọi là phòng ngừa phổ cập (Universal Precautions) nhằm đối phó với đại dịch HIV/AIDS. Trong đó, máu được xem như là nguồn lây truyền quan trọng nhất và dự phòng những phơi nhiễm qua đường máu là cần thiết. Năm 1995, khái niệm phòng ngừa phổ cập được chuyển thành phòng ngừa chuẩn (Standard Precautions) là tổng hợp của hai biện pháp phòng ngừa phổ cập và cách ly với chất tiết của cơ thể [7]. Theo hướng dẫn về PNC của Bộ Y tế, PNC là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng cho tất cả NB trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh [1]. Nhằm hướng dẫn thực hành PNC cho NVYT, các tổ chức y tế uy tín như WHO và CDC đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất các biện pháp rất cụ thể. Tuy nhiên khi xem xét các khuyến cáo này có thể thấy, bên cạnh các giải pháp tương đối thống nhất, thì cũng có những giải pháp thể hiện quan điểm của từng tổ chức. Với các bằng chứng rõ ràng và có độ tin cậy cao về tác dụng của vệ sinh bàn tay, cả WHO và CDC đều cho rằng, NVYT cần phải tuân thủ tốt các thời điểm vệ sinh bàn tay và vệ sinh ho và hô hấp. Bên cạnh đó, mỗi cơ sở y tế và nhân viên cũng cần phải chuẩn bị, cung cấp và thực hiện các yêu cầu trong cung cấp dụng cụ và đồ vải đạt tiêu chuẩn. Nhận thấy vai trò quan trọng của môi trường chăm sóc, khuyến cáo về vệ sinh và khử khuẩn môi trường cũng được hai tổ chức này coi là một biện pháp quan trọng [8], [9]. Với các bằng chứng về việc lây lan nhiễm khuẩn do chưa tuân thủ việc tự bảo vệ hoặc không có đủ trang thiết bị tự bảo vệ, WHO khuyến cáo rằng các NVYT cần phải sử dụng khẩu trang, kính bảo hộ, găng tay và áo choàng thích hợp. Tương tự, CDC đã tóm gọn các giải pháp trên trong một khuyến cáo chung là cần phải có các phương tiện phòng hộ cá nhân yêu cầu của mỗi lần tiếp xúc với các nguy cơ lây nhiễm. Nhận thấy vai trò quan trọng trong việc bảo vệ NVYT khỏi các tác nhân phơi nhiễm, khuyễn cáo về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn cũng được hai tổ chức này khuyến khích thực hiện [8], [9]. Về các biện pháp bổ sung, WHO cho rằng việc quản lý chất thải y tế cũng là một biện pháp PNC, mức độ lây nhiễm sẽ giảm đi nhiều khi các cơ sở y tế và nhân viên chủ động phân loại, thu gom, lưu trữ và xử lý chất thải y tế đúng. Trong khi đó, CDC lại nhận thấy rằng việc sắp xếp người bệnh hợp lý sẽ giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm và khuyến cáo rằng sắp xếp người bệnh cần phải được coi là một biện pháp PNC. Bên cạnh đó, tổ chức này cũng cho rằng việc thực hành theo đúng các quy định về KSNK đối với các thủ thuật, đặc biệt là thủ thuật xâm lấn không chỉ làm giảm nguy cơ NKBV mà còn giúp phòng ngừa các lây nhiễm cho NVYT [8], [9]. Việc áp dụng các khuyến cáo về PNC của WHO và CDC tại mỗi quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm y tế của quốc gia đó. Năm 2013, trung tâm kiểm soát nhiễm trùng tại Saudi, Ả rập đã ban hành các giải pháp thực hiện PNC dựa trên các khuyến cáo của WHO và CDC. Tổ chức này cũng đồng thuận với WHO, CDC về tầm quan trọng của các biện pháp vệ sinh bàn tay, vệ sinh khi ho và hô hấp trong việc bảo vệ NVYT, NB khỏi các tác nhân lây nhiễm. Các biện pháp về xử lí dụng cụ chăm sóc, xử lí đồ vải bẩn, các biện pháp vệ sinh môi trường chăm sóc, sắp xếp người bệnh, quản lí và xử lí chất thải, cũng được tổ chức này khuyến khích thực hiện nhằm giảm tỷ lệ NKBV. Bên cạnh đó, tổ chức này đã bổ sung thêm giải pháp về quản lí mẫu xét nghiệm do nhận thấy hiệu quả của giải pháp này trong hạn chế sự lây nhiễm các tác nhân gây bệnh và giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn [10]. Tại Việt Nam, các giải pháp thực hiện PNC được xây dựng trên sự thống nhất với WHO, CDC về các nội dung: vệ sinh bàn tay; vệ sinh khi ho và hô hấp; làm sạch và khử khuẩn môi trường; khử khuẩn/tiệt khuẩn dụng cụ; xử lí đồ vải; sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân; tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn. Bộ Y tế cũng đồng nhất với quan điểm của WHO về tầm quan trọng của các biện pháp xử lí chất thải y tế nhằm hạn chế tác nhân lây truyền bệnh, quan điểm của CDC về vai trò của biện pháp sắp xếp người bệnh hợp lí nhằm hạn chế sự lây truyền chéo giữa NB, tạo điều kiện quản lí NB dễ dàng hơn. Tháng 9/2012 Cục quản lí khám, chữa bệnh, Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn về phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh với 9 nội dung như trên [1]. Thực hiện PNC giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) ngay cả khi không nhìn thấy có sự phơi nhiễm với máu và dịch tiết qua da, niêm mạc. PNC được coi là nền tảng cho việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện được sử dụng trong chăm sóc sức khỏe cho NB [8]. Việc tuân thủ các biện pháp của PNC đóng vai trò: Ngăn ngừa sự lây nhiễm trong bệnh viện từ đó giảm tỷ lệ tử vong, giảm thời gian nằm viện, rút ngắn chi phí điều trị cho NB Là một nội dung chủ yếu trong chương trình KSNK bệnh viện. Thực hiện các biện pháp PNC nhằm mục đích hạn chế sự lây truyền cho NVYT và NB cũng như từ NB sang môi trường nhằm bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. 1.2.2. Thực trạng của thực hiện PNC Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên năm 2008 tại các bệnh viện khu vực phía Bắc chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ đúng thực hành PNC ở NVYT chưa cao, chỉ có ít hơn 20% số nhân viên y tế được quan sát thực hành tốt các yêu cầu về PNC khi thực hành nghề nghiệp [11]. Tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà và cộng sự năm 2012 tại bệnh viên Nhi Đồng 1 là 62% tổng số cơ hội quan sát được, đối tượng tuân thủ rửa tay cao nhất là kỹ thuật viên với tỷ lệ trên 70%, bác sỹ và sinh viên là đối tượng tuân thủ vệ sinh tay kém nhất, chỉ chiếm 41%-43% tổng số bác sỹ và sinh viên tham gia nghiên cứu. [12]. Nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư năm 2010 tại bệnh viên Chợ Rẫy cho thấy, từ tháng 2/2000- tháng 6/2009, tổng số NVYT bị tai nạn nghề nghiệp do phơi nhiễm với các tác nhân đường máu trong khi thao tác là 327 trường hợp, trong đó phơi nhiễm trên bệnh nhân HIV dương tính là 65 trường hợp. Điều dưỡng là đối tượng thường gặp nhất các tai nạn nghề nghiệp với 116 trường hợp chiếm 35.5%, tiếp đó là đối tượng học viên/sinh viên với 48 trường hợp chiếm14.7% [13]. Do còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện các thủ thuật thăm khám và các thủ thuật chăm sóc vậy nên sinh viên là đối tượng có nguy cơ cao phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh [14]. Theo nghiên cứu của Huson Amin Ghalya và Youssreya Ibrahim chỉ ra rằng có sự thiếu kiến thức và tuân thủ về thực hành PNC của NVYT và sinh viên y [15]. Trong khi đó sự tuân thủ thực hành PNC lại có vai trò đáng kể trong việc giảm tỷ lệ NKBV [1]. 1.3. KIẾN THỨC, THAI ĐỘ VỀ PNC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ SINH VIÊN Y KHOA NKBV là mối quan tâm chung của ngành y tế tại mọi quốc gia trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, công tác KSNK luôn phải đối mặt với nhiều trở ngại như ngân sách đầu tư hạn chế, tình trạng quá tải bệnh viện, thiếu thốn cơ sở vật chất, phần lớn NVYT và các nhà quản lý chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác này [10]. Nguyên nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện có nhiều, tuy nhiên một trong những nguyên nhân quan trọng là kiến thức, thái độ của NVYT về kiểm soát NKBV chưa tốt dẫn đến việc chấp hành các quy định/quy trình KSNK gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các nội dung về PNC [11]. NKBV xuất hiện nhiều ở những cơ sở không tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc vô khuẩn trong chăm sóc và điều trị người bệnh, ngoài ra nguồn lực dành cho đào tạo KSNK còn thiếu. PNC là nội dung quan trọng trong chương trình KSNK. Để làm thay đổi hành vi của một cá nhân cần phải cung cấp cho các đối tượng các kiến thức đúng, thay đổi thái độ của đối tượng, từ đó tác động tới hành vi của đối tượng. Việc cung cấp kiến thức cho NVYT và sinh viên y khoa về PNC là cần thiết để làm giảm NKBV và giảm thiểu các rủi ro không mong muốn cho NVYT và sinh viên. Tại Việt Nam, theo một số nghiên cứu cho thấy kiến thức về KSNK cơ bản còn thấp, trong 100 NVYT được phỏng vấn ở 10 bệnh viện đại diện khu vực phía Bắc, không có NVYT nào hiểu đầy đủ về PNC [16]. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam mô tả kiến thức và thái độ của sinh viên y về PNC. Theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên năm 2008, đánh giá kiến về vệ sinh tay thường quy của NVYT tại một số bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2005 cho thấy tỉ lệ nhân viên trả lời đúng tất cả các câu hỏi liên quan đến vệ sinh tay chỉ chiếm 43.5% [11]. Theo tác giả Lê Thị Anh Thư, từ sau khi triển khai huấn luyện và các biện pháp phòng hộ, số lượng NVYT (bao gồm cả học viên/sinh viên) bị tai nạn nghề nghiệp đã giảm xuống một cách đáng kể [13]. Tại Trung Quốc, do thiếu các kiến thức căn bản về PNC nên 90 nhân viên trong tổng số 149 người được phỏng vấn bày tỏ sự lo ngại khi chăm sóc người bệnh nhiễm HIV/AIDS [17]. Bên cạnh việc cung cấp đầy đủ phương tiện để thực hiện PNC, việc cung cấp kiến thức về PNC là thực sự cần thiết, nghiên cứu của tác giả Askarian cho thấy 90% sinh viên y khoa ở Shiraz đã không nhận được giáo dục về PNC, 75% số người được hỏi muốn học nhiều hơn về các biện pháp PNC [18]. Giáo dục về vấn đề KSNK không chỉ nên tập trung vào NVYT, mà nên bao gồm cả sinh viên. Sinh viên cần phải được đào tạo về PNC trước khi đến bệnh viện là một trong những điều kiện cần thiết cho sự thực hành các quy trình vô khuẩn [19]. Trong các nghiên cứu về thực trạng thực hành rửa tay của sinh viên cho kết quả kém, sinh viên hiếm khi rửa tay khi thăm khám NB [20]. Sinh viên là đối tượng dễ có nguy cơ bị phơi nhiễm với các tác nhân gây truyền bệnh qua đường máu do chưa thuần thục trong thực hiện các thủ thuật vô khuẩn, sinh viên điều dưỡng và sinh viên đa khoa chiếm 15% tổng số phơi nhiễm liên quan đến vật sắc nhọn [22]. Kiến thức của sinh viên còn thấp trong các nội dung về vệ sinh tay, phòng hộ cá nhân, tiêm an toàn và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn theo nghiên cứu của tác giả Tarek Tawfik Amin [5]. Việc cung cấp đầy đủ kiến thức về PNC đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành PNC của sinh viên. Nghiên cứu của Elliott SK và cộng sự nhằm so sánh kết quả trước và sau khi cung cấp các kiến thức về phòng ngừa tai nạn do kim đâm và xử lí tai nạn cho sinh viên đã cho thấy có sự cải thiện đáng kể về kiến thức của sinh viên so với các nghiên cứu trước đó [19]. Sinh viên là đối tượng chưa được nhận đầy đủ tất cả các kiến thức liên quan đến chuyên môn so với NVYT, do đó sinh viên dễ gặp các rủi ro trong chăm sóc hơn so với NVYT. Sinh viên trước khi ra trường nên được cung cấp đầy đủ các kiến thức về PNC để bảo vệ bản thân đồng thời chăm sóc, điều trị cho NB tốt hơn [23], nghiên cứu của Koenig S và Chu J năm 1993 chỉ ra rằng nhiều sinh viên trước khi tốt nghiệp vẫn chưa có đầy đủ kiến thức về PNC [24]. Nghiên cứu của Verena G. Herbert và cộng sự tiến hành giữa các sinh viên đa khoa tại Australia cho thấy chỉ có 49% số sinh viên được phỏng vấn tuân thủ rửa tay, 70% số người được hỏi có kiến thức đúng về rửa tay [25]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức về rửa tay của sinh viên trong giáo dục đại học có thể tác động tới hành vi của sinh viên ra trường và làm giảm NKBV. 1.4. CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PNC 1.4.1. Các đặc điểm của đối tượng. 1.4.1.1. Số năm học, số năm đào tạo Thời gian học là các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và thái độ về PNC. Các sinh viên năm cuối thường có nhận thức tốt hơn về PNC, bên cạnh đó do có thời gian học lâm sàng nhiều hơn, các sinh viên có thể được chứng kiến các trường hợp bị phơi nhiễm với vật sắc nhọn nhiều hơn do đó có sự cảnh giác cao hơn. Nghiên cứu của Huson Amin Ghalya và Prof. Youssreya Ibrahim chỉ ra rằng có sự liên quan giữa số năm được đào tạo và kiến thức về PNC, các sinh viên năm cuối có kiến thức tốt hơn về PNC [15], [26], [27]. 1.4.1.2 Ngành học Có sự liên quan giữa ngành học tới việc tuân thủ thực hiện PNC. Nghành học thường xuyên tiếp xúc với máu và dịch tiết của NB, có kiến thức và thái độ tốt hơn về PNC so với các nghành khác. Theo nghiên cứu của tác giả Rajinder Kaur và cộng sự (2007) điểm các phần kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng là cao hơn so với các ngành kĩ thuật y học, bác sỹ đa khoa [28]. Nghiên cứu của Kim và cộng sự năm 2000 chỉ ra rằng kiến thức của sinh viên điều dưỡng cao hơn sinh viên đa khoa [29]. Sinh viên điều dưỡng là đối tượng tiếp xúc với bệnh nhân nhiều hơn do thực hiện các công việc như các điều dưỡng thực hiện, hơn nữa trong chương trình đào tạo sinh viên điều dưỡng được giảng dạy về PNC trong một môn học riêng, được cung cấp các kiến thức về bảo vệ cá nhân trước khi học lâm sàng. Các sinh viên được đào tạo về PNC có kiến thức và thực hành tốt hơn sinh viên không được nhận đào tạo [29]. Hệ BSĐK được đào tạo 6 năm, trong thời gian học tại bệnh viên sinh viên học các kĩ năng thăm khám, hỏi bệnh; ngoài ra còn phụ giúp các bác sỹ thực hiên các thủ thuật trên NB. Tại bệnh viện, sinh viên điều dưỡng học các kĩ năng thăm khám và hỏi bệnh, ngoài ra còn thực hành các thủ thuật chăm sóc như: tiêm truyền, lấy máu xét nghiệm, phụ giúp NVYT trong vận chuyển người bệnh, phân loại rác thải, vệ sinh khoa phòng. Thời gian đào tạo của sinh viên CNĐD là 4 năm, đối với hệ BSĐK là 6 năm, sinh viên BSĐK có thời gian tiếp xúc lâm sàng muộn hơn so với đối tượng CNĐD. Thời gian tiếp xúc lâm sàng của sinh viên đa khoa là từ đầu năm thứ 3. Đối với sinh viên CNĐD là từ kì 2 năm thứ 2. Ngoài ra có một số sinh viên đã đi trực và tự học lâm sàng ngày từ năm thứ nhất với các công việc như những điều dưỡng, khi mà sinh viên chưa được cung cấp bất kì kiến thức nào liên quan đến lâm sàng, chủ yếu là các môn cơ sở. 1.4.2. Nội dung KSNK trong chương trình đào tạo Nghiên cứu của Ginny Kaushal cho thấy, NVYT được đào tạo về PNC có kiến thức, thái độ và thực hành tốt hơn nhóm chưa được đào tạo về PNC. Cụ thể, kiến thức của nhóm được đào tạo về PNC là cao hơn nhóm không được đào tạo về PNC với tỷ lệ lần lượt là 85% và 75%, nhóm được đào tạo về PNC có tỷ lệ tuân thủ thực hành cao hơn so với nhóm còn lại lần lượt là 95% và 86% [30]. Giáo dục về PNC là một trong những yếu tố ảnh hướng đến kiến thức, thái độ và thực hành về PNC của sinh viên, theo nghiên cứu của Marie-Pierre Tavolacci, đánh giá kiến thức, thái độ của sinh viên sau khi giảng dạy về chương trình PNC tại Pháp[31] Việc đào tạo về PNC cho sinh viên y tại trường Đại học Y Hà Nội đã được tiến hành từ năm 2014 do khoa Điều dưỡng phụ trách. Chương trình giảng dạy môn KSNK của khoa Điều dưỡng bắt đầu từ kì 2 năm thứ 2 dành cho đối tượng CNĐD trước khi học lâm sàng. Các nội dung về KSNK bao hàm các nội dung của PNC. Trong quá trình học các sinh viên sẽ được học kết hợp cả lí thuyết và thực hành trên phòng lab và tại bệnh viện để sinh viên áp dụng được những kiến thức lí thuyết trên thực tế. Ngoài ra trong quá trình giảng dạy, các giảng viên sẽ cung cấp các câu hỏi tình huống cho sinh viên trả lời và thảo luận để sinh viên ghi nhớ và áp dụng các kiến thức ngay trên những tình huống mô phỏng. Ngoài ra, một số kiến thức của PNC cũng được cung cấp cho tất cả sinh viên trong các môn cơ sở như các nội dung về: Vệ sinh bàn tay. Thực hiện tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn, phòng ngừa cá nhân. Về xử lí dụng cụ y tế. CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 2.1.1. Tiêu chuẩn chọn vào Sinh viên thuộc các chương trình đào tạo của Trường Đại học Y Hải Phòng, từ năm thứ 2 tới năm thứ 4. Trong đó, sinh viên CNĐD từ năm thứ 2 tới năm thứ 4, sinh viên BSĐK từ năm thứ 3 tới năm thứ 5. 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ Các sinh viên đủ các tiêu chuẩn trên nhưng không đồng ý tham gia nghiên cứu. 2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành tại trường Đại học Y Hải Phòng từ tháng 9/2018 đến tháng 12 /2018. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang 2.3.2. Chọn mẫu: Theo phương pháp ngẫu nhiên: dựa trên số lượng sinh viên của các khối từ năm thứ 2 đến năm thứ 5 của hệ BSĐK và hệ CNĐD. 2.3.3. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin Hình 2.1. Quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ câu hỏi. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Bộ câu hỏi nghiên cứu bao gồm 2 phần : Thông tin cơ bản của đối tượng Các nội dung về phòng ngừa chuẩn Tên biến Chỉ số Phương pháp thu thập Công cụ thu thập Thông tin cơ bản của đối tượng Giới Tỷ lệ nam, nữ Phỏng vấn (Tự điền vào phiếu câu hỏi ) Bộ câu hỏi Năm thứ mấy Hình thức đào tạo Đã được đào tạo trước đây về PNC Đã nhận được tài liệu về PNC Nội dung về PNC Kiến thức về vệ sinh tay - Tỷ lệ trả lời đúng - Phỏng vấn (Tự điền vào phiếu câu hỏi ) - Bộ câu hỏi Kiến thức về vệ sinh tay Kiến thức về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn Kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp Kiến thức về sắp xếp người bệnh thích hợp Kiến thức về xử lí dụng cụ y tế Kiến thức về xử lí đồ vải Kiến thức về bảo vệ môi trường Kiến thức về quản lí chất thải Thái độ của sinh viên về chương trình đào tạo PNC Bảng 2.1: Nội dung nghiên cứu PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU Nhập liệu bằng Epidata Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Y học SPSS 20.0. Các thuật toán được sử dụng trong nghiên cứu: Tần suất, kiểm định khi bình phương, so sánh sự khác biệt giữa các nhóm Sai số Do thu thập số liệu Sai sót trong quá trình nhập liệu, xử lý số liệu Khống chế sai số Làm sạch số liệu trước khi phân tích Nhập số liệu vào máy 2 lần để tránh sai sót, phát hiện và giải quyết nhanh chóng, chính xác. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm phục vụ sinh viên. Mọi thông tin cá nhân của sinh viên luôn được đảm bảo bí mật. Đề tài được sự đồng ý của phòng đào tạo và khoa Y tế Công Cộng đại học trường Đại học Y Dược Hải Phòng Người tham gia nghiên cứu có quyền dừng tham gia bất cứ khi nào trong quá trình nghiên cứu. CHƯƠNG 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Bảng 3.1.Thông tin chung của đối tượng BSĐK CNĐD TỔNG Các thông tin chung Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Giới Nam Nữ Năm thứ Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 SV được nhận tài liệu về PNC SV được đào tào về PNC Nhận xét:. 3.2. Kiến thức về phòng ngừa chuẩn 3.2.1. Kiến thức về vệ sinh tay Bảng 3.2. Kiến thức về mục đích của rửa tay Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 1.1. Rửa tay giảm thiểu các vi sinh vật gây hại có trên tay bẩn (Đ). 1.2 Rửa tay làm giảm tỷ lệ mắc các nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe (Đ). Nhận xét Bảng 3.3. Kiến thức về các kỹ thuật rửa tay Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 1.3 Rửa tay thường quy bao gồm rửa cả bàn tay và cổ tay (Đ). 1.9 Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu là từ 40- 60 giây (Đ). 1.10 Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu nên dưới 15 giây (S) 1.11 Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu là 20-30 giây (S). 1.12 Trong rửa tay tiêu chuẩn, thời gian tối thiểu phải là hình thức 10 -15 giây (S). Nhận xét: Bảng 3.4. Kiến thức về các chỉ định của rửa tay. Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 1.5 Rửa tay được chỉ định giữa các thủ thuật và quy trình trên cùng một bệnh nhân (S). 1.7 Rửa tay được chỉ định sau khi tháo găng (Đ). 1.8 Rửa tay là cần thiết với những bệnh nhân có bệnh nhiễm trùng đường hô hấp (Đ). 1.13 Rửa tay được khuyến cáo trước và sau khi chăm sóc một bệnh nhân (Đ). 1.14 Rửa tay được khuyến khích giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân (Đ). 1.15 Rửa tay đươc khuyến khích sau khi tháo bỏ găng tay (Đ). 322 78.2 1.16 Rửa tay được khuyến khích giữa các thủ thuật cho cùng một bệnh nhân (Đ). 264 64.1 Nhận xét: Bảng 3.5. Kiến thức về lựa chọn các biện pháp và phương tiện vệ sinh bàn tay. Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 1.4 Dung dịch rửa tay chứa cồn thay thế cho xà phòng rửa tay ngay cả khi tay bị bẩn (S). 1.6 Sử dụng găng tay thay thế cho việc rửa tay thường quy (S). 1.17 Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế cho rửa tay ngoại khoa trong 3 phút (Đ). 1.18 Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế cho dung dịch rửa tay chứa chất sát khuẩn trong 30s (Đ). 1.19 Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế dung dịch rửa tay bằng xà phòng trong vòng 30s (Đ). Nhận xét: 3.2.2. Kiến thức về phòng hộ cá nhân Bảng 3.6. Kiến thức về mục đích của phòng hộ cá nhân. Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 2.1 Sử dụng PHCN loại bỏ nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp (Đ). 2.3 PHCN như khẩu trang và mũ cung cấp các hàng rào bảo vệ chống lại nhiễm trùng (S). 2.4 PHCN chỉ phù hợp với phòng thí nghiệm để làm sạch và bảo vệ NVYT (S) . Nhận xét:. Bảng 3.7. Kiến thức về các phương tiện phòng hộ cá nhân. Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 2.6 Phương tiện PHCN đã qua sử dụng có thể bỏ qua xử lí bằng hệ thống trước khi thải ra ngoài (S). 2.8 Chất liệu khẩu trang có khả năng bảo vệ tốt nhất là chất liệu cotton (S). Bảng 3.8. Kiến thức về chỉ định của các phương tiện PHCN Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 2.2. PHCN nên được áp dụng chỉ khi có tiếp xúc với máu (Đ). 2.5 Găng tay và khẩu trang có thể tái sử dụng sau khi làm sạch (S). 2.7 Găng tay được khuyến khich sử dụng cho mỗi thủ thuật (Đ). 2.9 Khẩu trang và găng có thể tái sử dụng nếu cùng thực hiện trên một NB (S). 2.10 Dùng găng khi có nguy cơ bị cắt/kim đâm vào tay (S). 2.11 PHCN khuyến nghị sử dụng găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết (Đ) 2.12 Khi có nguy cơ bị bắn máu và dịch tiết, NVYT phải đeo khẩu trang, kính bảo hộ và áo choàng (Đ). 2.13 Sử dụng găng tay: khi NVYT có một tổn thương ở da (Đ). 2.14 Găng tay nên được thay đổi giữa các thủ thuật khác nhau trên cùng NB (Đ). 3.2.3. Kiến thức về tiêm an toàn và phòng ngừa tồn thương do vật xử sắc nhọn Bảng 3.9. Kiến thức về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 3.1 Tổn thương do vật sắc nhọn nên tự xử lí không cần báo cáo (S). 3.2 Bơm tiêm sau khi sử dụng nên bẻ cong để tránh tổn thương (S). 3.3 Vật sắc nhọn bẩn cần nghiền nhỏ trước khi đem đi tiêu hủy (Đ). 3.4 Bơm tiêm sau khi sử dụng nên đạy nắp để tránh tổn thương (S). 3.5 Vết thương do kim đâm thường gặp nhất trên lâm sàng (S). 3.6 Dự phòng tiếp xúc được sử dụng để quản lý các vết thương bệnh nhân bị HIV/AIDS (Đ). 3.2.4. Kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp Bảng 3.10. Kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 4.1 Khi tiếp xúc với NB mắc bệnh về hô hấp không cần thiết phải đeo khẩu trang (S). 4.2 Khi ho, nếu không có khăn tay nên dùng mặt trong khủyu tay để che, không dùng tay (Đ). 4.3 Khoảng cách hợp lí khi tiếp xúc NB là 1m(Đ) 4.4 Sau khi tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp của NB cần vệ sinh tay (Đ). 4.5 Các khoa phòng cần cần có kế hoạch quản lí NB có bệnh về đường hô hấp (Đ). 3.2.5. Kiến thức về sắp xếp người bệnh thích hợp Bảng 3.11. Kiến thức về sắp xếp người bệnh thích hợp Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 5.1 Sắp xếp người bệnh riêng ra từng khu vực (Đ). 5.2 Sắp xếp bệnh nhân dựa vào khả năng mắc nhiễm khuẩn bệnh viện (Đ). 5.3 Sắp xếp người bệnh không cần dựa vào các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh (S). 3.2.6. Kiến thức về xử lí dụng cụ y tế Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 6.1 DC y tế tái sử dụng đều phải được xử lý trước khi sử dụng cho NB khác (S). 6.2 DC thiết yếu phải khử khuẩn mức độ cao (S). 6.3 Chất liệu của DC ảnh hưởng đến quá trình khử khuẩn tiệt khuẩn (Đ). 6.4 DC sau khi đóng gói chỉ cần ghi hạn sử dụng (S). 6.5 Thời gian lưu DC không phụ thuộc vào chất liệu và phương pháp xử lí DC (S). 3.2.7. Kiến thức về xử lí đồ vải Bảng 3.13. Kiến thức về xử lí đồ vải Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 7.1 Phân loại đồ vải sạch, bẩn, lây nhiễm ngay tại khoa lâm sàng khi phát sinh đồ vải bẩn (Đ). 7.2 Khi vận chuyển đồ vải đóng gói đồ vải dính máu hay dịch cơ thể không cần đóng gói (S). 7.3 Cần có qui định giặt đồ vải dùng cho người bệnh HIV (+) bằng qui trình riêng (S). 7.4 Tất cả các đồ vải bẩn trong bệnh viện được giặt chung cho tất cả khoa lây nhiễm và khoa không lây nhiễm (S). 7.5 Thu gom riêng đồ vải thường và đồ vải có nguy cơ lây nhiễm (Đ). 3.2.8. Kiến thức về vệ sinh môi trường Bảng 3.14. Kiến thức về vệ sinh môi trường Mã câu hỏi Nội dung Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 8.1 Phân loại các khu vực vệ sinh trong môi trường bệnh viện dựa theo nguy cơ thì khu vực hành chính là khu vực kém sạch (S). 8.2 Phân loại theo màu sắc: màu vàng là khu vực an toàn, sạch, ít nguy cơ (Đ). 8.3 Những phòng trực tiếp có liên quan đến hoạt động khám và chữa bệnh như phòng khám bệnh, phòng thay băng, phòng chuẩn bị dụng cụ, buồng bệnh được coi là vùng nhiễm khuẩn (S). 8.4 Cách dùng giẻ lau nhà: giẻ dùng một lần rồi bỏ, luôn dùng giẻ khô cho mỗi lần lau, không dùng giẻ ẩm, treo sẵn trên cây (Đ). 8.5 Các bề mặt như sàn nhà, bàn ghế, lavabo vệ sinh tay, phải được làm sạch hàng ngày (Đ). 3.2.9. Kiến thức về quản lí chất thải y tế Bảng 3.15. Kiến thức về quản lí chất thải y tế Mã câu hỏi Câu hỏi Trả lời đúng Số lượng (n) Tỷ lệ (%) 9.1 Phải phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh chất thải (Đ). 9.2 Nơi lưu giữ chất thải phải cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 1000 mét (S). 9.3 Lưu giữ riêng chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường (Đ). 9.4 Xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao : bằng hóa chất hoặc bằng hơi nóng ẩm (Đ). 9.5 Tiêu hủy chất thải thông thường: chôn lấp hoặc tái chế (Đ). 3.2.10. Mức độ trả lời đúng các kiến thức về PNC Biểu đồ 3.1. Mức độ trả lời đúng các kiến thức về PNC 3.3. Thái độ của sinh viên về chương trình đào tạo phòng ngừa chuẩn. Biểu đồ 3.2. Thái độ của sinh viên về chương trình đào tạo phòng ngừa chuẩn 3.4. Các yếu tố liên quan tới kiến thức và thái độ về phòng ngừa chuẩn 3.4.1. Các yếu tố liên quan tới kiến thức về PNC Bảng 3.16. Các thông tin chung và kiến thức về phòng ngừa chuẩn. Các thông tin chung Kiến thức về PNC p Đạt Chưa đạt Giới Nam % % p Nữ % % Loại hình đào tạo BSĐK % % p CNĐD % % Được nhận đào tạo và nhận tài liệu về PNC % % p Không được nhận đào tạo và tài liệu về PNC % % Biểu đồ 3.3. Số năm đào tạo và kiến thức về PNC 3.4.2. Các yếu tố liên quan tới thái độ về phòng ngừa chuẩn. 3.4.2.1. Các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tới thái độ về chương trình phòng ngừa chuẩn. Bảng 3.17. Thái độ về phòng ngừa chuẩn và giới TĐ tích cực TĐ trung tính TĐ không tích cực p Nam % % % Nữ % % % Nhận xét: Thái độ về chương trình đào tạo PNC giữa nam và nữ chênh lệch hay đồng đều. Kiểm định khi bình phương cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tìm hiểu mối liên quan giữa thái độ và giới. Bảng 3.18. Hình thức đào tạo và thái độ về phòng ngừa chuẩn. TĐ tích cực TĐ trung tính TĐ không tích cực p BSĐK % % % < CNĐD % 0% % Biểu đồ 3.4. Năm đào tạo và thái độ của sinh viên về PNC 3.4.2.2. Đào tạo và nhận tài liệu với thái độ về chương trình phòng ngừa chuẩn Bảng 3.19. Đào tạo và nhận tài liệu về phòng ngừa chuẩn với thái độ về phòng ngừa chuẩn TĐ tích cực TĐ trung tính TĐ không tích cực p Được nhận tài liệu và được đào tạo về PNC % % % Không được nhận tài liệu và được đào tạo về PNC % % % CHƯƠNG 4 DỰ KIẾN BÀN LUẬN Dự kiến bàn luận theo các mục sau: 4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 4.2. Kiến thức về phòng ngừa chuẩn 4.3. Thái độ của sinh viên về phòng ngừa chuẩn 4.4. Các yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ về phòng ngừa chuẩn của sinh viên. DỰ KIẾN KẾT LUẬN Nghiên cứu có sự tham gia của sinh viên từ năm thứ 2 tới năm thứ 5 thuộc hai hệ bác sỹ đa khoa và cử nhân điều dưỡng, trường Đại học Y Dược Hải Phòng từ tháng 1/2018 tới tháng 4/201 8 thu được kết quả như sau: 1. Kiến thức và thái độ của sinh viên về phòng ngừa chuẩn. 1.1. Kiến thức của sinh viên về phòng ngừa chuẩn Nhìn chung các kiến thức về phòng ngừa chuẩn là tương đối tốt. Các kiến thức về vệ sinh tay, phòng hộ cá nhân, vệ sinh khi ho và hô hấp, sắp xếp người bệnh hợp lí, xử lí đồ vải, quản lí chất thải y tế có tỷ lệ trả lời đúng trên 50%. Đặc biệt kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất 83%. Tuy nhiên các kiến thức về tiêm an toàn và xử trí với vật sắc nhọn, xử lí dụng cụ y tế, vệ sinh môi trường trong chăm sóc còn chưa tốt, có tỷ lệ trả lời đúng dưới 50%. Trong đó thấp nhất là kiến thức về xử lí dụng cụ y tế (45%). 1.2. Thái độ của sinh viên về phòng ngừa chuẩn. Mặc dù có tới 85% sinh viên mong muốn nhận được đào tạo về PNC trong khóa học. Tuy nhiên, chỉ có 50% sinh viên cho rằng giảng viên đã cung cấp đầy đủ thông tin về phòng ngừa chuẩn cho sinh viên trước khi học lâm sàng. 2. Các yếu tố liên quan tới kiến thức và thái độ về phòng ngừa chuẩn. 2.1. Yếu tố liên quan tới kiến thức của sinh viên về PNC. Điểm kiến thức giữa các sinh viên BSĐK và CNĐD là tương đối đồng đều không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tìm hiều mối liên quan giữa kiến thức và các đặc điểm về giới, hình thức đào tạo, đào tạo và nhậ tài liệu về PNC (p>0.05). Điểm kiến thức giữa các hai nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tìm hiểu mối liên quan giữa kiến thức và năm đào tạo (p<0.05). CNĐD có tỷ lệ kiến thức đạt giảm dần theo năm đào tạo, sinh viên năm thứ 2 có tỷ lệ cao nhất 32.1%. Kiến thức của BSĐK về PNC thay đổi theo các năm, năm thứ 4 có tỷ lệ cao nhất đạt 36%, tỷ lệ trên với năm thứ 3 là thấp nhất 9.3%, năm thứ 5 là 28.6%. 2.2. Các yếu tố liên quan tới thái độ về chương trình đào tạo phòng ngừa chuẩn Giữa nam và nữ không có sự khác biệt trong thái độ về chương trình đào tạo phòng ngừa chuẩn (p>0.05). Thái độ về phòng ngừa chuẩn giữa 2 nhóm đối tượng là không đồng đều, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, khi tìm hiểu mối liên quan với các yếu tố: Hình thức đào tạo: sinh viên CNĐD có thái độ tích cực hơn sinh viên BSĐK (p<0.001) Năm đào tạo:thái độ tích cực về chương trình đào tạo PNC giảm dần qua các năm, sinh viên năm đầu có thái độ tích cực nhất. Đào tạo và nhận tài liệu về PNC: Sinh viên được nhận đào tào và tài liệu có thái độ tích cực hơn nhóm sinh viên còn lại (p<0.05) DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ Đưa nội dung kiểm tra và bổ túc các kiến thức về phòng ngừa chuẩn cho tất cả sinh viên y trước khi thực tập tại bệnh viện. Tăng cường truyền thông về phòng ngừa chuẩn cho đối tượng sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm cuối và các sinh viên mới đi học lâm sàng. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU SÁCH 136 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Y tế (2012). Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. 10. The National Guard Health Affairs- Infection Prevantion and Control Department (2013). Infections Precautions & Control Manual – 2 nd Edition. 11. Nguyễn Việt Hùng và Lê Bá Nguyên (2010). Đánh giá thực trạng và xác định mối liên quan về kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa cách ly của nhân viên y tế một số bệnh viện miền Bắc. Tạp chí Y học thực hành, 5, 36-40. 12. Nguyễn Thị Thanh Hà, Lê Bích Liên và cộng sự (2012). 18 Đánh giá sự tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Nhi Đồng 1. Tạp chí Y học thực hành Thành phố Hồ Chí Minh, 12, 128-131. 13. Lê Thị Anh Thư (2010). Hiệu quả của chương trình phòng ngừa phơi nhiễm do nghề nghiệp tại bệnh viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 2, 430- 435. 14. Fatma A.M.A.T (2013). Knowledge, environmental factors, and compliance about needle stick injuries among nursing students. Life Science Journal, 10, 2467- 2473. 15. Huson A.G and Youssreya I (2014). Knowledge, Attitudes and Sources of Information among Nursing Students toward Infection Control and Standard Precautions. Life Science Journal, 11, 249-260. 16. Lê Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Mỹ Châu, Nguyễn Việt Hùng và cộng sự (2008). Kiến thức và nhận thức của nhân viên y tế về dự phòng toàn diện tại một số bệnh viện các tỉnh phía Bắc. Tạp chí Y học lâm sàng, 6, 104-106. 17. Anderson A.F, Zheng Q, Wu G et al (2003). Human Immuno-deficiency Virus Knowledge and Attitudes Among Hospital-Healthcare Professionnals in Guangxi Zhuang Autonomous Region, People’s Republic of China. Infection Control and Hospital Epidemiology, 24, 2. 18. Askarian M, Mirzaei K, Honarvar B et al (2005). Knowledge, attitude and practice towards droplet and airborne isolation precautions among dental health care professionals in Shiraz, Iran. J Public Health Dent, 65, 43-51. 19. Elliott S.K.F, Keeton A and Holt A (2005). Medical students’ knowledge of sharps injuries. J Hosp Infect, 60, 374-377. 2. Australian Government, National Health and Medical Research Council (2010). Australian Guideline for the Prevention and Control of Infection and Healthcare. 20. Feather A, Stone S.P, Wessier A et al (2000). “Now please wash your hands”: the handwashing behaviour of final MBBS candidates. J hosp Infect, 45, 62-65. 21. Jeffe D.B, Mutha S, Kim L.E et al (1999). Evaluation of a preclinical, educational and skills-training program to improve students' use of blood and body fluid precautions: one-year follow-up. J hosp Infect, 2, 365-373. 22. Puro V, Carli G.D, Petrosillo N et al (2001). Risk of exposure to bloodborne infection for Italian healthcare workers by job category and work area. Infection Control Hospital Epide-miology, 22, 206–210. 23. Dinah G and Nicholas D (2013). Student nurses' experiences of infection prevention and control during clinical placements. American Journal of Infection Control, 41, 760- 763. 24. Koenig S and Chu J (1993). Senior medical students' knowledge of universal precautions. Journal of the Association of American Colleges, 68, 372-373. 25. Verena G.H, Paul S, Harald H.K et al (2013). Knowledge of and Adherence to Hygiene Guidelines among Medical Students in Austria. Interdisciplinary Perspectives on Infectious Diseases, 2013, 6. 26. Ameneh B and Ahmad A (2012). Knowledge, Attitude and Practice towards Standard Isolation Precautions among Iranian Medical Students. Global Journal of Health Science, 4, 142-146. 27. Cheung K, Chan C.K, Chang M.Y et al (2015). Predictors for compliance of standard precautions among nursing students. American Journal of infection Control, 43, 729-734. 28. Rajinder K, Baljit K and Indarjit W (2008). Knowledge, Attitude and Practice Regarding Universal Precautions among Nursing Students. Nursing and Midwifery Research Journal, 4, 115-127. 29. Kim K.M., Kim M.A., Chung Y.S et al (2001). Knowledge and performance of the universal precautions by nursing and medical students in Korea. Am J Infect Control, 29, 295-300. 3. Phillipa G and Ker J (2006). Champion students! Experience with a standardized infection control training package in medical students. Journal of hospital infection, 62, 518-519. 30. Ginny K (2015). Impact of Training on Knowledge, Attitude and Practices Scores of ICU Nurses regarding Standard Precautions of Infection Control in a Super Speciality Hospital of Delhi. Paripex- indian jounal of research, 4, 282-285. 31. Marie P.T (2008). Prevention of Nosocomial Infection and Standard Precautions:Knowledge and Source of Information Among Healthcare Students. Infection Control and Hospital Epidemiology, 29(7), 642-647. 32. Jan L and Anne W (2012). CDC Coffee Break: Using Likert Scales IN Evaluation Survey Work, 1-22. 33. Benzy P, Anant P, Durgesh K et al (2014). A Study on Knowledge, Attitude and Practice of Universal Precautions among Medical and Nursing Students. Scholars Journal of Applied Medical Sciences, 2, 1821-1823. 34. Purva M (2011). Hand hygiene: back to the basics of infection control. Indian Journal of Medical Research, 134, 611–620. 35. Cheung K, Ching S.S, Chang K.K et al (2012). Prevalence of and risk factors for needlestick and sharps injuries among nursing students in Hong Kong. Am J Infect Control, 40, 997–1001. 4. Askarian M, Honarvar B, Tabatabaee H.R et al (2004) . Knowledge, practice and attitude towards standard isolation precautions in Iranian medical students. Journal of hospital infection, 58, 292-296. 5. Tarek T.A and Khalid I.A.N (2013). Standard Precautions and Infection Control, Medical Students' Knowledge and Behavior ata Saudi University: The Need for Change. Global Journal of Health Science, 5, 114-115. 6. Bearman M.L, et al (2014). A Guide to Infection Control in the Hospital 5th Edition, International Society for Infectious Diseases, Boston. 7. Bộ Y tế, Cục Quản lí khám, chữa bệnh (2018). Tài liệu đào tạo phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn. 8. WHO (2013). Infection prevention and control during health care for probable or confirmed cases of novel coronavirus (nCoV) infection, 2-8. 9. Siegel J.D, Rhinehart E, Jackson M et al (2007). Guideline for Isolation Precautions: Preventing Transmission of Infectious Agents in Healthcare Settings 2007. Centers for Disease Control and Prevention, pp 1- 225.. PHỤ LỤC Bộ câu hỏi phỏng vấn kiến thức thái độ của sinh viên y khoa về các biện pháp phòng ngừa chuẩn Sinh viên tham gia trả lời các câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu “×” vào các mục sau đây. I.Phần thông tin cơ bản Câu hỏi 1.Giới Nam Nữ 2. Sinh viên năm thứ Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 3. Hình thức đào tạo Bác sỹ đa khoa Cử nhân điều dưỡng 4. Đã được đào tạo về phòng ngừa chuẩn: Có Không 5. Đã nhận được tài liệu về phòng ngừa chuẩn: Có Không II. Phần thông tin nghiên cứu 1.Kiến thức về vệ sinh tay. Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 1.1. Rửa tay giảm thiểu các vi sinh vật gây hại có trên tay bẩn. 1.2. Rửa tay làm giảm tỷ lệ mắc các nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe 1.3.Rửa tay thường quy bao gồm rửa cả bàn tay và cổ tay 1.4. Dung dịch rửa tay chứa cồn thay thế cho xà phòng rửa tay ngay cả khi tay bị bẩn 1.5. Rửa tay được chỉ định giữa các thủ thuật và quy trình trên cùng một bệnh nhân. 1.6. Sử dụng găng tay thay thế cho việc rửa tay thường quy 1.7. Rửa tay được chỉ định sau khi tháo găng 1.8. Rửa tay là cần thiết với những bệnh nhân có bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. 1.9.Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu là từ 40- 60 giây 1.10. Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu nên dưới 15 giây 1.11. Trong rửa tay thường quy, thời gian tối thiểu là 20-30 giây 1.12.Trong rửa tay tiêu chuẩn, thời gian tối thiểu phải là hình thức 10 -15 giây. 1.13. Rửa tay được khuyến cáo trước và sau khi chăm sóc một bệnh nhân 1.14. Rửa tay được khuyến khích giữa những lần tiếp xúc với bệnh nhân 1.15. Rửa tay đươc khuyến khích sau khi tháo bỏ găng tay. 1.16. Rửa tay được khuyến khích giữa các thủ thuật cho cùng một bệnh nhân. 1.17. Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế cho rửa tay ngoại khoa trong 3 phút. 1.18. Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế cho dung dịch rửa tay chứa chất sát khuẩn trong 30s. 1.19. Dung dịch rửa tay chứa cồn được thay thế dung dịch rửa tay bằng xà phòng trong vòng 30s. 2.Kiến thức về phòng hộ cá nhân (PHCN) Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 2.1. Sử dụng PHCN loại bỏ nguy cơ mắc các bệnh nghề nghiệp 2.2. PHCN nên được sử dụng chỉ khi có tiếp xúc với máu 2.3.PHCN như mặt nạ và mũ đầu cung cấp các hàng rào bảo vệ chống lại nhiễm trùng. 2.4. PHCN chỉ phù hợp với phòng thí nghiệm để làm sạch và bảo vệ nhân viên y tế . 2.5. Găng tay và khẩu trang có thể được tái sử dụng sau khi làm sạch thích hợp 2.6. Dụng cụ PHCN đã qua sử dụng có thể bỏ qua xử lí trước khi thải ra môi trường. 2.7. PHCN khuyến khích sử dụng găng tay cho mỗi thủ thuật. 2.8. Chất liệu có khả năng bảo vệ tốt nhất để làm khẩu trang là chất liệu cotton. 2.9. Khẩu trang và găng tay có thể được tái sử dụng nếu cùng thực hiện trên một bệnh nhân. 2.10. PHCN khuyến nghị dùng găng tay khi có nguy cơ bị cắt/kim đâm vào tay 2.11.Các biện pháp PHCN khuyến nghị sử dụng găng tay khi có nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết cơ thể 2.12. Khi có nguy cơ bắn máu và dịch tiết cơ thể nhân viên y tế phải đeo khẩu trang, kính bảo hộ và áo choàng. 2.13. Các biện pháp PNC đề nghị sử dụng găng tay: khi nhân viên y tế có một tổn thương ở da 2.14. Găng tay nên được thay đổi giữa các thủ thuật khác nhau trên cùng một bệnh nhân 3.Kiến thức về thực hiện tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 3.1. Tổn thương do vật sắc nhọn nên được tự xử lí không cần báo cáo 3.2.Bơm tiêm sau khi sử dụng nên được bẻ cong để tránh tổn thương 3.3. Vật sắc nhọn bẩn cần được nghiền nhỏ trước khi đem đi tiêu hủy 3.4. Bơm tiêm sau khi sử dụng nên được đạy nắp để tránh tổn thương 3.5.Vết thương do kim đâm thường gặp nhất trên lâm sang 3.6. Dự phòng tiếp xúc được sử dụng để quản lý các vết thương từ một bệnh nhân bị HIV 4.Kiến thức về vệ sinh khi ho và hô hấp Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 4.1. Khi tiếp xúc với các bệnh nhân có các bệnh về hô hấp không cần thiết phải đeo khẩu trang 4.2. Khi ho, nếu không có khăn tay nên dùng mặt trong khủyu tay để che, không dùng bàn tay. 4.3. Khoảng cách hợp lí khi tiếp xúc ( giao tiếp) với người bệnh có vấn đề đường hô hấp là 1m 4.4. Sau khi tiếp xúc với dịch tiết đường hô hấp của bệnh nhân cần vệ sinh tay 4.5. Các khoa phòng cần cần có kế hoạch quản lí các bệnh nhân có bệnh về đường hô hấp 5. Kiến thức về sắp xếp người bệnh thích hợp Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 5.1. Sắp xếp NB không có khả năng kiểm soát chất tiết, chất bài tiết, dịch dẫn lưu vào phòng riêng. 5.2. Sắp xếp bệnh nhân dựa vào khả năng mắc nhiễm khuẩn bệnh viện 5.3. Sắp xếp người bệnh không cần dựa vào các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh 6. Kiến thức về xử lí dụng cụ y tế Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 6.1. Dụng cụ y tế tái sử dụng đều phải được xử lý trước khi sử dụng cho NB khác 6.2. Dụng cụ được sử dụng để đưa vào mô, mạch máu và khoang vô khuẩn phải khử khuẩn mức độ cao 6.3. Chất liệu của dụng cụ ảnh hưởng đến quá trình khử khuẩn tiệt khuẩn. 6.4. Dụng cụ sau khi đóng gói chỉ cần ghi hạn sử dụng 6.5. Thời gian lưu giữ dụng cụ không phụ thuộc vào chất liệu và phương pháp xử lí dụng cụ. 7. Kiến thức về xử lí đồ vải Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 7.1. Phân loại đồ vải sạch, bẩn, lây nhiễm ngay tại các khoa lâm sàng khi phát sinh đồ vải bẩn 7.2. Khi vận chuyển đồ vải đóng gói, đồ vải dính máu hay dịch cơ thể không cần đóng gói. 7.3. Cần có qui định giặt đồ vải dùng cho người bệnh HIV(+) bằng qui trình riêng 7.4. Tất cả các đồ vải bẩn trong bệnh viện được giặt chung cho tất cả khoa lây nhiễm và khoa không lây nhiễm. 7.5. Thu gom riêng đồ vải thường và đồ vải có nguy cơ lây nhiễm 8. Vệ sinh môi trường Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 8.1. Phân loại các khu vực vệ sinh trong môi trường bệnh viện dựa theo nguy cơ thì khu vực hành chính là khu vực kém sạch 8.2. Phân loại các khu vực vệ sinh trong bệnh viện theo màu sắc: màu vàng là khu vực an toàn, sạch, ít nguy cơ. 8.3. Những phòng trực tiếp có liên quan đến hoạt động khám và chữa bệnh như phòng khám bệnh, phòng thay băng, phòng chuẩn bị dụng cụ, buồng bệnh được coi là vùng nhiễm khuẩn 8.4. Cách dùng giẻ lau nhà: giẻ dùng một lần rồi bỏ, luôn dùng giẻ khô cho mỗi lần lau, không dùng giẻ ẩm, treo sẵn trên cây 8.5. Các bề mặt như sàn nhà, bàn ghế, lavabo vệ sinh tay phải được làm sạch hàng ngày. 9. Quản lí chất thải y tế Câu hỏi Trả lời Đúng Sai Không rõ 9.1. Phải phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh chất thải 9.2. Nơi lưu giữ chất thải phải cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 1000 mét. 9.3. Lưu giữ riêng chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường 9.4. Xử lý ban đầu chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao : bằng hóa chất hoặc bằng hơi nóng ẩm 9.5. Về tiêu hủy chất thải thông thường : chôn lấp hoặc tái chế. 10.Thái độ của sinh viên về phòng ngừa chuẩn Câu hỏi Trả lời Hoàn toàn đồng ý(1) Đồng ý(2) Không có ý kiến gì(3) Không đồng ý(4) Hoàn toàn không đồng ý(5) 10.1. Chương trình học hiện tại cung cấp đủ thông tin về PNC 10.2. Các buổi tập huẩn/hướng dẫn về PNC được giành cho sinh viên y khoa 10.3. Giảng viên cung cấp cho chúng tôi đầy đủ thông tin về làm thế nào để tránh nhiễm trùng trong cơ sở y tế trước khi học lâm sàng. 10.4. Tôi nhận được các đào tạo về làm cách nào để tránh các nhiễm trùng thông qua sử dụng tình huống mô phỏng 10.5. Tôi cần được đào tạo về kiến thức và kĩ năng về phòng ngừa chuẩn Xin chân thành cảm ơn sự tham gia của anh/chị trong việc hoàn thành bộ câu hỏi này

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxkhoa_luan_tot_nghiep_6016_2084053.docx
Luận văn liên quan