Luận án Quan hệ giữa vương quốc cổ Champa với các nước trong khu vực

Sau thế kỉ X, những mối quan hệ về lãnh thổ diễn biến hết sức phức tạp. Champa một mặt luôn phải tự giữ mình, nhƣng mặt khác lại luôn đóng vai trò kẻ gây chiến mỗi khi có cơ hội. Là một nƣớc nhỏ, nằm kẹp giữa hai nƣớc lớn hơn mình là Đại Việt và Campuchia, thì thái độ vừa mặc cảm, vừa tự hùng này là hoàn toàn bất lợi. Trong nhiều cuộc xung đột giữa Champa với Campuchia hay Champa với Đại Việt, nội bộ Champa bộc lộ sự chia rẽ, bất đồng sâu sắc. Xu hƣớng thống nhất, tập quyền trong lịch sử Champa thƣờng bị xu hƣớng tản quyền xé rách. Ba thế kỷ VIII, IX, X, kinh đô chuyển dời liên tục. Ngay cả trong thời kỳ vẫn đƣợc coi là thống nhất trong lịch sử Champa - thời kỳ Vijaya - thì xu hƣớng cát cứ địa phƣơng vẫn thƣờng xuyên nổi lên ở miền Nam Paduranga. Nội lực yếu kém, lại thƣờng xuyên phải dồn hết sức cho các cuộc chiến tranh với bên ngoài cũng nhƣ những xung đột trong nội tại, nên từ cuối thế kỉ XIV trở đi, nghĩa là sau giai đoạn Chế Bồng Nga, sự phát triển của Champa đã chững lại, thậm chí thụt lùi dẫn đến suy sụp. Thế kỷ XVII, từ một quốc gia độc lập thời cỗ - Trung đại ở Đông Nam Á, lãnh thô Champa đã bị co hẹp dần và cuối cùng trở thành một vƣơng quốc hoàn toàn suy kiệt, hoàn toàn không còn có thể tự đứng vững

pdf182 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 04/08/2018 | Lượt xem: 55 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Quan hệ giữa vương quốc cổ Champa với các nước trong khu vực, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Panduranga (hay Pradara), thậm chí còn kéo dài dòng lịch sử của nƣớc Panduaranga (!?) đến đầu thế kỷ XIX [97] [98, 53 -65]. Sự thật thì những tƣớc vƣơng, ấn tín... hay chính sách mềm dẻo của nhà Nguyễn với ngƣời Chăm cũng nhƣ chuyện phong vƣơng cho Thủy Xá, Hỏa Xá hay chính sách đối với ngƣời Khơ me ở Nam Bộ.v.v... tất cả đều nằm trong mục đích thực thi thống nhất lãnh thổ, ổn định biên cƣơng nhƣng mềm dẻo với các sắc tộc và vùng cƣ dân mới. Nhà Nguyễn không hề gọi lại tên nƣớc cũ (Chiêm Thành) từ khi lập trấn Thuận Thành. Văn kiện xứ Panduranga (tài liệu viết bằng chữ Hán, Nôm và chữ Chăm do hội Á châu Paris xuất bản năm 1984) còn cho thấy: - Tất cả các văn kiện bằng chữ Hán, Nôn; Nôm hay Chăm vẫn dùng các niên 136 hiệu Chính Hòa, Bảo Thái, Vĩnh Khánh, Long Đức, Vĩnh Hƣu, Cảnh Hƣng rồi chuyển sang là Thái Đức (Tây Sơn), cho đến năm 1792 (Nguyễn Ánh đánh chiếm lại Bình Thuận - Diễn Khánh. - Tự gọi là Thuận Thành Vƣơng trong các phần văn bản có liên quan đến ngƣờỉ đứng đầu. Một số văn bản nhắc đến việc vua (Thuận Thành Vƣơng) cai trị và bổ nhiệm quan lại địa phƣơng, nhƣng lại cũng có nhiệm vụ thu thuế và nuôi quân lính Việt Tập 57, phần chữ Hán ghi nhận: Sớ tâu thỉnh cầu Thuận Thành Vương chuẩn y cho chức vụ cai quản vùng Phan Rang, Phan Rí và phố Hài. Ngày 12 tháng 7, cảnh Hưng 14 (1753). Tập 6, tờ 2a, phần chữ Chăm lại cho thấy: Số kê lập theo lệnh vua: Thuận Thành Vương vay 5 nén bạc của Kay dăn để trả lương cho binh lính Việt. Và đặc biệt, trong nhiều văn bản phản ánh việc mua bán ruộng và nô lệ, hay vay mượn cầm đồ thì vua cũng chỉ có vị thế như mọi người dân sống ở xứ này Tờ 12, tập 6: Thuận Thành Vương gửi trả một số tiền cho chủ nợ mà ông đã vay. Ngày 19, thảng 6, năm cảnh Hưng thứ 21 (1760). Tập 34 - tờ rời: Một người nhận bảo đảm sẽ trả một khoản tiền mượn theo yêu cầu của Thuận Thành Vương. Ngày 5, tháng 2, năm cảnh Hưng 7 (1746). Tờ 13, tập 50: Bản kê những vật phẩm mà đã giao cho Thuận Thành Vương nhưng lại không được ông trả tiền. Ngày 22 tháng 6, cảnh Hưng 5 (1744). Tập 52, tờ 6: Chứng từ bán 1 nữ tỳ cho Thuận Thành Vương. Ngày 11 tháng 2, cảnh Hưng 15 (1754)... Văn kiện Panduranga còn cho thấy, tình hình ở xứ Thuận Thành phụ thuộc hoàn toàn vào các chính sách của các triều đại phong kiến Đàng Trong. Ví dụ: sự cai quản đặc biệt chặt chẽ trong thời Tây Sơn. Thống kê dƣới đây sẽ chỉ rõ điều này: 137 BẢNG 2: VIỆC CAI QUẢN TRẤN THUẬN THÀNH THỜI TÂY SƠN TỪ 1782 - 1787 Thái Đức năm thứ V 23 - 4 - 1782 Khâm sai Bình Nhung Quan (Tây Sơn) sắc trấn an các chức dịch 23 - 4 - 1782 Lệnh của Khâm sai Bình Nhung Quan cho Thuận Thành Vƣơng phải bắt các quan chức dân sự và quân sự của chính quyền trƣớc 11- 8 - 1782 Lệnh mua gấp (đồ) cho quân đội Thái Đức năm thứ VI 25 -11-1783 Kiểm kê vũ khí chiến lƣợc của phỉ Thƣợng Thái Đức năm thứ VII 13 - 3 - 1784 Lệnh bố trí lực lƣợng phòng Siêm 13 - 3 - 1784 Lệnh chống quân xâm lƣợc Siêm 24 - 4 - 1784 Sắc thống kê dân số, thuế và ruộng 28 - 7 - 1784 Sắc nộp sắt đóng tầu 12 - 12 - 1784 Sắc kiểm soát buôn bán 12 - 12 - 1784 Sắc bắt giữ những kẻ không có giấy tờ Thái Đức năm thứ VIII 19 - 1 - 1785 Lệnh chuẩn bị đánh cƣớp 04 - 2 - 1785 Sắc nộp sắt đóng tầu chiến 13 - 2 - 1785 Lệnh đi đánh cƣớp 18 - 2 - 1785 Sắc chuẩn bị lƣơng thực 01 - 4 - 1785 Sắc cung cấp lƣơng thực cho quân đội 11 - 5 - 1785 Sắc báo cáo tình trạng vũ khí 28 - 6 - 1785 Lệnh đi đánh cƣớp 28 - 8 - 1785 Sắc nộp sắt đóng tầu chiến 138 Thái Đức năm thứ IX 3 - 2 - 1786 Sắc cung cấp lƣơng thực cho quân đội 27 - 2 - 1786 Sắc cung cấp lƣơng thực cho quân đội Thái Đức năm thứ X 10 - 3 - 1787 Báo cáo về hiệu qủa của một con tầu chiến ở làng Kinh Cựu Thống kê cho thấy trong những năm 1783 và 1784 sự cai quản tỏ ra rất gắt gao từ quân sự đến kinh tế, xã hội mà cả ngƣời Việt và ngƣời Chăm đều phải chịu đựng nhƣ nhau. Các sắc cho thấy chính quyền thƣờng xuyên quan tâm đến việc cung cấp lƣơng thực cho quân đội đóng trên địa bàn Thuận Thành, trấn an các chức dịch, kiểm kê dân cƣ Thuận Thành, kiểm kê điền thổ, kiểm tra thuế đã thu để đƣa vào dự trữ, rồi lệnh chuyển giao ngay lập tức thuế điền và thuế nông để cung cấp cho quân, kiểm soát cả việc buôn bán... của tất cả dân cƣ trong xứ. Từ cuối năm 1785 tình hình dần dần yên ổn hơn. Paduranga là tên gọi của một tiểu quốc (tiểu quốc Nam Chăm) trƣớc khi thống nhất vói Bắc Chăm. Về sau, Panduranga chỉ là một miền của Champa (cũng nhƣ Amaravati, Vijaya), bao gồm đất Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay. Có thể coi những gì diễn ra trên đất Panduranga từ năm 1471 - 1693 là dòng lịch sử cuối cùng của Champa. Nhƣng Panduranga không hề tồn tại đến đầu thế kỷ XIX nhƣ là một tiểu quốc tự trị. Cũng không thể xem nó nhƣ là một vùng đất tự trị bị kẹp giữa vua Minh Mệnh ở phía Bắc và Lê Văn Duyệt ở phía Nam, và vƣơng quốc này chỉ kết thúc vào năm 1832, khi Minh Mệnh lấy lại Panduranga, sáp nhập nó vào triều đình Huế vì "những ngƣời cai tri của Champa, Po Phank To đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng khi đứng về phía Lê Văn Duyệt" [98, 179] và "sự tồn tại của Champa và Panduranga về mặt chính trị còn lâu hơn cuộc Nam tiến của ngƣời Việt, đến năm 1832 nó còn giữ đƣợc sự tự trị nhất định ở những vùng đất của nó [98, 172]. 139 Dựa vào nhà cầm quyền địa phƣơng (Lê Văn Duyệt) để tìm kiếm một sự tự trị với triều đình Huế là một ảo tƣởng, vì chính Lê Văn Duyệt cũng không thể tự trị. Do đó, vấn đề không thay đổi gì về bản chất trƣớc và sau năm 1822 hay 1832. Trấn Thuận Thành vẫn luôn chỉ là một tỉnh của nhà Nguyễn mà thôi! Nhà Nguyễn chăm lo xác định biên giới quốc gia, củng cố chính quyền phong kiến trung ƣơng tập quyền để cai quản toàn bộ lãnh thổ, nhƣng luôn có chính sách mềm dẻo, hợp lý với các vùng lãnh thổ, các sắc tộc khác nhau. Và vì thế, thái độ của nhà Nguyễn đối với những hậu duệ của Chiêm Thành cũng không ra ngoài chính sách chung đó. Với mốc 1693, triều đình Chiêm Thành đã chấm dứt. Chiêm Thành cũng không tồn tại với tƣ cách là một quốc gia riêng biệt, mà đã trở thành một phần lãnh thổ của chính quyền Đàng Trong. Và sau trở thành một trấn của Việt Nam. Tuy nhiên, điều đó không phải là sự phủ định hoàn toàn một cộng đồng dân cƣ với một nên văn hóa đã từng tồn tại nhiều thế kỷ. Phàn lớn ngƣời Chàm vẫn ở lại làm ăn sinh sóng trên quê hƣơng của mình trong sự hòa nhậu văn hóa và sự hòa đồng dân tộc, tộc ngƣời. Từ năm 1611, sau sự kiện Hoa Anh sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, nhƣ đã nói ở trên, nhiều ngƣời Chàm vẫn ở lại. Tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay (vùng Panduranga cũ) vẫn là nơi có ngƣời Chàm cƣ trú đông nhất ở Việt nam, khoảng gàn 70.000 ngƣời. Họ chính là hậu duệ của cộng đồng ngƣời Chăm ở lại trên quê hƣơng mình sau sự kiện 1693. Ngay từ đầu, họ đã có sự đồng cảm với những ngƣời nông dân Việt Nam phiêu tán vào vùng đất này chủ yếu vì nhu cầu mƣu sinh. Cả ngƣời Việt và ngƣời Chăm cùng phải chịu đựng sự khắc nghiệt, khốn khó của một vùng đất vẫn đƣợc coi là khô hạn nhất Đông Nam Á (lƣợng mƣa trung bình hàng năm chỉ có 695 mm, một năm chỉ có khoảng trên dƣới 50 ngày mƣa, vào khoảng từ 140 tháng 9 đến tháng 11). Họ cùng phải chịu gánh nặng của những cuộc chiến tranh, chịu sự áp bức, bóc lột của chính quyền Phong kiến và sau này là thực dân. Văn kiện xứ Panduranga không thấy phản ánh sự khác biệt giữa ngƣời Việt và ngƣời Chăm khi đóng nghĩa vụ về lƣơng thực, sắt đóng tầu cho nhà nƣớc (thời Tây Sơn) hay khi thống kê dân số, thuế và ruộng. Hiện tƣợng vay mƣợn, mua bán giữa ngƣời Việt và ngƣời Chăm là khá phổ biến. Văn kiện còn nhắc đến những ngƣời Kinh Cựu. Họ cũng có cuộc sống nhƣ những ngƣời Chăm, ngƣời Việt. Cũng buôn bán, cũng đi lao dịch cho nhà nƣớc... Theo tài liệu dân tộc học, ngƣời Chăm vẫn gọi họ là Yuôn -Chăm (có nghĩa là Việt - Chăm). Họ là biểu hiện của quan hệ huyết thống giữa những ngƣời đàn ông Việt và đàn bà Chăm. Đại nam nhất thống chí cũng ghi lại: " Chỉ có ba xã thôn Xuân Hội, Xuân Quang và Tuần Giáo cùng gọi là ngƣời Thổ Kinh cựu. Đàn ông mặc quần áo ngƣời Kinh, đàn bà mặc quân áo ngƣời Thổ. Tang hôn, tế tự đều đại khái giông tục ngƣời Kinh. Tƣơng truyền là ngƣời kinh Thuận Hóa đến đấy, lấy vợ ngƣời Thổ, lâu ngày sinh nở càng đông, cho nên dân đã đồng hóa" [55, 124 - 125]. Cuối thế kỷ XVII, những ngƣời Việt đầu tiên di cƣ vào làng Xóm Tằm, rồi sau đó đến làng Play - ọt - pan ( có nghĩa là làng trồng nhiều xoài), Ở những nơi này đã diễn ra một quá trình cộng cƣ sâu sắc giữa ngƣời Việt và ngƣời Chàm, họ sóng tập trung thành làng, tục gọi đó là làng Kinh Cựu. Vào năm 1825 nó đƣợc chia làm 4 làng là Xuân Hội, Xuân Quang, Tuân Giáo và Tuân Mục, nay đều thuộc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận. Gia phả của tộc họ Cao ở Xuân Hội cho biết tổ tiên họ năm trong số 100 ngƣời đàn ông theo lệnh Vua vào Thuận Thành. Họ kết hôn với phụ nữ Chàm, sinh đƣợc nhiều con trai và hợp thành những xóm làng Kinh cựu. Đến năm 1956 làng họ đã tồn tại đƣợc 262 năm, tức là họ tới Bình Thuận từ năm 1694. Cuốn gia phả này có ghi một cụ bà ngƣời Chàm tên là Nguyễn Thị Plo. Gia phả của họ 141 Ngô ở Xuân Quang ghi lại các cụ tổ của họ gốc ở Thừa thiên vào lấy vợ Chàm, lập nghiệp ở đó. Có thể nhìn thấy sự cộng hƣởng giữa hai nền văn hóa Chàm - Việt rất rõ trong cuộc sống của ngƣời Kinh Cựu. Họ cúng giỗ tết, cƣới xin theo phong tục của ngƣời Việt, nhƣng cũng ăn tết Chàm, cúng kính theo tín ngƣỡng dân gian Chàm. Họ không cƣ trú hay chôn cất theo huyết hệ mẹ nhƣng vẫn giữ Chiêt atau, (vật dụng mang tính thiêng liêng vì dùng để đựng quần áo tổ tiên để lại, do ngƣời con gái út đƣợc giữ theo tục lệ huyết hệ mẹ của ngƣời Chàm)... Nói chung, trên vùng đất Thuận Thành xƣa, mỗi một tộc ngƣời tồn tại cùng với những nét riêng văn hóa của mình. Và nét riêng văn hóa của mỗi tộc ngƣời cũng là văn hóa chung của cộng đồng dân cƣ sống ở đây. Ngƣời Chàm vốn là những ngƣời Malayo Polynesia sinh sông ở biển Đông, họ đằm tính và dễ chan hòa. Loạn lạc sau chiến tranh, tị nạn chính trị hay thói quen thiên di và thích ứng với môi trƣờng của ngƣời Nam Đảo đã khiến nhiều ngƣời Chàm phiêu bạt. Theo số liệu thống kê của hội nghị Copenhagen (1987) có khoảng 350.000 ngƣời Chăm sinh sống ở nƣớc ngoài, Trong đó có khoảng 200.000 ngƣời sinh sống ở Campuchia, nhƣng theo tiến sĩ Benkiernan, đại học Yale thì có khoảng 90.000 ngƣời là nạn nhân của chế độ diệt chủng Pônpốt từ năm 1975 đến 1979. Khoảng 15.000 cƣ trứ ở Malaisia và dọc theo biên giới Thái Lan - Malaisia, Khoảng 2000 cƣ trú ở Australia và 3000 ngƣời ở Mĩ. Ngƣời Chàm còn cƣ trú rải rác ở đảo Sumatra, từ sau sự kiện 1471. Trƣớc đó vào thế kỷ X, nhiều ngƣời Chàm cũng đi theo đƣờng biển đến đảo Hải Nam, Trung Quốc. Con cháu của họ đƣợc gọi là ngƣời "Hời" và hiện vẫn cƣ trú ở đây [69]. Tại Việt Nam có khoảng hơn 100.000 ngƣời Chàm sinh sống, có mặt tại 36 tỉnh và thành phố trong tổng số 44 tỉnh và thành phố. Năm 1989 theo số liệu của Ủy ban điều tra dân số trung ƣơng, tổng số ngƣời Chàm ở Việt Nam là 98. 919 ngƣời. Con số này không kể 142 những ngƣời Chàm sống ở vùng Thƣợng nguyên và đã đồng hóa với những tộc ngƣời miền núi ở đây, trong đó cũng có nhiều tộc vốn là gốc Nam Đảo, nhƣ ngƣời Gia rai, Eđê, Raglai. Ngoài hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, ngƣời Chàm còn cƣ trú khá tập trung ở Châu Đốc, Tây Ninh và một số ở thành phố Hồ Chí Minh. Những ngƣời Chàm ở Châu Đốc, Tây Ninh chủ yếu là từ Campuchia trở về từ giữa thế kỷ XIX. Nhƣng vào đầu thế kỷ XX, phần lớn đã di cƣ về Sài Gòn để làm ăn sinh sống. Hiện nay ở thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 3000 ngƣời Chàm sinh sống. Theo điều tra gần đây nhất của chúng tôi vào những tháng đầu năm 1998, ở đây có 15 khu vực sinh sống của ngƣời Chăm nhƣng không phải là những khu sống biệt lập. Họ sống chan hòa với ngƣời Việt và ngƣời Hoa trên cùng một địa bàn. Có khu vực, nhƣ Hòa Hƣng, quận 3 chỉ có một, hai gia đình ngƣời Chàm sống xen kẽ cùng với các gia đình ngƣời Việt, ngƣời Hoa. Quận 8 là nơi có số ngƣời Chăm sống tập trung đông nhất (96 hộ với hơn 1000 nhân khẩu). Ở đây họ sống tập trung thành 3 tiểu cộng đông. Những ngƣời chăm sống ở khu vực tiểu thánh đƣờng Mubarat đƣợc gọi là Chăm - Javakur (Java là chỉ nguồn gốc Mã Lai, Kur là chỉ nguồn gốc Campuchia). Cộng đồng Chăm - Javakur là thế hệ hợp huyết từ sự kết hôn lẫn nhau giữa ngƣời Chăm với ngƣời Mã Lai và ngƣời Campuchia. Đầu tiên họ tập hợp và sinh sống ở vùng châu Đốc, An Giang. Một bộ phận lớn di chuyển lên thành phố từ những năm 50 của thế kỷ này. Tỉếp xúc với nhóm Chăm - Javakur ta thấy trong ngôn ngữ họ đang sử dụng có pha trộn nhiều từ Khmer và từ Mã Lai. Ngày nay, ngay trong khu vực sinh sống của họ còn có rất nhiều ngƣời Chăm - Javakur kết hôn với ngƣời Việt. Không thể phủ nhận một thực trạng là giữa các nhóm thuộc cộng đồng ngƣời Chăm có những khác biệt trong sinh hoạt và văn hóa - hệ quả của quá trình di dân và phát triển của lịch sử. Ở Ninh Thuận, Bình Thuận, ngƣời Chăm vẫn bảo lƣu những phong tục truyền thống của tộc ngƣời mang đậm 143 màu sắc của xã hội mẫu hệ nhƣ: con gái đi hỏi chồng, hôn nhân và cƣ trú theo phía vợ, tính huyết hệ theo dòng nữ, quyền thừa kế cho con gái, vai trò của phụ nữ trong lễ hội hay giữ Chiêt atâu... Ngoài ra họ còn có vai trò rất lớn trong nền kinh tế gia đình. Nghề dệt và nghề gốm cổ truyền hầu hết đều do phụ nữ đảm nhiệm. Thực tế ở làng dệt thổ cẩm Mĩ Nghiệp và làng gốm Bầu Trúc (Phan Rang) cho thấy rõ điều này. Trong khi đó, ở vùng Chăm Tây Ninh, An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, ngƣời Chăm đã chuyển dần sang chế độ phụ quyền với vai trò quan trọng và quyền lực của ngƣời đàn ông Hồi giáo trong gia đình và xã hội. Theo điều tra xã hội học của sinh viên khoa lịch sử, trƣờng Đại học Sƣ Phạm thành phố Hồ Chí Minh và sinh viên khoa Đông Nam Á, Đại học Mở - Bán công, thành phố Hồ Chí Minh vào các năm 1992, 1997, 1998 cho thấy: tất cả các thiếu nữ đều không đƣợc đi làm khi chƣa lập gia đình, phong tục cƣới hỏi khác xa đồng bào họ ở Ninh Thuận, Bình Thuận, điều duy nhất ít nhiều còn mang dấu vết của một xã hội theo truyền thống mẫu hệ là trong đám cƣới, ngƣời con trai phải ở lại nhà vợ 3 ngày trƣớc khi đƣa vợ trở về sống ở nhà mình. Ở cộng đông ngƣời Chàm Hồi giáo, ngƣời phụ nữ không đƣợc phép bình đẳng với đàn ông. Điều đó hoàn toàn khác hẳn với truyền thống tôn trọng phụ nữ trong văn hóa truyền thống của tộc ngƣời Chăm. Sự thay đổi hoàn toàn trong trang phục truyền thống, sự coi trong chữ Ả Rập, chữ Mã Lai hơn chữ Chăm cũng là điều đáng nói... Và trong khi ngƣời Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận, dù là Chăm Balamôn, Bàni hay Islam hàng năm cùng nhau tƣng bừng trong những lễ hội dân gian truyền thống; lễ Rija Nƣga, lễ Pơh Mbăng Yang, rồi ngƣời ta dọn dẹp sạch đẹp các tháp cổ để vui đón tết truyền thống Mbăng Katê vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng mƣời thì ngƣời Chăm Nam Bộ dọn mình ăn chay vào tháng Ramadan, ăn tết Roya Hoji, hành hƣơng về đất thánh và kỷ niệm sinh nhật Đức Giáo Chủ Mahamad. Kinh Coran, luật Hồi giáo và Hồi lịch chi phối đời sống của ngƣời Chăm 144 theo đạo Hôi. Các thánh đƣờng, các Surao (tiểu thánh đƣờng) có vai trò quan trọng trong sinh hoạt của cộng đồng ngƣời Chăm ở đây. Dƣờng nhƣ bản sắc văn hóa của tộc ngƣời Chăm cũng đang dần dần mai một đi và thay vào đó là văn hóa Hồi giáo. Mức sống và trình độ văn hóa xã hội của ngƣời Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh còn khá thấp. Nhiều ngành nghề truyền thống biến mất tự nhiên, ví dụ cách đây 2 năm vẫn còn những phƣờng xóm sống bằng nghề dệt nhƣng bây giờ họ chỉ còn sống bằng nghề buôn bán vải vóc các loại. Trong khi đó, một làng gốm Bầu Trúc, một làng dệt Mĩ Nghiệp hay những cánh đông nho bạt ngàn nơi vùng đất khô hạn Phan Rang đang trở nên khá phổ biến. Sự chênh lệch về trình độ kinh tế và xã hội giữa những vùng cƣ trú khác nhau của ngƣời Chăm và giữa ngƣời Chăm với ngƣời Kinh vẫn là những vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay cho những nhà hoạch định chính sách dân tộc. Tiểu kết chƣơng 3 Giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII là thời kỳ vƣơng quốc Champa đi dần từng bƣớc đến ngƣỡng tiêu vong. Lãnh thổ đã bị thu hẹp lại chỉ còn một phần ba so với thời hùng mạnh nhất. Tuy có thẻ lui về Nam Bộ, vùng đất rộng lớn ở phía sau, nhƣng Champa đã không còn đủ sức. Thế và lực suy kiệt. Các mối quan hệ cần thiết đối với bên ngoài đã từng hỗ trợ cho sự phát triển của vƣơng quốc cũng bị mất dần, trở nên lỏng lẻo, mờ nhạt và không còn ở thế cân bằng nhƣ trƣớc. Ngƣời Chăm sông vật vờ trên vùng đất khô hạn với một thể chế chính trị suy vi. Tình thế đã thay đổi. Những cuộc tấn công mang tính chất phòng thủ của Đại Việt đối với Champa đã kết thúc. Lúc này, quyền lợi về lãnh thổ đã trở thành nhu cầu sống còn của cả hai bên. Nhà Nguyễn cố mở đất về phƣơng 145 Nam vì sự sinh tồn của cả một dòng họ. Trải qua nhiều cuộc binh đao khói lửa, năm 1693 vùng lãnh thổ nhỏ bé Chiêm Thành đã chính thức bị sáp nhập vào chính quyền Đàng Trong. Vấn đề còn lại của lịch sử là sự hội nhập, đó cũng là dòng chảy chủ đạo trong những diễn biến tiếp theo. Ngƣời Chăm trở thành một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. 146 PHẦN KẾT LUẬN Quan hệ giữa Champa với các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á thời cổ trung đại là một mảng lớn trong lịch sử Champa. Nhiều vấn đề liên quan đến sự phát triển hay tồn vong của vƣơng quốc cổ này đã khép lại ở chính những trang về lịch sử quan hệ. Đông Nam Á mƣời thế kỷ sơ kỳ, tất cả đều mới mẻ, đều chỉ là sự khởi đầu. Ngƣời ta biết về nhau rất ít. Và tình cờ biển đã đem đến những hiểu biết ban đầu tuy mơ hồ nhƣng đầy hy vọng về một vƣơng quốc nhỏ bé chật hẹp, nhƣng có cả sông, cả núi, cả biển. Nhiều thuyền bè đã đến, đã đi qua vùng biển Champa, trong đó có cả thuyền của ngƣời Trung Hoa, ngƣời Ấn Độ, những ngƣời đến từ hai trung tâm văn minh lớn của thế giới lúc bấy giờ. Ngƣời Chàm đã lựa chọn và họ chọn Ấn. Mô hình "Hindu" đƣợc áp dụng trên một dải đất hẹp, phân tán, đa dạng và ít nhiều vẫn còn những tàn dƣ của chế độ công xã nguyên thủy. Tất cả đều mới bắt đầu. Nhƣng cũng chính vì thế mà các mối quan hệ chƣa phức tạp và vẫn còn đƣợc tự do lựa chọn. Trên biên giới phía Bắc Chăm, nƣớc Đại Việt vẫn chƣa giành đƣợc độc lập, bị đặt dƣới ách đô hộ của ngƣời Hán. Những cuộc chiến tranh đã xảy ra, và chính Champa đã nhân đó mà mở rộng lãnh thổ đến tận đèo Hoành Sơn. Biên giới phía Nam, trƣớc tiên là một con đƣờng chuyển tải văn hóa Ấn Độ, và sau đó là một nƣớc Chân 147 Lạp lúc đó vẫn còn "chân ƣớt chân ráo" trên một vùng đất mới mà họ cũng vừa chiếm đƣợc của Phù Nam, chƣa thực sự là mối đe dọa cả về kinh tế - chính trị - quân sự đối vói Champa. Chính vì vậy, trong mƣời thế kỷ đầu những mối quan hệ đƣợc hình thành một cách tự nhiên giữa những cộng đồng dân cƣ trong cùng một khu vực. Nói đến Champa ngƣời ta nói đến một bến đậu ở biển Nam Trung Hoa cho những con thuyền vào ra, một vị trí thuận lợi để tiến hành buôn bán trên biển. Sau này nhà Nguyễn ở Đàng Trong đã biết sử dụng "danh tiếng" này để phát triển ngoại thƣơng, vƣợt qua đƣợc hạn chế có hữu của ngƣời Việt về khả năng buôn bán trên biển. Và có lẽ cũng chỉ dừng lại ở đó. Ngay trong giai đoạn này Champa đã không thể tạo đƣợc vị trí nhƣ Oc Eo (Phù Nam). Nửa đầu thế kỉ X là khoảnh khắc lóe sáng của lịch sử Champa gắn với tên tuổi của Trà Kiệu, Đồng Dƣơng. Nhƣng vị thế đó có đƣợc chủ yếu lại là do những yếu tố khách quan đem lại. Vào những giai đoạn sau, điều này đã không lặp lại. Khu vực có Angkor ở Campuchia, Mojopahit trên đảo Java , Malacca trên bán đảo Malaya... Nhƣng Champa thì không thể hấp dẫn sự chú ý đối với bên ngoài nhƣ một trung tâm kinh tế văn hóa của khu vực đƣợc. Có lẽ chính vì điều này mà Charnpa không đƣợc coi là một vƣơng quốc mạnh và có vai trò lớn lao đối với lịch sử Đông Nam Á. Ở những chu kỳ hƣng thịnh, nhƣ thế kỷ XIII thì cũng chỉ là sự hƣng thịnh của một nƣớc nhỏ, tiềm năng kém so với nhiều quốc gia khác. Trong quan hệ kinh tế, chủ yếu Champa dựa vào một vị trí thuận lợi về vùng biển và cảng biển. Điều này ít nhiều đã tạo nên sự phát triển của kinh tế ngoại thƣơng. Chính sự phát triển đó đã củng cố quan hệ của Champa với các nƣớc vùng hải đảo, nơi vốn có những ngƣời đi biển cừ khôi và năm giữ con đƣờng buôn bán trên biển đi qua khu vực Đông Nam Á. Trong mối quan hệ 148 này rõ ràng yếu tố đồng tộc không đóng vai trò quan trọng. Bờ biển Champa luôn hấp dẫn những con tầu buôn bán ở mọi nơi và mọi thời đại. Đáng tiếc là ngoại thƣơng Champa đã không vƣợt qua đƣợc những hạn chế của nó, những hạn chế xuất phát từ thực trạng của một nền kinh tế kém phát triển. Những mặt hàng trao đỗi chủ yếu chỉ là sản vật mang tính địa phƣơng, thế kỷ XIV - XV, có thể có thêm gốm nhƣng cũng không đáng kể. Không thấy có tiền hay vật trao đổi trung gian. Cũng cần phải nói thêm rằng, trong quan hệ với bên ngoài, ngƣời Chăm còn thể hiện những đặc điểm của một cộng đồng dân cƣ làm nông nghiệp. Ngƣời Việt đã học đƣợc nhiều kinh nghiệm của ngƣời Chăm trong sản xuất nông nghiệp, từ việc tiếp nhận một số giống lúa đến làm thủy lợi. Trong diễn văn đọc tại buổi lễ khởi công xây dựng đập Đông Cam (năm ở thƣợng nguồn Sông Ba, nay thuộc xã Hòa Hội, thị xã Tuy Hòa, tĩnh Phú Yên) vào ngày 7 tháng 9 năm 1932 của P.Pasquier, toàn quyền Đông Dƣơng lúc đó có đoạn" Chúng ta lặp lại trên cơ sở khoa học, kĩ thuật, kinh nghiệm của ngƣời Chàm. Những nhà nông tuyệt vời mà mọi ngƣời đã biết về sự cần mẫn và những biện pháp đáng khâm phục trong việc dẫn nƣớc và điều hòa nƣớc". Tuy nhiên kinh tế nông nghiệp lúc bây giờ chắc cũng chỉ đủ nuôi sống một số dân không đông nên không hề tìm thấy bất cứ một tƣ liệu lịch sử nào cho thấy, sản phẩm nông nghiệp dồi dào để có thể là mặt hàng đổi trác. Cho đến bây giờ, miền Trung Việt Nam vẫn chƣa thể vƣợt qua đƣợc điều này. Đồng bằng chật hẹp, khí hậu khắc nghiệt. Sự hạn chế về mặt tiềm năng có thể là một nhân tố quan trọng dẫn đến một nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển. Cả ngoại thƣơng và nông nghiệp đều không đủ mạnh để tạo một cơ sở kinh tế vững chắc cho Champa. Nhƣng điều đó cũng hoàn toàn không phải là cơ sở để cho rằng "Champa là một quốc gia hải tặc" [111, 252 - 260] 149 [110, 178 - 193] mặc dù dân cƣ Champa giỏi nghề đi biển và những xung đột về lãnh thổ giữa Champa với các nƣớc láng giềng thƣờng xuyên xảy ra trong lịch sử. Sau thế kỉ X, những mối quan hệ về lãnh thổ diễn biến hết sức phức tạp. Champa một mặt luôn phải tự giữ mình, nhƣng mặt khác lại luôn đóng vai trò kẻ gây chiến mỗi khi có cơ hội. Là một nƣớc nhỏ, nằm kẹp giữa hai nƣớc lớn hơn mình là Đại Việt và Campuchia, thì thái độ vừa mặc cảm, vừa tự hùng này là hoàn toàn bất lợi. Trong nhiều cuộc xung đột giữa Champa với Campuchia hay Champa với Đại Việt, nội bộ Champa bộc lộ sự chia rẽ, bất đồng sâu sắc. Xu hƣớng thống nhất, tập quyền trong lịch sử Champa thƣờng bị xu hƣớng tản quyền xé rách. Ba thế kỷ VIII, IX, X, kinh đô chuyển dời liên tục. Ngay cả trong thời kỳ vẫn đƣợc coi là thống nhất trong lịch sử Champa - thời kỳ Vijaya - thì xu hƣớng cát cứ địa phƣơng vẫn thƣờng xuyên nổi lên ở miền Nam Paduranga. Nội lực yếu kém, lại thƣờng xuyên phải dồn hết sức cho các cuộc chiến tranh với bên ngoài cũng nhƣ những xung đột trong nội tại, nên từ cuối thế kỉ XIV trở đi, nghĩa là sau giai đoạn Chế Bồng Nga, sự phát triển của Champa đã chững lại, thậm chí thụt lùi dẫn đến suy sụp. Thế kỷ XVII, từ một quốc gia độc lập thời cỗ - Trung đại ở Đông Nam Á, lãnh thô Champa đã bị co hẹp dần và cuối cùng trở thành một vƣơng quốc hoàn toàn suy kiệt, hoàn toàn không còn có thể tự đứng vững. Trong khi đó các nƣớc lân bang có nhiều điều kiện thuận lợi hơn và họ tận dụng đƣợc những điều kiện đó đê phát triển. Thực tế này đã khiến Champa không còn giữ đƣợc tƣơng quan cân băng cần thiết trong quan hệ với các nƣớc láng giềng. Hơn nữa, từ thế kỷ XIV trở đi Campuchia cũng dần dần đứng ngoài các vấn đề về Champa. Quan hệ tay ba giữa Đại Việt - Champa - Campuchia không còn nữa. Vì thế, ngoài Đại Việt, trong vấn đề Champa không còn đối trọng nào đáng kể. 150 Xét cho cùng, lịch sử đã thực thi quy luật khắc nghiệt của nó - với một nƣớc nhỏ, tiềm năng ngặt nghèo, thiếu sự thống nhất bên trong, nhiều vƣơng triều lại hiếu chiến và có đƣờng lối đối ngoại không thích hợp - diệt vong sẽ là điều khó tránh khỏi. Đó là một thực tế đã có của lịch sử. Quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và diệt vong của vƣơng quốc Champa cũng là quá trình phát triển đầy biến động của lịch sử khu vực. Trên con đƣờng xác lập lãnh thổ, quốc gia, dân tộc, mỗi một tộc ngƣời đều cố gắng khẳng định chỗ đứng của mình. Những xung đột, va chạm, những cuộc chiến tranh giành lãnh thổ là điều không thể tránh khỏi. Không ít những tiểu quốc, vƣơng quốc, những bộ phận tộc ngƣời, đã biến mất hay hòa tan vào quốc gia này hay quốc gia khác. Nhiều nền văn minh nhỏ trong khu vực bị hủy diệt. Nhƣng quá trình đó cũng dẫn đến sự cộng cƣ của nhiều tộc ngƣời, sự cộng hƣởng của nhiều nền văn hóa và sự hội nhập của nhiều nền văn minh, để hình thành nên những quốc gia dân tộc có một nền văn hóa đầy bản sắc. Từ trong lịch sử, ngƣời Chăm đã trở thành một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sự hòa đồng, hội nhập đã trở thành nét chủ đạo trong những diễn biến tiếp theo của lịch sử, trở thành quy luật. Hơn ba trăm năm đã trôi qua, ngƣời Chăm, ngƣời Việt cũng nhƣ các dân tộc anh em khác đã sống chan hòa, êm thấm, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. Họ đã trở thành một bộ phận thiêng liêng không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Và đó cũng là một thực tế lịch sử mà không ai có thể phủ nhận đƣợc. Trong sự hội nhập đó, nền văn hóa Chăm độc đáo với những lễ hội dân gian, khả năng thể hiện những khát vọng nghệ thuật từ đất, những phong tục, tập quán của tộc ngƣời vẫn đƣợc chắt lọc, gìn giữ, phát triển theo năm tháng, góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam phong phú và đầy bản sắc. 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. TIẾNG VIỆT 1. Dƣơng Văn An, Ô châu cận lục, NXB Văn Hóa Á châu, Sài Gòn 1961. 2. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Hà nội 1964 (xuất bản lại năm 1994. NXB Thuận Hóa). 3. Jean. Bosselier, Nghệ thuật tạc tượng Champa - nghiên cứu và sưu tầm về các Đạo giáo và tiếu tượng học, 1963, bản dịch của viện BTLS Hà nội. 4. Nguyễn Công Bằng, Trở lại hòn đá chữ ở Ninh Hòa, NPHMVKCH 1997, tr 683. 5. Phan Xuân Biên - Phan Văn Dốp - Phan An, Văn hóa Chăm, Viện khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, 1991. 6. Peter Burn và Roxana M. Brown, Quan hệ ngoại giao Chàm- Philippin thế kỷ XI, trong Đô thị cổ Hội An (kỷ yếu hội thảo ), NXB Khoa học xã hội, Hà nội 1991. 7. Thiên Sanh Cảnh, Biên niên sử các đời vua Chăm từ 1000 đến 1010), Nội san Phan Rang, số 8, 1974. 8.G. Coedes 1964, Lịch sử cổ đại ở các nước viễn đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ. Bản dịch của Viện Đông Nam Á, Hà Nội. 9. Ngô Văn Doanh, Văn hóa Champa, NXB Văn Hóa, Hà nội 1994. 10. Ngô Văn Doanh Tháp cổ Champa - Huyền thoại và sự thật. NXB VH -TT Hà Nội 1994 11. Phan Đại Doãn, Chiến lược "hai gọng kìm" xâm lược Đại Việt của nhà Tống và sự thất bại thảm hại của nó, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử "số 6 (201) tháng 11 - 12 - 1981, trang 36 - 41 và 48, 12. Dohamide và Doroheim, Dân tộc Chàm lược sử, Hiệp hội Chàm Hồi giáo Việt Nam xuất bản, Sài Gòn 1965. 152 13. Dohamide, người Chàm ở Việt Nam ngày nay, Tạp chí "Bách khoa" số 135 - 147. Sài Gòn 1962 - 1963. 14. Pierre Dupon. Nước Chân Lạp và tỉnh Panduranga, BSEI, XXIV, I, Quý I 1949. 15. Điêu khắc. Chàm. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1988. 16. Tân Việt Điểu, Ảnh hưởng và di tích Chiêm Thành trong nền văn hóa Việt Nam, Văn hóa nguyệt san, số 29 - 1958, trang 139 - 146. 17. Nguyễn Văn Đoàn, Bước đầu tìm hiểu lịch sử nghệ thuật Champa, Luận văn cao học. Đại học Sƣ phạm I, Hà Nội 1987. 18. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề, Việt Nam ca trù biên khảo, NXB thành phố Hồ Chí Minh 1994. 19. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I, Bản khắc in năm Chính Hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà nội 1998 . 20. Đại Việt Sử Kỷ Toàn Thư, tập II, Bản khắc in năm Chính Hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 . 21. Đại Việt Sử Kỷ Toàn Thư, tập III, Bản khắc in năm Chính Hòa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 . 22. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, T1, Ql, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản, Sài Gòn 1972. 23. Nguyễn Tấn Đắc - Vũ Tuyết Loan, Văn học dân gian Campuchia, NXB Văn học, Hà Nội 1986. 24. Wang Gungwa, Nghiên cứu vê lịch sử cổ của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung quốc, 1957. 25. Ian Glover và Mariko Yamagata, nguồn gốc văn minh Chàm: các yếu tố bản địa, các ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ ở miền Trung Việt Nam qua kết quả khai quật Trà Kiệu (Duy Xuyên, Quảng Nam - Đà Nẵng), Tạp chí Khảo Cổ Học số 3, 1995, 33 - 46. 26. D. Hall, Lịch sử Đông Nam Á, bản dịch, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997, 153 27. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Hà Nội 1949. 28. Nguyễn Văn Huyên, Góp phần nghiên cứu một vị thành hoàng Việt Nam: Lý Phụng Man, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam, TI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1995, tr 283. 29. Nguyễn Văn Hiển, Đồ Bàn thành ký, Tạp chí Sử - Địa số 19 - 20, Sài Gòn 1970. 30. Nguyễn Thế Huệ, Dân số Việt thời Lý - Trần, Nghiên cứu lịch sử số VI - VII, Tr 6 - 65, Hà Nội 1991. 31. Hội thảo quốc tế Đô thị cỗ Hội An, NXB Khoa học xã hội, 1989. 32. Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558 - 1777 - cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn 1966. 33. Mãn Khánh Dƣơng Ky, Lƣợc xét nguyên nhân sự bại vong của nƣớc Chiêm Thành và những ảnh hƣởng của ngƣời Chiêm mà dân tộc ta đã chịu, Tạp chí Tri tân, số 92 (310 - 311) - 93 (331 - 335) - 94 (366 - 368), ngày 22 - 2 - 1943, 29 - 3 - 1943, 6 - 4 - 1942. 34. Thái Văn Kiểm, Ảnh hưởng của Chiêm Thành trong nên văn hóa Việt Nam, Văn hóa Á Châu, số 1 tháng 4 - 1958, 17 - 31. 35. Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, NXB Tân Việt, Sài Gòn 1968. 36. Kinh tế văn hóa dân tộc Chăm, Đại học Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh 1992. 37. Phan Huy Lê, Thành Hoàng Đế, Tạp chi Khảo cổ học số 6, Hà Nội 1977. 38. Jean. Leuba, Một vương quốc đã bị diệt vong - người Chàm và nghệ thuật Chàm, 1923. Bản dịch của VBTLS. 39. Nguyễn Quốc Lộc và Vũ Thị Việt, Các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, Sở VHTT tỉnh Phú Yên, 1990. 40. Nguyễn Văn Luận. Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần Việt Nam, tủ sách biên khảo, Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên, Sài gòn 154 1974. 41. Nguyễn Thiệu Lâu, Sự kháng cự cuối cùng của người Chàm năm Ất Vi (1835), Tri Tân, số 212, 1945, 4 - 7. 42. Vũ Lang Nguyễn Khắc Ngữ, ảnh hưởng của văn hóa Chàm qua Việt Nam, Văn hóa nguyệt san, số 25 (trang 989 - 905 ) và 26 - 1957 (trang 1037 - 1046). 43. G. Maspero, Vương quốc cổ Champa, 1928, Bản dịch của Lê Tƣ Lành. 44. Trần Viết Ngạc, Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597, Nghiên cứu Huế tập 1 - 1999, 306 - 308. 45. Từ Nguyên, Cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam, Văn hóa nguyệt san 1949, số 43, 969 - 981; số 44, 1132 - 1141. 46. Nguyễn Đức Nghinh, Mấy vấn đề về tình hình sở hữu ruộng đất của một số thôn xã thuộc huyện Từ Liêm (cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX), trong Nông thôn Việt nam trong lịch sử, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1977, tr78 - 97, 47. Lƣơng Ninh, Lịch sử trung đại thế giới, Q2, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội 1984. 48. Lƣơng Ninh, Cuộc đấu tranh giành độc lập giành độc lập dân tộc của nhân dân Champa, Chƣơng V, Lịch sử Việt Nam T1, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà nội 1992. 49. Lƣơng Ninh, Đông Dương - từ đầu mối giao thương đến ngã tư đường nghệ thuật, Kỷ yếu hội nghị khoa học "Việt Nam - Đông Nam Á - giao lƣu và phát triển", Trung tâm Châu Á - Thái Bình Dƣơng, ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh 1995. 50. Lƣơng Ninh, Nước Chi Tôn, một quốc gia cổ ở miền Tây Sông Hậu, Tạp chí Khảo cổ học, số 1,1981. 51. Phạm Thi Ninh và các cộng sự, Xóm Ốc - Di tích văn hóa Sa Huỳnh 155 trên đảo Lý Sơn, NPHMVKCH 1997, tr 170. 52. Bùi Văn Nguyên, Vũ Tuấn San, Chu Hà, Truyền thuyết ven hồ Tây, Hội Văn nghệ Hà Nội 1975. 53. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Hán, bản dịch, TI, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1969. 54. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Hán, Bản dịch, TU, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1970. 55. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam nhất thống chí, Hán, Bản dịch, TIII, NXB KHoa học xã hội, Hà Nội 1971. 56. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam nhất thống chí, Hán, Bản dịch, TIV, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971. 57. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thông chí, Hán, Bản dịch, TV, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971. 58. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục - Tiền biên, Hán, Bản dịch, Tập I, NXB Sử học, Hà nội 1962. 59. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục - Chính biên, Hán, Bản dịch, T 12, NXB Khoa học, Hà Nội 1965. 60. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục - Chính biên, Hán, Bản dịch, T 18, NXB Khoa học - xã hội, Hà Nội 1967. 61. Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, Hán, Bản dịch,NXB Sử học, Hà Nội 1960. 62. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, NXB Thuận Hóa, Huế 1993. 63. Trƣơng Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Lịch sử Việt Nam, QI NXB Giáo dục, Hà nội 1980. 64. Trƣơng Hữu Quýnh, Chế độ ruộng đất ở Việt Nam, TI, NXB KHoa học xã hội, Hà Nội 1982. 65. Trƣơng Hữu Quýnh,Về những quan hệ sở hữu trong bộ phận ruộng đất công ở Làng xã Việt Nam cổ truyền, trong Nông thôn Việt Nam trong 156 lịch sử, TI, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1977, tr 46 - 65. 66. Vũ Hồng Quân, Phan Minh Nguyệt, Lê Minh Hạnh, Một hệ thống thủy lợi cổ ở làng Phú Phong, NPHMVKCH 1991, tr 183. 67. Lê Đình Phụng, Gốm Champa - sản xuất và tiêu thụ, NPHMVKCH, 1995, tr 440. 68. Ph. Stern, Nghệ thuật Champa (xứ An Nam cũ ) và tiến trình của nó, Toulouse 1942. Bản dịch của Viện Khảo cổ học. 69. Momoki Shiro, Về tình hình nghiên cứu các quốc gia tiền cận đại ở Đông Nam Á - trường hợp Champa, trong tập Quan hệ giữa "Trung ương với địa phương", lịch sử Đông Nam Á, Yoshikavva Yoshiharu chủ biên, NXB Osaka Gaikokugo Daigaku, 1997. Tài liệu cá nhân, Bản dịch của Nguyển Tiến Lực. 70. Li Tana, Xứ Đàng trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 1999 71. Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm Lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1975. 72. Chữ Văn Tần, Long Thạnh - Bình Châu - Lý Sơn, Tính giai đoạn và liên tục của văn hóa Sa Huỳnh, NPHMVKCH 1997, tr 185. 73. Tuyển tập văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1992. 74. Trịnh Cao Tƣởng, Khảo cứu Đồng Dương, Báo cáo khai quật, Viện KCH 1997. 75. Trịnh Cao Tƣơng, Hội An, nơi hội tụ của nhiều dòng gốm, NPHMVKCH, 1995, tr 449. 76. Đặng Thu ( chủ biên), Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Trung tâm nghiên cứu dân số và phát triển, Hà Nội 1994, 77. Nguyên Lệ Thi, Thư tịch cổ Việt Nam viết về các nước Đông Nam Á, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam - Ban Đông Nam Á, Hà Nội 1997. 78. Ngô Đức Thọ (chủ biên), Các nhà khoa bảng Việt Nam, NXB Văn 157 Hóa, Hà Nội 1993 79. Nguyễn Trãi, Dư địa chí,(Nguyễn Trãi toàn tập), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1976. 80. Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Đức Minh, Lâm Mỹ Dung, Nguyễn Chiều, Kết qủa khai quật Trảng Sỏi Sứ (Hội An, Quảng Nam - Đà Nẵng) NPHMVKCH năm 1995, 211 - 214. 81. Trần Đại Vinh, Tín ngưỡng dân gian Huế, NXB Thuận Hóa 1995, tr 42 - 45. 82. Trần Quốc Vƣợng, Miền Trung Việt Nam và văn hóa Champa, Nghiên cứu Đông Nam Á số 2, 1997, 8 - 24. 83. Trần Quốc Vƣợng và Nguyễn Tiến Đông, Động Phong Nha qua cuộc điều tra tháng 7 - 1995, NPHMVKCH năm 1995, 210 - 211 84. Việt Sử Lược, Hán, Bản dịch, NXB Văn sử Địa, Hà Nội 1960. 85. Viện Khảo cổ học, Những phát hiện mới về Khảo cổ học (NPHMVKCH) 1994. NXB Khoa học xã hội, Hà nội 1995. 86. Viện Khảo cổ học, NPHMVKCH 1995, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1996. 87. Viện Khảo cổ học, NPHMVKCH 1996, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1997. 88. Viện Khảo cổ học, NPHMVKCH 1997, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1998. 89. Sakura Yumlo, Thử xác dựng cấu trúc lịch sử của khu vực Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 1998. II.TIẾNG NƢỚC NGOÀI (ANH, PHÁP) 90. E. Aymonier, Rapport sommaire sur les inscriptions du Champa J. A. VII, 1896 91. Barth, A. Bergaigne. Inscriptions Sanksrit.es du Champa et du Cambodge, 1893. 92. H. O. Beyer. Philippine and East Asian archaeoỉogy and it's relation to the origin of the pacìfie Islands population, Nationaỉ reseach coouneil 158 of the Philippines, Bull, No 29, 1948. 93. J. Y. Claeya, Fouilles de Tra Kieu, Ha Noi, 1927. 94. Madelene Colani, Recherchespre' historiques en baie d'Along, Cahiers de L' Ecole francaise d' Extrême - Orient, 14, 1938, p.12 - 19. 95. G. Coedes et H. Parmentier, Inventaire des inscriptions du Champa et du Cambodge, B.E.RE.O, Ha Noi, 1923. 96. Abdul Rahman AI - Ahmadi. Champa in Malay Literature, in pro -ceedings of the seminar on Champa. University of Copenhangen 1987, Southeast Asia Community Resource Center, 1994, 100 - 110. 97. Po. Dharma, Le Panduranga (Campa), 1802- 1835. 98. Po. Dharma, Status of the lastest Research on the date ofthe absorption of Champa by Việt Nam, in Proceeding of the Seminar on Champa. Uni -versity of Copenhagen on May 23, 1987, translated from the original in French by Huynh Dinh Te, Southeast Asia Community Resource Center Rancho Cordova, CA 1994. 99. Durand 1905. Notes sur les Chams. BEFEO Ha Noi. 100. G.W.J. Drewes, New Light on the coming of Islam to Indonesia?, in Reading on Islam in Southeast Asia, Institute of Southeast Asian Studies, 1990, 7 - 19. 101. Crystal, Eric, Champa and the study of Southeast Asia, in CKCPI, 1991, 65 - 75. 102. L.Finot, Im entaire Sommaira des monuments Champs de L'Annam. BEKEO. T1, tr 24 - 33, 1901. 103. L. Finot, Notes d'epịgraphie Indochinoise, Ha Noi, 1916. 104. L. Finot. Les inscripiions de Jaya Paramesvaravarman I, roi du Champa, "Bull E.RE.O", Tom 15, No 2, p39 - 106 ( Notes de'epigraphie XV), 1915. 105. L. Finot, Stele de Cambhuvarman a Mi Son, "BEFEO" " Tom 3 Nò, P206 - 211 avec fog (Notes d' epigraphie III), 1903 159 106. J. Filiozat, L' insciption dite Vo Canh B.E.F.E.O. LV - 1, 1989" 107. P.B.Lafont, Research on Champa and its Progress, in Proceeding of the Seminar on Champa, University of Copenhagen. Southeast Asa Com -munity Resource Center, 1994, 1 - 21. 108. p. B. Lafont, On the relation between Champa and Southeast Asia, in Proceeding of the Seminar on Champa, University of Copenhagen. South -east Asia Community Resourse Center, 1994, 65 - 76. 109. B.p. Lafot et Po Dharma, Bibliographie Champa et Cam, Pari, 1988. 110. K. R. Hall, Maritime trade and state development in early Southeast Asia. Press Hawai University 1985. 111. K.R.Hall, Economic history of early Southeast Asia, in CHSEAI, Cam -bridge University press 1992, tr 253. 112. Carl Heffley, The arts of Champa, Danang, the Cham museum, Saigon, 1962. 113. Claude, Jacques, Sources on Economic Activities in Khmer and 114. A.H. Johns, Islam in Southeast Asia: Problems of pcrspective, in Readings on Islam in Southeast Asia, Institute of Southeast Asian Studies 1990, 2 - 24. 115. Denys Lombard, Le Campa vu du Sud BEFEO. LXXVI tr. 311 - 317, 1987. 116. Adhemard Leclere, Histoire du Cambodge, Paris, 1914. 117. E.p. Maspero, Nouvelles racherches sur la Naga - Soma. Ja. CCXXXVII, 1950. 118. Pierre. Y. Manguin, L' Introduction de I' Islam an Campa. BEFEO LXVI, 255 - 287, 1979. The Introduction of Islam into Campa, Journal of the Malaysian Branch of the Royan Asiatic Society 58 (1). 1 - 8. 119. Ian. Mabbett, Buddhism in Champa, in Marr and Miler 1986, 289 - 313 120. David G. Marr and A. c. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14 th 160 centuries, Research school of Pacific sudies, Australian National Univer -sity. Institute of Southeast Asian Studies. 121. H. Parmentier, Inventaire descriptible dé monumént Chams de L'Annam, Paris, 1918. 122. H. Parmentier, L'art architectural Hindou dans L’Inde et en Extrême -Orient, Paris, 1948. 123. G. De Coral Remulat, Art Cam - Le problème de la Chronologic, 1931 - 1934. 124. P, Ravaisse, Deux inscription coufìques du Campa, Journal Asiatique XX, 1922, 247 - 289. 125. Anthony Reid, Chams in the Southeast Asian Maritime System, 1987. 126. A.Reid, Southeast Asia in the Age of comerce 1450 - 1680, Yale Uni -versity, New Haven and London 1988. 127. M.C. Ricklefs, Islamization in Java: Fourteenth to Eigkteenth centu -ries, Readings on Islam in Southeast Asia. Institute of Southeast Asian Studies 1990 (first reprint), 36 - 43. 128. Serarah Melayu, 1692, romanized Malay text in R.o. Winstedt (ed) " the Malay Annals; or Sejarat Melayu. The earliest recension from Ms No. 18 of the Raffles Collection in the Library of Royal Asiatic Society, London", JMBRAS 16, III (1938). 129. Anne - Valerie Schweyer, The Dynasty of Indrapura, (TLCN) 130.W. Solheim II, Reflections on the new data of Southeast Asia Asian prehistory: Austronesian origin and consequence, Honolulu, Hawai, 1974. 131. Geoff. Wade, On the Possibie Cham Origin of Philippine Scripts, JSEAS 24, No.1, 1993, 44 - 87. 132. O.W. Wolters, The Fall of Sri Vijaya in Malay History. London, Lund Humphries, 1970. 133. O.W.Wolter, Historỵ, cultere and region in Southeast Asian Perspec - tives, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1982. 161 BẢNG 3: TÓM TẮT SỰ PHÁT TRIỂN CÁC MỐI QUAN HỆ CỦA CHAMPA VỚI CÁC NƢỚC TRONG KHU VỰC Thời gian Các nƣớc có quan hệ với Champa Các lĩnh vực quan hệ Mức độ và ảnh hƣởng TKI - VII Ấn Độ Văn hóa: - Chữ viết và văn chƣơng. - Tôn giáo: Hindu - Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Vƣơng quyền: Tôn hiệu - Trên toàn lãnh thổ - Cả triều đình và dân chúng - Trong nhiều thế kỷ→ sâu sắc Trung Hoa Chiến tranh - Đánh và cƣớp bóc kinh đô - Xung đột vùng biên giới Phù Nam - Dân cƣ - Văn hóa Tƣơng tác TK VII - X Ấn Độ Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc - (Mỹ Sơn E1 - Hòa Lai - Đồng Dƣơng, M ỹ Sơn A1) Tiếp tục ảnh hƣởng sâu sắc Tôn giáo: Hindu - Phật Trung Hoa Kinh tế: giao lƣu gốm Ngoại giao: Champa cống nạp Champa là ruột bến đỗ của con đƣờng buôn bán trên biển Chân Lạp Ngoại giao: - Qua lại giữa hai triều đình - Hôn nhân giữa hai Hoàng tộc Quan hệ mật thiết, thƣờng xuyên Văn hóa: - Nghệ thuật kiến trúc và điêu. khắc Tiền Angkor Mỹ Sơn E1→ Kulên → Hòa Lai Dân cƣ 162 TK VII - X Java Chiến tranh Cƣớp phá kinh đô 2 lần → cá biệt Ngoại giao: Qua lại giữa hai triều đình Quan hệ tốt, khá thƣờng xuyên Nghệ thuật: Ảnh hƣởng phong cách Trung Java trong Mỹ Sơn A1 Dân cƣ: Đồng tộc TK X - XIII Campuchia Chiến tranh: Xâm chiếm lẫn nhau Tàn khốc Văn hóa: Nghệ thuật kiến trúc Chủ yếu trong trang trí kiến trúc Đại Việt Kinh tế: Kinh tế nông nghiệp Không đáng kể Ngoại giao Sứ thần hai bên qua lại Chiến tranh Xung đột biên giới, đánh chiếm kinh đô Văn hóa: - Nhạc - Kiến trúc, điêu khắc Tƣơng tác Dân cƣ: - Ngƣời Việt ở Champa - Ngƣời Chăm ở Đại Việt Đồng cảm Các đảo Philippin Kinh tế: Gốm Buôn bán độc quyền Văn hóa: Chữ viết Tƣơng tác Java - Kinh tế: Buôn bán - Dân cƣ: Đồng tộc Thân thiết TK XII - XV Campuchia Dân cƣ Bắt đầu sống xen kẽ ở lƣu vực sông Đồng Nai 163 TKXIII - XV Đại Việt - Chiến tranh: Xung đột biên giới và đánh chiếm kinh đô Thƣờng xuyên và đối kháng Văn hóa: Sự học hỏi lẫn nhau Thƣờng xuyên Dân cƣ: Cộng cƣ và cùng chung sống Hòa bình - Đồng cảm Hải Đảo - Ty nạn - Đồng tộc - Tôn giáo: Sự du nhập của Hồi giáo Thân thiết TKXV- XVII Hải Đảo Sự du nhập của đạo Hồi Số đông dân chúng Đại Việt Chiến tranh Thôn tính Dân cƣ Cộng cƣ Văn hóa Cộng hƣởng và hội nhập 164 PHỤ LỤC 1: THẾ THỨ NHỮNG TRIỀU VUA SỚM CỦA CHAMPA (THẾ KỶ II - THẾ KỶ VIII) 1. Khu Liên (190 - ?) 2. Phạm Hùng cháu ngoại vua trƣớc (? - Cuối thế kỷ III) 3. Phạm Dật con vua trƣớc (?) 4. Phạm Văn cƣớp ngôi (337 - 349) 5. Phạm Phật (Bhadravarman I) con vua trƣớc (349 - sau 361) 6. Phạm Tu Đạt cháu vua trƣớc (cuối TKIV- đầu TKV) (Phạm Hồ Đạt) 10 đời vua không rõ ràng 16. Bật Xúc Bạt Ma. 165 PHỤ LỤC 2: THẾ THỨ CÁC VUA CỦA NHỮNG VƢƠNG TRIỀU ĐẦU TIÊN I. Vƣơng triều Simhapura. 1. Gangaraja. (?) 2. Manorathavarman. (khoảng 539 - 541) 3. Rudravarman I (?) 4. Sambhuvarman (595 - 629) 5. Kandarpadharma (640 - 645) 6. Prabhâsadharma (?) 7. Bhadres' vararman (chết năm 653) 8. Prakasadharma hay Vikrântavarman I (653 - 679) 9 Vikrântavarman II (khoảng 686 - 731) II. Vƣơng triều Virapura 1. Rudravarman II (749) 2. Prithivindravarman - Rudraloka (756) 3. Satyavarman - Is'varaloka ( trƣớc 787 - 801). Là cháu vua trƣớc 4. Indravarman ( trƣớc 787 - 801) là em vua trƣớc 5. Harivarman I (trƣớc 801 - 817) là em vua trƣớc 6. Vikrântavarman III (829 - 854) con vua trƣớc III. Vƣơng triều Indrapura 1. Rudravarman III - Mahes' varaloka (?) 2. Bhadravarman II (?) con vua trƣớc 3. Indravarman II (khoảng 875 - 890) 4. Jaya Saktyavarman ( khoảng 899 - 901) con vua trƣớc 5. Sri Bhadravarman III (khoảng 901 - 916) 6. Indravarman III (khoảng 917 - 960) 7. Jaya Saktyavarman II (khoảng 960 - 972) 8. Phê Mi Thuế (Parames'varavarman I) (khoảng 972 - 982). 166 PHỤ LỤC 3: THẾ THỨ CÁC VUA CỦA VƢƠNG TRIỀU VIJAYA I. Giai đoạn từ năm 988 đến năm 1220. 1 Harivarman II Quí tộc tự lập năm 988 - 999 2. Vijaya con (?) khoảng 999 - 1010 3. Harivarman III Quan hệ chƣa rõ 1010 - 1020 (Ha li bì ma đề) 4. Paramesvaravarman II Chƣa rõ 1020 - 1030 (Thi lị bài ma điệp) 5. Vikrantavarman IV Chƣa rõ 1030 - 1041 (Bì lan đức đô bạt ma) 6. Sinhavarman II Chƣa rõ 1042 - 1044 (Sạ Đẩu) 7. Jaya Paramesvaravarman I Chƣa rõ 1044 - 1060 8. Bhadravarman IV Chƣa rõ 1060 - 1061 9. Rudravarman IV Chƣa rõ 1061 - 1074 (Chế Củ) 10. Harivarman IV Cƣớp ngôi 1074 - 1081 (Hoàng thân Thâng) 11. Sri Para Paramabodhisatva Em vợ vua thứ 10 1081 - 1086 (Hoàng thân Pâng) 12. Jaya Indravarman II (Hoàng tử Vâk) con Harivarman IV 1086 - 1113 13. Harivarman V cháu vua 12 1113 - 1139 14. Jaya Indravarman III chƣa rõ 1139 - sau 1142 15. Rudravarman V (Paramabrahmaloka) chƣa rõ sau 1142 - 1145 16. Jaya Harivarman I (Hoàng thân Sivanandana hay Chế Bì La Bút) con vua 151145 - sau 1170 17. Jaya Harivarman II con vua 16 rất ngắn 18. Jaya Indravarman IV (Ong Vatuv xứ Gramapura) quý tộc tiếm ngôi 1170 - 1190 * Bị Campuchia đô hộ và chia làm hai miền 1190 - 1192 19. Jaya Indravarman V giành lại ngôi ở Vijaya rất ngắn 167 20. Suryavarmadeva (Hoàng thân Vidyanandana hay Bố Trì ) cƣớp lại ngôi và thống nhất 1192 - 1203 21. Dhanapatigrama (Bố Điền) chú vua 20 1203 - 1220 * Thời gian bị Campuchia đô hộ lại II. Giai đoạn 1220 - 1353 22. Jaya Paramésvaravarman II (Ong Ansaraja xứ Turaiy) cháu vua 17 1220 - 1252 23. Jaya Indravarman VI em vua 22 1252 - 1265 24. Jaya Sinhavarman III (Sri Harideva) 1277 đổi là Indravarman IV Cháu (gọi cậu) vua 23 1265 - kh. 1285 25. Jaya Sinhavarman IV (Chế Mân) con vua 24 kh. 1285 - 1307 26. Chế Chí con vua 25 1307 - 1311 27. Chế Đà -A-Bà-Niên em vua 26 1311 - ? 28. Chế Năng em vua 27 ? - 1326 29. Chế A - Nan em vua 28 1326 - 1342 30.Trà Hòa Bố Để con rể vua 28 1342 - 1360 ? III. Thế thứ các vua ở giai đoạn cuối của vƣơng triều Vijaya (1353 - 1471) 31. Po - Bin - Nô - Suor (Chế Bồng Nga, theo Niên giám ?) (Chƣa rõ quan hệ với vua trƣớc) 1360 ? - 1390 32. Jaya Sinhavarman V (La Ngai) tƣớng của Chế Bồng Nga 1390 - 1400 33. Indravarman V (Ba Đích Lai hay Hoàng Tử Nauk Giaung VIjaya) con vua trƣớc 1400 - kh. 1441 34. Bí Cai chƣa rõ kh. 1441 - 1446 35. Moha Quý Lai (cháu gọi chú - Ba Đích Lai) 1446 - 1449 36. Mogha Quý Do em vua trƣớc, cƣớp ngôi 1449 - ? 37. Bố Điền chƣa rõ ? - 1467 ? 38., Bàn La Trà Toàn (con ngƣời vú nuôi cung đình, cƣớp ngôi) kh.1467 - 1471 168 PHỤ LỤC 4: THẾ THỨ CÁC VUA CHIÊM THÀNH THEO NIÊN GIÁM (NĂM 1000 - 1822) 1. Po Anluah 1000-1036 2. Po Bichănthôr 1036-1076 3. Po Patik 1076-1114 4. Po Sul - laka 1114-1151 5. Po Klaung Garai 1151-1205 6. Po Sri Aga - rang 1205-1247 7. Po chel Anok 1247-1281 8. Po Devada - Svor 1281-1306 9. Po Pat-ala - svor 1306-1328 10. Po Bin - No - svor 1328-1373 11. Po Parichan 1373-1397 12. Po Kathit 1433-1460 13. Po Kabrah 1460-1494 14. Po Kabih 1494-1530 15. Po Garut - drak 1530-1536 16. Po Mahe - churak 1536-1541 17. Po Kano - rai 1541-1553 18. Po At 1553-1579 19. Po Klaung - halau 1579-1603 20. Po NIt 1603-1613 21. Po Jai - Paran 1613-1618 22. Po Eh - Khang 1618-1622 23. Po Moh - Taha 1622-1627 24. Po Rome 1627-1651 25. Po Nrop 1652-1653 26. Po Phiktirai da Paguh 1654-1657 27. Po Jata - moh 1657-1659 28. Po Thot 1660-1692 (Gián đoạn: 1692 - 1695) 29. Po Saktirai da Putin 1695-1728 30. Po Ganvuh da Putin 1728-1731 31. PoThuttirai 1731-1732 169 (Gián đoạn: 1732 - 1735) 32. Po Rattirai 1735 - 1763 33. Po Tathun da Moh - rai 1763 - 1765 34. Po Tithuntirai da Paguh 1765 - 1780 35. Po Tithuntirai da Paran 1780 - 1781 (Gián đoạn 1781 - 1783) 36. Chei Krei Brei 1783 - 1786 37. Po Tithun da Paran II 1786 - 1793 38. Po Lathun da Paguh (Việt sử: Thôn Ba Hú hay Nguyễn Văn Hào) 1793 - 1799 39. Po Chơn Chan 1799 - 1822 170 NHỮNG MỐI QUAN HỆ ĐẾN TỪ BIỂN 171 ĐÔNG NAM Á THẾ KỶ VII - X 172 ĐÔNG NAM Á THẾ KỶ X - XIII 173 ĐÔNG NAM Á THẾ KỶ XIII - XV 174 BỆ THỜ MỸ SƠN E1 175 THÁP ĐỒNG DƢƠNG 176 SHIVA ĐỒNG DƢƠNG 177 VŨ NỮ TRÀ KIỆU 178 THÁP MĨ SƠN C1 THÁP HÒA LAI

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftv_phong_cach_van_xuoi_nghe_thuat_thach_lam_4074.pdf
Luận văn liên quan