Luận văn Chính sách tiền tệ - Chính sách lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở trong hệ thống chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện thị trường liên ngân hàng, thị trường mở và nghiệp vụ thị trường mở chỉ thực sự hữu hiệu trên cơ sở thị trường liên Ngân hàng phát triển. Trong lịch sử, thị trường liên Ngân hàng hoạt động trước khi thị trường mở hoạt động. Thị trường liên Ngân hàng chính là nơi xác định nhu cầu và khả năng vốn khả dụng của các Ngân hàng thương mại, nơi mà NHTW nắm bắt được một cách nhanh nhạy nhu cầu vốn của nền kinh tế qua các hoạt động của Ngân hàng thương mại để quyết định sử công cụ của chính sách tiền tệ thích hợp.

pdf41 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1990 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Chính sách tiền tệ - Chính sách lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở trong hệ thống chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
do đó khi lãi suất thay đổi sẽ làm cho chi phí cơ hội của việc giữ tiền thay đổi, chi phí của người vay biến động. Nếu sự biến động này lớn sẽ ảnh hưởng lớn đến các quyết định kinh tế (cho vay, đi vay, đầu tư, mua tài sản, tiêu dùng …) nền kinh tế không ổn định. Lãi suất còn tác động đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô khác (tổng cầu, GDP…), do đó việc điều chỉnh cho lãi suất ở mức thích hợp, ổn định luôn là một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia. d. Ổn định tỷ giá: Đối với nước ta hiện nay, nền kinh tế được mở cửa dần (từ 1986, khi thay đổi cơ chế kinh tế ), xu hướng giao lưu hội nhập kinh tế là tất yếu thì tỷ giá là một biến số rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đã và đang đưa lại cho chúng ta nhiều cơ và thách thức lớn đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế. tỷ giá có tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước đối với hàng hoá nước ngoài. Do vậy việc điều chỉnh chính sách tiền tệ với mục tiêu ổn định trên thị trường ngoại hối, ổn định tỷ giá ở mức độ sao cho có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế đất nước để xu hướng hội nhập giao lưu với quốc tế thực sự có hiệu quả luôn là mục tiêu cần thiết và quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nói riêng và các chính sách vĩ mô nói chung. e. Ổn định các thị trường tài chính: Thị trường tài chính là một thị trường hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. thị trường tài chính ra các nguồn vốn để phát triển kinh tế. Khi thị trường tài chính không ổn định sẽ có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực (đầu tư, tiêu dùng, vốn, tăng trưởng…) và gây nên sự bất ổn cho nền kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính phát triển ở cấp độ cao, thị trường tài chính của mỗi quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường tài chính của các quốc gia khác và toàn thế giới. Sự biến động của thị trường tài chính quốc tế luôn tác động đến thị trường tài chính của mỗi quốc gia. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á đã lan ra cả khu vực rộng trên thế giới và nó cũng tác động sấu đến thị trường tài chính nước ta và nền kinh tế. (1997). Chính vì vậy, mục tiêu của chính sách tiền tệ còn là việc giữ ổn định thị trường tài chính. Mục tiêu này có quan hệ chặt chẽ với các mục tiêu khác như lãi suất, giá cả … f. Đảm bảo công ăn việc làm cao: Việc làm cao không những là một mục tiêu kinh tế mà còn là một mục tiêu xã hội đối với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác. Lao động là một nguồn lực quan trọng trong nền kinh tế xã hội. Công ăn việc làm càng cao tức là ta càng sử dụng được nhiều nguồn lực của xã hội, thu nhập của nền kinh tế tăng lên. Đặc biệt khi tỷ lệ làm việc cao tức là phần thất nghiệp giảm đi, những tệ nạn xã hội, tác động tiêu cực của thất nghiệp mang lại cũng giảm, đây là điều rất tốt cho mục tiêu xã hội. Đặc biệt, đối với nước ta chúng ta đang xây dựng XHCN để tiến lên CNCS thì việc đảm bảo làm sao cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, “ai cũng có cơm ăn áo mặc” là mục tiêu hàng đầu và lâu dài, nên công ăn việc làm đầy đủ góp phần thực hiện mục tiêu mang tính chất chiến lược trên. h. Tăng trưởng và phát triển kinh tế: Đây là mục tiêu chung, bao trùm lên các mục tiêu khác và là mục tiêu cốt lõi của chính sách kinh tế vĩ mô. Tất cả là làm sao cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, ổn định tránh được các cuộc khủng hoảng, suy thoái… từ đó để dần đưa nền kinh tế phát triển, góp phần xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Ở đây ta cần quan tâm và phân biệt hai mục tiêu là tăng trưởng và phát triển. Mục tiêu tăng trưởng chỉ nói lên được phần lượng của phát triển, tăng trưởng phải đồng thời với ổn định nền kinh tế, nâng cao mức sống người dân, tỷ lệ thất nghiệp thấp, lạm phát được kiềm chế ở mức vừa phải… đó sẽ là mục tiêu phát triển. Chính sách tiền tệ quốc gia cần cân nhắc và hướng vào mục tiêu cốt lõi nhất là phát triển kinh tế. Các mục tiêu trên của chính sách tiền tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng liên hệ bổ xung thúc đẩy nhau và cũng có khi tác động trái ngược nhau. Chẳng hạn lãi suất ổn định góp phần ổn định thị trường tài chính, việc làm cao thì tăng trưởng mạnh, tuy nhiên tăng trưởng mạnh có thể làm cho giá cả không ổn định tức lạm phát có thể cao. Chính vì vậy mà việc điều hành chính sách tiền tệ phải nhằm vào các mục tiêu cụ thể nào và luôn phải xem xét trên tất cả các mục tiêu khác để nhằm vào mục tiêu này mà không ảnh hưởng lớn và hạn chế đến mục tiêu khác và luôn phải hướng vào mục tiêu lâu dài cốt lõi. Luôn đặt chính sách tiền tệ đi liền và quan hệ chặt chẽ với chính sách vĩ mô khác để nhằm vào mục tiêu chung là phát triển nền kinh tế xã hội ở mức cao. II. CÁC CÔNG CỤ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA: Mục đích của chính sách tiền tệ là nhằm điều tiết lượng tiền lưu thông, sự điều tiết này thể hiện qua hai hướng: mở rộng tiền tệ và thắt chặt tiền tệ. Việc điều tiết lượng cung tiền như thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn là vấn đề nan giải của các quốc gia, thiếu hay thừa tiền luôn có tác động tiêu cực của nó. Tuy nhiên trong thực tế điều hành chính sách tiền tệ tuỳ vào từng thời kỳ phát triển kinh tế, tuỳ voà hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế xã hội mà sử dụng chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đây là vấn đề mang tính nhạy cảm của các nhà điều hành chính sách tiền tệ. Để làm được điều này Ngân hàng trung ương phải sử dụng hàng loạt các công cụ như: Dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở. Trong phạm vi bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu hai công cụ chính đó là lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở. 1. Cơ chế tác động của các công cụ chính sách tiền tệ đến các biến số kinh tế vĩ mô. a. Cung cầu tiền tệ: * Mức cung tiền tệ là tổng số tiền có khả năng thanh toán. Mức cung tiền bao gồm: tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại các Ngân hàng thương mại. Mức cung tiền phụ thuộc vào các nhân tố sau: + Lượng tiền cơ sở + Tỷ lệ dự trữ của các Ngân hàng thương mại (phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ dự trữ dư thừa của các Ngân hàng thương mại) + Tỷ lệ giữ tiền mặt của công chúng Ngân hàng Trung ương với các công cụ tiền tệ trong tay có thể tác động vào lượng tiền thông qua: + Quản lý lượng tiền cơ sở (do NHTW nắm giữ quyền phát hành tiền) + Quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng thương mại (nó tác động đến số nhân tiền  tác động đến lượng tiền dự trữ và lượng tiền lưu thông NHTW sử dụng ba công cụ khác) 1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 2. Lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu 3. Nghiệp vụ thị trường * Cầu tiền là khối lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân và kinh doanh sản xuất. Cầu tiền phụ thuộc: 1. Thu nhập thực tế (tỷ lệ thuận) 2. Lãi suất (tương quan nghich) * Cung và cầu tiền tệ cân bằng sẽ xác định mức lãi suất cân bằng và tổng lượng tiền cân bằng. Khi NHTW điều chỉnh các mức cung ứng tiền ở các mức độ khác nhau thì lãi suất danh nghĩa của nền kinh tế sẽ thay đổi. Khi lãi suất thay đổi sẽ tác động đếu tiêu dùng và đầu tư làm cho chúng thay đổi tiêu dùng và đầu tư là yếu tố của tổng cầu do đó tổng cầu thay đỏi làm GNP thay đổi. Ví dụ: Khi NHNN điều chỉnh tăng cung tiền  đường MS dịch phải làm lãi suất cân bằng giảm  giá trái phiếu tăng  giá trị hiện tại của thu nhập tương lại có giá hơn  tiêu dùng tăng lên ở mỗi mức thu nhập. MS i i0 MD M Điểm cân bằng thị trường tiền tệ Mặt khác: Lãi suất giảm  Chi phí cơ hội của việc giữ tiền giảm Chi phí vay tiền giảm  có nhiều dự án lớn được đầu tư Khi tiêu dùng tăng, đầu tư giảm  tổng cầu tăng  GDP giảm  giá tăng (lạm phát) Ngược lại: MS giảm  đường MS dịch phải  lãi suất tăng  tiêu dùng giảm, đầu tư tăng  tổng cầu giảm  giá giảm. b. Mô hình IS-LM * Đường IS là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường hàng hoá. * Đường LM biểu thị những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp với sự cân bằng của thị trường tiền tệ. * Sự cân bằng của IS-LM  Điểm cân bằng của cả hai thị trường hàng hoá và tiền tệ i0 và Y0 là mức lãi suất và thu nhập cân bằng cả hai thị trường hàng hoá và tiền tệ. - Chính sách thị trường tác động đến MS làm cho LM dịch chuyển và thay đổi lãi suất và thu nhập của nền kinh tế. * Chính sách tiền tệ mở rộng. E0 i i0 ML Y Y Khi NHTW điều chỉnh tăng lượng tiền MS làm đường LM dịch chuyển sang phải, thị trường cân bằng ở mức lãi suất mới i1,i0, thu nhập quốc dân Y1 > Y0. * Chính sách tiền tệ thu hẹp Khi NHNN điều chỉnh giảm lượng tiền lưu thông (nền kinh tế rơi vào tình trạng quá nóng) làm MS giảm, đường LM dịch trái làm điểm cân bằng mới của nền kinh tế ở điểm E1 với i1>i0, Y1 <Y0  lạm phát tăng,twang GDP i i0 i1 E0 LM0 LM1 E1 IS Y0 Y1 Y i i0 i1 E0 LM0 LM1 E1 IS Y0 Y1 Y 2. Các công cụ của chính sách tiền tệ. Mức cung ứng tiền MS tỷ lệ thuận với số nhân tiền tệ. Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay giảm sẽ làm cho số nhân tiền giảm hay tăng từ đó tác động làm giảm hay tăng lượng cung ứng tiền MS. Chẳng hạn, khi nền kinh tế đang ở tình trạng quá nóng (mức tăng trưởng quá cao so với mức bình thường lạm phát cao …). Để giảm bớt tình trạng này NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, điều chỉnh giảm mức cung tiền. Chẳng hạn, NHNN dùng công cụ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lúc này NHNN sẽ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các Ngân hàng thương mại ở mức cao. Số nhân tiền tệ sẽ giảm xuống và mức cung tiền giảm đường LM dịch chuyển sang trái làm cho lãi suất tăng  tiêu dùng và đầu tư giảm  tổng cầu giảm  sản lượng giảm và giá cả giảm tức là tình trạng quá nóng của nền kinh tế đã được hạn chế. Tuy nhiên, trên thực tế thì công cụ này có nhiều hạn chế, đôi khi không đạt được hiệu quả như mong muốn bởi vì: Số nhân tiền tệ không chỉ phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc mà còn phụ thuộc vào hành vi của công chúng (giữ tiền hay gửi tiền) và hành vi của các Ngân hàng thương mại (dự trữ dư thừa). Chính vì thế mà hiệu quả của công cụ này rất hạn chế, nhiều lúc NHNN rất khó kiểm soát được số nhân tiền. Do đó công cụ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc được sử dụng rất ít và dần được thay thế bằng các công cụ khác có hiệu quả hơn. b. Lãi suất chiết khấu – tái chiết khấu: Là lãi suất NHTW quy định khi họ cho các Ngân hàng thương mại vay tiền để đảm bảo có đầy đủ hoặc tăng thêm dự trữ của các Ngân hàng thương mại. Khi lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị trường và điều kiện cho vay thuận bởi sẽ là tín hiệu khuyến khích các Ngân hàng thương mại vay tiền để tăng dự trữ và mở rộng cho vay dẫn đến mức cung tiền sẽ tăng lên. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất quy định của NHTW khi họ thực hiện cho các Ngân hàng thương mại vay tiền qua hình thức chiết khấu lại các thương phiếu của Ngân hàng thương mại đã chiết khấu cho khách hàng của họ. Vậy khi lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu thay đổi sẽ tác động đến dự trữ (của các Ngân hàng thương mại ) và quy mô cho vay của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến lượng cung ứng tiền MS và tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Đây chính là cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu cuả NHTW. Ví dụ: Khi nền kinh tế ở mức tăng trưởng chậm tình trạng thiếu phát triển … (nền kinh tế nguội lạnh) để kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc điều chỉnh tăng cung tiền qua công cụ lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. NHTW sẽ quy định mức lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu thấp hơn mức lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng thương mại. Khi đó các Ngân hàng thương mại sẽ tích cực vay tiền của NHTW để mở rộng cho vay. Mức cung tiền MS tăng lên  đường LM dịch phải làm lãi suất giảm  đầu tư, tiêu dùng tăng  tổng cầu tăng  thu nhập quốc dân tăng  giá tăng (thiểu phát được khắc phục) Công cụ này cũng khá quan trọng khi công cụ thị trường mở cửa phát triển. d. Hoạt động thị trường mở: Thị trường mở cửa là thị trường tiền tệ của NHTW được sử dụng để mua bán trái phiếu kho bạc của Nhà nước. Muốn tăng hay giảm mức cung tiền tệ, NHTW sẽ mua trái phiếu ở thị trường mở hay bán chúng. Kết quả là họ đã đưa thêm vào hay rút ra thị trường một lượng tiền cơ sở bằng cách tăng dự trữ hay giảm của các NHTM, dẫn đến khả năng cho vay tăng hay giảm, tăng hay giảm mức tiền gửi nhờ số nhân tiền tệ. Kết quả cuối cùng là mức cung tiền tăng (hay giảm) gấp bội so với số tiền mua tín phiếu (hay bán ) của NHTW. Đây là một công cụ hết sức hữu hiệu đối với việc điều chỉnh mức cung tiền của NHTW. Nó đáp ứng một cách nhanh chóng, kịp thời và hoàn toàn mang lại tính chủ động cho NHTW khi học điều tiết nền kinh tế bằng cách điều chỉnh mức cung tiền. Công cụ này là công cụ rất quan trọng, nó được sử dụng rộng rãi và dần là công cụ chính đối với tất cả các NHTW của các quốc gia trên thế giới khi thực hiện điều tiết nền kinh tế thông qua mức cung tiền. e. Lãi suất: Là công cụ mang tính chất trực tiếp của NHTW khi họ điều tiết nền kinh tế. Nó được thể hiện qua việc NHTW quy định trực tiếp đối với lãi suất của nền kinh tế thông qua sàn lãi suất, trần lãi suất, lãi suất cơ bản và biên độ cho phép. Từ lãi suất này mà các Ngân hàng thương mại quy định lãi suất tín dụng cụ thể của mình. Ta đã biết, lãi suất có tác động đến tiêu dùng và đầu tư do đó nó tác động đến cầu. Tổng cầu thay đổi sẽ làm cho thu nhập quốc dân thay đổi và việc làm, lạm phát biến động. Khi NHTW quy định mức lãi suất chung (có thể là lãi suất cơ bản + biên độ dao động, sàn và trần lãi suất …) ở các mức độ khác nhau thông qua các biến động trung gian sẽ làm thay đổi các biến số của nền kinh tế quốc dân tuỳ theo mục tiêu của sự điều chỉnh chính sách. Lãi suất là kết quả quả phả ánh cân bằng cung cầu trê thị trường tiền tệ. Tức là, khi trên thị trường tiền tệ mà cung hay cầu tiền tệ thay đổi sẽ làm Cửa Ông thị trường tiền tệ cân bằng ở các mức độ khác nhau, và lãi suất cân bằng phản ánh các mức cân bằng đó. Việc NHTW sử dụng công cụ lãi suất, tức là quy định lãi suất một cách trực tiếp đôi khi không phản ánh được điểm cân bằng cung cầu trên thị trường, điều đó có tác dụng tiêu cực hình thành thị trường ngầm, hạn chế việc cho vay của các Ngân hàng thương mại làm ứ đọng vốn, kìm hãm lưu thông tiền tệ…. Chính vì thế, việc thay thế công cụ trực tiếp lãi suất bằng các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ để lãi suất được tự do biến đổi phản ánh cung cầu tiền tệ, vốn là điều cần thiết và đúng đắn, cần thực hiện… f. Tỷ giá Tỷ giá là một chính sách quan trọng đối với một nền kinh tế mở. Tỷ giá phản ánh kết quả cân bằng của thị trường ngoại tệ, nó có ảnh hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia, khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước này so với nước khác. Việc điều hành chính sách tỷ giá bằng việc quy định tỷ giá một cách cứng nhắc hay để cho tỷ giá được tự do biến động phản ánh cung cầu ngoại tệ là tuỳ thuộc vào mỗi quốc gia và tuỳ vào thời kỳ và điều kiện cụ thể. Xu hướng chung của các quốc gia là để cho tỷ giá được biến đổi tự do phản ánh cung cầu ngoại tệ. Nhà nước chỉ điều hành tỷ giá thông qua việc tác động đến cung ngoại tệ. * Trên đây là 6 công cụ chính của chính sách tiền tệ, để điều hành chính sách tiền tệ được tốt và có hiệu quả cần có sự phối hợp giữa các công cụ và luôn kết hợp với các công chính sách vĩ mô khác. Trong 6 công cụ trên thì 3 công cụ thị trường mở, tỷ giá và lãi suất là các công cụ quan trọng nhất. Trong phạm vi bài vi bài cứu phần thực tế của chính sách tiền tệ chỉ tập chung vào 2 công cụ chính sách, đó là lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở. PHẦN II. CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG MỞ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA I. ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT CỦA NHNN THỜI GIAN QUA. 1. Cơ chế điều hành chính sách lãi suất ở Việt Nam. Thực trạng cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau: - Giai đoạn 1986-1990 - Giai đoạn 1991-1995 - Giai đoạn 1996-8/2000 - Giai đoạn 8/2000-8/2000 - Giai đoạn 8/2000 trở đi Đây là bước ngoặt trong cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tiến tới tự do lãi suất do cơ chế lãi suất trước đây chưa có mức lãi suất nào đóng vai trò là lãi suất chủ đạo, định hướng cho các tổ chức tín dụng ấn định mức lãi suất kinh doanh. Từ trước 8/2000, cơ chế điều hành lãi suất là quy định mức trần lãi suất, nghĩa là giới hạn các Ngân hàng thương mại không được cho vay với lãi suất vượt quá mức này. Biện pháp đó nhằm bảo vệ cho người vay không bị ép bởi các Ngân hàng. Thí dụ đầu năm 2000 NHNN quy định mức lãi suất cho vay tối đa hiện hành là: 0,85%/tháng đối với cho vay nội tệ khu vực thành thị, 1,0%/tháng đối với các tổ chức kinh tế các mức lãi suất tiền gửi USD tối đa đối với các tổ chức kinh tế các mức lãi suất tiền gửi USD tối đa hiện hành là 0,5%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn 2,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn đến 6 tháng và 3%/năm, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng. Tuy nhiên chính sách trần lãi suất chỉ thích hợp trong trường hợp: - Nhu cầu tín dụng lớn hơn cung tín dụng - Ngân hàng hoạt động trong một môi trường độc quyền . Trong điều kiện như thế, Ngân hàng luôn cho vay với mức lãi suất tối đa, không quan tâm đến việc tiết kiệm chi phí hay thái độ phục vụ. Thế nhưng, tình hình 1999 (nhất là các tháng cuối năm 1999) điều kiện thị trường tín dụng đã thay đổi. Nhu cầu vay thu hẹp lại, các Ngân hàng thương mại đọng vốn không cho vay ra được, tính thiếu ổn định ở người vay đã xuất hiện nhiều hơn theo quy luật thị trường, đặc biệt là có sự cạnh tranh của các nước trong khu vực. Tình trạng khách hàng vay vốn giảm đi, nhưng các tổ chức tín dụng lại gia tăng về số lượng dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tổ chức tín dụng. Tính quyết liệt càng trở nên gay gắt hơn khi mà điều kiện thị trường tiền tệ còn chưa phong phú, các dịch vụ khác còn đơn sơ, lợi nhuận Ngân hàng hầu hết là từ hoạt động cho vay mang lại, nên việc tranh giành thị trường sảy ra chỉ còn bằng cách hạ lãi suất. - Việc cạnh tranh hạ lãi suất đưa đến hiện tượng nghịch lý, doanh số lớn, rủi ro cao nhưng tỷ suất lợi nhuận lại nhỏ, thay vì rủi ro cao thì lợi nhuận cao. - Việc cạnh tranh hạ lãi suất giành giật khách hàng đưa đến một sự vội vã trong kiểm tra các điều kiện vay vốn, thậm chí bỏ qua cả các yếu tố pháp nhân của doanh nghiệp (như cho các chi nhánh, các Công ty phụ thuộc vay khi chưa có sự đồng ý cua Công ty mẹ …) - Việc cạnh tranh lãi suất đưa đến tình trạng khách hàng chạy vòng quanh các Ngân hàng vay Ngân hàng để trả nợ Ngân hàng khác làm mất tính ổn định, đưa đến Ngân hàng không đủ thời gian và điều kiện để kiểm soát khách hàng, bởi vì khách hàng chỉ dừng lại ở một Ngân hàng với thời gian khá ngắn. - Việc cạnh tranh còn đưa đến tình trạng cho vay không còn quan tâm đến tính thời vụ, tính chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp… - Việc cạnh tranh hạ lãi suất như vậy làm Ngân hàng bị thiệt hại. Lợi nhuận ít không đủ lập quỹ dự phòng cho rủi ro trong hoạt động kinh tế, lợi nhuận ít không đủ tích luỹ để đổi mới lại hệ thống trang thiết bị để theo kịp các Ngân hàng Nhà nước trong khu vưCông ty nói chng và chi nhánh của họ đang hoạt động tại Việt Nam nói riêng. Thậm chí việc cạnh tranh đó còn làm cho không ít các Ngân hàng thương mại cổ phần có nguy cơ không còn khả năng hoạt động bởi không đủ bù đắp chi phí. Trước tình trạng như thế thì chính sách lãi suất điều hành bằng trần lãi suất xem ra không còn thích hợp lúc này không còn Ngân hàng nào áp dụng lãi suất tối đa để cho vay mà chỉ cố gắng tối thiểu lãi suất để giành khách hàng. Để phù hợp với thực thiễn và khức phục những bất cập của chính sách lãi suất điều hành bằng trần lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời thay đổi cơ chế điều hành chính sách lãi suất chuyển từ điều hành bằng trần lãi suất sang quy định lãi suất cơ bản đối với các loại tiền cho vay của các tổ chức tín dụng. Việc đối mới cơ chế điều hành lãi suất đã được quy định trong các văn bản pháp luật. Theo luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn ” và “lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh ” Trong báo cáo của Chính phủ do thủ tưởng Phan Văn Khải trình bày tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X – tháng 11/1999: “Ngân hàng cần sớm thay việc định lãi suất trần bằng việc áp dụng lãi suất cơ bản theo luật Ngân hàng đi đôi với sử dụng công cụ điều tiết lưu thông tiền tệ phù hợp với cơ chế thị trường… giải pháp cơ bản và lâu dài là đổi mới cơ chế lãi suất đồng thời đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm ăn có lãi, trả được nợ… “ Kể từ ngày 5/8/2000, theo quyết định số 241/QĐ/NHNN một của thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chính thức thay đổi cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trường có sự quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. Theo đó, đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam các tổ chức tín dụng sẽ ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố theo nguyên tắc lãi suất cho vay khong vượt quá mức lãi suất cơ bản và biên độ do thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định cho từng thời kỳ. Trong đó, lãi suất cơ bản được Ngân hàng Nhà nước công bố trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn theo quy định của thống độc Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ, còn biên độ thì được công bố hàng tháng trong trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời. Cơ chế điều hành lãi suất mới bằng lãi suất cơ bản như thế được hình thành trên cơ sở nguyên tắc thị trường nhưng với bước đi thích hợp, thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường tiền tệ, từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất, quốc tế hoá hoạt động tài chính trong nước, đồng thời với các biện pháp phát triển thị trường tiền tệ và nâng cao năng lực tài chính và năng lực điều hành của các tổ chức tín dụng, xử lý lãi suất VNĐ trong mối quan hệ với lãi suất ngoại tệ và chính sách tỷ giá, quản lý ngoại hối. Cụ thể là: - Đối với lãi suất cho vay bằng VNĐ: Ngân hàng Nhà nước bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, chuyển sang xác định và công bố lãi suất cơ bản với tỷ lệ % biên độ trên, dựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường của các Ngân hàng thương mại áp dụng đối với khách hàng vay có uy tín trong việc sử dụng vốn vay, trả nợ, có rủi ro thấp. Lãi suất cho vay và huy động của tổ chức tín dụng gắn với lãi suất cơ bản. Theo đó, lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng cao nhất = lãi suất cơ bản + tỷ lệ %. Thí dụ: Tại thời điểm tháng 8/2000: - Lãi suất cơ bản là 0,75%/tháng - Biên độ trên đối với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,3%/tháng. - Biên độ trên đối với lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn là 0,5%/tháng. Với lãi suất cơ bản và biên độ như trên là phù hợp với mặt bằng lãi suất đã và đang được hình thành trên thị trường nông thôn và thành thị hiện nay, không tác động làm thay đổi lãi suất thị trường và không tạo ra tâm lý về việc Ngân hàng Nhà nước tăng trần lãi suất. - Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ: Cho vay bằng Đô la Mỹ: Bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay Ngân hàng thương mại đối với khách hàng, chuyển sang cơ chế lãi suất linh hoạt, phù hợp với thị trường quốc tế nhưng vẫn có sự kiểm soát của Nhà nước, cụ thể là lãi suất cho vay ngắn hạn (từ 18 năm trở lên) không vượt quá mức SIBOR kỳ hạn 6 tháng +2,5%/năm. Cho vay bằng các loại ngoại tệ khác: Do chiếm tỷ lệ nhỏ trong hoạt động tiền gửi và tín dụng trên thị trường nên cho phép các Ngân hàng thương mại tự xem xét quyết định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay của các ngoại tệ này trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng của từng loại ngoại tệ ở trong nước. - Các Ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tham khảo cho Ngân hàng Nhà nước về lãi suất bao gồm: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng công thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội, Ngân hàng ANZ, Ngân hàng HSBC và Ngân hàng VIDPUBLIC. Các mục tiêu của chính sách lãi suất đang hướng tới. - Trong điều kiện kinh tế thị trường tiền tệ hiện nay, cơ chế lãi suất mới không làm tăng mặt bằng lãi suất thị trường tạo điều kiện để tổ chức tín dụng huy động vốn ở trong và ngoài nước ở mức cao để đảm bảo vốn cho tăng trưởng tín dụng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của chủ trương trích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đối nội và đối ngoại cảu đồng Việt Nam. - Tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng và khách hàng gửi, vay vốn có thể thoả thuận để lựa chọn lãi suất cố định hoặc lãi suất có điều chỉnh linh hoạt, có lợi cho các bên khuyến khích tổ chức tín dụng mở rộng huy động và cho vay vốn trung và dài hạn. Riêng lãi suất cho vay bằng ngoại tệ tuy đã tiếp cận dần với thông lệ quốc tế nhưng sẽ thấp hơn mặt bằng thị trường quốc tế, phù hợp với cung cầu vốn ngoại tệ thị trường trong nước hiện nay, có lợi cho cả doanh nghiệp và Ngân hàng thương mại, tạo điều kiện Ngân hàng thương mại mở rộng cho vay vốn ngoại tệ hạn chế gửi vốn ngoại tệ ở nước ngoài. - Tạo khuôn khổ linh hoạt cho các tổ chức khi áp dụng lãi suất phù hợp với đặc điểm của từng vùng và mức độ rủi ro theo thời hạn cho vay và đối tượng khách hàng vay nhưng Ngân hàng thương mại vẫn kiểm soát được lãi suất để tránh việc các tổ chức tín dụng tăng lãi suất cho vay quá mức, ảnh hưởng đến đầu tư của nền kinh tế, thúc đẩy phân bổ vốn tín dụng linh hoạt giữa các lĩnh vực kinh tế, khu vực thành thị và nông thôn phù hợp với sự phát triển không đều của thị trường tài chính nước ta hiện nay. - Làm cho mối quan hệ giữa lãi suất VNĐ tỷ giá lãi suất ngoại tệ linh hoạt hơn, phản ánh được chính xác hơn cung cầu vốn, ngoại tệ, tạo cơ sở cho Ngân hàng Nhà nước khi cần thiết có thể can thiệp để ổn định thị trường. Đồng thời việc triển khai cơ chế lãi suất mới, Ngân hàng Nhà nước theo dõi chặt chẽ sự diễn biến của kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ khác đảm bảo cho sự vận hành cơ chế lãi suất mới phù hợp với mục tiêu đề ra. 2. Kết quả của việc điều hành chính sách tiền tệ thông qua chính sách lãi suất, hạn chế của cơ chế điều chỉnh trực tiếp. Trong thế giới 10 năm qua, việc sử dụng hệ thống công cụ điều tiết trực tiếp (hạn mức tín dụng, trần lãi suất, tỷ giá) nói chung và của chính sách lãi suất nói riêng, mặc dù những hạn chế của nó đã được biết trước, là phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam khi những điều kiện sử dụng công cụ gián tiếp chưa được hình thành. Thực tế, cơ chế điều chỉnh trực tiếp đã đem lại sự thành công đáng kể cho chính sách tiền tệ thập kỷ 90 khi nhìn vào các chỉ số phản ánh sự biến động của các mục tiêu vĩ mô, lạm phát, sản lượng, công ăn việc làm. chính sách tiền tệ đã đạt được hiệu quả tối đa của nó. tỷ lệ lạm phát dưới một chữ số cùng với tốc độ tăng trưởng bình quân là 8,6%/năm trong gần 10 năm. Điều này dường như trái với kết luận của các nhà kinh tế học hiện đại khi cho rằng, chính sách tiền tệ chỉ có thể ảnh hưởng đến các yếu tố thực của nền kinh tế như sản lượng hoặc công ăn việc làm trong thời gian ngắn từ một đến 10 năm. Về mặt dài hạn, các yếu tố này có xu hướng quay về mức tự nhiên của nó, do đó mọi sự thay đổi của khối lượng tiền cung ứng không gây nên những ảnh hưởng đến sản lượng và thất nghiệp ngoại trừ sự biến động về giá cả. Thực chất hiệu quả bền vững của chính sách tiền tệ trong thế giới qua không chỉ là kết quả của riêng chính sách tiền tệ, mà còn là kết quả của riêng chính sách tiền tệ, mà còn là kết quả của việc sử dụng các giải pháp của cách mạnh mẽ có khả năng mở rộng liên tục mức sản lượng tiềm năng, trong đó phải kể đến chính sách phát triển kinh tế đa phần, chính sách khoán đến hộ nông dân, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước… Nếu quan niệm rằng mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền đối với ý nghĩa là ổn định tỷ lệ lạm phát mức thấp thì trong thời gian vừa qua, mực tiêu này chưa được thực hiện một cách hoàn hảo, tỷ lệ lạm phát biến động tương đối mạnh và khó dự đoán từ năm nay qua năm khác. những tác động về hiệu quả và phân phối lại của lạm phát do ảnh hưởng đến giá trị thực của các chỉ tiêu giá trị không chỉ này sinh từ mức lạm phát cao mà chủ yếu từ sự bất ổn định của tỷ lệ lạm phát. Và điều quan trọng hơn là bắt đầu từ năm 1996, mặc dù tổng phương tiện thanh toán tăng liên tục nhưng giá cả có xu hướng giảm ở các tháng đầu năm 1996,1997,1998 và sự giảm giá này diễn ra hầu hết các tháng trong năm 1999. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm mạnh từ năm 1988. Điều này chứng tỏ chính sách tiền tệ của Ngân hàng thương mại tỏ ra lúng túng và thiếu chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng để đảm bảo nó phù hợp với nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế. Lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng này có lẽ xuất phát từ hạn chế vốn có của cơ chế điều chỉnh trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ mà càng bộc lộ rõ nét. Thứ nhất, các công cụ trực tiếp không cho phép Ngân hàng Nhà nước có thể điều chỉnh linh hoạt vốn khả dụng trong điều kiện vốn thừa. Tình trạng dự trữ không mong mốn ở Ngân hàng thương mại bắt đầu từ 1994 và kéo dài cho đến nay. Lý do ban đầu có lẽ bởi việc duy trì lãi suất tiền gửi cao cùng với việc khống chế trần tín dụng trong nhwnhx năm 1994-1996, bởi dự trữ ngoại tệ tăng lên rất mạnh trong thời gian naya và tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi có xu hướng giảm xuống (năm 1995 tỷ lệ này là 1,3, năm 1996:0,8, năm 1997: 0,5). Tuy nhiên, lý do chủ yếu của tình trạng này từ 1997 đến nay lại nằm ở sự giảm sút tổng cầu của nền kinh tế, phản ánh sự giảm sút nhu cầu tiền tệ, đặc biệt là nhu cầu về dao dịch. Thực tế này làm cho các Ngân hàng thương mại phải chịu áp lực rất mạnh về chi phí vốn đồng thời làm giảm thiểu tính hiệu quả của chính sách tiền tệ. Ngoài dự trữ bắt buộc (thay đổi rất chậm chạp) Ngân hàng Nhà nước không có công cụ để hấp thụ lượng vốn khả dụng thừa một cách chủ động. Nhưng vì nhiều lý do, nó đã không tồn tại. Thứ hai, công cụ trực tiếp ngày càng tỏ ra thiếu chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiềng cung ứng và do đó làm giảm hiệu lực của chính sách tiền tệ. Điều này được thể hiện rõ rệt trong hai năm (1998-1999)khi trần lãi suất giảm liên tục nhưng giá cả và sản lượng không tăng mà tiếp tục giảm. Đương nhiên, sự giảm sút này xuất phát chủ yếu từ các yếu tố thực của nền kinh tế chứ không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố tiền tệ danh nghĩa. Những chính sách tiền tệ đã không chủ động khi đối mặt với tình trạng này và do đó làm cho sự tác động của chính sách tiền tệ trở nên kém hiệu quả. Thực tế các quyết định điều chỉnh trần lãi suất cho vay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường đuổi theo sự giảm giá và đi sau sự điều chỉnh sự phát triển của thị trường bởi nó phải căn cứ vào dấu hiệu của thị trường thay cho việc phải tạo nên những dấu hiệu đó. Các đợt điều chỉnh trần lao động vì thế có tác dụng khẳng định hơn là hướng dẫn diễn biến thực tế và dự đoán của công chúng. Điều này làm triệt tiêu ảnh hưởng tích cực của chính sách tiền tệ. Thứ ba, hiệu lực tác động của chính sách tiền tệ bị hạn chế vì không lợi dụng được các kênh dẫn truyền đa dạng qua lãi suất, qua kênh tín dụng và qua thị trường tài chính với những ảnh hưởng qua giá trái phiếu, cổ phiếu và giá ngoại tệ. Kênh truyền dẫn gián tiếp chủ yếu lợi dụng cơ chế tác động của thị trường tài chính thông qua sự thay đổi giá taì sản và cơ cấu lại danh mục đầu tư của người đầu tư. Với các công cụ gián tiếp, đặc biệt là nghiệp vụ thị trường mở, NHTW có thể đa phương truyền tác động của nó đến các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ bao gồm các kênh dẫn truyền trực tiếp và gián tiếp. Kênh truyền dẫn trực tiếp. MS  chi tiêu   GDP danh nghĩa   GDP thực tế  Lạm phát  Chính sách tín dụng Nhập khẩu  Tài khoản vãng lai bội chi Chính sách quản lý ngoại hối Xuất khẩu  VND giảm giá Kênh truyền dẫn gián tiếp MS Thay đổi danh mục đầu tư Lãi suất ngắn hạn Lượng mua Tín phiếu   giá trái phiếu   mức sinh lời Cổ phiếu   giá trái phiếu   mức sinh lời Cổ phiếu   giá cổ phiếu   mức sinh lời Cơ cấu lại danh mục đầu tư Lãi suất hoặc tỷ lệ sinh lời  Chi tiêu cho khu vực nhạy Chi tiêu cho các đồ dùng lâu bền cảm với lãi suất GDP danh nghĩa  Nền kinh tế đang đứng trước thách thức của nhu cầu mở cửa và hội nhập toàn diện, một chính sách tiền tệ cứng nhắc và kém hiệu quả sẽ không đảm bảo cho nó tránh được những ảnh hưởng mạnh mẽ từ thị trường bên ngoài. Hơn nữa, sau hơn mười năm đổi mới và những cải cách mạnh hơn trong lĩnh vực Ngân hàng, những điều kiện cho phép sử dụng cơ chế điều chỉnh gián tiếp đang dần hình thành , hứa hẹn một khả năng chắc chắn cho sự chuyển đổi cơ chế điều hành lượng tiền cung ứng. II. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ Ở VIỆT NAM. 1. Thực tiễn hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở trong thời gian qua Năm 2000 đã đánh dấu nhiều chuyển biến tích cực trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng. Lần đầu tiên trong lịch sử, hai loại thị trường đặc thù trong tổng thể thị trường tài chính là thị trường mở và thị trường chứng khoán đã chính thức hoạt động thị trường chứng khoán – kênh huy động vốn trung và dài hạn thông qua việc phát hành và mua bán chứng khoán đã khai trương vào ngày 20/7/2000. Nghiệp vụ thị trường mở (NHTW ) bắt đầu vận hành vào 12/7/2000 ghi nhận việc chuyển điều hành chính sách tiền tệ từ công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Có thể nói hai sự kiện nổi bật nhất trong điều hành chính sách tiền tệ năm 2000 là thực hiện nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất cơ bản được công bố lần đầu vào 5/8/2000 cả hai công cụ này đều bước đầu phát huy được vai trò của mình đối với các mục tiêu của chính sách tiền tệ. NVTTM đã có tác dụng nhất định tới vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng tham gia thị trường, đa dạng hoá kênh huy động và luân chuyển vốn, tạo ra khả năng phối kết hợp giữa thị trường liên Ngân hàng – thị trường mở – thị trường chứng khoán trong các thị trường tài chính ở Việt Nam hiện nay. NVTTM của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là hoạt động hoàn toàn mới cả về lý luận và nội dung hoạt động đối với Việt Nam mà điều kiện vận hành và phát huy hiệu quả của nó không phải là dễ dàng. Quy chế hoạt động của NVTTM được ban hành theo quyết định số 85/2000/QĐ-NHNN14 ngày 9/3/2000 là phù hợp với thông lệ quốc tế. Qua hơn nửa năm hoạt động,ban điều hành NVTTM đã có chỉ đạo sát sao đối với hoạt động của thị trường, do đó góp phần khắc phục các khó khăn bước đầu trong thời gian vận hành. Thành viên tham gia NVTTM là các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước, bao gồm 20 thành viên (tính đến tháng 9/2001) một số lượng thành viên quá ít ỏi. Trong số 20 thành viên tham gia thị trường thì chủ yếu là 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh và trên thực tế các Ngân hàng thương mại quốc doanh nắm giữ tới 70% lượng tín dụng phiếu kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước (là hai loại hàng hoá chính thức được giao dịch trên thị trường mở hiện nay) Lượng hàng hoá quá ít ỏi. Hiện nay lượng hàng hoá trên thị trường chỉ có khoảng 4000 tỷ đồng giá trị trái phiếu chính phủ và 400 tỷ đồng giá trị tín phiếu Ngân hàng Nhà nước. Từ khi bắt đầu giao dịch đến 31/12/2000 cứ 10 ngày Ngân hàng Nhà nước tiến hành 1 phiên giao dịch trên thị trường mở. Trong tháng 8/2000 do lượng vốn khả dụng của hệ thống Ngân hàng là dư thừa nên Ngân hàng Nhà nước bán ra một lượng tín phiếu là 550 tỷ đồng (khối lượng trào bán trong tháng được mua hết toàn bộ với mức lãi suất từ 4%-5,35%). Từ tháng 9 đến cuối tháng 12/2000 do có sự hạn chế của Ngân hàng Nhà nước ở cửa sổ chiết khấu (có thể đây là hình thức hỗ trợ cho sự vận hành nghiệp vụ thị trường mở ra đời) và nhu cầu tín dụng VND tăng nhanh (vay ngoại tệ chịu rủi ro lớn vì tỷ giá chịu sức ép cao) trong khi huy động ngoại tệ tăng dẫn đến khan hiếm vốn khả dụng trong hệ thống Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước đã mau vào (sử dụng giao dịch đảo chiều) giấy tờ có giá trong 14 phiên liên tục với doanh số 1353,5tỷ. Từ 1/1/2001, Ngân hàng Nhà nước thực hiện giao dịch định kỳ 7 ngày/lần từ đầu năm 2001 đến 15/2/2001 lượng vốn khả dụng tiếp tục thiếu do nhu cầu tiền mặt tăng (trong đó nguyên nhân đây là thời gian cuối năm âm lịch), Ngân hàng Nhà nước tiếp tục mua vào giấy tờ có giá, chủ yếu là mua kỳ hạn do tính đến yếu tố lượng vốn khả dụng có thể tăng lên sau dịp tết nguyên đán. Từ 21/2/2001 đến 14/3/2001, lượng vốn khả dụng có biểu hiện dư thừa, để rút bớt phương tiện thanh toán khỏi hệ thống Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước thực hiện bán hẳn lượng giấy tờ có giá với giá trị là 470 tỷ VND. Từ 21/3 đến cuối tháng 4/2001, do nhu cầu vốn khả dụng tăng, Ngân hàng Nhà nước tổ chức các phiên giao dịch trên thị trường mở vối mục tiêu cung ứng thêm phương tiện thanh toán cho hệ thống (có một phiên giao dịch ngày 11/4 do lỗi từ phía các tổ chức tín dụng bỏ thu không hợp lệ, nên không tổ chức nào trúng thầu, mặc dù vẫn có nhu cầu về vốn khả dụng). Như vậy, có thể thấy, Ngân hàng Nhà nước đã cố gắng thực hiện việc điều hành chính sách tiền tệ bằng công cụ gián tiếp. Nghiệp vụ thị trường mở đã được thực hiện tương đối linh hoạt đáp ứng được phần nào đó nhu cầu về vốn khả dụng cũng như giải quyết được một phần lượng vốn khả dụng cũng như giải quyết được một phần lượng vốn khả dụng dư thừa trong một số thời kỳ. Các công cụ và hình thức thực hiện cũng đã được áp dụng tương đối thành công như đấu thầu lãi suất, đấu thầu khối lượng xét khối lượng thầu theo phương pháp tính lãi suất riêng (Kiểu Mỹ). Tuy nhiên, do còn hạn chế cả về cơ sở vật chất trình độ cán bộ, sự đơn sơ của thị trường tài chính, sự bất cập trong vấn đề lượng thành viên tham gia thị trường cũng như khối giấy tờ có giá do các thành viên nắm giữ… nên tác động can thiệp của Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường mở vẫn còn hạn chế. Các tổ chức tín dụng chưa tham gia thường xuyên vào các phiên giao dịch cách nhau 10 ngày tạo ra khoảng cách khá buồn tẻ ở từng phiên chợ, hàng hoá giao dịch ở thị trường mở chỉ dừng lại ở giấy tờ có giá ngắn hạn và tập trung vào hai loại tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và tín phiếu kho bạc. Đây là khó khăn lớn nhất của nghiệp vụ thị trường mở hiện nay, các phiên đấu thầu lãi suất có tính cạnh tranh cao nên các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng nhỏ không đủ điều kiện tham gia tạo ra tình trạng chưa sôi động của thị trường, thị trường thứ cấp của thị trường mở (mua bán lại tín phiếu giữa các tổ chức tín dụng và khách hàng của họ) chưa phát triển, các thị trường liên Ngân hàng chưa hoàn thiện gây ảnh hưởng lớn đến nghiệp vụ thị trường mở. Vì vậy những tác động và hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở tới chính sách tiền tệ chưa sâu rộng và thiết thực. 2. Khắc phục hạn chế của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở để nâng cao hiệu quả tác động của nghiệp vụ thị trường mở của chính sách tiền tệ. Thực ra, những tồn tại của nghiệp vụ thị trường mở trong thời gian qua đã được dự báo trước khi nghiệp vụ thị trường mở bắt đầu hoạt động vào giữa năm 2000 khi mà các cơ sở kinh tế – kỹ thuật của nó chưa chín muồi. Vậy làm thế nào để khắc phục được những tồn tại đó? Dưới đây là một vài ý kiến mang tính chất tham khảo để khắc phục tồn tại của nghiệp vụ thị trường mở nước ta hiện nay. * Nghiệp vụ thị trường mở thực chất là hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong từng thời kỳ. ở giai đoạn đầu, thành viên thị trường mở là các tổ chức tín dụng là phù hợp, tuy nhiên, các tổ chức này hiện nay chưa thực sự cần đến thị trường mở để điều tiết vốn khả dụng của mình và Ngân hàng Nhà nước cũng chưa có biện pháp thật sự có hiệu quả để chỉ huy nghiệp vụ này. Một trong các điều kiện tham gia thị trường mở là các thành viên phải có giấy tờ có giá để bán và chủ động đưọc vốn khả dụng của mình. Nhưng các tổ chức tín dụng chưa đầu tư nhiều vào giấy tờ có giá ngắn hạn do nhiều nguyên nhân, và thực ra họ vẫn chịu sự thiếu bình đẳng trong kinh doanh. Các Ngân hàng thương mại quốc doanh được vay theo chỉ định, nên có nhiều lợi thế trong giao dịch trên thị trường mở nhờ được vay với giá rẻ để mua giấy tờ có giá có lãi suất lợi hơn. Các Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng liên doanh, quỹ tín dụng ít có được ưu thế này. Điều này không kích cầu tín dụng, tạo ra sự phân biệt đáng kể trên thị trường. Như thế, để cho các tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh tham gia nghiệp vụ thị trường mở một cách thực sự thì Ngân hàng Nhà nước phải taọ cho họ một sân chơi bình đẳng, tức là giảm cho vay theo chỉ định, phân biệt rõ tín dụng chính sách và tín dụng thương mại. Ngoài ra cần phải tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng cho các tổ chức tín dụng về nghiệp vụ này. * Tạo hàng hoá cho nghiệp vụ thị trường mở: Một trong những tồn tại ra sự đơn điệu của nghiệp vụ thị trường mở vừa qua là sự khan hiếm hàng hoá. Theo quy định hiện nay, chỉ những giấy tờ có giá như tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác được giao dịch ở thị trường. Quy định này ngay từ đầu đã làm giảm khả năng và phạm vi mua bán của các loại giấy tờ có giá khác trên thị trường như trái phiếu trung và dài hạn…. trên thị trường mở khi mà thời gian đáo hạn của chúng còn dưới 1 năm. Tuy không phải là nhiều nhưng các loại trái phiếu hiện có có thể giao dịch ở thị trường mở không phải là ít. Riêng tín phiếu kho bạc (thời hạn dưới một năm) và trái phiếu kho bạc (thời hạn 1năm) từ 6/1995 đến 9/2000 được đấu thầu là 15.282,8 tỷ đồng, trong đó 11.126,7 tỷ đồng là trái phiếu kho bạc và 4.156,1 tỷ đồng là tín phiếu. Nếu được phép giao dịch thì loại trái phiếu kho bạc này sẽ là một hàng hoá tốt cho thị trường mở. Ngoài ra, các loại trái phiếu Ngân hàng, trái phiếu Công ty… đã phát hành như trái phiếu Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, trái phiếu chính quyền địa phương nếu còn thời hạn dưới 1 năm cũng nên được chấp nhận ở thị trường mở. Việc sử dụng tín phiếu Ngân hàng Nhà nước chỉ là giải pháp trong thời kỳ đầu và không thể lạm dụng loại hàng hoá cần cho thị trường mở là thương phiếu thì cho tới nay chưa phổ biến, tuy nhiên, thương phiếu sẽ hiện hữu khi chưa phổ biến. Tuy nhiên, thương phiếu sẽ hiện hữu khi ngân phiếu thanh toán chấm dứt phát hành và lưu thông quá trình hội nhập quốc tế được đẩy mạnh sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tìm kiếm các phương tiện lưu thông và thanh toán phù hợp. Việc phát hành tín phiếu kho bạc vẫn được tiến hành thường xuyên, vấn đề là tạo ra thị trường thứ cấp cho loại hàng hoá này. Rõ ràng là sự khan hiếm đồng thời về hàng hoá giữ thị trường mở và thị trường chứng khoán đã làm cho hai thị trường này không thể hiện đúng bản chất vốn có của nó. Tuy nhiên, nếu như nghiệp vụ thị trường mở được phép sử dụng các trái phiếu kho bạc đã phát hành khi chúng còn thời gian đáo hạn ngắn thì luân chuyển vốn sẽ đa dạng hơn. * Về phương thức giao dịch: Phương thức giao dịch phù hợp nhất với nghiệp vụ thị trường mở là mua bán có kỳ hạn, mà Ngân hàng Nhà nước là người chủ động quyết định mua bán với số lượng bao nhiêu, thời gian nào, theo phương thức nào tuy nhiên yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. các hợp đồng mua lại thích hợp với điều kện khó dự báo vốn khả dụng, có thể can thiệp linh hoạt việc cung ứng vốn khả dụng khi thời hạn hợp đồng chấm dứt. Hợp đồng mua lại (mua bán có kỳ hạn) đòi hỏi trình độ, kiến thức cao của cả Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng, mà điều này chưa chín muồi ở Việt Nam. Việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở dưới hình thức mua hẳn sẽ làm tăng tỷ lệ cung ứng tiền Ngân hàng Nhà nước qua quan hệ tín dụng, làm yếu khả năng điều tiết của Ngân hàng Nhà nước, gây biến động lớn tới thị giá chứng khoán theo chiều hướng không tốt khi mà thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất nhỏ bé và yếu ớt. Nếu như Ngân hàng Nhà nước mua hẳn tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc thì lượng tiền tệ trong lưu thông sẽ thay đổi, khả năng tiền tệ hoá thâm hụt ngân sách sẽ sảy ra. Vì vậy, nghiệp vụ thị trường mở có tính linh hoạt cao trong thực tế sử dụng, mà phương thức mua bán hẳn chỉ phù hợp với giai đoạn đầu. Theo quy chế nghiệp vụ thị trường mở, Ngân hàng Nhà nước có thể thực hiện đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Việc đấu thầu khối lượng xảy ra khi lãi suất cố định được tính toán và chỉ đạo , còn đáu thầu lãi suất sẽ xác định lãi suất trúng thầu tại điểm mà khối lượng tiền cần bơm vào hay rút ra khỏi lưu thông đạt được. Chính các nước lãi suất này sẽ quyết định giá của giấy tờ có giá trên thị trường. Để khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia nghiệp vụ thị trường mở, trong giai đoạn đầu, Ngân hàng Nhà nước cần kết hợp cả hai hình thức đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất. * Hoàn thiện thị trường liên ngân hàng, thị trường mở và nghiệp vụ thị trường mở chỉ thực sự hữu hiệu trên cơ sở thị trường liên Ngân hàng phát triển. Trong lịch sử, thị trường liên Ngân hàng hoạt động trước khi thị trường mở hoạt động. Thị trường liên Ngân hàng chính là nơi xác định nhu cầu và khả năng vốn khả dụng của các Ngân hàng thương mại, nơi mà NHTW nắm bắt được một cách nhanh nhạy nhu cầu vốn của nền kinh tế qua các hoạt động của Ngân hàng thương mại để quyết định sử công cụ của chính sách tiền tệ thích hợp. Ở Việt Nam thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng có vai trò khá lớn trong luân chuyển vốn và ngoại tệ, xác định và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Song hiện nay, thị trường nội tệ liên Ngân hàng gần như đóng băng, điều này đã làm giảm đáng kể khả năng quản lý của Ngân hàng Nhà nước, cũng như sự phối kết hợp giữa các thị trường chứng khoán – thị trường mở, thị trường tiền tệ. Vì vậy việc hoàn thiện thị trường liên Ngân hàng phải được xem là cơ sở cho các hoạt động khác của Ngân hàng Nhà nước trong bối cảnh các thị trường tài chính đã thiết lập và di vào hoạt động , hệ thống Ngân hàng sẽ có sự cải cách mạnh mẽ, xu thế hội nhập quốc tế sẽ trở thành hiện thực ở Việt Nam. Hoàn thiện thị trường liên Ngân hàng nên là một mối quan tâm đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước trong thời gian tới. Tóm lai, nghiệp vụ thị trường mở đã hoạt động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam là dấu hiệu đáng mừng, song để nghiệp vụ này thực sự có hiệu quả thì còn rất nhiều vấn đề to lớn đặt ra cũng như phải có thời gian để thực hiện. Thử thách đối với nghiệp vụ mới ngày nay là rất nặng nề mà chỉ có quyết tâm đồng bộ kiên quyết của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng mới có thể giải quyết được. KẾT LUẬN Chính sách tiền tệ là một chính sách vĩ mô quan trọng trong việc điều hành nền kinh tế. với xu thế phát triển của nền kinh tế hội nhập, nền kinh tế thế giới còn tồn tại nhiều biến động bất ổn định (đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ) thì việc có được một chính sách tiền tệ hoàn chỉnh thực sự có hiệu quả là một vấn đề hết sức cần thiết và cũng đầy khó khăn phức tạp đòi hỏi các nhà hoạch định và thực thi cần nghiên cứu thật kỹ điều kiện hoàn cảnh của đất nước, đánh giá hiệu quả, hạn chế của các công cụ chính sách tiền tệ để từ đó có sự lựa chọn và phối kết hợp giữa các công cụ và các chính sách khác sao cho có hiệu quả cao nhất. Điều kiện thực tế luôn biến đổi đòi hỏi phải có công cụ thích hợp cho từng giai đoạn, từng thời kỳ tuỳ điều kiện nền kinh tế để các công cụ phát huy hết hiệu quả cả nó. Chính sách lãi suất đã được sử dụng từ lâu và đã đem lại nhiều tác động tích cực to lớn đối với mục tiêu kinh tế, tuy nhiên nó cũng tồn tại nhiều bất cập cần được hạn chế và đổi mới. Xu thế của chính sách lãi suất là dần tự do hoá lãi suất cho phù hợp với quy luật thị trường và nó cần phải thực hiện dần dần từng bước. Không nên nóng vội mà thả nổi lãi suất theo sự biến động của thị trường. Chính sách lãi suất vẫn còn đóng vai trò rất quan trọng khi mà công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ còn chưa hoàn thiện. Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ, nó mới được đưa vào sử dụng ở nước ta nhưng nó cũng đã thể hiện tính linh hoạt và ưu biệt vốn có của nó. Tuy nhiên nghiệp vụ thị trường mở còn rất nhiều bất cập cần nhanh chóng được khắc phục và hoàn thiện để phát huy ưu biệt của nó, dần đưa nghiệp vụ thị trường mở trở thành công cụ chính của chính sách tiền tệ. Để có một chính sách tiền tệ mềm dẻo, phải biến đổi linh hoạt và phù hợp với điều kiện cơ chế cần phải hoàn thiện nhiều cơ chế điều hành và có giải pháp hợp lý. Đây là vấn đề quan trong, cần thiết đòi hỏi không chỉ cả công sức của các nhà hoạch định chính sách mà cần có cả thời gian nữa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ IX 2. Tiền tệ Ngân hàng và thị trường tài chính – frederic S.Mishkin 3. Kinh tế vĩ mô - N. Gregory Mankiw 4. Giáo trình kinh tế vĩ mô ĐHKTQD 5. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 6. Tạp chí Ngân hàng các số: 1+2/2000 Số : 8/2000 Số: 2/2001 Số: 6/2001 Số: 9/2001 7. Tạp chí tài các số từ tháng 1-9/2001 8. Thời báo Ngân hàng các số tháng 8+9+10/2001

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuận Văn CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.pdf
Luận văn liên quan