Luận văn Quản lý Nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các Trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam

Nhiệm vụ cuối cùng của luận văn là đưa ra các kiến nghị, đề xuất các giải pháp ở từng nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập nói chung và giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ112 Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng. Cơ sở đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp là căn cứ trên các thực trạng được phân tích tại chương 2. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả đã có gắng ở mức cao nhất để làm rõ các nội dung liên quan tới công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam, từ đó phân tích các hạn chế và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ này trên phạm vi toàn quốc và trong phạm vi đề tài. Tuy nhiên vì sự hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, tổng hợp, phân tích các tài liệu nên chưa thể đi sâu làm rõ ở các nội dung chi tiết, cụ thể hơn. Do vậy, tác giả nghĩ các nội dung này cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể, đặc biệt là nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia giáo dục, chính sách công. Từ đó hoàn thiện ở mức cáo nhất các nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học trong giai đoạn mới hiện nay. Với những nội dung đã nghiên cứu được cũng như các hạn chế mà luận văn chưa thể trình bày, tác giả thành tâm mong muốn nhận được sự góp ý của Qúy Thầy, Cô trong Hội đồng để tác giả tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thành luận văn ở mức độ tốt nhất có thể./.

pdf130 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 20/08/2021 | Lượt xem: 170 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý Nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các Trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Từ đó đảm bảo việc tuyển dụng không chỉ đơn thuần là công việc của Hội đồng tuyển dụng được thành lập trước đó. Để làm được điều này, đòi hỏi phải có quy định mới trên cơ sở đảm bảo các quy trình hiện tại nhưng bổ sung và làm rõ thêm sự công bằng, minh bạch. - Thực tế là từng học kỳ, các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam đều thực hiện việc thống kê khối lượng giảng dạy của giảng viên, trên cơ sở lấy tổng số giờ giảng trừ đi số giờ chuẩn định mức theo quy định. Từ đó để tính vượt giờ cho giảng viên theo quy định trong Qúy chế chi tiêu nội bộ. Trong trường hợp nếu giảng viên phải dạy quá giờ chuẩn theo 97 quy định thì ở một góc độ nào đó được hiểu là do thiếu giảng viên nên phải ‘tăng ca’. Trong trường hợp thiếu giảng viên nhưng không được tuyển dụng thêm đồng nghĩa với việc không đảm bảo số lượng giảng viên/sinh viên theo quy định. Và như vậy, việc tuyển dụng thêm giảng viên để đảm bảo giảng viên hiện tại không phải ‘tăng ca’ thì lại không thể vì bị khống chế bởi biên chế quy định.Trong khi đó, giảng viên cơ hữu các trường đại học công lập vẫn có thể tham gia giảng dạy là giảng viên thỉnh giảng ở các trường đại học khác. Đây là vừa là điều kiện tốt cho giảng viên có thêm các cơ hội việc làm (có thể tạm hiểu là làm thêm), tăng thêm thu nhập cho cuộc sống trong điều kiện thu nhập tại cơ quan chưa đáp ứng hết nhu cầu của cuộc sống. Đồng thời cũng là cơ hội để giảng viên có thêm các môi trường để trao đổi về chuyên môn, học thuật, truyền bá tri thức. Từ đó thiết nghĩ Bộ giáo dục và Đào tạo phải tìm hiểu và làm rõ các mâu thuẫn hiện tại nêu trên, từ đó xây dựng các quy chế, quy định cụ thể hơn nhằm đảm bảo quản lý về mặt thời gian lao động thực tế theo giờ chuẩn tại cơ quan nơi mình là viên chức, cũng như ban hành quy định, hoặc có cơ chế kiểm tra, kiểm soát được thời lượng giảng dạy thỉnh giảng ở các cơ sở khác. Từ đó đảm bảo việc giảng viên cơ hữu thực hiện chuyên tâm hơn cho chính đơn vị nơi mình công tác. Như vậy, mặc dù các quy định pháp lý về tuyển dụng, sử dụng và quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập hiện nay tuy đã đầy đủ, song trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ những khó khăn, chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho chính các trường đại học cũng như giảng viên. Do vậy, cần có sự rà soát, đánh giá tổng thể riêng đối với các luật cũng như mối quan hệ giữa các luật với nhau như giữa Luật Viên chức với Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học. 98 3.2.3. Hoàn thiện về cơ chế chính sách bồi dưỡng, đào tạo, chế độ đãi ngộ và khen thưởng đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những biện pháp căn cơ nhất để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Trong điều kiện các trường đại học đang hướng tới các tiêu chuẩn kiểm định mới ngoài tiêu chuẩn chung của Bộ giáo dục và Đào tạo, mà phổ biến hiện nay nhất là kiểm định theo chuẩn AUN - QA (ASEAN University Network - Quality Assurance). Và trong bất kỳ chương trình hay khung kiểm định nào thì đội ngũ giảng viên có một vị trí hết sức quan trọng để đánh giá chất lượng của trường đại học đó. Với các tiêu chí như giảng viên có bằng cấp chuyên môn cao, phù hợp với ngành nghề đào tạo, số lượng các bài báo khoa học của giảng viên được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, số lượng công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên được công bố, hay đó là việc hài lòng của các bên liên quan (trong đó có hài lòng về chất lượng chuyên môn giảng dạy cũng như các nội dung tương tác khác giữa giảng viên với sinh viên và). Chính vì thế, việc quan tâm thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ngoài việc đạt chuẩn theo quy định của Luật giáo dục, Luật giáo dục Đại học thì còn phải đảm bảo thêm các yếu tố khác đi kèm để thực hiện công tác kiểm định chất lượng. Với tầm quan trọng đó, nhiều chính sách quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung và đại học công lập nói riêng (trong đó có các trường thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam) đã được hết sức quan tâm, chú trọng không chỉ dừng lại ở chiến lược, kế hoạch, quy hoạch mà còn được quan tâm bằng việc hỗ trợ tài chính đi kèm. Sẽ là hoàn thiện hơn nếu trong thời gian qua công tác này khắc phục được hoặc tốt hơn là không gặp phải các khó khăn như vẫn còn tình trạng vì buộc phải có trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ nhưng vì trong nước không đào tạo ngành này, trong điều kiện không thể đi học ở nước ngoài nên phải học trong nước nhưng trái ngành hoặc “ngành gần”. Thực trạng này gần đây nhất như phát biểu của ông Đinh La Thăng - Uỷ viên bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh có phát biểu tại buổi làm việc với Đại học Sân khấu điện ảnh TP. Hồ Chí 99 Minh vào ngày 28/2/2017 rằng “Có ai giới thiệu Tiến sĩ lên hát Dạ cổ hoài lang đâu?”. Đây là thực tế thật sự bất cập mà cần phải có cơ chế riêng, mặc dù Luật giáo dục đại học đã quy định đối với tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy các ngành nghề đặc thù do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định. Song không có quy định cụ thể nào được ban hành, dẫn tới tình trạng có bằng Tiến sĩ nhưng không phải Tiến sĩ chuyên ngành giảng dạy. Do vậy Bộ giáo dục cần sớm ban hành văn bản quy định riêng về tiêu chuẩn đối với đối tượng giảng viê này. (thực tế tại trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, các giảng viên giảng dạy tại khoa Mỹ thuật Công nghiệp gồm các chuyên ngành; Thời trang, Tạo dáng Công nghiệp, Thiết kế đồ họa rất ít có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ đúng chuyên ngành mà đa phần là bằng về “Lý luận lịch sử mỹ thuật”). Như vậy Bộ Xây dựng - với chức năng là Bộ chủ quản phải phối hợp với Bộ giáo dục và Đào tạo để đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể, mang tính đặc thù riêng để làm căn cứ cho công tác đào tạo, xác định các tiêu chuẩn tối thiểu để đội ngũ giảng viên theo đó học tập, tự bồi dưỡng, đào tạo theo quy định phải có. Việc quy định giảng viên phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm hoặc chứng chỉ lý luận giảng dạy đại học liệu có phù hợp trong điều kiện giảng viên đó thuộc các trường theo định hướng ứng dụng hoặc thực hành, hoặc kể cả trường theo định hướng nghiên cứu. Bởi lẽ để bước lên bục giảng thì người giảng viên phải chuẩn bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng tốt nhất với mục đích truyền thụ cho người học các kiến thức một cách dễ hiểu nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất. Và như vây, “phong cách” giảng dạy là tố chất riêng của từng giảng viên sẽ được phát huy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Và kể cả khi giảng viên được hoặc bắt buộc (mà theo luật là bắt buộc) phải có các chứng chỉ nêu trên thì liệu rằng có thay thể được “phong cách” giảng dạy vốn có. Đối với các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam, thực tế này càng thấy rõ khi mà các ngành nghề đào tạo đa phần mang tính đặc thù riêng liên quan tới thiết kế, nghệ thuật, việc buộc một giảng viên phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm hay lý luận giảng dạy đại học là điều 100 mà ít người mong muốn có thật. Giải pháp đề ra là Bộ giáo dục cần có nghiên cứu cụ thể để áp dụng tiêu chuẩn riêng, tránh trường hợp chung chung, mang tính bắt buộc nhưng không thật sự phát huy hết giá trị, ý nghĩa của nó (như thế dễ phản tác dụng). Thay vào đó là giao quyền sát hạch, hoặc kiểm tra, đánh giá của chính đơn vị sử dụng giảng viên và chính sinh viên, những người trực tiếp tương tác và lãnh hội kiến thức hàng ngày từ giảng viên. Công tác này có thể thực hiện thường niên và tổng kết thông qua công tác đánh giá, thi đua khen thưởng cuối năm. Hiện nay, một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng thất nghiệp của sinh viên mà được xã hội, các nhà tuyển dụng, các chuyên gia phân tích giáo dục cho rằng là do sinh viên chỉ có biết lý thuyết suông, là thiếu các kỹ năng chuyên ngành, các kỹ năng thực hành xã hội. Vậy “cái thiếu” của sinh viên đến từ đâu. Phải chăng là do chương trình đào tạo, hay chính từ sinh viên chưa chủ động học hỏi. Thực tế đó cộng với quy định liên quan tới chất lượng đầu ra của sinh viên buộc các trường phải thay đổi tư duy, phương pháp dạy và học. Như vậy, yêu cầu đặt ra cho giảng viên cũng phải thay đổi để đáp ứng theo tư duy và phương pháp mới. Chính vì thế một trong những giải pháp không liên quan tới bằng cấp chuyên môn của giảng viên nhưng có thể nâng cao trình độ, giúp giảng viên bồi dưỡng chuyên môn là quy định yêu cầu, hoặc buộc giảng viên phải tham gia các chương trình thực tế tại các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động. Hoặc giảng viên phải thường xuyên tham gia các chương trình hội thảo, tọa đàm với các bên liên quan, tham gia lao động, nghiên cứu thực tế tại các đơn vị khác cùng ngành nghề, hoặc là đơn vị có mối tương quan, tương hỗ với ngành nghề chuyên môn của mình. Từ những việc như vậy sẽ giúp cho giảng viên nâng cao kiến thức thực tế. Vận dụng linh hoạt kiến thức đó với kiến thức chuyên môn nghề nghiệp để nâng cao chất lượng dạy và học tại trường. Thực tế hiện nay đa phần các trường đang chú trọng nhiều vào việc đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là chú trọng nâng cao trình độ đạt chuẩn Tiến sĩ cho đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng nâng cao 101 trình độ chuyên môn không thì cũng chưa đủ. Trong điều kiện sự phát triển nhanh chóng về khoa học, công nghệ, cũng như sự hội nhập sâu rộng ở tất cả các lĩnh vực thì đòi hỏi giảng viên phải có trình độ, kiến thức về tất cả các mặt của đời sống xã hội. Chính vì thế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng cần có sự thay đổi theo các hướng khác nhau như đào tạo chuyên sâu theo chuyên ngành (dạng hình thức đào tạo cấp bằng), đào tạo, bồi dưỡng theo chuyên đề về văn hóa, lịch sử, phương pháp nghiên cứu khoa học, hay tâm lý, giáo dục trong thời kỳ kỷ nguyên số, đặc biệt là việc đào tạo, bồi dưỡng cho giảng viên các kiến thức quản lý nhà nước liên quan tới chuyên môn mà các cơ quan nhà nước thường xuyên điều chỉnh như về Quy hoạch, Xây dựng, Kiến trúc công trình Đào tạo, bồi dưỡng không chỉ khi đạt chuẩn mà kể cả quá trình sau đó. Điều này để đảm bảo rằng sự thu nhận và phát triển không ngừng các vốn kiến thức phục vụ cho chuyên môn công tác giảng dạy của giảng viên. Đặc biệt là các ứng dụng khoa học mới trong các lĩnh vực ngành nghề. Công tác này có thể đào tạo, bồi dưỡng thông qua các buổi trao đổi, hợp tác, hội thảo với các tổ chức, các chuyên gia trong lĩnh vực mà giảng viên cần. Như vậy, cần áp dụng linh hoạt giữa việc đào tạo các khóa bắt buộc theo quy định thì song song đó là việc đào tạo các khóa ngắn hạn, phù hợp với chuyên môn giảng dạy thực tế của Trường. Để thực hiện tốt hơn công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trong giai đoạn mới hiện nay, đòi hỏi không chỉ là sự đổi mới về các nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuẩn hóa mà còn đòi hỏi sự chuyên sâu, hướng tới mỗi giảng viên không chỉ là nhà sư phạm đơn thuần mà đồng thời còn là nhà nghiên cứu khoa học, một chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Để hoàn thiện cùng lúc ba yếu tố này, ngoài sự quan tâm, xây dựng các cơ chế, chính sách, sự hỗ trợ cần thiết của các trường đại học, đòi hỏi người giảng viên phải không ngừng tự học tập, lựa chọn các phương pháp, chương trình đào tạo thích hợp, cần thiết để hoàn thiện chính bản thân của mình. Và như thế, văn hóa tự đào tạo, bồi dưỡng, phát triển là yếu tố cần quan tâm, xây dựng. Đến khi đó, giảng viên sẽ không còn tình trạng buộc phải chuẩn 102 hóa mà sẽ trở thành mong muốn, nguyện vọng được học tâp, được đào tạo, bồi dưỡng để hoàn thành nhiệm vụ của bản thân với cơ quan, đơn vị. Và hơn hết là thực hiện được sứ mệnh giáo dục, đào tạo thiêng liêng của toàn dân tộc, vì mục tiêu đưa dân tộc Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Chế độ đãi ngộ và khen thưởng đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập hiện nay tuy đã được Đảng và Nhà nước quan tâm để kịp thời động viên, khen thưởng, khích lệ tinh thần cho đội ngũ giảng viên phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được phân công. Nhưng, câu chuyện về lương, thưởng và các khoản phụ cấp theo kèm đối với đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên các trường đại học công lập nói riêng luôn là vấn đề được đặt ra bàn thảo, trao đổi với nhiều ý kiến, mà trong đó đa phần là làm sao để tăng thu nhập của người giảng viên, để người giảng viên có thể “sống được bằng lương”. Và như thế, đa phần các ý kiến trong xã hội đều cho rằng, mức thu nhập từ lương đối với giảng viên là còn thấp, chưa tương xứng với giá trị lao động mà người giảng viên bỏ ra. Cơ chế trả lương hiện nay cho đội ngũ giảng viên đang thực hiện chung theo quy định của Luật Viên chức 2010, đặc trưng của công thức tính toán là dựa trên các hệ số về bằng cấp, hệ số công việc, hệ số lương tăng thêm, hệ số trách nhiệm, hệ số thâm niên và hệ số phụ cấp ngành nghề nhân với mức lương cơ bản chung của nhà nước. Thực tế thì mức lương thu nhập của các giảng viên ở các trường đại học khác nhau thì khác nhau. Điều này phụ thuộc vào “nguồn thu sự nghiệp” mà các trường có được. Nhưng với điều kiện và xu hướng phát triển của nền kinh tế hiện nay thì chưa thật sự tương xứng với những đóng góp của giảng viên cho xã hội. Theo tác giả luận văn, cần phải thay đổi cơ chế trả lương, các phụ cấp cũng như khen thưởng dành cho đội ngũ giảng viên theo hướng thực tế hơn. Trước hết, xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước xem giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, thì việc trả lương, các chế độ đi kèm cũng phải được và nên có sự ưu tiên bằng chính sách riêng, đặc thù. Điều này sẽ là khó khi mà các các lĩnh vực sự nghiêp khác cũng cho rằng, chính họ, hoặc họ mới có đóng góp thiết 103 thực hơn khu vực sự nghiệp giáo dục. Như vậy, cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ, mang tính khoa học cao, dựa trên các yếu tố cơ bản là giá trị đóng góp cho hiện tại, tương lai cũng như sự ảnh hưởng, tác động tích cực mà giáo dục, đào tạo mang lại cho các khu vực, ngành nghề khác. Chỉ có như vậy, và cần phải như vậy để đảm bảo rằng, chủ trương “giáo dục là quốc sách” mới đi tới được những con người trực tiếp thực hiện “quốc sách” và đưa “quốc sách” thành hiện thực. Trả lương theo cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, hay đó chính là trả lương theo kết quả thực tế của công việc. Điều này là cần thiết nhằm đảm bảo sự công bằng, tránh sự chung chung, cào bằng. Khi thực hiện việc trả lương theo vị trí công việc được phân công, kèm theo đó là kết quả thực hiện các công việc đó sẽ dẫn tới sự phấn đấu mang tính thực chất. Do vậy, cải cách lương không phải là việc xem xét nâng hệ số lương cơ bản, hay thực hiện việc tăng giảm các hệ số đơn thuần mà phải là việc xem xét các thay đổi đó gắn với thực tế thị trường của nền kinh tế và sự đóng góp (giá trị lao động thực) để tính toán cho phù hợp. Việc trả lương theo cơ chế thị trường và kết quả thực hiện công việc đã được khu vực tư nhân áp dụng tương đối đầy đủ, thể hiện được tính nhanh nhạy, phù hợpvới quy luật. Trong khi đó, khu vực sự nghiệp công của nhà nước chưa áp dụng phương thức này, điều này cho thấy có một sự chậm trễ nhất định cần sớm thay đổi. Công tác thi đua, khen thưởng tuy đã thực hiện tốt trong những năm qua với những quy định đầy đủ, chặt chẽ của pháp luật.Song vẫn còn tình trạng “chạy thành tích” không chỉ cho tập thể mà kể cả cá nhân. Thực tế này đã được các cơ quan báo chí phản ánh và đã có những kết luận sai phạm của các cơ quan chức năng. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao để công tác thi đua, khen thưởng thực chất hơn, là việc khen đúng người, đúng việc, xóa bỏ tình trạng chạy thi đua, khen thưởng? Câu trả lời trước hết thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng, đó là trách nhiệm kiểm tra, thẩm tra hồ sơ đề nghị khen thưởng ở các cấp phải được tăng cường. Bên cạnh đó cần có các chế tài mạnh hơn để xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi giả mạo, khai không đúng sự thật 104 nhằm đạt được các thành tích theo mong muốn. Có thể một trong những chế tài mạnh đó là cắt thi đua trong một thời gian nhất định tùy vào mức độ vi phạm, công khai rộng rãi các vi phạm đó cho toàn xã hội biết và theo dõi. Thực tế hiện nay không chỉ ở các trường đại học công lập mà ở nhiều cơ quan, đơn vị sự nghiệp khác nhau thường xẩy ra tình trạng “xoay vòng” khen thưởng trong các đơn vị trực thuộc. Tức là năm nay đề xuất người này thì năm sau tới lượt người khác. Cứ như vậy cho hết các thành viên trong đơn vị. Hình thức này theo suy nghĩ của nhiều người là công bằng, vì ai cũng xứng đáng được khen. Thực chất, nó như ở một góc độ nào đó chính là sự cào bằng, xem nhẹ tính chất và ý nghĩa của việc thi đua, khen thưởng. Nhưng hình thức này còn đỡ hơn là tình trạng khen thưởng chi và luôn tập trung cho những người lãnh đạo, có chức vụ. Đó là việc hầu như năm nào, những người làm lãnh đạo cũng được đề xuất khen thưởng ở các cấp, mà ít khi cơ hôi đó dành cho nhân viên bên dưới. Nguyên nhân này xuất phát từ việc nể nang, sợ mất lòng lãnh đạo, hay đó là sự xu nịnh của cấp dưới dành cho cấp trên. Hay tệ hơn đó là vì sự thiếu công bằng, khách quan của cấp trên trong việc nhìn nhận sự cố gắng, các thành tích, công việc cụ thể mà một năm qua, hoặc một giai đoạn mà nhân viên, cấp dưới của mình đã nỗ lực, cống hiến. Để khác phục tình trạng này, có lẽ pháp luật sẽ khó điều chỉnh, thay vào đó là sự phải thay đổi nhận thức, suy nghĩ và cách nhìn nhận, đánh giá về công tác thi đua, khen thưởng ở từng cá nhân, đơn vị và toàn thể cơ quan theo hướng thực chất, công bằng và phải thật sự vô tư trên tinh thần dân chủ thật sự. 3.2.4. Hoàn thiện về công tác thanh tra, kiểm tra và xư lý vi phạm kỷ luật. Trong bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, dù là khu vực tư nhân hay khu vực nhà nước thì công tác thanh tra, kiểm tra cũng như xử lý các vi phạm kỷ luật là nội dung hết sức quan trọng và cần thiết. Đây là một đặc trưng trong công tác quản lý nói chung và quản lý nhà nước nói riêng. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm là điều cần thiết để đảm bảo việc thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật, quy chê, quy định của cơ quan điều chỉnh tới các đối tượng liên quan. 105 Đối với các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam, việc quản lý đội ngũ giảng viên luôn gắn liền và không thể thiếu công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm. Trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tế thực hiện công tác này tại các trường nói trên, tác giả nhận thấy công tác này tuy có thực hiện, song chưa thật sự đi vào thực chất, vẫn còn mang tính hình thức, nể nang nhau. Đối với các cơ quản lý nhà nước cấp bộ như Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng chưa thật sự sâu sát, công tác kiểm tra, thanh tra đang chủ yếu dựa trên nội dung các báo cáo theo yêu cầu sự vụ, hoặc định kỳ quy định. Việc lập đoàn thanh tra, kiểm ra chuyên đề hay kiểm tra tổng thể về quản các nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học còn ít. Trong khi đó, mặc dù các trường đại học đều có bộ phần thanh tra giáo dục và đều xây dựng và ban hành Quy chế dân chủ trong trường. Song vì mang tính ‘nội bộ’ nên các hoạt động này thường chỉ mang tính nhắc nhở, cùng nhau khắc phục, hoặc tự hoàn thiện với nhau để tránh các sai sót, vi phạm. Trong điều kiện đã có đủ các quy định, chế tài để thực hiện, nhưng công tác thanh tra, kiểm tra đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập vẫn còn những bất cập, yếu kém, đó là vẫn còn tình trạng vi phạm các quy định như thiếu trung thực, thực hiện công tác giảng dạy chưa đảm bảo, vi phạm bản quyềnthì nguyên nhân chỉ có thể là từ phươngc pháp, cách làm chưa đúng, còn mang tâm lý ngại va chạm của các cá nhân, tổ chức làm công tác thanh tra. Hoặc vẫn còn tình trạng khi thanh tra xong, hai bên (cơ quan thanh tra và cơ quan/đối tượng bị thanh tra) “tự thỏa thuận” với nhau trước khi soạn thảo, ban hành kết luận thanh tra để gửi tới các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền liên quan tiếp theo. Như vậy, cần phải thay đổi nhận thức theo hướng nâng cao tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ của các bộ phận nhân sự tham gia công tác thanh tra, kiểm tra. Hầu hết, kết quả thanh tra, kiểm tra không được công khai rộng rãi, chủ yếu chỉ có “những người trong cuộc” mới biết về những nội dung trong kết luận thanh tra, kiểm tra. Điều này ở một khía cạnh nào đó là việc chưa công khai, 106 chưa minh bạch. Vì vậy, phải xây dựng cơ chế thật sự công khai, minh bạch, đặc biệt là công khai những vi phạm, sai phạm, khuyết điểm, từ đó sẽ tăng thêm giá trị của kết quả thanh tra, làm gương để các đơn vị khác tránh được những sai sót, vi phạm ở cùng một nội dung, ở trong cùng khối sự nghiệp giáo dục là các trường đại học công lập (trong đó có các trường thuộc bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam). Và do vây, cần phải tăng cường nhiều hơn công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với các trường đại học, từ đó đảm bảo tránh bỏ sót các sai phạm, vi phạm liên quan tới đội ngũ giảng viên. Ngoài việc thanh tra của các cơ quan thanh tra thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Xây dựng, thì việc phát huy tinh thần giám sát và phản biện của các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội trong trường học là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Do vậy cần xây dựng cơ chế phối hợp, giám sát các hoạt động liên quan của giảng viên trong trường đại học. Bên cạnh đó cần tăng thêm các chức năng, nhiệm vụ của phòng Thanh tra giáo dục trong nhà trường, theo hướng tăng quyền hạn, và quyền hạn đó phải tương đối độc lập với quyền lực của Hiệu trưởng. 3.2.5. Các kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ giáo dục và Đào tạo và các Bộ ngành khác ở Trung ương 3.2.5.1 Với Chính phủ: - Cần rà soát, tổng kết, đánh giá lại việc thực hiện các nội dung theo quy định của pháp luật ở các cơ sở giáo dục đại học công lập liên quan tới việc quản lý nhà nước về viên chức nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng. Trong đó, cần đánh giá một cách chính xác sự tác động, mối quan hệ giữa các Luật Viên chức, Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học. Đặc biệt trong số đó cần có sự nghiên cứu cụ thể về những bất cập, khó khăn, thuận lợi liên quan tới tự chủ đại học mà Luật giáo dục đã quy định. Thực tế hiện nay chưa có một văn bản hướng dẫn nào hướng dẫn cụ thể về tự chủ đại học đúng nghĩa, đầy đủ về tất cả các nội dung (bao gồm: tự chủ về cơ sở vật chất; tự chủ về cơ cấu, tổ chức bộ máy, nhân sự; tự chủ về tài chính và tự chủ về học thuật) để các trường lấy đó làm căn cứ 107 thực hiện. Như vậy, trong điều kiện nếu các trường đại học công lập được giao quyền tự chủ về bộ máy, cơ cấu tổ chức và nhân sự thì sẽ thay đổi như thế nào vai trò quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên đang được thực hiện bởi các Bộ, Ngành liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành. - Chính phủ cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn về trách nhiệm giải trình đối với các trường đại học hiện nay. Đó là trách nhiệm giải trình trước các bên liên quan mà trước hết là với các cơ quan quản lý nhà nước. Cùng với đó là trách nhiệm kiểm soát, kiểm duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các nội dung giải trình mà các trường đã thực hiện. Trong đó nội dung giải trình về đội ngũ cán bộ, viên chức nói chung và đội ngũ giảng viên nói riêng theo hướng đảm bảo các quy định của pháp luật về số lượng, chất lượng và các nội dụng quản lý, sử dụng là điều quan trọng cần thiết để thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập. Với hai đề nghị trên, qua tham khảo các tài liệu, tác giả nhận thấy một giải pháp đã được nêu ra tại trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam” có thể dùng tham khảo và áp dụng trong hiện tại và tương lai nhằm thực hiện tốt hơn các nội dung quản lý đại học, trong đó có quản lý đội ngụ giảng viên, đó là [88]: 108 Hình: 3.2.1.5. Mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho giáo dục đại học theo hướng Kiểm định chất lượng (được đề xuất bởi: PGS. TS Phùng Xuân Nhã, ThS. Đỗ Thị Ngọc Quyên; ThS. Nguyễn Viết Lộc – Trường ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội, 3.2.5.2 Với Bộ giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ - Cần rà soát, nghiên cứu thay đổi các chế độ chính sách liên quan tới tiền lương và các phụ cấp khác dành cho đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập. Nhằm hướng tới việc tăng thu nhập thực tế từ lương, tạo sự yên tâm cho đội ngũ giảng viên yên tâm gắn bó, công tác tại các trường. Các chính sách trả lương cho đội ngũviên chức cần gắn với thực tế của thị trường lao động, trên cơ sở đóng góp thực tế sức lao động của giảng viên đại học. - Bộ giáo dục cần sớm có các hướng dẫn liên quan tới chuẩn đội ngũ giảng viên ở các ngành nghề đặc thù, giúp cho các trường đại học thuận lợi cho công tác tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch giảng viên cũng như quá trình sử dụng, quản lý. Mức độ giao quyền tự chủ phù hợp theo căn cứ kiểm định chất lượng giáo dục Giao quyền tự chủ cho các trường đại học theo hướng kiểm định chất lượng giáo dục làm căn cứ, tuy nhiên Xây dựng chuẩn mực đầu ra theo hướng kiểm định chất lượng và giám sát sự tự chịu trách nhiệm của các trường, tuy vậy Chúng ta cần phải tránh tự chủ hình thức, tránh sự can thiệp quá sâu của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tính hie6u55 quả của sử dụng nguồn nhân lực trong các trường, do đó Chúng ta không muốn tự chủ bị trục lợi và chất lượng giáo dục yếu kém, nên chúng ta phải 109 - Xem xét điều chỉnh các quy định về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kèm théo đó là các cơ chế, chế độ chính sách dành cho công tác này. - Tham mưu, xây dựng và trình Chính phủ lộ trình hội nhập đại học Việt Nam với đại học trong khu vực và trên thế giới. Trong đó chú trọng các giải pháp để nâng tầng xếp hạng các đại học Việt Nam trong khu vực, Châu Á và trên thế giới. Từ đó làm cơ sở động lực cho các trường phấn đấu nâng cao chất lượng mọi mặt để đạt các chuẩn theo quy định. 3.2.5.3 Với bộ chủ quản (Bộ Xây dựng) - Bộ chủ quản đóng vai trò là cơ quan trực tiếp quản lý đội ngũ giảng viên tại các trường trực thuộc sự quản lý của Bộ, do đó, Bộ Xây dựng cần phải thường xuyên thực hiện công tác hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường thuộc Bộ Quản lý. - Xác định lại các tiêu chuẩn chuyên môn cũng như các tiêu chuẩn khác đối với đội ngũ giảng viên các trường trực thuộc trên cơ sở các tiêu chuẩn chung và tính đặc thù riêng của Bộ mình, từ đó đề nghị Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành hoặc phối hợp ban hành các quy định về tiêu chuẩn đối với đội ngũ giảng viên. - Đẩy mạnh công tác xây dựng, quy hoạch đội ngũ giảng viên các trường do Bộ quản lý, làm cơ sở cho các trường trực thuộc tiếp tục xây dựng chiến lược riêng của mình trên chiến lược chung của Bộ cũng như toàn ngành giáo dục trên toàn quốc. 110 Tiểu kết chương 3: Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học, các căn cứ pháp lý tại Chương 1. Đồng thời phân tích các thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam tại Chương 2. Từ đó, Chương 3 đã đặt ra các vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, thay đổi để hướng tới việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập nói chung và các trường đại học thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng. Các biện pháp, giải pháp cũng như kiến nghị tại Chương 3 liên quan tới nhiều chủ thể quản lý, vai trò trách nhiệm của các cấp, cũng như sự phối hợp đồng bộ các của các cơ quan, tổ chức và không loại trừ vai trò quan trọng của chính đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả về hoạt động quản lý nhà nước mà cả ba chương đã trình bày. Các giải pháp đặt ra ở chương 3 về hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng một phần cũng là những giải pháp đề nghị chung cho các trường đại học công lập trên toàn quốc. Với đặc thù là các trường nghệ thuật, năng khiếu, các trường thuộc Bộ Xây dựng ở Miền Nam cần có những đề xuất cụ thể thông qua thực tế trong hoạt động điều hành và quản lý đối với các cơ quan quản lý nhà nước, hướng tới sự hoàn thiện ổn định và lâu dài trong tương lai. 111 KẾT LUẬN Công tác quản lý nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng trong những năm qua đạt được các thành tựu quan trọng, trong đó, quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập là một phần nội dung không thể tách rời, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định theo các chiến lược phát triển giáo dục đại học mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập đã được các cơ quan, ban ngành ở tất cả các cấp cùng nghiên cứu để cho ra đời các chính sách, quy định cụ thể ở các lĩnh vực, nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ cho hoạt động quản lý, điều hành, từ đó mang lại các hiệu quả, hiệu lực quản lý, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở cấp đại học. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập, cùng với đó là việc phân tích các cơ sở pháp lý liên quan tới hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ này, chương 1 của luận văn đã làm rõ các nội dung liên quan tới giảng viên như tiêu chuẩn, vị trí, vai trò, quyền lợi, nghĩa vụ, các chế độ chính sách về lương, phụ cấp theo lương, khen thưởng và kỷ luậtvà các quy định của pháp luật điều chỉnh nhằm quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập hiện nay. Với những cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập được phân tích, làm rõ ở chương 1, qua chương 2, tác giả đã cố gắng phân tích thực trạng, dựa trên chủ yếu các hoạt động quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam. Từ đó phân tích các mặt ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế, bất cập mà quá trình tổ chức, quản lý đội ngũ giảng viên ở hai trường thuộc phạm vi nghiên cứu gặp phải. Nhiệm vụ cuối cùng của luận văn là đưa ra các kiến nghị, đề xuất các giải pháp ở từng nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập nói chung và giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ 112 Xây dựng ở khu vực Miền Nam nói riêng. Cơ sở đưa ra các kiến nghị và đề xuất các giải pháp là căn cứ trên các thực trạng được phân tích tại chương 2. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn, tác giả đã có gắng ở mức cao nhất để làm rõ các nội dung liên quan tới công tác quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập thuộc Bộ Xây dựng ở khu vực Miền Nam, từ đó phân tích các hạn chế và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các nội dung quản lý nhà nước về đội ngũ này trên phạm vi toàn quốc và trong phạm vi đề tài. Tuy nhiên vì sự hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, tổng hợp, phân tích các tài liệu nên chưa thể đi sâu làm rõ ở các nội dung chi tiết, cụ thể hơn. Do vậy, tác giả nghĩ các nội dung này cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể, đặc biệt là nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia giáo dục, chính sách công. Từ đó hoàn thiện ở mức cáo nhất các nội dung quản lý nhà nước đối với đội ngũ giảng viên các trường đại học công lập, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học trong giai đoạn mới hiện nay. Với những nội dung đã nghiên cứu được cũng như các hạn chế mà luận văn chưa thể trình bày, tác giả thành tâm mong muốn nhận được sự góp ý của Qúy Thầy, Cô trong Hội đồng để tác giả tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thành luận văn ở mức độ tốt nhất có thể./. 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Ban Cán sự Đảng – Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Hướng dẫn số 139-HD/BCSĐ ngày 19/09/2014 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về công tác qui hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội. [2] Ban Tổ chức Trung ương (2012), Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW, ngày 05 tháng 11 năm 2012 về Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI), Hà Nội. [3] Bộ Chính trị (2004), Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác quy hoạch cán bộ quản lý,lãnh đạo thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại học Đất nước, Hà Nội. [4] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2014), Thông tư số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV Thông tư liên tịch quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập, Hà Nội. [5] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2011), Thông tư liên tịch số 68/2011/TTLT- BGDĐT-BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 30/12/2011 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, Hà Nội. [6] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2015), Thông tư liên tịch số 29/2015/TTLT- BGDĐT-BNV-BTC-BLĐTBXH, ngày 20 tháng 11 năm 2015 về sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 68/2011/TTLT-BGDĐT- BNV-BTC-BLĐTBXH ngày 30/12/2011 của Bộ giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về 114 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 54/2011/NĐ- CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, Hà Nội. [7] Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Nội Vụ - Bộ Tài chính (2006), Thông tư liên tịch số 01/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV-BTC ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, Hà Nội. [8] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính (2013), Thông tư liên tịch 07/2013/TTLT-BGDĐT-BNV-BTC, ngày 08 tháng 03 năm 2013 hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương dạy thêm giờ đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập, Hà Nội. [9] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2015), Thông tư liên tịch số 28/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 06 tháng 11 năm 2015 về việc hướng dẫn thực hiện bổ nhiệm và xếp lương chức danh nghề nghiệp đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, Hà Nội. [10] Bộ Giáo dục và Đào Tạo (2005), Quyết định số 27/2005/QĐ-BGDĐT ngày 29 tháng 8 năm 2005 về Quy chế xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”, Hà Nội. [11] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Quyết định số 26/2005/QĐ- BGD&ĐT ngày 29 tháng 8 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp giáo dục”, Hà Nội. [12] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Thông tư số 07/2006/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 3 năm 2006 về Hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Hà Nội. [13] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quyết định số 65/2007/QĐ- BGDĐT 115 của Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 01/11/2007 về việc ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, Hà Nội [14] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 64/2008/QĐ- BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008 ban hành Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên, Hà Nội. [15] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về ban hành quy định về đạo đức Nhà giáo, Hà Nội. [16] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Nội vụ (2009),Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009 về hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo, Hà Nội. [17] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Thông tư số 36/2010/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 12 năm 2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên ban hành kèm theo Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28 tháng 11 năm 2008, Hà Nội. [18] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), Quyết định số 6639/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011 – 2020, Hà Nội. [19] Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Thông tư 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT ngày 06/62011 của Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách đối với giảng viên tại cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hà Nội. [20] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 18/2012/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 5 năm 2012 Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên ngành 116 nghệ thuật, sư phạm âm nhạc, sư phạm mỹ thuật, Hà Nội. [21] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 35/2012/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2012 về việc ban hành quy định đào tạo trình độ tiến sĩ theo đề án “Đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020”, Hà Nội. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư số 51/2012/TT- BGDĐT ngày 18/12/2012 quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dụcc đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội. [22] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, Hà Nội. [23] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Thông tư số 12/2013/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 4 năm 2013 ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học, Hà Nội. [24] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Thông tư số 20/2013/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 6 năm 2013 ban hành quy định về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên các cơ sở giáo dục đại học, Hà Nội. [25] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Thông tứ số 39/2013/TTBGDĐT ngày 04 tháng 12 năm 2013 về việc hướng dẫn thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục, Hà Nội. [26] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT- BGDĐT-BNV về tiêu chuẩn giảng viên đại học, Hà Nội. [27] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT về việc “Quy định chế độ làm việc đối với giảng viên”, Hà Nội. [29] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 quy định về thời gian làm việc của giảng viên, Hà Nội. 117 [30] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư 08/2014/TT-BGDĐT ngày 20/3/2014 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đại học vùng và cơ sở giáo dục đại học thành viên, Hà Nội. [31] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 12 năm 2015 “Quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh đối với các cơ sở giáo dục đại học”, Hà Nội. [32] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Thông tư số 35/2015/TT-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2015 về việc hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng ngành giáo dục, Hà Nội. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Thông tư 05/2016/TT-BGDĐT ngày 21 tháng 3 năm 2016 của Bộ giáo dục và Đào tạo quy định thời gian tập sự theo chức danh nghề nghiệp giáo viên, giảng viên, Hà Nội. [33] Bộ Nội vụ (2005), Thông tư số 03/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức, Hà Nội. [34] Bộ Nội vụ (2005), Thông tư số 04/2005/TT-BNV ngày 05/01/2005 hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung đối với cán bộ, công chức, viên chức, Hà Nội. [35] Bộ Nội vụ (2012), Thông tư 15/2012/TT-BNV hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức, Hà Nội. [36] Bộ Nội vụ (2012),Thông tư 16/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi tuyển, xét tuyển viên chức, quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức, Hà Nội. [37] Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 09/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ Quy định quy trình, nội dung thanh tra về tuyển dụng, sử dụng và quản lý 118 công chức, viên chức. Thông tư này quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra, Hà Nội. [38] Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 12/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức, Hà Nội. [39] Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 12/2012/TT-BNV quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức, Hà Nội. [40] Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số số 14/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội. [41] Bộ Nội vụ (2013), Thông tư số 08/2013/TT-BNV Hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động, Hà Nội. [42] Bộ Nội vụ (2014), Thông tư số 19/2014/TT-BNV ngày 04 tháng 12 năm 2014 quy định, hướng dẫn công tác đào tạo, bồi dưỡng viên chức, Hà Nội. [43] Bộ Nội vụ (2016), Thông tư số 05/2016/TT-BNV, ngày 10 tháng 6 năm 2016 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thực hiện mức lương cơ sở đối với các đối tượng hưởng lương, phụ cấp trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập củ Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, Hà Nội. [44] Bộ Xây dựng (2014), Thông tư 07/2014/TT-BNV, thông tư số 06/2015/TT-BXD ngày 30 tháng 10 năm 2015 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn công tác thi đua ngành Xây dựng, Hà Nội. [45] Chính phủ (2012), Chiến lược phát triển phát triển giáo dục việt nam giai đoạn 2011-2020, ban hành kèm theo quyết định số Quyết định số 711/QĐ- 119 TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội, [46] Chính phủ (2014), Quyết định số 70/QĐ-TTg ngày 10/12/2014 về việc ban hành Điều lệ Trường đại học, Hà Nội. [47] Chính phủ (1994), Quyết định số 202/TCCP-VC ngày 08/6/1994 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục vào đào tạo, Hà Nội. [48] Chính phủ (2003), Nghị định số 116/2003/NĐ-CP của Chính phủ về Tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước, Hà Nội. [49] Chính phủ (2004), Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Hà Nội. [50] Chính phủ (2005),Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng, Hà Nội. [51] Chính phủ (2005), Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập, Hà Nội. [52] Chính phủ (2006), Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội. [53] Chính phủ (2010), Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt đề án đào tạo giảng viên có trình độ Tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020, Hà Nội 120 [54] Chính phủ (2011), Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 quy định về chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, Hà Nội. [55] Chính phủ (2011), Quyết định số 1216/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội. [56] Chính phủ (2012), Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012, Hà Nội. [57] Chính phủ (2012), Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 về việc ban hành chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020, Hà Nội. [58] Chính phủ (2012), Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, Hà Nội. [59] Chính phủ (2012), Nghị định số 41/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, Hà Nội. [60] Chính phủ (2012), Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 04/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, Hà Nội. [61] Chính phủ (2013), Nghị định số 41/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục Đại học, Hà Nội. [62] Chính phủ (2013), Nghị định số 17/2013/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Hà Nội. [63] Chính phủ (2013),Nghị định 138/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục, Hà Nội. 121 [64] Chính phủ (2013), Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2016 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục, Hà Nội. [65] Chính phủ (2013), Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục đại học, Hà Nội. [66] Chính phủ (2013), Nghị định số 186/2013/NĐ-CP ngày 17/11/2013 về Đại học Quốc gia, Hà Nội [67] Chính phủ (2013), Nghị định số 66/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013 về việc quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Hà Nội. [68] Chính phủ (2013), Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2013 quy định tổ chức và hoạt động của Thanh tra giáo dục, Hà Nội. [69] Chính phủ (2014), Quyết định số 555/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2014, của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Xây dựng, Hà Nội. [70] Chính phủ (2015), Nghị định số 73/2015/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2015 Quy định về tiêu chuẩn phân tầng, khung xếp hạng và tiêu chuẩn xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, Hà Nội. [71] Chính phủ (2015), Nghị định số 27/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 3 năm 2015 Quy định về xét tặng danh hiệu “Nhà giáo nhân dân”, “Nhà giáo ưu tú”, Hà Nội. [72] Chính phủ (2016), Nghị định số 47/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, Hà Nội. [73] Chính phủ (2016),Quyết định số 163/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 01 năm 2016 về việc Phê duyệt đề án đào tạo cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020, Hà Nội. 122 [74] Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr 88, Hà Nội. [75] Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29, ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Hà Nội. [76] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn Quốc lần thứ XII, Hà Nội. [77] Đảng bộ Trường đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh (2015), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015-2020, TP. Hồ Chí Minh. [78] Quốc Hội (1998), Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998, Hà Nội. [79] Quốc Hội (2010), Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 thông qua tại kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, Hà Nội. [80] Quốc Hội (2013), số 39/2013/QH13 ngày 16 tháng 11 năm 2013 Sửa đổi một số điều của Luật thi đua khen thưởng, Hà Nội. [81] Quốc Hội (2012), Luật giáo dục đại học số 08/2012/QH13, Hà Nội. [82] Quốc Hội (2003), Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003, Hà Nội. [83] Quốc Hội (2003), Luật thi đua khen thưởng số 15/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2013, Hà Nội. [84] Quốc Hội (2005), Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/06/2005, Hà Nội. [85] Quốc Hội (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua 123 khen thưởng số 47/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2015, Hà Nội, [86] Quốc Hội (2010), Luật Viên chức, Hà Nội. [87] Sách “1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam” (1999), Nxb TP. HCM, tr. 119, Hà Nội. [88] Trường đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học“Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam”, TP. Hồ Chí Minh [89] Trường Hành chính Trung ương (1988), Những cơ sở khoa học và lý luận về quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 11, Hà Nội. [90] Trường Đại học Xây dựng Miền Tây (2016), Quyết định số 80/ĐHXDMT ngày 23 tháng 3 năm 2016 về việc Quy định chính sách thu hút người có học hàm, học vị về công tác tại trường đại học Xây dựng Miền Tây, Vĩnh Long. [91] Cao Văn Phường (2010),“Phân tầng mục tiêu đào tạo trong trường đại học”. Đã từng có một đại học mở như vậy, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội [92] Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, tr. 10, Hà Nội. [93] Phạm Viết Vượng (2007), Chủ biên, Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước và quản lý ngành giáo dục và đào tạo, Nxb Đại học Sư phạm, tr. 40, Hà Nội. [94] Nguyễn Như Ý (1998), chủ biên, Đại từ điển tiếng việt, NXB Văn hóa – Thông tin, tr. 1363, Hà Nội. [95] Website Bộ Xây dựng: ( [96] Website Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), hoc.aspx, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_doi_voi_doi_ngu_giang_vien_cac_tru.pdf
Luận văn liên quan