Luận văn Tăng cường kiểm soát chi ngân sách xã qua Kho bạc nhà nước Thạch Thất

Tăng cường công tác KSC ngân sách xã qua KBNN là một trong những vấn đề rất cần thiết góp phần sử dụng hiệu quả, đúng mục đích NSNN. Đồng thời làm lành mạnh nền tài chính, nâng cao tính công khai, minh bạch, dân chủ trong việc sử dụng NSNN nói chung và NSX nói riêng. Đổi mới công tác kiểm soát chi NSNN đã trở thành công cụ quan trọng của nhà nước trong việc quản lý, điều hành NSNN, góp phần ổn định nền kinh tế, tài chính, tiền tệ , kiềm chế lạm phát, giả quyết vấn đề an sinh xã hội, đáp ứng được nhu cầu trong quá trình đổi mới chính sách tài chính của nước ta khi hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với kết cấu 3 chương, đề tài: “ Tăng cường kiểm soát chi ngân sách xã qua KBNN Thạch Thất” đã giải quyết được một cách cơ bản những yêu cầu đặt ra, thể hiện những nội dung chủ yếu sau đây: Từ những vấn đề lý luận chung về chi NSNN nói chung, chi NSX nói riêng và kiểm soát chi NSNN, NSX qua KBNN; trên cơ sở phân tích thực trạng công tác KSC ngân sách xã gồm chi thường xuyên và chi đầu tư NSX qua KBNN Thạch Thất luận văn đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường công tác KSC thường xuyên và KSC đầu tư NSX qua KBNN Thạch Thât. Công tác KSC ngân sách xã qua KBNN là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau và đơn vị sử dụng ngân sách, đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu công phu và toàn diện. Các giải pháp phải có tính hệ thống và xuyên suốt, cần phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cơ chế chính sách, từ Luật đến các văn bản hướng dẫn và trong những điều kiện thực tế.

pdf111 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 31/07/2018 | Lượt xem: 500 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tăng cường kiểm soát chi ngân sách xã qua Kho bạc nhà nước Thạch Thất, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
y định chế độ kiểm soát chi thường xuyên còn chồng chéo, đôi khi mâu thuẫn nhau; nội dung quy định chưa cụ thể, còn chung chung có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn đến thực hiện thiếu thống nhất. Văn bản chưa bao quát hết các nội dung nên còn khe hở để các đơn vị sử dụng NSNN có cơ hội lợi dụng. - Việc ban hành các văn bản hướng dẫn còn chậm. sau khi luật được ban hành phải chờ khá lâu nghị định, thông tư hướng dẫn. Với những văn bản đòi hỏi phải có hướng dẫn của địa phương thì được thực hiện chậm hơn rất nhiều, đặc biệt nội dung hướng dẫn của địa phương có lúc còn trái với quy định của cấp trên làm cho Kho bạc gặp nhiều lúng túng trong thực hiện. Thứ hai, hệ thống định mức chi tiêu của Nhà nước đối với NSX vừa thiếu vừa lạc hậu. Hệ thống tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trong chi NSX thời gian qua đã được các cơ quan chức năng nghiên cứu bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, hệ thống tiêu chuẩn, định mức vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, NSX ít được quan tâm, thiếu căn cứ để đơn vị sử dụng NSX xây dựng dự toán, không đủ cơ sở để Kho bạc kiểm soát chi và khó khăn cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán xác định tính đúng đắn của các khoản chi. Thứ ba, ý thức tự giác chấp hành luật của đơn vị sử dụng NSX chưa cao. Trong xây dựng dự toán chi, luôn có khuynh hướng xây dựng cao hơn nhiều so với nhu cầu thực tế, dẫn đến chất lượng dự toán thấp. Trong chấp hành dự toán, luôn tìm cách khai thác những sơ hở trong các chế độ chi tiêu để lách , từ đó dẫn đến lãng phí, kém hiệu quả trong sử dụng NSX. Thứ tư, thiếu các biện pháp, chế tài xử lí đối với những vi phạm trong việc chấp hành chế độ chi tiêu NSNN dẫn đến thủ trưởng đơn vị sử dụng NSX thiếu trách nhiệm khi ra quyết định chuẩn chi; các khoản từ chối cấp phát của Kho bạc Thang Long University Libraty 75 đối với những khoản chi sai chế độ chỉ mang tính hình thức, vì đơn vị dễ dàng hợp thức hoá các khoản chi sai bằng những nội dung chi khác, bằng những chứng từ, hoá đơn khác phù hợp hơn. Thứ năm, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành ở địa phương trong công tác kiểm soát chi NSX còn nhiều hạn chế. Việc phân định nhiệm vụ và quyền hạn giữa các cơ quan quản lý còn chưa rõ ràng, chung chung, còn trùng lặp và chồng chéo. Đặc biệt, chưa có sự phối hợp giữa Cơ quan Tài chính và Kho bạc trong việc triển khai, hướng dẫn thực hiện các văn bản mới có liên quan đến công tác chi và kiểm soát chi NSX vì vậy dẫn đến tình trạng chế độ quy định có rồi nhưng đơn vị không biết để thực hiện. Thứ sáu, thói quen sử dụng tiền mặt của các đơn vị sử dụng NSX còn cao nên việc chi bằng tiền mặt tại đơn vị các xã còn khá phổ biến điều này vừa vi phạm nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho đối tượng cung cấp hàng hoá, dịch vụ vừa làm tăng các khoản chi phí liên quan đến thanh toán bằng tiền mặt (chi phí in ấn, phát hành, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm...). Thứ bảy, trình độ năng lực của cán bộ kế toán ở một số xã còn rất hạn chế. Cán bộ kế toán xã, thị trấn thường yếu về nghiệp vụ lại thay đổi thường xuyên nên thiếu kiến thức chuyên môn về công tác kế toán. Do vậy, khả năng nhận thức về luật và các văn bản chế độ về quản lý chi tiêu NSX là rất hạn chế. Từ đó, khả năng tham mưu cho thủ trưởng trong việc xây dựng dự toán và thực hiện chế độ chi tiêu của đơn vị sao cho phù hợp với chế độ do cơ quan chức năng ban hành là rất thấp và việc kiểm soát các khoản chi tại đơn vị cho đúng chế độ là rất khó khăn và kém hiệu quả. Về quản lý đầu tư XDCB do một số xã chưa bố trí cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý đầu tư, chưa nắm bắt kịp thời những thay đổi về công tác quản lý ĐTXD nên đôi khi chưa tuân thủ đúng quy trình hoặc sử dụng những văn bản đã hết hiệu lực 76 * Những nguyên nhân chủ quan : Một là, Lực lượng cán bộ nghiệp vụ KBNN nói chung, trong đó đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm soát chi NSNN nói riêng còn thiếu. Số lượng cán bộ ít ( thường xuyên tổ kế toán chỉ có 6-7 đồng chí) trong khi số đầu mối đơn vị giao dịch tại KBNN Thạch Thất có xu hướng tăng. Một cán bộ phải quản lý trên 40 đơn vị giao dịch và kiêm nhiệm nhiều việc nên đôi khi kết quả công việc còn chưa cao. Năng lực của một số cán bộ làm công tác kiểm soát chi của kho bạc còn hạn chế. Còn có tình trạng cán bộ Kho bạc nể nang, ngại va chạm trong công tác kiểm soát chi, bỏ qua những việc làm sai hoặc thiếu thủ tục của đơn vị sử dụng ngân sách. Nhiều cán bộ chưa đáp ứng được trình độ Khoa học công nghệ hiện đại, chưa sử dụng thành thạo và triệt để các máy móc, thiết bị nên hiệu quả công việc chưa cao. Hai là, Việc tổ chức sắp xếp bộ máy kiểm soát chi của KBNN Thạch thất còn chưa phù hợp với cơ chế cải cách hành chính hiện nay. Ba là, việc tin học hoá trong công tác quản lý ngân sách nói chung và kiểm soát chi thường xuyên nói riêng còn chưa theo kịp yêu cầu của Luật NSNN sửa đổi. Hiện nay đang vận hành chương trình quản lý thôn tin ngân sách và KBNN TABMIS đã khai thác tốt chương trình tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được việc cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác về tình hình chi NS cho lãnh đạo chính quyền các cấp và cơ quan tài chính trong việc điều hành NSNN. ******************************** Thang Long University Libraty 77 CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH XÃ QUA KBNN THẠCH THẤT 3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT CHI NSX QUA KBNN THẠCH THẤT 3.1.1. Mục tiêu kiểm soát chi qua KBNN Thạch Thất KBNN Thạch Thất nói riêng và hệ thống KBNN nói chung thực hiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt với mục tiêu tổng quát là : “Xây dựng KBNN hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển ổn định vững chắc trên cơ sở cải cách thể chế, chính sách, hoàn thiện tổ chức bộ máy, gắn với hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực để thực hiện tốt các chức năng: quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ và quản lý nợ Chính phủ; tăng cường năng lực, hiệu quả và tính công khai, minh bạch trong quản lý các nguồn lực tài chính của Nhà nước trên cơ sở thực hiện tổng kế toán nhà nước. Đến năm 2020, các hoạt động KBNN được thực hiện trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại và hình thành Kho bạc điện tử”. [12] Để thực hiện được mục tiêu trên, KBNN đã trình Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện các đề án và cơ chế chính sách thực hiện chiến lược phát triển KBNN trong đó nội dung chủ yếu là: Quản lý quỹ Ngân sách nhà nước với mục tiêu đổi mới toàn diện về cơ chế chính sách và quy trình nghiệp vụ theo hướng đơn giản, hiện đại, công khai, minh bạch và phù hợp với thông lệ Quốc tế. Nhằm thưc̣ hiêṇ tốt muc̣ tiêu trên, mục tiêu cụ thể nhằm tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN nói chung và NSX nói riêng qua KBNN Thạch Thất là: * Đối với kiểm soát chi thường xuyên : Một là, Đảm bảo tất cả các khoản chi ngân sách đều được kiểm soát chặt chẽ qua KBNN theo quy định. 78 Hai là, Cơ chế kiểm soát chi NSNN phải đạt được mục tiêu kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng và đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định. Ba là, Kiểm soát các hồ sơ, chứng từ và thực hiện thanh toán các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quy định,phân điṇh rõ trách nhiệm, quyền hạn của người chuẩn chi và KBNN. Bốn là, Quy trình thủ tục kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo tính khoa học, đơn giản, rõ ràng, công khai và minh bạch. * Đối với kiểm soát chi đầu tư : Một là, cải cách thủ tục hành chính trong công tác kiểm soát chi NSNN theo hướng thống nhất quy trình đảm bảo đơn giản rõ ràng, minh bạch về hồ sơ, chứng từ; hiện đại hóa công nghệ thông tin, thực hiện kiểm soát chi một cửa và xây dựng chuẩn ISO để áp dụng trong hoạt động. Hai là, thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính trong việc kiểm soát chi NSNN theo Nghị quyết quyết của Quốc Hội, Chính phủ về việc điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước hàng năm, tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà và Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương, Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 về việc tăng cường thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Ba là, Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn nhưng vẫn đảm bảo các khoản chi tiêu đúng đối tượng, đúng nội dung của dự án đã được phê duyệt, theo đúng định mức, đơn giá và các quy định hiện hành. 3.1.2. Định hướng kiểm soát chi NSX qua KBNN Thạch Thất Để đạt được những mục tiêu trên, công tác kiểm soát chi NSNN trong thời gian tới cần được hoàn thiện theo những định hướng cơ bản sau: Thang Long University Libraty 79 Một là: Hoàn thiện phương thức cấp phát NSNN theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước theo Luật NSNN. Việc thực hiện phương thức cấp phát này dựa trên cơ sở coi dự toán chi NSX sau khi đã được HĐND phê chuẩn là bắt buộc. UBND xã và các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm ngặt, đảm bảo mọi khoản chi phải có trong dự toán và theo đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Dự toán chi NSX là giới hạn tối đa mà các đơn vị được chi kể cả về tổng mức và cơ cấu chi. Nguyên tắc này đòi hỏi một sự tuân thủ tuyệt đối quy định về mục lục NSNN trong cả chu trình ngân sách từ khâu lập, chấp hành và kế toán quyết toán NSX, đồng thời là căn cứ để hoàn thiện các phương thức cấp phát ngân sách hiện hành. Việc kiểm soát chi theo dự toán đòi hỏi KBNN phải kiểm tra, kiểm soát một cách chặt chẽ các khoản chi của đơn vị và kiên quyết từ chối thanh toán những khoản chi không có trong dự toán được duyệt hoặc không đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ đã được quy định. Hai là: Đề xuất và tham gia với các cơ quan chức năng về việc ban hành văn bản cần rõ ràng, hạn chế sự chồng chéo giữa văn bản này với văn bản khác, giữa chỉ đạo của cấp trên với văn bản hướng dẫn của cấp dưới, làm cho người thực hiện khó áp dụng. Khi chế độ tiêu chẩn định mức có thay đổi đề nghị UBND huyện và cơ quan tài chính và KBNN cần có tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ để kế toán đơn vị, cũng như cán bộ KBNN làm công tác kiểm soát chi nắm vững chế độ tiêu chuẩn định mức. Các đơn vị sử dụng ngân sách cần xây dựng qui chế chi tiêu của đơn vị mình phù hợp với điều kiện thực tế tại đơn vị và tuân theo các quy định chung của Nhà nước để nâng cao chất lượng kiểm soát theo quy chế chi tiêu đã xây dựng. Ba là: Nâng cao chất lượng cán bộ KBNN nói chung và cán bộ làm công tác kiểm soát chi nói riêng, quan tâm đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ có năng lực và trình độ chuyên môn cao; thực hiện quản lý cán bộ theo khối lượng và chất 80 lượng công việc được giao; quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm vật chất của cán bộ trên từng vị trí công tác; sắp xếp và hợp lý hóa nguồn nhân lực tại cơ quan phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý mới của Kho bạc Nhà nước, cải tiền quy trình kiểm soát chi theo hướng đơn giản, gọn nhẹ giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, nâng cao hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên, góp phần làm lành mạnh nền tài chính quốc gia. Kiểm soát chi NSX được thực hiện theo luật và các văn bản hướng dẫn chi tiết về việc phân cấp quản lý, chấp hành và quyết toán NSNN Bộ Tài Chính đã hướng dẫn về việc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN như: - Tất cả các khoản chi NSNN cần được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán Nhà nước đã duyệt, theo đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được Thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí ngân sách chuẩn chi. - Các cơ quan, đơn vị, chủ dự án sử dụng kinh phí NSX phải mở tài khoản tại KBNN và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Tài chính – KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán, hạch toán kế toán và quyết toán NSX. - Phòng tài chính có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo kế quả thẩm định dự toán cho đơn vị sử dụng kinh phí NSX, kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi NSX. - KBNN có trách nhiệm kiểm soát hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo quy định, tham gia với cơ quan Tài Chính và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSX và xác nhận số thực chi NS của các xã qua KBNN Thạch Thất kiểm soát. - Nâng cao chất lượng hoạt động KBNN với tư cách là cơ quan quản lý, điều hành quỹ NSNN Thang Long University Libraty 81 - KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thông báo cho đơn vị sử dụng kinh phí NSX biết, đồng thời gửi cho các cơ quan Tài chính cùng cấp giải quyết trong các trường hợp như: + Chi không đúng theo mục đích, đối tượng mà dự toán đã được duyệt. + Chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn ,định mức mà nhà nước quy định. + Không đủ các điều kiện chi theo đúng quy định. + Tồn quỹ ngân sách không còn đủ khả năng thanh toán. - Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và theo mục lục NSNN. Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật hay ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. - Trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSX thì các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi. Căn cứ vào quyết định của cơ quan Tài chính hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện thu hồi giảm chi NSX. - Quản lý, cấp phát thanh toán các khoản chi đầu tư theo quy định hiện hành đảm bảo kinh phí được sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. - Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính trong việc điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước hàng năm, tăng cường kiểm soát chi đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước cấp xã những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương, Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 về việc tăng cường thực hành tiết kiệm chống lãng phí. 3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NSX QUA KBNN THẠCH THẤT Để nâng cao chất lượng kiểm soát và tăng cường kiểm soát chi NSX qua KBNN Thạch Thất trong thời gian tới cần tập trung một số giải pháp sau: 82 3.2.1. Phân công rõ ràng trách nhiệm phối hợp kiểm soát chi NSX * Đối với đơn vị thụ hưởng ngân sách xã ( chịu trách nhiệm là UBND xã) phải chịu trách nhiệm trong suốt quá trình gồm trước, trong và sau khi chi tiêu sao cho đảm bảo sử dụng kinh phí đúng định mức tiêu chuẩn, đúng chính sách chế độ, tiết kiệm và mang lại hiệu quả cao nhất. Đơn vị thụ hưởng nói ở đây là đơn vị trực tiếp chi tiêu ngân sách . Vấn đề kiểm soát chi trước tại đơn vị thụ hưởng NSX thông qua bộ phận kế toán của ngân sách xã. Vì vậy việc nâng cao chất lượng của bộ phận này là vấn đề cần thực hiện ngay. Đơn vị thụ hưởng phải gửi đến KBNN những chứng từ, hoá đơn hợp lệ, thực hiện lưu giữ chứng từ, hạch toán kế toán, lập báo cáo quyết toán chi NSX gửi cơ quan tài chính và KBNN theo đúng quy định về nội dung và thời gian thực hiện. Mặt khác, phòng tài chính huyện cần nghiên cứu để có các văn bản, chế tài đối với các xã trong trường hợp các đơn vị này không thực hiện đúng theo quy định kiểm soát chi. - Đối với cơ quan Tài chính chịu trách nhiệm kiểm soát trong suốt quá trình chi tiêu ở khâu xét duyệt dự toán, khâu theo dõi tiến độ chi tiêu để đáp ứng bổ sung cân đối kịp thời hoặc thu hồi vốn chi sai hoặc tạm dừng cấp phát ở khâu kế toán, quyết toán ngân sách. Quyết toán ngân sách xã giữ vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình hình chấp hành ngân sách của xã theo dự toán ngân sách đã được UBND huyện giao và HĐND xã phê chuẩn. Đồng thời thông qua quyết toán ngân sách xã thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc chi tiêu sau cấp phát. Công tác quyết toán NSX phải được thực hiện theo quy định của luật NSNN. Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kế toán, bảo đảm số liệu trong báo cáo quyết toán trung thực, khách quan, chính xác. Nội dung báo cáo quyết toán NSX phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được giao và phải chi tiết theo MLNSNN. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ kế toán NSX đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ chuyên quản theo dõi các xã, việc này là rất cần Thang Long University Libraty 83 thiết và quan trọng vì nó có tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản lý NSX. Đối với KBNN : chủ yếu kiểm soát trong khi chi nghĩa là xuất tiền từ kho bạc cho đơn vị thụ hưởng, ở khâu kiểm tra này nhà nước phải ban hành đầy đủ đồng bộ các chế độ, định mức tiêu chuẩn cụ thể làm căn cứ đối chiếu đúng sai để KBNN quyết định xuất quỹ chi tiêu cho đơn vị. Để thực hiện nhiệm vụ này kho bạc yêu cầu NSX phải gửi đầy đủ các hồ sơ, chứng từ đảm bảo các điều kiện chi theo quy định. Như vậy KBNN có trách nhiệm kiểm soát hồ sơ chứng từ chi và thanh toán chi trả kịp thời khi đủ điều kiện, tham gia với cơ quan tài chính và các cơ quan khác trong việc kiểm tra sử dụng NSX khi có yêu cầu, xác nhận số thực chi qua KBNN, từ chối thanh toán các khoản chi không đúng đối tượng , không đủ điều kiện theo quy định, tạm ứng thanh toán chi trả theo yêu cầu của phòng tài chính huyện. 3.2.2. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong kiểm soát chi NSX Cần có sự tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc thường xuyên của chính quyền UBND huyện và cơ quan quản lý NSX là phòng tài chính huyện. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng tài chính và KBNN huyện trong quá trình thực hiện NSX nhằm phát hiện và điều chỉnh kịp thời những sai sót quá trình thực hiện để việc quản lý và chi tiêu NSX đúng quy định và có hiệu quả tránh tình trạng đến hết năm quyết toán ngân sách mới phát hiện. Về công tác quản lý vốn đầu tư của NSX còn bị buông lỏng, chưa có sự kiểm tra, quản lý, giám sát thường xuyên của chính quyền cấp huyện và phòng tài chính dẫn đến vốn đầu tư NSX còn hạn chế, kém hiệu quả hoặc đầu tư dàn trải dẫn đến nợ đọng vốn ĐTXDCB kéo dài. 84 3.2.3. Tăng cường kiểm soát chi thường xuyên Thứ nhất, Cần tiếp tục xây dựng bổ sung, hoàn thiện các văn bản về kiểm soát chi NSX bằng hình thức chi theo dự toán từ KBNN. Ban hành các qui định cụ thể về quy trình thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng ngân sách, vừa đảm bảo quản lý ngân sách một cách chặt chẽ và hiệu quả. Đẩy nhanh và đưa công tác kiểm soát chi theo dự toán được duyệt đi vào nề nếp: Quy trình kiểm soát chi theo dự toán được duyệt dựa trên phương thức cấp phát NSX theo dự toán chi NS đã được UBND huyện giao trong đó chi tiết gồm : thu ngân sách trong năm là bao nhiêu, (trong đó bao gồm : thực thu NSNN trên địa bàn xã và sô bổ sung NS từ cấp trên là bao nhiêu), chi ngân sáchxã trong năm là bao nhiêu trong đó chi tiết cho từng nội dung gồm chi lương, phụ cấp, chi hoạt động hành chính, chi cho các khối Đảng, đoàn thể trên địa bàn xã. Trên cơ sở dự toán thu- chi ngân sách xã được giao trong năm, UBND xã xây dựng phương án phân bổ dự toán cho từng ngành, đơn vị, đoàn thể thụ hưởng NSX nằm trong hệ thống chính quyền, đoàn thể ở địa phương xã để trình HĐND xã phê duyệt. Thứ hai, Nâng cao chất lượng dự toán chi NSX Dự toán chi NSX chính là căn cứ Pháp lý để các cơ quan, ban ngành của chính quyền địa phương xã thực hiện nhiệm vụ chi NSX và cũng chính là căn cứ để KBNN thực hiện chức năng kiểm soát chi NSX. Chính vì vậy nâng cao chất lượng dự toán chi NSX cần chú trọng vào một số vấn đề chính như: - Cần xác định rõ yêu cầu, quy trình trong việc lập, xét duyệt và phân bổ dự toán chi NSX cho các phòng, ban ngành, đoàn thể trong chính quyền xã để yêu cầu các ban,ngành, các đoàn thể có trách nhiệm chấp hành dự toán được giao. Để quá trình quản lý, kiểm soát chi NSX được thuận lợi thì việc lập, duyệt và phân bổ dự toán NSX phải được thực hiện đầy đủ, kịp thời và công khai. Yêu cầu có tính nguyên tắc và bắt buộc hiện nay là các cơ quan, đơn vị phải có dự toán chi NSX thì mới được KBNN cấp phát kinh phí. Thang Long University Libraty 85 - Dự toán chi NSX cần phải được xây dựng trên cơ sở cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và khối lượng công việc phải thực hiện trong năm để xây dựng dự toán bảo đảm sẽ phản ánh một cách toàn diện các khoản chi để không có hiện tượng bị sai sót, trùng lặp. Các đơn vị sử dụng NSX căn cứ vào nhiệm vụ được giao và định mức chi tiêu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để lập dự toán năm.Dự toán chi cần được xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá hiệu quả của các khoản chi; đòi hỏi phải chi tiết; tiến tới mọi khoản chi NSNN đều phải được xác định một cách chi tiết, khoa học, sát với thực tế cuộc sống để tránh tình trạng trong quá trình chấp hành dự toán chi, đơn vị phải xin bổ sung hoặc điều chỉnh dư toán nhiều lần. Thứ ba, Nên có một cơ chế giao khoán chi thường xuyên cho NSX nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc chi tiêu công của UBND các xã và các ban ngành thụ hưởng NSX để tránh tình trạng chi vượt dự toán được giao hoặc để nợ chi thường xuyên từ năm này sang năm khác. Thứ tư, Yêu cầu về hồ sơ, chứng từ thanh toán: Có thể nói công tác kiểm soát chi qua KBNN phụ thuộc chủ yếu vào kết quả của sự kiểm soát điều kiện này của mức độ nào. Đây là một yêu cầu rất quan trọng mà yêu cầu hệ thống KBNN cần triển khai phù hợp hơn. Các khoản chi phải có đầy đủ chứng từ thanh toán hợp pháp, hợp lệ chứng minh nghiệp vụ kinh tế phát sinh, trên chứng từ phải ghi đầy đủ các yếu tố và nội dung trên chứng từ phù hợp với nội dung kinh tế phát sinh, xử lý đúng liên quy định, chứng minh được việc sử dụng ngân sách là đúng nội dung, số lượng, số tiền và chứng từ đó phải mang đến kho bạc để kiểm tra thanh toán. Hiện nay theo thông tư 161/2012/TT-BTC cán bộ kiểm soát chi khi kiểm soát khoản chi mua sắm hàng hoá không có hợp đồng, KBNN kiểm soát chi theo bảng kê chứng từ thanh toán nhằm tăng cường tính chủ động cho đơn vị và giảm thủ tục hành chính. Mặt khác đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước vẫn tạm ứng chi hành chính và kê 86 chứng từ để thanh toán tạm ứng thường xuyên. Điều này gây khó khăn trong việc kiểm soát chi NSX mà thực chất là kiểm soát trên bảng kê chứng từ thanh toán. Để tiết kiệm thời gian, thanh toán đúng, nhanh chóng cho khách hàng nên chia nhỏ các khoản chi từ NSX để KBNN kiểm soát trên mặt các chứng từ chi NSX.Thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc chuẩn chi của mình. - Đối với các khoản chi mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn tài sản: Cần phải có quy định cụ thể tính chất sửa chữa như thế nào, giá trị bao nhiêu thì được xem là sửa chữa nhỏ hay giá trị bao nhiêu thì được xem là sửa chữa lớn vì thủ tục kiểm soát chi đối với hai nội dung chi này là hoàn toàn khác nhau. Đồng thời quy định rõ hồ sơ, thủ tục thanh toán đối với các khoản chi về xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn các công trình có tính chất xây dựng. Thứ năm,Tăng cường thanh toán trực tiếp từ KBNN cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt. Hoàn thiện cơ chế thanh toán không sử dụng tiền mặt đối với chi NSX. Chấp hành tốt quy định thanh toán không dùng tiền mặt theo thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ tài chính Quy định về quản lý thu, chi bằng tiền mặt qua hệ thống Kho bạc Nhà nước. Áp dụng quy trình cấp phát NSX trực tiếp từ KBNN đến người cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Tăng cường phương thức thanh toán, mở rộng việc ứng dụng các hình thức thanh toán tiên tiến, khoa học như thanh toán điện tử, thẻ tín dụng, đồng thời phải quy định chặt chẽ và hạn chế thanh toán bằng tiền mặt. Áp dụng triệt để quy trình cấp phát trực tiếp NSX qua KBNN đến người cung cấp hàng hóa dịch vụ. Thanh toán trực tiếp cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ, cá nhân thụ hưởng NSNN bằng hình thức chuyển khoản vừa an toàn vừa giảm được các chi phí liên quan đến quản lý liền mặt như kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản... đồng Thang Long University Libraty 87 thời, góp phần kiểm soát thu nhập cá nhân, hạn chế tiêu cực, lãng phí trong chi tiêu NSX. Để làm tốt điều này cần phải thực hiện một số vấn đề sau: - Ban hành quy định cụ thể buộc tất cả các cá nhân, đơn vị có đăng ký sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ phải mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng. Đồng thời, cần quy định các đơn vị sử dụng NSNN khi mua hàng hoá dịch vụ với số tiền ở một mức nào đó thì bắt buộc phải mua của người bán có tài khoản tại Ngân hàng. - Mở rộng thanh toán qua tài khoản thẻ ATM tất cả các khoản chi cho cá nhân như lương, phụ cấp lương, tiền công lao động, học bổng, sinh hoạt phí Để làm tốt được điều này, cần có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương trong việc quy định bắt buộc các đơn vị có điều kiện phải thực hiện thanh toán qua thẻ ATM, trước mắt là đối với các đơn vị trên địa bàn thị xã, thị trấn. Đồng thời, có biện pháp tác động đến hệ thống ngân hàng để mở rộng mạng lưới máy ATM tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng. - Quy định chế độ kiểm soát hoá đơn bán hàng. Để tránh tình trạng này, cần phải ban hành chế độ quy định cụ thể những khoản mua sắm có tính chất như thế nào, giá trị là bao nhiêu thì phải sử dụng hoá đơn tài chính và những khoản mua sắm như thế nào thì được sử dụng hoá đơn bán lẻ thông thường. Về giá cả ghi trên hoá đơn, cần phải có quy định kiểm soát chặt chẽ, có cơ sở để Kho bạc đối chiếu kiểm soát chi. Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định Kho bạc phải thẩm định giá thực tế của hàng hoá do các đơn vị sử dụng NSNN mua. Kho bạc chỉ kiểm soát giá trên cơ sở phiếu báo giá và giá ghi trên hoá đơn bán hàng do người bán cung cấp. Mà giá trên phiếu báo giá và hoá đơn thì không ai quản lý, nó có thể lớn hơn giá bán thực tế rất nhiều. Về phía cơ quan thuế, cần có biện pháp quản lý đơn vị bán hàng để các đơn vị này không xuất hoá đơn khống hoặc ghi giá trên hoá đơn cao hơn giá bán thực tế nhằm giúp đơn vị sử dụng NSNN tham ô tiền của Nhà nước. 88 Thứ sáu, cần có chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kiểm soát chi ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước để nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi Trong những năm qua KBNN Thạch Thất thông qua công tác KSC thường xuyên NSX đã phát hiện và từ chối thanh toán hàng trăm triệuđồng các món chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, qua đó góp phần vào việc duy trì nề nếp trong quản lý chi NSNN. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hiệu quả công tác KSC thường xuyên NSX qua KBNN Thạch Thất vẫn còn những vấn đề cần bàn, nhất là việc xử lý các trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực KSC. Thực trạng công tác KSC thường xuyên hiện nay tại KBNN Thạch Thât chỉ mới dừng lại ở phạm vi hướng dẫn hồ sơ để thực hiện đúng luật. Nhiều trường hợp chi sai nhưng không xử lý đứt điểm do chưa có chế tài xử phạt vi phạm, điều đó dẫn đến bất cập tạo sự chủ quan cho các đơn vị; một số đơn vị chưa chú trọng đúng mức hồ sơ, chứng từ của đơn vị mình, mang đến KBNN Thạch Thất kiểm tra và dựa vào kết quả trả lời của KBNN Thạch Thất để hoàn chỉnh hồ sơ. Hơn nữa làm cho khối lượng công việc tại Kho bạc tăng lên đáng kể, nhiều trường hợp sai sót rất bình thường nhưng vẫn lặp đi, lặp lại gây mất nhiều thời gian. Hiên nay Bộ tài chính đã ban hành thông tư 54/2014/TT-BTC ngày 24/4/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KBNN theo quy định tại Nghị định 192/2013/ND-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014. Đây cũng là một chế tài nhằm củng cố kỷ luật tài chính để các đơn vị sử dụng NSNN cần phải thực hiện tốt và công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN được tăng cường giúp cho việc sử dụng NSNN của các đơn vị được tiết kiệm và có hiệu quả hơn. Thang Long University Libraty 89 3.2.4. Tăng cường kiểm soát chi đầu tư Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế cấp phát và KSC đầu tư xây dựng cơ bản: Việc hoàn thiện cơ chế cấp phát và kiểm soát chi đầu tu xây dựng cơ bản cần xuất phát từ những nội dung chủ yếu như : Quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư trước hết cần phải được kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ thanh toán. Nội dung và phạm vi kiểm soát của KBNN cần được xác định cụ thể đối với từng loại hồ sơ khác nhau. Cụ thể như: - Hồ sơ ban đầu: Cần được kiểm tra theo những nội dung như sự đầy đủ của hồ sơ; tính pháp lý của hồ sơ, hồ sơ cần đúng mẫu biểu, đúng trình tự và phương pháp ghi chép các chỉ tiêu, cấp phê duyệt...đảm bảo sự logic về thời gian thực hiện theo đúng quy định. - Hồ sơ từng lần thanh toán: Ngoài việc kiểm tra sự đầy đủ, tính pháp lý và mối quan hệ giữa các hồ sơ cũng như việc kiểm tra hồ sơ ban đầu thì việc kiểm tra hồ sơ thanh toán từng lần cần chú ý đến các chỉ tiêu như: Đối với các khoản chi thanh toán theo dự toán, yêu cầu phải kiểm tra và đối chiếu nội dung thanh toán với dự toán đã được duỵêt, áp dụng định mức đơn giá tránh tình trạng chủ đầu tư chi vượt đơn giá, định mức, sai khối lượng - Hồ sơ thanh toán lần cuối: + Đối với các công trình, hạng mục công trình chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư đã hoàn thành thì việc kiểm soát tương tự như kiểm soát hồ sơ thanh toán từng lần. + Đối với những công trình, hạng mục công trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành thì cần phải rà soát lại đối với những khoản trước đây đã từ chối thanh toán còn có trong quyết toán được duyệt hay không; việc áp dụng định mức, đơn giá đối với những khối lượng chưa được thanh toán cần hợp lý. 90 Cùng với việc hoàn thiện phạm vi và nội dung kiểm tra, KBNN cũng cần hoàn thiện việc luân chuyển hồ sơ, chứng từ; cụ thể như tất cả các hồ sơ, chứng từ thanh toán vốn đầu tư do các chủ đầu tư hoặc ban quản lý của các dự án gửi đến KBNN đều phải được tập trung vào bộ phận thanh toán vốn đầu tư. Khi nhận được hồ sơ, chứng từ thì cán bộ thanh toán sẽ tiến hành xử lý và báo cáo để lãnh đạo KBNN duyệt. Sau khi hồ sơ đã được lãnh đạo phê duyệt thì cán bộ thanh toán sẽ chuyển hồ sơ, chứng từ sang bộ phận kế toán để làm thủ tục chuyển tiền thanh toán cho các đơn vị sử dụng. - Cần đơn giản hoá thủ tục, hồ sơ thanh toán nhằm rút ngắn bớt thời gian giải ngân vốn đầu tư. Từ đó, loại bớt một số hồ sơ, tài liệu không cần thiết ra khỏi hồ sơ thanh toán khi chủ đầu tư gửi đến KBNN. Thứ hai, nâng cao năng lực, trình độ của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án của NSX. - Nâng cao năng lực của các Ban quản lý dự án và các Chủ đầu tư theo đúng quy định. Các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án thuộc xã quản lý phải phải bố trí cán bộ chuyên trách có đủ trình độ, năng lực chuyên môn về công tác ĐTXD để quản lý dự án ĐTXD và phải có ý thức chấp hành nghiêm chính sách chế độ về đầu tư XDCB. Cập nhật kịp thời các chế dộ chính sách về quản lý ĐTXD như luật đầu tư, luật đấu thầu, luật xây dựng, luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn thực hiện của các Bộ, ngành và của địa phương. Đối với các công trình có giá trị xây lắp trên một tỷ đồng cần thực hiện đấu thầu rộng rãi. Nâng cao chất lượng công tác xét thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu. - Xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm phải đảm bảo các nguyên tắc như chỉ đưa vào kế hoạch đầu tư những dự án đã có đầy đủ thủ tục đầu tư theo quy định và đảm bảo chắc chắn có nguồn vốn để thực hiện; xây dựng kế hoạch đầu tư năm theo dự án đã được duyệt và bố trí vốn đầu tư cần mang tính tập trung, không dàn trải, đảm bảo tiến độ thi công đúng như dự án đã được duyệt. Không bố trí Thang Long University Libraty 91 vốn vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, ưu tiên bố trí vốn các công trình chuyển tiếp, các công trình đã được phê duyệt quyết toán còn thiếu vốn. - Đối với việc thông báo kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, sau khi được cấp trên giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư hàng năm, UBND xã có trách nhiệm triển khai kế hoạch vốn đầu tư đúng với chủ trương, định hướng đầu tư, bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm và phải gửi đến KBNN Thạch Thất để cán bộ kiểm soát chi nhập dự toán vào chương trình TABMIS và chương trình TTĐT liên ngành. - Nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, cán bộ chuyên trách về ĐTXD để đảm bảo các công trình xây dựng của địa phương được thực hiện đúng quy trình, có chất lượng, đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế - xã hội. Thứ ba, Tăng cường việc kiểm tra, giám sát, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan. Tăng cường trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan,, đặc biệt là các cơ quan phê duyệt chủ trương, thẩm định dự án như phòng tài chính huyện, phòng quản lý đô thị, phòng kinh tế và các chủ đầu tư, sớm nghiên cứu và ban hành, thực hiện cơ chế quản lý, kiểm soát các dự án ĐTXDCB đã hoàn thành để tiến hành quyết toán công trình hoàn thành. Sau khi phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành chính thức mới thực hiện cấp hết vốn nhằm thúc đẩy việc lập, duyệt, quyết toán vốn đầu tư của các chủ dự án. Để nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi qua KBNN ngoài việc kiểm tra chặt chẽ các hồ sơ thanh toán của chủ đầu tư, tuân thủ các chế độ, định mức chi phí của nhà nước đã quy định cho các loại chi phí trong xây dựng, trong đó đặc biệt chú ý là việc thanh toán chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí xây lắp và các chi phí khác, cần lưu ý tính chính xác của số liệu cấp phát thanh toán để tránh tình trạng phải thu hồi khi duyệt quyết toán.Tăng cường công tác quyết toán vốn đầu tư của cơ quan tài chính, kiên quyết đưa ra khỏi giá trị quyết toán những khoản chi không đúng chế độ quy định, không đảm bảo hồ sơ thủ tục. 92 Chính quyền cấp trên và cơ quan tài chính cấp huyện và các cơ quan có liên quan thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác đầu tư và xây dựng để kịp thời phát hiện sai phạm, cần tham mưu người có thẩm quyền xử lý kiên quyết những sai phạm qua thanh tra, kiểm tra, tiến hành thu hồi nộp vào ngân sách các khoản tiền vi phạm. 3.2.5. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, con người * Hoàn thiện hệ thống tổ chức kiểm soát chi NSX qua KBNN Hiện nay, KBNN huyện được phân công tổ chức quản lý, việc kiểm soát, cấp phát và thanh toán , chi trả các khoản chi ngân sách trung ương, NS địa phương bao gồm NS tỉnh, Thành phố, NS huyện, NS xã, phường, thị trấn theo sự phân công của KBNN cấp trên; Để thực hiện có hiệu quả quá trình kiểm soát chi NSNN nói chung và chi NSX nói riêng cần phải hoàn thiện tổ chức hệ thống KBNN. Tiếp tục thực hiện mô hình giao dịch KSC theo cơ chế một cửa, bố trí cán bộ theo dõi, quản lý , kiểm soát chi các xã từ đầu đến cuối để cán bộ kiểm soát chi chịu trách nhiệm kiểm soát trước và trong khi chi NSX. Trong quá trình thực hiện kiểm soát, cấp phát, thanh toán thì Kho bạc có nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ đảm bảo các khoản chi luôn phù hợp với dự toán đã được phê duyệt và việc sử dụng kinh phí NSX luôn đảm bảo theo đúng mục đích, đúng đối tượng, nội dung chi, tiết kiệm có hiệu quả. * Nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ KBNN - Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất cán bộ KBNN là nhân tố quan trọng nhất nhằm tìm kiếm và phát huy cao năng lực phẩm chất của mỗi cán bộ. Cần tiêu chuẩn hóa và chuyên môn hóa cho đội ngũ cán bộ KBNN, thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ cập nhật những kiến thức mới, những sự thay đổi trong công tác kiểm soát chi đang diễn ra. - Chuyên môn hoá và tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ KBNN, đặc biệt là những cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát chi NSX. Bố trí, sắp xếp cán bộ Thang Long University Libraty 93 hợp lý để cán bộ phát huy được khả năng, sở trường trong công việc. Cán bộ kế toán và cán bộ KSC KBNN cần nắm vững các chính sách, chế độ hiện hành của Nhà nước và tình hình kinh tế - xã hội, cần thường xuyên rèn luyện tư cách đạo đức và đề cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, tuân thủ các qui chế nội quy ngành kho bạc. Cần kiên quyết loại bỏ những cán bộ thoái hoá, biến chất, thiếu trình độ, năng lực, không đảm bảo nhiệm vụ công việc được giao tạo điều kiện cho những người có năng lực, trình độ, có tinh thần trách nhiệm trước công việc cống hiến cho ngành. - Thực hiện chế độ khen thưởng hợp lý, linh hoạt dưới nhiều hình thức nhằm tạo ra động lực kích thích mọi cán bộ công chức hăng say làm việc, phát huy tối đa trình độ, năng lực chuyên môn của mỗi cán bộ. - Bổ xung những điều kiện vật chất, góp phần giúp cho cán bộ yên tâm công tác. Bên cạnh đó, cần có cơ chế thưởng phạt một cách hợp lý, đúng đắn đối với những cán bộ cố tình làm sai chính sách, chế độ; sai quy trình nghiệp vụ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. - Do trong quá trình đổi mới công cuộc cải cách tài chính công luôn có sự thay đổi trong công tác kiểm soát chi cho nên việc đào tạo con người đáp ứng và phù hợp với sự thay đổi đó cũng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Vì vậy luôn tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ được học tập nâng cao chuyên môn trình độ phục vụ công việc trong giai đoạn hiện nay. 3.2.6. Phát triển, sử dụng và vận hành có hiệu quả các chương trình phần mềm trong kiểm soát chi NSX * Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá công nghệ trong hệ thống KBNN: - Thực hiện số hóa, hiện đại hóa các nghiệp vụ: Trong giai đoạn công nghệ thông tin phát triển vũ bão. Việc áp dụng công nghệ một cách hợp lý sẽ giúp tiết kiệm được sức người sức của, tạo nên sự chặt chẽ cho công tác kiểm soát chi. 94 Nhưng công việc này đòi hỏi một quá trình, trong cả việc bồi dưỡng cán bộ sử dụng, cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ cho ngành. Hiện đại hoá công nghệ tại KBNN là một trong những điều kiện hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của KBNN nói chung và công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN nói riêng. Hiện nay KBNN Thạch Thất đang sử dụng và vận hành chương trình Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc( TABMIS), hệ thống thanh toán điện tử song phương điện tử, chương trình phối hợp thu TCS Do đó, vấn đề trọng tâm và có ý nghĩa quan trọng là phải xây dựng được hệ thống mạng thông tin nhanh nhạy, ổn định, đảm bảo thông suốt trong thời gian giao dịch, để đủ sức truyền tải mọi thông tin hoạt động cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý, điều hành. KBNN cần hoàn thiện hơn các chương trình phần mềm phục vụ cho công tác kế toán, thanh toán và đặc biệt là công tác kiểm soát chi NSNN nói chung và NSX nói riêng. KBNN cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị có liên quan trong ngành Tài chính, ngân hàng để quản lý và tăng cường kiểm soát các khoản chi của NSX ,trong đó có việc phối hợp theo dõi, đối chiếu và thống nhất các nguồn số liệu, đáp ứng nhu cầu quản lý và điều hành NSX. * Sử dụng vận hành Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc( TABMIS), hệ thống thanh toán điện tử song phương một cách hiệu quả hơn. Từ tháng 9/2011 KBNN Thạch Thất đã chính thức sử dụng và vận hành Hệ thống thông tin quản lý Ngân sách và nghiệp vụ kho bạc TABMIS. Sau gần 4 năm hoạt động chương trình TABMIS đã nhiều lần được nâng cấp để khai thác sử dụng tiện ích hơn. Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa để sử dụng hiệu quả và triệt để hơn hệ thống thanh toán song phương điện tử, thanh toán song phương liên ngân hàng để đạt được hiệu quả tối ưu, đảm bảo tính an toàn, chính xác cao, nhanh chóng, giảm chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thụ hưởng NSNN và các đối tượng kinh doanh hàng hoá , dịch vụ. Thang Long University Libraty 95 Các cán bộ KBNN Thạch Thất được phân công KSC và thanh toán viên cần cập nhật và hoàn thiện những thay đổi, nâng cấp để vận hành tốt chương trình thanh toán song phương điện tử với ngân hàng , tạo điều kiện cho đơn vị thụ hưởng được hưởng NSNN một cách nhanh và thuận tiện. Phối hợp tốt với các phòng chuyên môn của KBNN Hà Nội, Phòng tài chính huyện và UBND các xã thị trấn để sử dụng và vận hành có hiệu quả chương trình thanh toán đầu tư liên ngành đối với NSX. 3.2.7. Nâng cao ý thức chấp hành chế độ chi ngân sách của các xã Nếu các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN tự giác chấp hành nghiêm các chế độ chi tiêu NSNN thì việc kiểm soát chi qua KBNN sẽ trở nên đơn giản và đương nhiên có hiệu quả cao. Để làm được điều đó, trước hết phải nâng cao sự hiểu biết của kế toán trưởng và thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN về chế độ quản lý, chi tiêu NSNN. Vì vậy, KBNN phải phối hợp với cơ quan tài chính tổ chức triển khai đầy đủ, giải thích rõ ràng các quy định trong quản lý và kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN cho tất cả các đơn vị sử dụng NSNN. Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cũng cần quy định trách nhiệm cụ thể đối với từng cá nhân trong việc chi tiêu NSNN trên cơ sở đó đề ra những biện pháp chế tài xử phạt đối với các cá nhân, đơn vị vi phạm các chế độ quy định trong quản lý và chi tiêu kinh phí NSNN. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 3.3.1. Kiến nghị với Bộ tài chính Vì đặc thù của NSX vừa là một đơn vị thụ hưởng NS, vừa là một cấp ngân sách nên đề nghị Bộ tài chính xem xét, nghiên cứu có một thông tư hướng dẫn riêng cho NSX và cơ chế kiểm soát chi thường xuyên cho NSX cần cụ thể và chi tiết hơn ( vì trên thực tế có những khoản chi mà chỉ có NSX mới phát sinh). Phải xây dựng văn bản sao cho thật dễ hiểu. 96 Có quy định rõ ràng về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm vật chất trong việc quản lý và sử dụng Ngân sách. Bộ nên nghiên cứu ,bổ sung sửa đổi cơ chế kiểm soát chi NSNN hiện hành sao cho chi tiết, cụ thể; Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các tiêu chuẩn, định mức chi phù hợp với tình hình thực tế. 3.3.2. Kiến nghị với Kho bạc Nhà nước trung ương Xây dựng quy trình giao dịch một cửa cho phù hợp hơn với đặc điểm của chi đầu tư phát triển. Hoàn thiện phương pháp KSC NSNN nói chung và NSX nói riêng sao cho phù hợp với thực tế mà vẫn đúng quy định. Hoàn thiện và nâng cấp các chương trình, phần mềm ứng dụng trong công tác KSC và khai thác các số liệu báo cáo phục vụ cho công tác quản lý quỹ NSNN và điều hành NSNN. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác KSC cho phù hợp và đáp ứng với yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Cần có sự hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời và thống nhất về mặt nghiệp vụ KSC thường xuyên NSX. 3.3.3. Kiến nghị với Sở tài chính Hà Nội. Hoàn thiện hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cho NSX : Các chế độ, định mức, tiêu chuẩn đối với NSX cần được hệ thống hoá làm cơ sở để chuẩn chi và kiểm soát chi. Có hướng dẫn cụ thể đối với việc quản lý, điều hành và kiểm soát chi NS cấp xã trong quá trình thực hiện chu trình ngân sách hàng năm. Căn cứ các định mức chung tham mưu cho UBND thành phố cụ thể hóa thành các định mức chi phù hợp với điều kiện của địa phương. Nên xây dựng cơ chế khoán chi thường xuyên cho NSX để vừa tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, vừa tạo thuận lợi và chủ động cho chính quyền địa phương các xã trong việc quản lý, điều hành và sử dụng NSNN một cách hiệu quả. Thang Long University Libraty 97 Xây dựng quy chế trách nhiệm cá nhân trong việc sử dụng kinh phí sai mục đích, vượt quá tiêu chuẩn, định mức gây thất thoát, lãng phí NS. Hàng năm có kế hoạch thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với NS cấp xã, phường trong việc thực hiện và chấp hành NSNN. 3.3.4. Kiến nghị đối với UBND các xã, thị trấn, đơn vị sử dụng ngân sách Phải chấp hành nghiêm chỉnh thời gian lập, phân bổ dự toán và chấp hành dự toán ngân sách xã theo quy định của Luật NSNN. Phải chấp hành đúng các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức do Nhà nước quy định. Cần quan tâm, đào tạo bồi dưỡng, tuyển chọn những người có trình độ, có năng lực để đảm nhiệm công tác kế toán của đơn vị. Thường xuyên phối hợp tốt hơn nữa với Kho bạc trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện những vấn đề liên quan đến chi Ngân sách xã. 98 KẾT LUẬN Tăng cường công tác KSC ngân sách xã qua KBNN là một trong những vấn đề rất cần thiết góp phần sử dụng hiệu quả, đúng mục đích NSNN. Đồng thời làm lành mạnh nền tài chính, nâng cao tính công khai, minh bạch, dân chủ trong việc sử dụng NSNN nói chung và NSX nói riêng. Đổi mới công tác kiểm soát chi NSNN đã trở thành công cụ quan trọng của nhà nước trong việc quản lý, điều hành NSNN, góp phần ổn định nền kinh tế, tài chính, tiền tệ , kiềm chế lạm phát, giả quyết vấn đề an sinh xã hội, đáp ứng được nhu cầu trong quá trình đổi mới chính sách tài chính của nước ta khi hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với kết cấu 3 chương, đề tài: “ Tăng cường kiểm soát chi ngân sách xã qua KBNN Thạch Thất” đã giải quyết được một cách cơ bản những yêu cầu đặt ra, thể hiện những nội dung chủ yếu sau đây: Từ những vấn đề lý luận chung về chi NSNN nói chung, chi NSX nói riêng và kiểm soát chi NSNN, NSX qua KBNN; trên cơ sở phân tích thực trạng công tác KSC ngân sách xã gồm chi thường xuyên và chi đầu tư NSX qua KBNN Thạch Thất luận văn đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm tăng cường công tác KSC thường xuyên và KSC đầu tư NSX qua KBNN Thạch Thât. Công tác KSC ngân sách xã qua KBNN là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau và đơn vị sử dụng ngân sách, đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu công phu và toàn diện. Các giải pháp phải có tính hệ thống và xuyên suốt, cần phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cơ chế chính sách, từ Luật đến các văn bản hướng dẫn và trong những điều kiện thực tế. Mặc dù đã rất cố gắng trong nghiên cứu, song những kết quả nghiên cứu không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học và các đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu hoàn thiện hơn. Thang Long University Libraty 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003, hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước. 2. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN; 3. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước. 4. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 130/2007/TT-BTC ngày 02/11/2007 của Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư số 27/2007/TT- BTC. 5. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 75/2008/TT-BTC ngày 28/8/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn. 6. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 10/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án của các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước; 7. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước; 8. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 161/2012//TT-BTC ngày 01/10/2012 của Bộ Tài chính quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua KBNN. 9. Bộ Tài chính (2013) Thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/01/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện kế toán nhà nước áp dụng cho Hệ thống 100 thông tin quản lý Ngân sách và Kho bạc (TABMIS) và các văn bản hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung của Bộ Tài chính, KBNN 10. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003, qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước. 11. Chính phủ (2005), Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; 12. Chính phủ (2007) Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007, phê duyệt chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020. 13. Chính phủ (2008) Quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN trực thuộc Bộ Tài chính. 14. Huyện Ủy Thạch Thất (2015), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thạch Thất nhiệm kỳ XXIII ( 2015-2020). 15. Kho bạc Nhà nước (2009), Quyết định số 477/QĐ-KBNN ngày 12/6/2009 của Kho bạc Nhà nước về kiểm soát thanh toán vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách xã, phường, thị trấn. 16. Kho bạc Nhà nước (2009), Quyết định số 686/QĐ-KBNN ngày 18/8/2009 của Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước về việc ban hành Quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư trong nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước. 17. Kho bạc Nhà nước (2009), Quyết định số 1116/QĐ-KBNN ngày 24/11/2009, ban hành Quy trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước. 18. Kho bạc Nhà nước (2010), Quyết định số 163/QĐ-KBNN ngày 17/3/2010 về nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các phòng thuộc KBNN tỉnh. 19. Kho bạc Nhà nước (2012), Quyết định số 282/QĐ-KBNN ngày 20 /04/2012 của Tổng Giám đốc KBNN ban hành Quy trình kiểm soát thanh toán Thang Long University Libraty 101 vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư trong nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước. 20. Kho bạc Nhà nước (2013), Quyết định số 161/QĐ-KBNN ngày 19 /02/2013của Tổng Giám đốc KBNN Về việc ban hành một số quy trình nghiệp vụ kế toán nhà nước trong điều kiện áp dụng TABMIS 21. Kho bạc nhà nước Thạch Thất (2011,2012,2013,2014), Báo cáo chi NSNN; Báo cáo kiểm soát chi NSNN ;Báo cáo số dư dự toán chi NSNN. 22. Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam (2002), Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002. 23. Lê Thị Hải Vân (2013), “ Kiểm soát chi thường xuyên NSX qua KBNN chi nhánh tỉnh Kon Tum ”. 24. Vũ Thị Tường Vi (2013), “Tăng cường kiểm soát NSNN qua KBNN Đắck lắk”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf23_2772_5673.pdf
Luận văn liên quan