Lý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực

A.LỜI MỞ ĐẦU Có một nhà triết học đã từng nói: “Con người là trung tâm của vũ trụ”. Tuy quan điểm đó phần nào mang tính chất chủ quan nhưng nó cũng nói lên tầm quan trọng của con người trong thế giới khách quan. Ngày nay trong bất cứ một nền sản xuất nào cũng cần phải có nguồn lực con người. Nguồn lực con người hay lao động là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất( tư bản, lao động, tiến bộ công nghệ). Con người cùng với tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mình ngày càng đóng góp phần lớn vào quá trình tạo ra sản phẩm. Với xu thế ngày càng sản xuất thiên về các loại hàng hoá mà trong đó hàm lượng chất xám của con người kết tinh vào trong đó ngày càng cao thì vấn đề đào tạo và phát triển nguồn lực con người ngày càng cấp thiết. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế trên. Trong quá trình phát triển đất nước đi lên CNXH, chúng ta tiến hành công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước từ một nền nông nghiệp lạc hậu, hơn ai hết chúng ta đều hiểu rằng nguồn lực con người, vốn lao động sẽ là nhân tố quyết định vào thành bại của quá trình đổi mới đất nước. Là sinh viên chuyên ngành kinh tế lao động em hiểu rằng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Chính vì các lý do đó mà em chọn đề tài: “Lý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực”. Đề tài của em gồm hai phần chính: Phần một: Lý luận về nguồn lực con người. Phần hai: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lực con người ở nước ta hiện nay. Tuy đã có nhiều cố gắng song với trình độ hiểu biết cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để học hỏi thêm và để cho bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 1529 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Lý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A.LỜI MỞ ĐẦU Có một nhà triết học đã từng nói: “Con người là trung tâm của vũ trụ”. Tuy quan điểm đó phần nào mang tính chất chủ quan nhưng nó cũng nói lên tầm quan trọng của con người trong thế giới khách quan. Ngày nay trong bất cứ một nền sản xuất nào cũng cần phải có nguồn lực con người. Nguồn lực con người hay lao động là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất( tư bản, lao động, tiến bộ công nghệ). Con người cùng với tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của mình ngày càng đóng góp phần lớn vào quá trình tạo ra sản phẩm. Với xu thế ngày càng sản xuất thiên về các loại hàng hoá mà trong đó hàm lượng chất xám của con người kết tinh vào trong đó ngày càng cao thì vấn đề đào tạo và phát triển nguồn lực con người ngày càng cấp thiết. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế trên. Trong quá trình phát triển đất nước đi lên CNXH, chúng ta tiến hành công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước từ một nền nông nghiệp lạc hậu, hơn ai hết chúng ta đều hiểu rằng nguồn lực con người, vốn lao động sẽ là nhân tố quyết định vào thành bại của quá trình đổi mới đất nước. Là sinh viên chuyên ngành kinh tế lao động em hiểu rằng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Chính vì các lý do đó mà em chọn đề tài: “Lý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực”. Đề tài của em gồm hai phần chính: Phần một: Lý luận về nguồn lực con người. Phần hai: Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn lực con người ở nước ta hiện nay. Tuy đã có nhiều cố gắng song với trình độ hiểu biết cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót và sai lầm. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để học hỏi thêm và để cho bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! B. NỘI DUNG I. LÝ LUẬN VỀ NGUỒN LỰC CON NGƯỜI. 1. Khái niệm. 1.1. Khái niệm về con người. Các thời kỳ trước đã có rất nhiều tranh cãi về khái niệm con người, điều đó bộc lộ chủ yếu qua nhân sinh quan trong các trường phái triết học. Có người cho rằng con người do thế lực siêu nhân tạo ra, người khác lại cho rằng con người tạo thành bởi một số yếu tố tự nhiên như: lửa, nước, cây, đất…Các quan điểm đó ít nhiều đều mang tính trừu tượng chỉ khi học thuyết Mác ra đời, khái niệm về con người mới được giải quyết một cách thấu đáo. Mác quan niệm: Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội: điều đầu tiên mà ta có thể khẳng định đó là con người là sản phẩm của tự nhiên. Trong quá trình hình thành, con người cũng trải qua các bước tiến hoá khác nhau và con người cũng phụ thuộc vào tự nhiên. Tuy nhiên, do con người là sản phẩm tinh hoa nhất của muôn loài, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài nên con người ngày càng phát triển và khác xa so với loài vật ở tính xã hội. Tính xã hội của con người biểu hiện sâu sắc nhất thông qua quá trình sản xuất vật chất. Với khả năng sáng tạo của mình con người đã tạo ra công cụ lao động tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình. Với ngôn ngữ trao đổi và ngôn ngữ viết con người dần dần liên kết lại với nhau tạo lên cấu trúc xã hội… Bản chất của con người là tổng hoà của các quan hệ xã hội: không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định. Con người luôn luôn cụ thể nhất định sống trong một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình con người tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực cũng như trí tuệ. Sống trong điều kiện của mình con người chịu tác động của các chuẩn mực xã hội nhất định qua đó bộc lộ bản chất xã hội của mình. Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử: xã hội của con người sống trong đó giúp ta phân biệt được con người với các loài vật khác. Do xã hội loài người mang tính lịch sử nên con người cũng là sản phẩm của lịch sử. Tuy nhiên, mối quan hệ trên lại mang tính chất hai chiều, ngược lại con người cũng là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Với những giai đoạn phát triển nhất định của mình ( cụ thể là lực lượng sản xuất mà con người đóng vai trò quyết định) thì con người dần xác lập ra các xã hội khác nhau tự mình viết lên các giai đoạn lịch sử nối tiếp để phát triển xã hội loài người. Chủ nghĩa Mác đã nói lên một cách khái quát nhất, toàn diện nhất về con người. Mỗi cá nhân đều là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nhưng với năng lực của mình con người đều có thể biến đổi tự nhiên và xã hội. 1.2. Khái niệm về nguồn lực con người. Nguồn lực con người là tổng thể những tiềm năng, năng lực và khả năng của mỗi cá nhân, của mỗi cộng đồng người và toàn xã hội, đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho quá trình phát triển, được thể hiện qua hàng loạt các yếu tố như: trình độ học vấn, chuyên môn kỹ năng lao động, văn hoá lao động kỹ thuật, lao động, mức sống, sức khoẻ tư tưởng tình cảm, tính cách… trong đó ba yếu tố quan trọng nhất là : trí tuệ, thể lực, nhân cách. 2. Đặc điểm và vai trò của nguồn lực con người. 2.1. Đặc điểm của nguồn lực con người. Trong các nguồn lực mà con người đang khai thác thì nguồn lực nào cũng dần cạn kiệt và mất đi chỉ duy nhất nguồn lực con người là ngày càng phát triển. Do cấu tạo đặc biệt của trí não con người trong khi lao động con người dần hình thành những kỹ năng và phản xạ nhất định nên hiệu quả của công việc ngày càng được nâng cao. Mặt khác, sau quá trình lao động nếu con người được đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất, tinh thần thì quá trình tái tạo sức lao động sẽ diễn ra nhanh chóng khả năng lao động lại được phục hồi như cũ. Hơn thế nữa, với tinh thần ham hiểu biết tính cần cù trong lao động con người ngày càng đi sâu vào tìm hiểu tự nhiên, nắm bắt được quy luật tự nhiên ứng dụng vào trong quá trình sản xuất. Ở thời đại ngày nay, với tri thức và công nghệ sẵn có con người ngày càng sáng tạo ra các công cụ lao động mới tiên tiến hơn có hiệu quả hơn. Do vậy đầu tư vào con người là quá trình đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhất và dễ dàng nhất. Chính giá trị thặng dư trong lao động do con người tạo ra ngày càng tích luỹ trong xã hội làm cho sản phẩm ngày càng nhiều, cuộc sống đầy đủ hơn. 2.2. Vai trò của nguồn lực con người. 2.2.1. Trong lĩnh vực kinh tế Đây là một trong các nguồn lực của quá trình sản xuất xã hội nhưng nguồn lực con người lại có vai trò quyết định. Nếu không có nguồn lực con người thì các nguồn lực khác không thể phát huy được tính năng của nó. Không có con người các nguồn lực khác mãi đơn thuần chỉ là các thực thể tự nhiên tồn tại mà không mang lại lợi ích gì. Tuy nhiên khi có bàn tay con người tác động vào các vật thể tự nhiên lần lượt bộc lộ bản chất của mình và ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống con người. Trong quá trình lao động sản xuất với kỹ năng và kinh nghiệm của mình con người đang nâng cao năng suất của sản xuất. Ngày càng có nhiều phát minh mới của con người được ứng dụng vào quá trình sản xuất, ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới hơn cho xã hội. Với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật năng suất lao động ngày càng được nâng cao con người ít sử dụng tài nguyên thiên nhiên hơn mà ngày đi vào các ngành sản xuất sử dụng ít nguyên liệu, với kỹ thuật tiên tiến hơn sản phẩm ngày càng nhiều phong phú và đa dạng về chủng loại. 2.2.2. Trong lĩnh vực chính trị. Các thể chế chính trị các hình thức nhà nước đều được sinh ra để phục vụ cho con người, chí ít là một nhóm người. Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người con người không ngừng xây dựng và hoàn thiện các thể chế chính trị để điều hoà các quan hệ xã hội. Sự khác biệt của thể chế chính trị này với thể chế chính trị khác đều do con người tiến hành. Một khi mâu thuẫn trong xã hội không được giải quyết nó sẽ bị đẩy lên đến đỉnh điểm và lực lượng xã hội nào đại diện cho xu hướng tiến bộ hơn phục vu cho lợi ích của đông đảo người hơn sẽ tiến hành cách mạng để thay thế xã hội cũ bằng xã hội mới tiên tiến hơn. 2.2.3. Trong lĩnh vực văn hoá. Con người chính là chủ thể sáng tạo ra các hình thức quy chuẩn về văn hoá. Dưới mỗi thời kỳ lịch sử nhất định tuỳ thuộc theo các thể chế khác nhau mà con người có các hình thái văn hoá khác nhau. Văn hoá là một phần không thể thiếu trong đời sống của con người. Ngoài ý thức về chính trị tư tưởng thì con người cũng dùng các sắc thái văn hoá để biểu lộ suy nghĩ tư tưởng của mình. Các giá trị văn hoá do con người tạo ra ngày càng đa dạng và phong phú. Chúng được con người tạo ra nhưng ngược lại từ các tiêu chuẩn văn hoá đó dần hình thành các hành vi nếp sống của con người trong từng thời kỳ lịch sử. Có thể nói, con người luôn có vai trò chủ đạo trong mọi mặt của đời sống xã hội. Nguồn lực con người là nhân tố quyết định thúc đẩy các nguồn lực khác tạo ra hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Con người cũng tạo ra các thể chế chính trị và văn hoá để xã hội loài người ngày càng tốt đẹp hơn. 3.Đặc điểm của nguồn lực con người Việt Nam. 3.1. Điểm mạnh của nguồn lực con người Việt Nam. 3.1.1. Dân số đông. Với số lượng hơn 80 triệu dân thì đây là lợi thế của Việt Nam bởi nó tạo ra lực lượng lao động dồi dào với giá thành rẻ và tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các nước khác. Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý hiệu quả và sử dụng hợp lý vô tình nó có thể trở thành gánh nặng cho xã hội. 3.1.2. Cơ cấu dân cư trẻ. Số người trên độ tuổi lao động chiếm khoảng 10%, trong độ tuổi lao động chiếm 56%, dưới độ tuổi lao động chiếm 34%. Như vậy, dân số Việt Nam tập trung chủ yếu vào lứa tuổi lao động và dưới độ tuổi lao động điều này rất có lợi trong nền kinh tế với lực lượng lao động dồi dào sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hơn và gánh nặng giữa người đang lao động và những người không lao động sẽ ít hơn. 3.1.3. Phẩm chất tính cách con người Việt Nam. Con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, đoàn kết, gắn bó, có tinh thần tự tôn dân tộc, tinh thần nhân ái “lá lành đùm lá rách”. Đây là truyền thống rất tốt đẹp nếu chúng ta có biện pháp phát huy hiệu quả sẽ huy động được tối đa nguồn lực con người để tập trung cho các mục tiêu lớn hơn của đất nước. Bên cạnh đó, con người Việt Nam còn có bản tính thông minh, chịu khó, giỏi chịu đựng… đây là các bản tính rất tốt trong thời đại hiện nay, nó là một lợi thế trong quá trình thu hút vốn đầu tư của nước ngoài cũng như việc xuất khẩu lao động đi các nước khác trên thế giới. 3.1.4. Trình độ dân trí của Việt Nam hiện nay là khá cao Tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn ở mức trên 96%. Tỷ lệ nhập trường của học sinh cấp III liên tục tăng nhất là phổ cập giáo dục tiểu học đã hoàn thành trên toàn quốc. Điều này, cộng với sự thông minh và ham hiểu biết sẽ góp phần làm cho lực lượng lao động Việt Nam nắm bắt nhanh nhạy với khoa học công nghệ và tiến bộ kỹ thuật. 3.2. Những hạn chế nguồn lực của con người Việt Nam. Trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động còn thấp kém (20% lực lượng lao động được đào tạo về chuyên môn tay nghề), lượng lao động chủ yếu ở nước ta hiện nay là lao động chân tay lao động chủ yếu trong nông nghiệp mà ít có những lao động trong các ngành kỹ thuật cao. Văn hoá lao động, kỷ luật lao động công nghiệp còn rất hạn chế. Đây là bản tính cố hữu của người Việt Nam, ý thức tự giác trong công việc rất thấp. Có thể là do nguồn lao động của chúng ta chủ yếu xuất phát từ lao động trong nông nghiệp, quá trình đào tạo thiếu bài bản, quá trình phát triển về nhận thức chưa bắt kịp so với quá trình phát triển của nền kinh tế. Mức sống thấp, thể lực nhỏ bé, sức khoẻ hạn chế: Con người Việt Nam có thể trạng không được tốt như các dân tộc khác lại sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chế độ dinh dưỡng chăm sóc về y tế không đầy đủ tất yếu dẫn đến bất lợi cho người lao động hiện nay. Tư tưởng, tâm ý tiểu nông nặng nề, coi trọng danh vị, ngôi thứ, trọng tình hơn lý, trọng lệ hơn luật, trọng kinh nghiệm hơn cơ sở khoa học, óc gia trưởng, tính bảo thủ đố kị, tuỳ tiện , hẹp hòi…đây là những hạn chế tàn dư của xã hội cũ phần nào nó đã ăn sâu vào suy nghĩ và một phần không nhỏ của lao động Việt Nam. Những điều trên không thích hợp với thời đại ngày nay vô tình nó đã là rào cản cho quá trình lao động. Tính năng động tích cực trong lao động còn thấp, tâm lý thụ động, trông chờ, thói bình quân chủ nghĩa còn khá rõ rệt. Do đất nước ta trải qua một thời gian dài của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nên tư tưởng đó đã ăn sâu vào một bộ phận người lao động rất khó thay đổi. Chủ nghĩa thực dụng cá nhân ích kỷ, lối sống phi giá trị truyền thống dân tộc của bộ phận nhân dân đang có xu hướng gia tăng. Trong quá trình đổi mới đất nước, chúng ta tiến hành mở cửa đổi mới đất nước, một dòng văn hoá phương tây đã du nhập vào nước ta. Tính ích kỷ, lợi ích cá nhân đã lên ngôi làm tha hoá người dân kém hiểu biết. Đây là một lối suy nghĩ rất có hại nếu như chúng ta không chấn chỉnh kịp thời. Có thể nói, vốn nhân lực là điểm mạnh của nước ta trong thời điểm hiện nay. Nếu chúng ta biết cách sử dụng và phát huy một cách hợp lý, điều đó sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế. II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở NỨƠC TA HIỆN NAY. 1. Thực trạng. 1.1. Sơ lược về tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam hiện nay. Sau khi nước ta giành được chính quyền, chúng ta đã đi vào công cuộc xây dựng và kiến thiết lại nước nhà. Sau một thời gian dài vấp phải một số sai lầm trong đường lối phát triển kinh tế chúng ta đã tiến hành đổi mới (1986) và đã thu được một số thành tựu nhất định: Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao và được duy trì ổn định qua nhiều năm (hàng năm tốc độ đều trên 7%), tỷ lệ lạm phát luôn được duy trì ở mức một con số. Khối lượng GDP không ngừng được gia tăng, cơ cấu GDP ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Trong các ngành luôn có sự đầu tư mạnh mẽ để hướng đến xuất khẩu. Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đang được xúc tiến mạnh mẽ, các cơ quan của chính phủ cũng như các địa phương ngày càng hoàn thiện về chính sách, pháp luật, cơ chế ưu đãi để thu hút vốn đầu tư về địa phương mình. Đầu tư nước ngoài đang chiếm một tỷ trọng khá cao trong cơ cấu GDP, nó góp phần giải quyết việc làm trong nước đồng thời đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào nước ta. Do thành tựu của công cuộc phát triển kinh tế mang lại, đời sống nhân dân ta ngày càng được cải thiện, sức khoẻ, trí tuệ của người lao động ngày càng được nâng cao đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất, tinh thần. 1.2. Thực trạng của quá trình sử dụng và phát triển nguồn nhân lực của nước ta hiện nay. 1.2.1. Tình hình phát triển dân số hiện nay. Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (số người trong độ tuổi lao động chiếm 56%, dưới độ tuổi lao động là 34%). Với mức kết cấu lao động như vậy nước ta hàng năm đều có nguồn nhân lực dồi dào tuy nhiên trình độ và chất lượng của nguồn nhân lực trên lại không cao, chỉ có 20% lao động đã được qua đào tạo. Ngoài chất lượng lao động còn thấp, chúng ta còn vấp phải sự gia tăng dân số tương đối cao. Do tư duy cũ chậm đổi mới, trọng nam khinh nữ mà vấn đề sinh đẻ theo kế hoạch vẫn bị xem nhẹ. Vào những năm đầu của thập niên 90 chính sách hạn chế gia tăng dân số bước đầu đã mang lại một số kết quả nhất định, tuy nhiên những năm gần đây do có một số sai lầm trong chính sách mà tình hình tăng trưởng dân số lại quay trở lại ở mức cao (trên 10%). Đi liền với vấn đề gia tăng dân số là gánh nặng về dân số. Do tốc độ gia tăng của dân số thường vượt quá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nên vô tình dân số lại là gánh nặng cho phát triển kinh tế. Nước ta còn 10% hộ gia đình thuộc dạng đói nghèo mà chủ yếu là do đông con từ đó dẫn tới sự quá tải trong việc sử dụng các dịch vụ y tế, công cộng, giáo dục không đáp ứng đủ nhu cầu. Qua đó đã gây ra một số hậu quả không tốt cho quá trình xây dựng và phát triển một bộ phận người lao động. 1.2.2. Chất lượng nguồn lao động của nước ta hiện nay. Tuy số lượng dân số nước ta dồi dào nhưng chất lượng dân số của nước ta đang ở mức đáng lo ngại. Từ những kết quả bước đầu của quá trình đổi mới kinh tế chất lượng cuộc sống của nhân dân ta ngày càng được cải thiện. Trẻ em được chăm sóc ngay từ ban đầu với các ưu đãi về dịch vụ y tế như dinh dưỡng, tiêm chủng miễn phí… nhằm có được một thế hệ tương lai khoẻ mạnh. Ngay từ khi giành được độc lập năm 1945, Bác đã coi giặc đói và giặc dốt là hai thứ giặc nguy hiểm cần phải tiêu diệt, tiếp bước các phong trào bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ, phổ cập tiểu học. Dân số nước ta có tới 96% là biết đọc biết viết, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học ngày càng gia tăng. Tuy chất lượng của nguồn nhân lực đã được cải thiện rõ rệt so với các thời kỳ trước nhưng nếu so với yêu cầu của đất nước hiện nay thì điều đó vẫn chưa đáp ứng đúng nhu cầu: thể trạng của người Việt Nam đã được nâng cao nhưng so với mặt bằng chung của thế giới và khu vực ta vẫn chưa đáp ứng được. Theo các báo cáo, chúng ta đã hoàn thành phổ cập ở bậc tiểu học tuy nhiên ở một số bộ phận điều đó chỉ là tình trạng chạy theo thành tích vấn đề tái mù chữ vẫn tiếp tục gia tăng. Cơ cấu đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập, tỷ lệ tốt nghiệp đại học còn dưới mức 0,1%. Tình trạng học đại học theo ngành có thu nhập cao đang có xu hướng gia tăng không ngừng, các trường đại học được mở tràn lan, người người đua nhau vào đại học, trong khi đó vấn đề đào tạo nghề, đạo tạo người công nhân lại không được coi trọng. Từ đó dẫn tới tình trạng thừa thày, thiếu thợ vẫn còn phổ biến. 1.2.3. Tình hình sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. Trong quá trình đổi mới đất nước cơ cấu ngành nước ta ngày càng đa dạng và hoàn thiện. Nhiều ngành mới được mọc lên đáp ứng được phần nào nhu cầu của người lao động. Tuy nhiên cơ cấu lao động trong các ngành lại không hợp lý: tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp chiếm tới 80%, trong các ngành công nghiệp và dịch vụ chưa tới 20%. Tình trạng lao động nhàn rỗi theo thời vụ vẫn còn phổ biến, hiệu quả công việc ở nước ta còn rất thấp nhất là trong nông nghiệp và tong khối kinh tế nhà nước, hành chính sự nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp, lao động nước ta chủ yếu còn là lao động giản đơn, lao động chân tay là chính, thiếu những lao động kỹ thuật cao. Các khu vực đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động chủ yếu tập trung vào các ngành đòi hỏi nhiều lao động chân tay để sử dụng chế biến các nguyên liệu thô sơ chế, ít đi vào những ngành có hàm lượng chất xám cao. 1.2.4. Các chính sách nhà nước về phát triển nguồn nhân lực hiện nay. Nhà nước ta rất chú trọng đến các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện tại. Ngay từ buổi ban đầu khi còn là trẻ sơ sinh đã được hưởng các dịch vụ y tế công cộng để đảm bảo sức khỏe, phổ cập giáo dục được tiến hành rộng rãi. Những nơi gặp khó khăn về lao động có trình độ nhà nước thường tài trợ cho người bản xứ đi học tập để về phục vụ địa phương. Một số ngành nghề mang tính chất mũi nhọn luôn được nhà nước khuyến khích đầu tư trên diện rộng. Song song với quá trình đào tạo nguồn nhân lực là quá trình đào tạo việc làm. Nhiều công ty nhà nước được mở ra, nhiều loại hình sản xuất kinh doanh được nhà nước khuyến khích phát triển chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là công ăn việc làm cho nhân dân. Tuy các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực liên tục được ban ra giúp ích cho xã hội thì nó vẫn bao hàm nhiều bất cập. Chính sách đầu tư rất dàn trải, đôi khi những người thực hiện thiếu hiểu biết, tinh thần trách nhiệm thường đem lại kết quả không như mong muốn. Chúng ta thường có các chính sách mang tính chất “bóc ngắn cắn dài”, thiếu hẳn quá trình đồng bộ đi theo chiều sâu để có một chiến lược toàn diện, lâu dài và bền vững. 1.2.5. Thực trạng của quá trình giáo dục và đào tạo nghề hiện nay. Xét trên bình diện về chiều rộng hiện nay thì nền giáo dục nước ta đã có những kết quả hết sức to lớn. Bậc tiểu học đã được phổ cập hầu hết trong cả nước, chúng ta đang tiếp tục hướng tới phổ cập trung học cơ sở và phổ thông trung học. Cả nứơc hiện nay có 200 trường đại học và cao đẳng, 436 trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, số lượng cán bộ có trình độ ngày càng cao. Các loại hình đào tạo ngày càng được mở rộng. Chúng ta đã thực hiện nhiều chính sách liên kết với các trường đại học, các tổ chức giáo dục lớn trên thế giới để mở rộng các loại hình đào tạo, giao lưu trao đổi tài liệu học tập giảng dạy cũng như gửi sinh viên Việt Nam đi du học. Tuy nhiên, nếu xét về bề sâu thì thực trạng giáo dục và đào tạo nghề của chúng ta đang ở mức đáng báo động: Ở bậc tiểu học, trung học cơ sở cũng như phổ thông trung học còn rất nhiều bất cập. Sách giảng dạy tuy được cải tiến nhiều lần nhưng vẫn không phù hợp với thực tế, chương trình học ở các cấp rất nặng nề so với độ tuổi của từng học sinh, từ đó dẫn đến tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của học sinh. Bên cạnh đó, trình độ của đội ngũ giáo viên còn rất yếu kém không theo kịp với tiến độ cải cách giáo dục, nhiều nơi như vùng sâu vùng xa còn thiếu giáo viên trầm trọng. Điều đó cộng với tâm lý coi trọng thành tích dẫn đến các kỳ thi đánh giá chất lượng bị bóp méo, kết quả học tập mang lại không cao. Có thể nói, nền giáo dục của nước ta mới chỉ chú trọng ở bề nổi, trên diện rộng mà không đi vào chiều sâu, chất lượng giáo dục. Trên lĩnh vực đào tạo nghề: Các trường đại học ngày càng được mở thêm, tâm lý phải được vào đại học vô tình trở thành gánh nặng chung cho người đi học. Chất lượng đào tạo trong bậc này còn nhiều bất cập, sinh viên chỉ học nhiều về lý thuyết mà không có thực hành, giáo trình tài liệu chậm đổi mới. Trong khi đó, tốc độ gia tăng của các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề rất chậm chạp, các nghề đòi hỏi tay nghề cao thường thiếu sự quan tâm. Sự mất cân đối giữa đào tạo đại học và đào tạo trung học chuyên nghiệp dẫn tới tình trạng “thừa thày thiếu thợ” ở nước ta hiện nay. Trong vấn đề hướng nghiệp cũng không được chú trọng đúng mức, từ đó dẫn đến tình trạng nơi thì thừa lao động, có ngành đào tạo quá mức yêu cầu của xã hội, trong khi lại có nơi thiếu lao động tay nghề cao trầm trọng, có ngành hàng năm đào tạo rất ít so với yêu cầu đề ra. Quá trình đào tạo và sử dụng vốn nhân lực ở nước ta hiện nay bước đầu đã mang lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên theo thời gian các cơ chế, chính sách đã dần bộc lộ ra các hạn chế tiềm tàng của nó cần phải có các giải pháp khắc phục để xã hội phát triển bền vững. 2. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay. 2.1. Phát triển kinh tế. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển nguồn lực con người, bởi vì: phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân, phát triển kinh tế sẽ tạo ra thêm nhiều việc làm mới. Để tiếp tục đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế chúng ta cần thực hiện các vấn đề sau: 2.1.1. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau công cuộc đổi mới đất nước mà quan trọng là phát triển kinh tế thị trường chúng ta đều thấy rõ những kết quả mà kinh tế thị trường mang lại. Chỉ có ở kinh tế thị trường thì con người mới phát triển toàn diện, sử dụng tối đa khả năng của mình. Tuy nhiên kinh tế thị trường cũng bao hàm trong nó nhiều khuyết tật mà chúng ta cần khắc phục: tình trạng chênh lệch giàu nghèo, ý thức vị kỷ, cá nhân… đang lên ngôi trong giai đoạn tới cần có các giải pháp khắc phục như thông qua các chính sách tài khoá như đánh thuế thu nhập, hỗ trợ, trợ cấp cho các thành phần khó khăn. 2.1.2. Đẩy mạnh quá trình mở cửa, giao lưu buôn bán thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Chúng ta cần tiếp tục mở cửa để tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ từ bên ngoài, đa dạng hoá các thành phần hợp tác để xúc tiến các loại hình xuất khẩu mà chúng ta có lợi thế so sánh. Tiếp tục cải thiện cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư để thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài nhằm giải quyết vấn đề việc làm trong nước và tận dụng được khoa học kỹ thuật hiện đại. 2.1.3. Hoàn thiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước trong kinh tế. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu bộ máy của nhà nước theo hướng gọn nhẹ mà hiệu quả, tránh gây phiền hà cho nhân dân. Chính phủ cần thực hiện tốt hơn nữa các công cụ chính sách tài khoá, tiền tệ để chúng thực sự là linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, cần có các chính sách hỗ trợ đảm bảo sự công bằng trong xã hội. 2.2. Phát triển giáo dục và đào tạo. 2.2.1. Nâng cao chất lượng giáo dục tạo nền tảng trí tuệ vững chắc. Công cuộc cải cách giáo dục cần được tiến hành một cách sâu rộng hơn nhưng phải sát thực hơn. Xây dựng đội ngũ tiến hành cải cách phải là một đội ngũ vững mạnh có đầy đủ năng lực và phẩm chất để công cuộc cải cách giáo dục mang lại hiệu quả. Cần phải có các chính sách, giải pháp hỗ trợ giáo dục và đào tạo ở các vùng xâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn. Chính sách phải được xây dựng sao cho có hiệu quả nhất, sát với thực tế nhất. Đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách thực sự phải là đội ngũ trong sạch thực hiện vì nhân dân. Tiến hành đa dạng hoá các loại hình đào tạo: Không chỉ đơn thuần với các loại hình đào tạo hiện nay mà chúng ta cần tiếp tục mở rộng, nâng cao các loại hình đào tạo khác. Tiếp tục phát triển đào tạo sau đại học, đào tao nâng cao tay nghề của người công nhân, đào tạo tại chỗ những nơi mà có nhiều khó khăn, thiếu nhân lực trầm trọng. Đặc biệt tiếp tục mở rộng loại hình hợp tác đào tạo quốc tế. Chúng ta có thể nhờ phía đối tác đào tạo giúp các ngành mới, các ngành mà đòi hỏi chi phí lớn, trình độ cao mà trong nước chưa có điều kiện, bên cạnh đó phát triển hình thức du học nước ngoài, du học tại chỗ thuê giáo viên nước ngoài có trình độ cao về giảng dạy, cho phép các trung tâm giáo dục có uy tín mở trụ sở tại Việt Nam, đào tạo nhân lực tại Việt Nam tránh chi phí tốn kém khi ra nước ngoài. 2.2.2. Đào tạo đa dạng các thành phần người lao động. Chúng ta không chỉ chú trọng đào tạo lực lượng còn ở lứa tuổi đi học, đang chuẩn bị một nghề để đi làm mà bên cạnh đó còn tiếp tục đào tạo những người đang trực tiếp lao động. Mở rộng loại hình đào tạo hàm thụ thêm nâng cao tay nghề cho chính những người đang trực tiếp sản xuất, cập nhật các trí thức mới nhất về khoa học công nghệ, mở rộng liên kết đào tạo với chính các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trước hết là đào tạo cho người lao động tại đó sau nữa để tận dụng máy móc, kỹ thuật làm phương tiện thực hành cho các thành phần lao động khác. 2.3. Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn lực con người. 2.3.1. Cần có các chính sách ở tầm vĩ mô khuyến khích và bảo vệ con người. Tiếp tục đẩy mạnh các dịch vụ công cộng như: y tế, giao thông, bảo hiểm… để chăm lo toàn diện hơn đến sức khoẻ con người giúp họ phát triển đầy đủ và khỏe mạnh. Đặc biệt, các loại hình bảo hiểm hiện có mà chúng ta cần mở rộng hơn nữa để các tầng lớp như nông dân, lao động thủ công, buôn bán nhỏ vẫn có thể tham gia vào các loại hình bảo hiểm để yên tâm về thu nhập của họ sau này. 2.3.2. Có chính sách phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực. Cần phải có các chính sách tận dụng tối đa các thành phần lao động tạo thêm nhiều việc làm mới như khuyến khích các loại hình sản xuất sản phẩm thủ công trong các khu vực nông thôn để tránh tình trạng dư thừa lao động khi không có mùa vụ, đẩy mạnh thâm canh, phát triển ngành nghề truyền thống để sử dụng hết lao động trong nông nghiệp. Cơ cấu lại bộ máy hành chính nhà nước tránh tình trạng hoạt động kém hiệu quả trông chờ vào cấp trên. Cần có chính sách phân bổ hợp lý lại lao động giữa các vùng, có chính sách khuyến khích người lao động đến những nơi khó khăn cần vốn, nhân lực. 2.3.3. Mở rộng hợp tác xuất khẩu nguồn nhân lực sẵn có. Tiếp tục đẩy mạnh thăm dò các thị trường thiếu nhân lực trên thế giới để tiến hành xuất khẩu. Mặt khác, chúng ta cũng cần đi sâu vào xây dựng các cơ sở vật chất để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho xuất khẩu, nâng cao chất lượng lao động Việt Nam, giáo dục tốt ý thức kỷ luật của người lao động, tạo thêm sức hút với thị trường xuất khẩu lao động. C. KẾT LUẬN Bác đã từng nói: “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” qua đó ta có thể hiểu được tầm quan trọng của vấn đề phát triển con người, phát triển nguồn vốn nhân lực cho đất nước. Vốn nhân lực là đầu vào quan trọng nhất, có tác dụng mạnh mẽ nhất đối với các đầu vào kinh tế khác, đầu tư vào con người là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao nhất và nhanh nhất. Sau 20 năm, nhiều người nói động lực của quá trình đổi mới đã mai một dần, do vậy chúng ta cần có một công cuộc đổi mới lần 2 sâu rộng hơn mạnh mẽ hơn để tiếp tục đưa đất nước đi lên. Công cuộc đổi mới đó vấn đề phát triển nguồn nhân lực luôn ở vị trí trung tâm nhất, cần tiến hành triệt để nhất. Để xây dựng con người lao động Việt Nam thực sự là con người lao động xã hội chủ nghĩa mới phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước. D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Vấn đề con người trong sự nghiệp CNH- HĐH. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. 2. Tạp chí kinh tế châu Á. 3. Thời báo kinh tế Việt Nam. 4. Giáo trình triết học Mác- Lênin. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. 5. Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhà xuất bản chính trị quốc gia. 6. Chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhà xuất bản giáo dục. 7. Giáo trình kinh tế lao động. Nhà xuất bản ĐH Kinh tế quốc dân. 8. Giáo trình quản trị nhân lực. Nhà xuất bản ĐH Kinh tế quốc dân.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLý luận hình thái kinh tế xã hội trong việc xây dựng nguồn nhân lực.doc
Luận văn liên quan