Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO -Văn kiện đại hội Đảng VI -Văn kiện đại hội Đảng IX -Văn kiện đại hội Đảng X -Tap chí cộng sản điện tử -Báo điện tử Đảng cộng sản VIỆT NAM -Báo nhân dân online -Gíao trình triết học MÁC –LÊNIN -Giáo trình kinh tế chính trị MáC LÊNIN A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực:chính trị ,kinh tế,xã hội,khoa học ,từ thế giới tự nhiên đến thế giới tư duy trừu tượng.Mâu thuẫn là một phần tất yếu của sự vật ,hiện tượng và tồn tại khách quan.Theo Lênin,quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là “ hạt nhân” của phép biện chứng để giải thích thế giới khách quan. Nước ta từ năm 1986,nước ta đã thực hiện đổi mới chính sách kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.theo đó đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thời kì quá độ nước ta là nền kinhtế nhiều thành phần.trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay cũng có rất nhiều mâu thuẫn như :mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản,mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất,mâu thuẫn giữa tư tưởng cũ và mới, .Yêu cầu hiện nay đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là làm sao giảI quyết tốt các mâu thuẫn.vậy các mâu thuẫn quá trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là gì? thực trạng các vấn đề đó ra sao? Hướng giảI quyết như thế nào? . Đó là lí do vì sao em chọn đề tài :”Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần“ để làm đề tài tiểu luận triết.

doc44 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 29/01/2013 | Lượt xem: 1520 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dịch vụ tăng. Dịch vụ vận tải tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu. Bưu chính - viễn thông phát triển nhanh theo hướng hiện ®¹i. Các ngành vận tải hàng hóa, mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, internet trong nước và quốc tế, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…đều phát triển khá . 3.2- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Về cơ cấu ngành, tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng; tỉ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản đã .Cho đến năm 2007, chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế từng bước được nâng lên thể hiện trên các chỉ số tăng trưởng cao, duy trì tốc độ ổn định trên mọi lĩnh vực kinh tế. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp (khu vực nông nghiệp chiếm 20%; công nghiệp và xây dựng chiếm 41,5%, dịchvụ38,1%. Trong từng ngành kinh tế đã có những chuyển dịch tích cực về cơ cấu sản xuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường. Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng; các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu kinh tế và vùng sản xuất chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi đang phát triển khá nhanh, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng ngành dịch vụ tăng, lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm. Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới, chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế. Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối caolà cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế. Kinh tế tư nhân phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm 3.3- Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh. Vốn đầu tư của dân tăng nhanh.Đầu tư đã tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng. Quy mô vốn đầu tư ở các vùng đều tăng; vùng nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều hơn. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ các vùng khó khăn. Vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng nhanh, không chỉ phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ mà còn tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị. Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được duy trì và tăng thêm, tạo nhiều công trình kết cấu hạ tầng và sản phẩm xuất khẩu. Không chỉ có nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng lên mà nguồn vốn huy động từ xã hội cho đầu tư phát triển cũng rất khả quan .Năm 2007 khoảng 462,2 nghìn tỷ đồng, bằng 40,5% GDP, tăng 15,9% so với năm 2006; trong đó nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tăng 19,5% so với năm 2006.  Đầu tư đã làm tăng đáng kể năng lực sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều công trình lớn, tăng cường tiềm lực và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế. 3.4- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ; hoạt động của các loại hình doanh nghiệp và bộ máy quản lý nhà nước được đổi mới một bước quan trọng. Một số loại thị trường mới hình thành; các loại thị trường hàng hoá, dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, tài chính, bất động sản có bước phát triển phù hợp với cơ chế mới,giữ được các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Quỹ tiết kiệm tăng cao, nhờ đó đã có điều kiện vừa đẩy mạnh đầu tư phát triển, vừa cải thiện đời sống nhân dân.Tiềm lực tài chính nhà nước ngày càng được tăng cường.Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt hơn, giá trị đồng tiền cơ bản ổn định; cán cân thanh toán quốc tế giữ được cân bằng, dự trữ ngoại tệ tăng dần, giảm được tỉ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng; nợ Chính phủ và nợ quốc gia vẫn trong giới hạn an toàn. Ngân hàng nhà nước, hệ thống Ngân hàng thương mại, Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu tư, ngân hàng chính sách, thị trường chứng khoán, hệ thống tín dụng nhân dân được chấn chỉnh, có bước phát triển, hiệu quả hoạt động tốt hơn. 3.5- Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mở rộng; việc thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác đa phương, song phương khác đã góp phần tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu. Xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 ước đạt 48.387 tỷ USD, vượt 3,4% kế hoạch và tăng 21,5% so trước. Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang một số nước và khu vực, nhất là Hoa Kỳ. Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày 11/01/2007 4.CÁC HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN . 4.1)Chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém . Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, vào những ngành và những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động. Năng suất lao động tăng chậm và còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; chi phí kinh doanh cao, chất lượng và hiệu quả còn thấp Chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.Nguồn lực của đất nước chưa được sử dụng có hiệu quả cao, tài nguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng. Các nguồn lực trong dân còn nhiều tiềm năng chưa được phát huy. 4.2)Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Về chuyển dịch cơ cấu ngành: Mặc dù có tốc độ tăng cao trong những năm gần đây, nhưng tỉ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp, các loại dịch vụ cao cấp, có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh. Trong nông nghiệp, sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ và có hiệu quả cao với thị trường; việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất còn chậm; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn vẫn còn lúng túng. Trong công nghiệp, ít sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao; công nghiệp công nghệ cao phát triển chậm; một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng lớn còn mang tính gia công, lắp ráp, giá trị nội địa tăng chậm; công nghiệp bổ trợ kém phát triển; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được các thế mạnh để đi nhanh hơn vào cơ cấu kinh tế hiện đại. Chính sách hỗ trợ các vùng kém phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu. Sự liên kết vùng chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả thấp. Các thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Chưa tạo được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; chưa khai thác tốt các nguồn lực trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Việc sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn thấp. Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuận lợi để phát triển, quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản lý tốt. Kinh tế tập thể kém hấp dẫn và phát triển chậm, còn nhiều lúng túng. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, việc thu hút đầu tư nước ngoài còn kém so với một số nước trong khu vực. Việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay ở nước ta mới ở giai đoạn đầu, xuất phát điểm còn thấp, nền kinh tế hàng hoá chưa phát triển; sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cung, tự cấp. Thể hiện ở cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nói chung và từng thành phần kinh tế nói riêng. Nhìn chung, sản xuất còn thủ công; năng suất lao động thấp, khối lượng ít, chất lượng và tỷ suất hàng hoá thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại. Việc hình thành các thành phần kinh tế mang nặng tính tự phát Thành phần kinh tế quốc doanh đã nhiều năm tồn tại trong chế độ bao cấp, chưa kịp chuyển sang cơ chế mới, độ nhạy cảm với thị trường còn thấp. Không ít các xí nghiệp quốc doanh trì trệ, bế tắc, không đứng vững trong cơ chế mới, đây cũng là mảnh đất cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh và phát triển. Thành phần kinh tế tập thể giảm đi nhanh chóng cả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, lĩnh vực lưu thông. Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy có phát triển nhưng mới chỉ tập trung vào các ngành không cần vốn lớn, thu lợi nhanh như dịch vụ ăn uống, khách sạn, thương nghiệp. Các thành phần kinh tế này chưa thực sự bình đẳng trong cạnh tranh. Do còn có sự can thiệp về hành chính của cơ quan nhà nước, nhất là các thủ tục hành chính nên họ thường chú trọng đến việc tranh thủ các cơ quan, viên chức nhà nước để có những lợi thế trong cạnh tranh và thu nguồn lợi không từ sản xuất, kinh doanh. Tỉ trọng lao động trong nông nghiệp còn cao. Lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn nhiều. Tỉ lệ lao động qua đào tạo rất thấp. Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, chưa hướng mạnh vào đầu tư chiều sâu, vào các ngành có giá trị tăng thêm cao và tạo nhiều việc làm. Đầu tư từ ngân sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn dàn trải, thất thoát, hiệu quả thấp. Một số công trình lớn, quan trọng cấp quốc gia không hoàn thành theo kế hoạch. Năng lực sản xuất của một số ngành và sản phẩm quan trọng, thiết yếu tăng chậm. Công tác qui hoạch chất lượng thấp, quản lý còn kém và chưa phù hợp với cơ chế thị trường. 4.3)Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Tuy đã có cố gắng đầu tư, song kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vẫn còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu, hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống đường bộ chưa hoàn chỉnh, chất lượng thấp, nhiều nơi còn bị tắc nghẽn; chưa bảo đảm giao thông thông suốt trong mùa mưa ở các khu vực thường bị ngập lụt và miền núi. Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng không còn bất cập về năng lực vận chuyển, khả năng kho bãi, về thông tin, quản lý; chi phí dịch vụ vận tải còn cao. Hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn; các hồ chứa nước ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền núi chưa được đầu tư hoàn chỉnh; chất lượng một số công trình thấp, hiệu quả sử dụng kém. Các công trình thuỷ lợi tập trung nhiều cho sản xuất lúa, chưa phục vụ tốt cho phát triển cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Hệ thống thuỷ lợi ở đồng bằng Sông Cửu Long đầu tư thiếu đồng bộ, còn nhiều yếu kém, bất cập. Quản lý nguồn nước còn bị buông lỏng. Hệ thống điện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về nguồn điện, lưới điện và chất lượng; tỉ lệ tổn thất còn cao. Một số công trình điện không hoàn thành đúng kế hoạch, gây thiếu điện trong thời gian cao điểm và khi có hạn hán nghiêm trọng. Hạ tầng bưu chính, viễn thông vẫn thiếu đồng bộ; chất lượng dịch vụ còn thấp; giá dịch vụ còn cao; hoạt động bưu chính - viễn thông ở vùng sâu, vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu. Kết cấu hạ tầng đô thị phát triển chậm, chất lượng quy hoạch đô thị thấp. Hệ thống cấp nước kém phát triển. Thiết bị xử lý nước lạc hậu, chất lượng nước kém; quản lý đô thị kém. Hệ thống phân phối nước và nguồn nước nhiều nơi chưa được đầu tư đồng bộ. Hệ thống xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp vừa thiếu, vừa kém chất lượng; chưa ngăn chặn được tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Hạ tầng cho giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao còn thiếu, chưa đồng bộ và chất lượng thấp. 4.4)Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều hạn chế, các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc Việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc và chưa thật đồng bộ. Thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Quản lý nhà nước đối với từng loại thị trường còn nhiều bất cập. Một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm. An ninh năng lượng, cán cân thương mại, cán cân vãng lai và thanh toán quốc tế, dự trữ quốc gia, cân đối ngân sách chưa đủ vững chắc để đối phó với các tình huống biến động lớn, đột xuất có thể xảy ra. Thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ thuế nhập khẩu và dầu thô. Hoạt động của hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém, chất lượng tín dụng thấp, nợ xấu còn cao. Trong tình hình giá cả thế giới có nhiều biến động, công tác quản lý giá cả thị trường, lưu thông tiền tệ có mặt chưa phù hợp, lúng túng, để xảy ra đầu cơ gây đột biến giá một số mặt hàng thiết yếu, bất lợi cho hoạt động kinh doanh và đời sống. 4.5)Hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế Thiếu lộ trình thật chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế; chưa gắn kết chặt chẽ tiến trình hội nhập với việc hoàn thiện pháp luật, thể chế, chính sách và cải cách cơ cấu kinh tế; việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp và của nền kinh tế chưa theo kịp với yêu cầu của hội nhập.Tỉ lệ hàng xuất khẩu qua chế biến, chế tác sâu còn thấp. Quy mô xuất khẩu còn nhỏ. Nhập siêu còn lớn. Môi trường đầu tư kém hấp dẫn so với một số nước xung quanh. Chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của các tập đoàn kinh tế lớn; chưa chủ động khai thác vốn đầu tư gián tiếp quốc tế. Việc giải ngân vốn ODA còn chậm. Chiến lược vay và trả nợ nước ngoài chưa được chuẩn bị thật tốt. 4.6) Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được xoá bỏ triệt để, Tác phong, lề lối, thói quen cũ trong quản lý của cơ quan nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến các thành phần kinh tế. Sự đan xen cơ chế quản lý cũ và cơ chế quản lý mới vừa cản trở sự phát triển các thành phần kinh tế, vừa tạo môi trường cạnh tranh không bình đẳng, phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trong các đơn vị kinh tế cũng như trong bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước. 5)Nguyªn nh©n cña cña thùc tr¹ng nÒn kinh tÕ nhiÒu thµnh phÇn ë ViÖt Nam *Đạt được những thành tựu rất quan trọng trên là do : Thứ nhất, Đảng ta có đường lối, chủ trương đúng đắn; Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng với tinh thần tiếp tục đổi mới đã được cụ thể hoá phù hợp với thực tiễn trong các nghị quyết của Trung ương và được thể chế hoá theo hướng xây dựng đồng bộ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; sự chỉ đạo, điều hành có hiệu quả của Chính phủ; sự năng động và quyết tâm của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp khắc phục khó khăn để hoàn thành thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001- 2005. Thứ ba, kết quả đầu tư của nhiều năm qua, cùng với sự huy động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước. *Nguyên nhân của các hạn chế Hiện nay, hàng hóa Việt Nam đi vào thế giới còn kém về năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh... Vì sao vậy? Có nhiều lý do, nhưng có một lý do chính là, nền kinh tế hàng hóa nước ta chưa thật sự trở thành nền kinh tế hàng hóa lớn. Không tiến lên trình độ sản xuất lớn, hiện đại thì nền kinh tế thị trường nước ta sẽ không thể khắc phục được sự lạc hậu. Chúng ta sẽ không đi lại con đường từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây. III.MÂU THUẫN BIệN CHứNG QUá TRìNH XÂY DựNG NềN KINH Tế HàNG HOá NHIềU THàNH PHầN ở VIệT NAM 1.TíNH THốNG NHấT Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,cơ chế hoạt động của nền kinh tế là cơ chế thị trường .Do đó ,các thành phần kkinh tế không tồn tại biệt lập .Mỗi thành phần kinh tế là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất.Sự phát triển của mỗi thành phần đều góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.Mỗi thành phần kinh tế dựa trên một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tuy có sự độc lập tương đối và có bản chất riêng ,nhưng hoạt động sản xuất ,kinh doanh trong môi trường chung ,cùng chịu tác động của các nhân tố ,các quy luật thị trường .Đồng thời,các thành phần kinh tế tác động lẫn nhau ,cả tích cực và tiêu cực .Sự biến đổi của thành phần kinh tế này sẽ làm ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế khác.Hơn thế nữa,các thành phần kinh tế có thể liên kết với nhau trong sản xuất,kinh doanh.Trong nền kinh tế quốc dân thống nhất do nhà nước hướng dẫn ,điều tiết,các chủ thể sản xuất,kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế vừa hợp tác với nhau,bổ sung cho nhau .bình đẳng trước pháp luật. Nền kinh tế nhiều thành phần là cơ sở tồn tại các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội khác nhau mà tổng hợp toàn bộ các giai cấp hoặc tầng lớp xã hội đó tạo thành cơ cấu xã hội,giai cấp.Trong cơ cấu xã hội giai cấp đó ,mỗi giai cấp,mỗi tầng lớp xã hội ,các chủ thể kinh doanh sản xuất thuộc các thành phần kinh tế đều có những lợi ích kinh tế riêng ,vừa thống nhất ,vừa mâu thuẫn 2.TíNH MÂU THUẫN các thành phần kinh tế nước ta mâu thuẫn với nhau vì mỗi thành phần có đặc điểm riêng,về quan hệ sở hữu và tư liêụ sản suất.Trên cơ sở đó,mỗi thành phần kinh tế ngoài các quy luật chung còn có các quy luật kinh tế đặc thù hoạt động ,chi phối mỗi thành phần .Như vậy ,mỗi thành phần mang bản chất khác nhau,có các lợi ích kinh tế khác nhau,thậm chí đối lập nhau 2.1)Mâu thuẫn nổi bật là mâu thuẫn giữa một bên là kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể,kinh tế tư bản nhà nước và một bên là tính tự phát của kinh tế tư nhân. Biểu hiện của mâu thuẫn là mâu thuẫn giữa các hình thái sở hữu trước đây và trong kinh tế thị trường: Trước đây người ta quan niệm những hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội là : sở hữu XHCN tồn tại dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự tồn tại hai hình thức sở hữu đó là tất yếu khách quan bởi những điều kiện lịch sử khi tiến hành cách mạng CNXH và XDCNXH quyết định. Sau khi giành được chíh quyền giai cấp công nhân đứng trước hai hình thức sở hữu tư nhân khác nhau. Sở hữu tư nhân tư bản chủ nghiõa và sở hữ tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ. Thực tế đòi hỏi giai cấp công nhân phải có thái độ và phát triển giải quyết khác nhau. Đối với hình thức sở hữu tư nhân tư bản chue nghĩa bằng cách tước đoạt hoặc chuộc lại để chuyển thẳng lên sở hữu toàn dân, còn đói với hình thức sở hữu tư nhân của những người sản xuất hàng hoá nhỏ thì không thể dùng những biện pháp như trên, mà phải kiên trì giáo dục, thuyết phục tổ chức họ trên cơ sở tự nguyện chuyển lên sở hữu tập thể bằng con đường hợp tác hoá hai hình thức. Sở hữu đó là hai con đường đặc thù tiến lên CNCS của giai cấp công nhân và nông dân tập thể. Các hình thức sở hữu trước đây và trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam. Hơn mưòi năm đổi mới đát nước theo định hướng Xhcn ở nước ta đã chúng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xướngvà lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực tiến đã cho thấy một nền kinh tế nhiều thành phần đương nhiên phải bao gồm nhiều hình thức sở hữu, chứ không phải chỉ có hai thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể như quan niệm trước đây... Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng và phát triển bao gồm nhiều hình thức sở hữu như sở hữu toàn dân, sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể và sở hữu hỗn hợp. Trong các hình thức sở hữu này khái quát lại chỉ có hai hình thức sở hữu cơ bản là công hữ và tư hữu, còn các hình thức khác chỉ là hình thức trung gian, quá đọ hoặc hỗn hợp. ở đây , mỗi hình thức lại có nhiều phương thức biểu hiện về trình độ thể hiện khác nhau. Chúng được hình thành trên cơ sở có cùng bản chất kinh tế và tuỳ theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và năng lực quản lý. Về sở hữu toàn dân : trước đây nguời ta quan niệm sở hữu toàn dân trùng với sở hữu Nhà nước. Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần thì đương nhiên là nó bao gồm nhiều hình thức sở hữu, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng có lợi cho quốc kế dân sinh. Nhà nước quản lý kinh tế với tư cách là cơ quan có quyền lực đại diện cho lợi ích của nhân dân và là đại diện đối với tài sản sở hữu của toàn dân ở nước ta hiện nay, như hiến pháp và luật đất đai đã quy định rõ :” đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Xét về mặt kinh tế đất đai là phương tiện tồn tại cơ bản của cả một cộng đồng xã hội. Xét về mạt xã hội đất đai là lãnh thổ nơi cư trú của cả một cộng đồng. Thế nhưng khi xét trên cả hai phương diện có thể nói rằng đất đai không thể là đối tượng sở hữu của riêng ai. Tuy nhiên, suy cho cùng, đất đai cũng là tư liệu sản xuất, hay nói chính xác hơn, đó là một bộ phận quan trọng của tư liệu sản xuất. Bởi thế , dù là đặc biệt thì trong nền kinh tế hàng hoá, nó vẫn phải vận động theo quy luật của thị trường và chịu sự điều tiết của quy luật đó. Việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện sở hữu và quản lý không hề mâu thuẫn với việc trao quyền cho các hộ nông dân , kể cả quyền chuyển nhượng, quyền sử dụng đất đai nếu biết giải quyết cụ thể các vấn đề sở hữu , biết tách quyền sở hữu với quyền sử dụng. Chẳng hạn như ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân song nguời nông dân có quyền sử dụng ổn định lâu dàithì có thể đem lại một sức bật cho sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung. Văn kiện Đại hội VII của Đảng ta đã chỉ rõ:”trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất đuợc giao cho nguời nông dân sử dụng lâu dài. Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề về thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất....” (Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII – Nhà xuất bản sự thật- Hà nội năm1991). Như vậy hình thức sở hữu toàn dân ở nước ta hiện nay đã được xác định theo nội dung mới, có nhiều khả năng để thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Về sở hữu nhà nước Trong thời kỳ bao cấp trước đây không chỉ có nước ta mà còn có những nước khác trong hệ thống các nước xã hội chủ nghiã thưòng đồng nhất sở hữu nhà nước với sở hữu toàn dân. Do nhầm lẫn như vậy mà trong một thời gia khá lâu , ngường ta thường bỏ quên hình thức sở hữu nhà nước chỉ quan tâm đặc biệt đến sở hữu toàn dân với chế độ công hữu tồn tại dưói hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Và cũng bởi sở hữu toàn dân gắn kết vơí sự phát triển của khu vực kinh tế quốc doanh mà chúng ta ra sức quốcdoanh hó nền kinh tế với niềm tin cho rằng chỉ như vậy mới có chủ nghĩa xã hội nhiều hơn. Thực ra, với quan niệm đó, sở hữu toàn dân đã trở thành sở hữu không phải của một chủ thể cụ thể nào cả. Trong xã hội mà Nhà nước còn tồn tại thì sở hữu toàn dân chưa có điều kiện vận động trrên bề mặt của đời sống kinh tế nói chung. Hình thức sở hữu nhà nước xét về tổng thể, mới chỉ là kết cấu bên ngoài của sở hữu. Còn kết cấu bên trong của sở hữu nhà nước ở nước ta có lẽ chủ yếu thể hiện ở quyền sở hữu đó ở khu vực kinh tế quốc doanh, khu vực các doanh nghiệp nhà nước. Về sở hữu tập thể: ở nước ta trước đây sở hữu tập thể chủ yếu tồn tại dưới hình thức HTX ( gồm cả HTX nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp) với nội dung là cả giá trị và giá trị sử dụng đều là của chung mà các xã viên là chủ sở hữu chính. Vì vậy với hình thức sở hữu này, quyền mua bán hoặc chuyển nhượng tư liệu sản xuất, trong thực tế sản xuất và lưu thông hàng hó ở nước ta dễn ra hết sức phức tạp. Quyền của các tập thể sản xuất thường rất hạn chế, song đôi khi lại có tình trạng lạm quyền. Sự không xác định, sự nhập nhằng với quyền sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân trá hình cũng là hiện tượng phổ biến. Để thoát khỏi tình trạng đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị truờng hiện nay cần phải xác định rõ quyền mua bán và chuyển nhượng tư liệu sản xuất đối với các tập thể sản xuất kinh doanh. Chỉ có như vậy thì sở hữu tập thể mới có thể trở thành hình thức sở hữu có hiệu qủa. Chúng ta đã biết, HTX không phải là hình thức riêng có, đặc trưng cho CNXH, nhưng nó là một hình thức sở hữu kinh tế tiến bộ trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chúng ta duy trì và phát triển hơn nữa hình thức sở hữu này khi xây dựng chủ nghĩa xã hội như V.I Lenin đã khẳng định,” chế độ của người xã viên hợp tác xã văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa”. HTX là nhu cầu thiết thực của nền kinh tế hộ gia đình, của nền sản xuất hàng hoá. Khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và công nghiệp nhỏ phát triển tới một trình độ nhất địng, nó sèt húc đẩy quá trình hợp tác. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá, các nhu cầu về vốn, cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm .. đòi hỏi các hộ sản xuất phải hợp tác với nhau mới có khả năng cạnh tranh và phát triển. Chính nhu cầu đó đã liên kết những nguời lao động lại với nhau làm nảy sinh quan hệ sở hữu tập thể. Thực tiễn cho thấy, ở nước ta hiện nay đã có những hình thức HTX kiểu mới ra đời do nhu cầu tồn tại và phát triển cuả cơ chế thị trường” HTX đã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao độngvà theo cổ phần, mỗi xã viên cóquyền như nhau đối với công việc chung”(Đảng cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội- 1996 ). Điều này cho thấy kết cấu bên trong của sở hữu tập thể đã thay đổi phù hợp với tình hình thực tiễn ở đất nước ta hiện nay. 2.2)Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp, mâu thuẫn giữa hai lực lượng này và những biểu hiện của nó xét trên phương diện triết học Mác - Lênin, theo đó lực lượng sản xuất là nội dung của sự vật còn quan hệ sản xuất là ý thức của sự vật, lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất sẽ không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, cần thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình đọ phst triển của lực lượng sản xuất. Chính quan hệ sản xuất tự phát triển để phù hợp với lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, đó là quy luật kinh tế chung cho sự phát triển xã hội. Quá trình mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hế sản xuất lạc hậu kìm hãm nó diễn ra gay gắt, quyết liệt và cần được giải quyết. Nhưng giải quyết nó bằng cách nào? đó chính là các cuộc cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế mà cuộc chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta là một ví dụ. Khi một mục tiêu, một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, thể hiện tích chất cách mạng của công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam là phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Công nghiệp hiện đại hoá đất nước là chủ trương, biện pháp vừa mang tính cách mạng vừa mang tính khoa học để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nói đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chính là nói đến nền sản xuất tiên tiến và đó chính là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nói đến khoa học, đến sự anh minh, trí tuệ, là nói đến một phương thức tối ưu để thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, nhằm tạo điều kiện và cơ sở vật chất cho CNXH được xây dựng và phát triển. Không thể ăn đói, mặc rách với cái cuốc trên vai cộng thêm tấm lòng cộng sản để kiến thiết CNXH, chuyển sang nền kinh tế thị trường. Khẳng định cái mới, đúng đắn tự bản thân nó đã bao gồm cả ý nghĩa phủ định gạt bỏ cả quan niệm cũ sai lầm về điieù kiện và cách thức xây dựng chủ nghĩa xa hội ở nước ta. Trước đây chúng ta thiếu quan tâm đúng mức đến vai trò của trí tuệ; khoa học, đến việc tạo lập cơ sở kinh tế vật chất của CNXH. Bằng chứng là một thời chúng ta đã coi trọng không đúng mức tầng lớp trí thức và khoa học trong môi trường tương quan với đội ngũ những nguời lao động khác. Do thế, hậu quả tất yếu đã xảy ra là khoa học ở nước ta chậm hoặc ít có điều kiện môi trường phát triển, đất nước không thoát khỏi nền sản xuất nhỏ, nông nghịp lạc hậu và cũng không thể nói dến công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. 2.3)Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường và mục tiêu xây dựng con người XHCN Chủ tịch Hồ Chí MInh cho rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người XHCH. Yếu tố con người giứ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng , bởi vì con người là chủ thể của mọi sáng tạo, của mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá. Con nguời phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, là mục tiêu của CNXH . Chúng ta phải bắt đầu từ con người làm điểm xuất phát. Kinh tế thị trường là một loại hình kinh tế mà trong đó các mối quan hệ kinh tế giữa con nguời với con nguời được biểu hiện thông qua thị trường, tức là thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ trên thị trường,.Trong kinh tế thị trường, các quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát trên mọi lĩnh vực, có ý nghĩa phổ biến đối với nguời sản xuất và người tiêu dùng. Do nẩy sinh và hoạt động một cách khách quan trong điều kiện lịch sử nhất định Kinh tế thị trường phản ánh đầy đủ trình độ văn minh và phát triển xã hội là nhân tố phát triển sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật như sự cạnh tranh lạnh lùng , tính tự phát mù quáng dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu kỳ. Xuất phát từ sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy rằng đổi mới ở nước ta hiện nay , không thể xây dựng và phát triển con người nếu thiếu yếu tố kinh tế thị trường. Do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển , của cơ chế tập trung quan liêu bao câp,..nền kinh tế nước ta đa xtụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, kinh tế thị trường là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng và phát triển , phục hồi sản xuất, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Trên cơ sở đó , đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, những nhu cầu sinh hoạt vật chất cơ bản ngày càng được đápứng một cách đầy đủ và nhanh chóng. Con nguời không thể có cơ thể khoẻ mạnh nếu thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu các điều kiện y tế hiện đại để chăm sóc giữ gìn sức khoẻ. Con nguời không thể có trí tuệ minh mẫn, phát triểnnếu các điều kiện vật chất tiến hành các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học không được đáp ứng. Việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng đồng nghĩa với việc tạo ra các điều kiện vật chất cơ bản để thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển con người cho thế kỷ XXI. 2.4) Mâu thuẫn giữa yêu cầu ổn định và phát triển nền kinh tế với tình trạng trì trệ của nền kinh tế. Kinh tế nước ta đang tụt hậu khá xa so với nền kinh tế thế giới và các nước trong khu vực .Nước ta đang ở giai đoạn đầu của việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần , nền kinh tế chưa phát triển ,xuất phát điểm còn thấp: là một nước nông nghiệp lạc hậu ,bị chiến tranh tàn phá nặng nề…sản xuất hàng hóa còn mang năng tính tự cung tự cấp.Trừ một số cơ sở công nghiệp mới xây dựng ,cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở trình độ thấp ,ở nhiều ngành kinh tế máy móc còn cũ kĩ , công nghệ lạc hậu.Việt Nam đang ở trình độ công nghệ lạc hậu 2/7 của thế giới ,thiết bị máy móc lạc hậu 2 – 3 thế hệ . Sự thiếu đồng bộ giữa các ngành và trong từng ngành còn phổ biến .Sự phân bố cơ sở vật chất – kỹ thuật của nền kinh tế chưa đồng đều giữa các vùng. Sự phát triển thiếu đồng bộ của hệ thống hạ tầng thương mại nông thôn làm cản trở quá trình phát triển kinh tế hàng hoá và quá trình tự do hoá thị trường nội địa. 2.5)M©u thuẫn giữa yêu cầu phát triển nền kinh tế với việc giải quyết các vấn đề xã hội. * Mâu thuẫn với mục tiêu phát triển con người xã hội chủ nghĩa Con người là chủ thể của mọi sáng tạo ,của mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa ,vậy nên yếu tố con người giữ vai trò cực kì quan trọng trong sự nghiệp cách mạng. Mục tiêu của CNXH là xây dựng con người phát triển cao về trí tuệ ,cường tráng về thể chất ,phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức . NÒn kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta tạo môi trường thích hợp để con người phát triển hoàn toàn, toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.Nó tạo ra sự cạnh tranh và chạy đua quyết liệt ,buộc con người phải năng động, sáng tạo ,có tác phong nhanh nhạy,có đầu óc quan sát, phân tích để thích nghi và hành động có hiệu quả. Từ đó nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con người ,góp phần làm giảm đi sự chậm chạp ,trì trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế lạc hậu từ ngàn đời con người Việt Nam. Tuy nhiên , cần thấy rằng không phải cứ xây dựng được kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường ,là những phẩm chất tốt đẹp tự nó hình thành cho con người .Có những lúc ,chính nền kinh tế ấy tha hóa bản chất của con người , biến con người thành nô lệ của tiền bạc, sùng bái tiền bạc , hoặc kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lợi ích cá nhân ,sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm ,văn hóa ,đạo đức luân lí….Bên cạnh những tác đọng tích cực ,kinh tế thị trường cũng có nhiều khuyết tật ,hạn chế gây ra những tác động xấu..Quan hệ hàng hóa tiền tệ làm sôi động thị trường nhưng cũng làm xói mòn nhân cách và phẩm chất con người .Đi kèm với nó là hàng loạt các tệ nạn xã hội đưa đến rối loạn ,khủng hoảng cho gia đình Nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường hiện nay như con dao hai lưỡi ,nếu dùng không cẩn thận sẽ bị đứt tay. *Vấn đề việc làm Bên cạnh các kết quả đã đạt được ,vấn đề giải quyết việc làm vẫn còn rất nhiều hạn chế ,cần được khắc phục. Các văn bản, chính sách về lao động - việc làm ra đời nhưng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, chưa thực sự theo sát thực tiễn, hiệu quả triển khai thực hiện chính sách còn chậm, lúng túng và thấp. Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách chưa được thường xuyên, việc xử lý vi phạm chưa thực sự nghiêm minh, ảnh hưởng không tốt đến việc giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động. Chất lượng việc làm ở nước ta chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm thấp, hiệu quả tạo việc làm còn thấp; nhu cầu có việc làm vẫn là vấn đề bức xúc của xã hội; chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, lao động chủ yếu làm việc trong nông nghiệp (54,7%), lao động ở khu vực nông thôn chiếm chủ yếu (75%) gây sức ép lớn về giải quyết việc làm. Thị trường lao động Việt Nam đã bước đầu hình thành và phát triển nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn có nhiều các khu công nghiệp, khu chế xuất, ở 3 vùng kinh tế trọng điểm, ở các tỉnh khác mức độ còn sơ khai. Lao động phân bố không đồng đều, chủ yếu ở nông thôn và đồng bằng, ở miền núi thưa thớt. Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa hoàn thiện, hệ thống giao dịch việc làm chưa mạnh, chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động (chiếm trên 80% tổng số giao dịch). Các chính sách về tiền lương, tiền công nói chung chưa phản ánh được giá trị theo quy luật của thị trường, chưa khuyến khích người lao động phát huy hết khả năng và chưa thực hiện được chức năng "kích cầu" để sản xuất phát triển. Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động Việt Nam vẫn còn yếu về chất lượng, thiếu về số lượng.Mặt khác, hầu hết người lao động của nước ta hiện nay còn mang thói quen, tập quán sản xuất nhỏ, thiếu năng động và sáng tạo, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp kém; kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm hạn chế, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc. Do đó, nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường là rất lớn khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế. Quyền lợi người lao động : Các doanh nghiệp nước ngoài đã chú trọng đầu tư xây dựng nhiều khu công nghiệp mới ,chi nhánh sản xuất ở Việt nam ,nhờ đó đã giải quyết được phần lớn lượng lao động thất nghiệp. Tuy nhiên một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động ,quyền lợi của người lao động bị vi phạm hết sức nghiêm trọng, mang tính hệ thông.Một số cuộc đình công đã xảy ra ở các khu công nghiệp *Sự gia tăng phân hóa giàu nghèo: Trước hết là xu hướng gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa tầng lớp có thu nhập cao và tầng lớp có thu nhập thấp trong nước… Khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng do cơ hội và thành quả tăng trưởng kinh tế không được chia sẻ một cách đồng đều mà lại theo hướng có lợi cho nhóm người vốn đã có cuộc sống dư dật, khá giả hơn… Thứ hai là sự phân hóa thu nhập có xu hướng gia tăng giữa các vùng miền khác nhau, đặc biệt là giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng đồng bằng với vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số… Thứ ba là trong xu hướng gia tăng khoảng cách giàu nghèo, trong 20% số hộ thu nhập cao nhất xuất hiện ngày càng nhiều những biểu hiện làm giàu bất chính như tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp, gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, gây bất bình, phẫn nộ trong quần chúng… Thứ tư là sự đầu tư và sự hưởng thụ về giáo dục, sức khỏe và các dịch vụ khác ngày càng nghiêng về phía người có nhiều tiền sống ở thành thị… 2.6)Mâu thuẫn trong quá trình mở cửa kinh tế với bên ngoài với tính phức tạp về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gia tăng, năng lực điều hành, quản lý còn thấp kém. Việt Nam triển khai hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh quốc tế và khu vực khá thuận lợi, với hòa bình, ổn định và hợp tác là xu thế chủ đạo, đồng thời tiến trình toàn cầu hóa trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ,do vậy chúng ta có thêm đà thúc đẩy hội nhập.Tuy nhiên ,bên cạnh những thuận lợi có được chúng ta cũng vấp phải những khó khăn ,thách thức rất lớn.Về chủ quan, đó là những khó khăn ,thách thức về nhận thức ,quan điểm, chủ trương, chính sách, những tồn tại trong công tác chỉ đạo, điều hành, những hạn chế bất cập về năng lực hội nhập của nền kinh tế.Đến nay có thể khẳng định, Đảng và Nhà nước ta đã có nhận thức, quan điểm khách quan, đúng đắn và chủ trương ,chính sách phù hợp về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ nhân dân, doanh nghiệp , thậm chí đảng viên ,cán bộ, nhất là ở các địa phương ,vẫn chưa theo kịp với đòi hỏi của tình hình, chưa thực sự đổi mới và nâng cao nhận thức và quan điểm của mình cho phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới Trong công tác chỉ đạo ,điều hành ,chúng ta chưa được sự nhất quán cao của các cấp , các ngành và toàn nền kinh tế trong việc tích cực chủ động chuẩn bị và tiến hành hội nhập ,vẫn còn để tác phong, lề lối thói quen cũ của chế độ tập trung quan liêu bao cấp ảnh hưởng tới các thành phần kinh tế . Thêm nữa, tiến trình toàn cầu hóa ,tự do hóa ẩn chứa xu hướng gia tăng rào cản thương mại và biện pháp bảo hộ rất tinh vi của các nước tư bản phát triển ,gây thiệt hại khó khăn cho các nước đang phát triển .Tình trạng gia tăng các vụ kiện, tranh chấp thương mại mà chúng ta phải đối phó trong thời gian qua là những minh chứng rất rõ về vấn đề này. IV.GIảI PHáP PHáT TRIểN KINH Tế HàNG HOá NHIềU THàNH PHầN ở VIệT NAM 1 - Phải tiếp tục thực hiện một cách nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Không nên có thái độ định kiến và kỳ thị đối với bất cứ thành phần kinh tế nào. Kinh tế nhà nước phải phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Đẩy mạnh việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu của các doanh nghiệp nhà nước; đồng thời tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước theo hướng xóa bao cấp; doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh; nộp đủ thuế và có lãi; thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp. Kinh tế tập thể gồm các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn; liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông thôn. Nhà nước giúp hợp tác xã đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học và công nghệ, thông tin, mở rộng thị trường, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Kinh tế cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ phát triển, bao gồm cả các hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển lớn hơn. Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động; liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào các sản phẩm xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Phát triển đa dạng kinh tế tư bản nhà nước dưới dạng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh tế. Chú trọng các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa trong nước và ngoài nước. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội. 2 - Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhìn chung, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mới được bắt đầu, trình độ còn thấp, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh chưa cao. Nhiều thị trường còn sơ khai, chưa đồng bộ. Vì vậy, phải đổi mới mạnh mẽ tư duy hơn nữa, đẩy mạnh việc hình thành các loại thị trường. Đặc biệt quan tâm các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước, cả ở thành thị và nông thôn, chú ý thị trường các vùng có nhiều khó khăn. Chủ động hội nhập thị trường quốc tế. Hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh. Mặt khác, phải đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà. Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển; bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách, kết hợp với sử dụng lực lượng vật chất của Nhà nước để định hướng phát triển kinh tế - xã hội, khai thác hợp lý các nguồn lực của đất nước, bảo đảm cân đối vĩ mô nền kinh tế, điều tiết thu nhập; kiểm tra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại. Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, luật pháp, đổi mới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường công tác thông tin kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công nghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp. 3 - Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng vào phát triển và lành mạnh hóa xã hội, thực hiện công bằng xã hội, coi đây là một nội dung rất quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội mới. Điều đó chẳng những tạo động lực mạnh mẽ nhằm phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động mà còn thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng và hợp pháp, điều tiết các quan hệ xã hội. 4 - Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc và là nhân tố quyết định nhất bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, cũng như toàn bộ sự nghiệp phát triển của đất nước. Đây cũng là một trong những bài học lớn nhất được rút ra trong những năm đổi mới. Càng đi vào kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, mở rộng hợp tác quốc tế càng phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực tế ở một số nước cho thấy, chỉ cần một chút mơ hồ, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng là lập tức tạo điều kiện cho các thế lực thù địch dấn tới phá rã sự lãnh đạo của Đảng, cướp chính quyền, đưa đất nước đi con đường khác. Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng đề ra đường lối, chiến lược phát triển của đất nước nói chung, của lĩnh vực kinh tế nói riêng, bảo đảm tính chính trị, tính định hướng đúng đắn trong sự phát triển kinh tế, làm cho kinh tế chẳng những có tốc độ tăng trưởng và năng suất lao động cao, có lực lượng sản xuất không ngừng lớn mạnh mà còn đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là hạn chế được bất công, bóc lột, chăm lo và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Trên cơ sở đường lối, chiến lược đó, Đảng lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và guồng máy xã hội, trước hết là Nhà nước, tổ chức thực hiện bằng được phương hướng và nhiệm vụ đã đề ra. C. KẾT LUẬN Xuất phát từ những đặc điểm của nước ta, nền kinh tế hàng hóa không thể thiếu một cơ cấu nhiều thành phần kinh tế. Tính chất nhiều thành phần này là một tập hợp của nhiều điều kiện và cũng là động lực thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Tác dụng tích cực của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là rất rộng, như: Huy động tối đa các tiềm năng và khả năng hiệu quả của nền kinh tế; Tạo ra sự đa dạng về quy mô và trình độ kỹ thuật của nước ta; Tạo điều kiện thực hiện thuận lợi cho sự liên doanh liên kết với bên ngoài; Giải quyết việc làm cho người lao động (một vấn đề bức xúc trong xã hội ta); Thực hiện dân chủ trong kinh tế… Sau hơn 20 năm đổi mới, cùng với việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã đi vào thực tiễn, góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế trong bối cảnh tình hình quốc tế không thuận lợi vì tình hình trong nước con nhiều khó khăn. Thực tiễn đã nhắc nhở chúng ta thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần coi đó là con đường tất yếu quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta không nằm ngoài mục tiêu của Đảng là phát triển kinh tế đất nước, thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định “Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Nhiệm vụ của toàn dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy nhanh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phấn đấu đạt và vượt mức để ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000. Tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vũng, đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, cải thiện đới sống nhân dân, nâng cao tích lũy nội bộ từ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau". Ngày nay, đất nước ta đã và đang tiến lên một cách vững chắc. Mặc dù còn nhiều khó khăn cần vượt qua, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta hy vọng trong tương lai không xa bộ mặt đất nước ta sẽ khởi sắc, dân tộc ta sẽ khẳng định được vị trí của mình trên trường quốc tế.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.DOC
Luận văn liên quan