Một số biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam trong bối cảnh là thành viên của WTO

LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, trong đời sống kinh tế - xã hội, xu thế tự do hoá thương mại đang ngày càng mở rộng và được các quốc gia tích cực theo đuổi để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước mình. Đây là một xu thế khách quan, một nhu cầu tất yếu với những lợi ích không thể phủ nhận. Tuy nhiên, nó cũng mang lại không ít khó khăn, đặc biệt là đối với những nền kinh tế còn non trẻ, sức cạnh tranh của các nền sản xuất trong nước còn kém. Vì vậy, các quốc gia thường sử dụng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để bảo hộ nền sản xuất trong nước; coi bảo hộ là công cụ đắc lực trong chính sách thương mại của mình. Trong những năm gần đây, bạn bè quốc tế đã bắt đầu chú ý tới hình ảnh một Việt Nam mới mẻ, chủ động và tích cực hội nhập với toàn cầu. Một trong những cột mốc đáng nhớ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là ngày 11 tháng 01 năm 2007, chúng ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Chính sách hội nhập và tự do hoá thương mại đã đem lại cho Việt Nam những lợi ích to lớn nhưng bên cạnh đó là không ít khó khăn và thách thức. Hội nhập đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa hơn nữa nền kinh tế, cắt giảm thuế quan và loại bỏ những hàng rào phi thuế quan không phù hợp với các quy định và cam kết quốc tế. Một vấn đề nhức nhối luôn được đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để có thể thực hiện tốt các biện pháp bảo hộ mà không vi phạm các cam kết về tự do hoá thương mại của Tổ chức thương mại thế giới. Xuất phát từ lý do trên, em lựa chọn đề tài “Một số biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam trong bối cảnh là thành viên của WTO” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Ÿ Phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến bảo hộ sản xuất trong nước và xác định sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong nước của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Ÿ Phân tích thực tiễn thực hiện các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam. Ÿ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất của Việt Nam trong giai đoạn sắp tới khi Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các biện pháp bảo hộ sản xuất của Việt Nam trong xu thế tự do hoá thương mại, trong đó tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các biện pháp bảo hộ mà Việt Nam đang áp dụng. Từ đó đánh giá mức độ hợp lý của chính sách này và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện hợp lý và hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Khoá luận chỉ tìm hiểu, phân tích một số biện pháp bảo hộ cơ bản và được sử dụng nhiều nhất trên thế giới và Việt Nam, và chỉ nghiên cứu các biện pháp bảo hộ sản xuất hàng hoá hữu hình. Các quan điểm và đề xuất được đưa ra cho giai đoạn từ nay đến hết 2010, tầm nhìn 2020. 4. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, khoá luận đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Cùng với một số phương pháp khác, như: phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, diễn giải, quy nạp. 5. Bố cục của khoá luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các bảng biểu, khoá luận được chia thành 3 chương: Chương I: Tổng quan về bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước và sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong nước. Chương II: Thực trạng sử dụng các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất ở Việt Nam hiện nay. Chương III: Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam. Do hạn chế về kiến thức và dung lượng cho phép nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo – Thạc sỹ Nguyễn Quang Hiệp đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận. Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường để em có thể thực hiện tốt khoá luận này./. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HỘ HỢP LÝ SẢN XUẤT TRONG NƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO HỘ SẢN XUẤT TRONG NƯỚC 4 I. Khái quát về bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. 4 1. Khái niệm bảo hộ sản xuất trong nước và tác động mang tính hai mặt 4 1.1. Khái niệm 4 1.2 Tác động mang tính hai mặt của bảo hộ sản xuất trong nước. 5 1.2.1. Những tác động tích cực. 5 1.2.2. Những tác động tiêu cực của bảo hộ sản xuất trong nước. 6 2. Khái niệm bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước và lợi ích của bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. 7 2.1. Khái niệm 7 2.2. Lợi ích của bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. 9 3. Các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước thường được áp dụng. 9 3.1. Các biện pháp thuế quan. 9 3.2 Các biện pháp phi thuế quan. 11 3.2.1. Nhóm các biện pháp hạn chế định lượng. 12 3.2.2. Nhóm các biện pháp kỹ thuật 16 3.2.3. Nhóm các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 18 II. Sự cần thiết phải bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. 23 1. Tính thiết yếu của sự bảo hộp hợp lý đối với các quốc gia trên thế giới 23 2. Sự cần thiết phải bảo hộ đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 25 2.1. Năng lực cạnh tranh quốc gia. 25 2.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 29 2.3 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm 31 III. Xu thế sử dụng các biện pháp để bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước trên thế giới 33 1. Rào cản thuế quan và phi thuế quan có xu hướng giảm dần. 33 2. Gia tăng bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế quan như rào cản kỹ thuật, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại 35 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ HỢP LÝ SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37 I. Một số cam kết mở rộng thị trường trong nước của Việt Nam trong WTO 37 1. Cam kết về hạn ngạch thuế quan. 37 2. Cam kết về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu. 37 3. Cam kết về rào cản kỹ thuật thương mại 37 4. Cam kết về biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 37 5. Cam kết về quyền tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. 38 II. Thực trạng sử dụng các biện pháp bảo hộ sản xuất ở Việt Nam hiện nay 39 1. Bảo hộ thông qua các biện pháp thuế quan. 39 2. Các biện pháp phi thuế. 42 2.1. Các biện pháp hạn chế định lượng. 42 2.1.1. Cấm nhập khẩu. 42 2.1.2. Hạn ngạch nhập khẩu. 46 2.1.3. Hạn ngạch thuế quan. 46 2.1.4. Giấy phép nhập khẩu. 50 2.2 Các biện pháp tương đương thuế quan. 52 2.2.1. Xác định giá trị hải quan. 52 2.2.2. Phụ thu. 53 2.3. Các biện pháp kỹ thuật 54 2.4. Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 56 2.5. Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại 58 2.6. Các biện pháp quản lý hành chính. 61 III. Đánh giá mức độ hợp lý của các biện pháp bảo hộ sản xuất ở Việt Nam từ khi gia nhập WTO tới nay. 61 1. Những kết quả tích cực. 61 1.1. Điều chỉnh theo hướng hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế. 61 1.2. Các biện pháp, chính sách bảo hộ đã góp phần bảo vệ sản xuất trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hàng. 62 1.3. Các biện pháp bảo hộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và thu hút FDI 63 1.4. Hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương và phát triển bền vững. 65 1.5. Các chính sách bảo hộ đã góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập. 65 2. Những mặt hạn chế. 66 2.1. Đối tượng tác động của các biện pháp bảo hộ còn dàn trải 66 2.2. Hiệu quả thực hiện các biện pháp bảo hộ còn chưa cao. 67 2.3. Các chính sách bảo hộ chưa thực sự là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hàng. 68 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ HỢP LÝ SẢN XUẤT TRONG NƯỚC 71 I. Quan điểm về bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước. 71 1. Bảo hộ một cách chọn lọc các đối tượng được bảo hộ. 71 2. Các biện pháp bảo hộ phải hợp lý, có điều kiện và lộ trình cắt giảm phù hợp 72 3. Các biện pháp bảo hộ phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế 72 4. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất, bình đẳng đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. 73 5. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 73 II. Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam 74 1. Nhóm các biện pháp liên quan đến thuế và phi thuế. 74 1.1. Nhóm các giải pháp liên quan đến thuế. 74 1.2. Nhóm giải pháp liên quan đến phi thuế. 75 1.2.1. Các biện pháp hạn chế định lượng. 76 1.2.2. Các biện pháp kỹ thuật 77 1.2.3. Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời 78 1.2.4. Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại 79 1.2.5.Các biện pháp khác. 80 2. Nhóm giải pháp liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh. 81 2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. 81 2.1.1. Giải pháp về đầu tư. 81 2.1.2. Giải pháp về thị trường. 82 2.1.3. Giải pháp về huy động vốn. 83 2.1.4. Giải pháp về nguồn nhân lực. 85 2.1.5. Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính. 85 2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 86 2.3. Nâng cao năng lực của các ngành hàng. 88 2.3.1. Nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp. 88 2.3.2. Công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp. 89 KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

doc99 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 6273 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam trong bối cảnh là thành viên của WTO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
huyến khích, ưu đãi để thu hút FDI, qua đó góp phần nâng cao năng lực ngành hàng, thúc đẩy công nghiệp hóa (thông qua chuyển giao công nghệ, các kỹ năng quản lý, marketing…). Hầu hết những ưu đãi trước đây dành cho doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp và khu chế xuất (124 khu công nghiệp và khu chế xuất tính đến cuối tháng 7/2005) đều dưới hình thức miễn, giảm thuế TNDN. Trước áp lực gia nhập WTO, nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử ngày càng được áp dụng rộng rãi đối với cả doanh nghiệp trong nước (DNNN và doanh nghiệp tư nhân) lẫn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Luật đầu tư năm 2005 đã xóa bỏ việc dùng các trợ cấp bị cấm để khuyến khích đầu tư và dành ưu đãi đầu tư cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; không còn ưu đãi về thuế TNDN dựa trên kết quả xuất khẩu đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; các doanh nghiệp trong các khu chế xuất được miễn thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Nhìn chung, những cải cách, điều chỉnh trong chính sách thuế của Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thu thuế cho NSNN và tăng trưởng kinh tế. Tổng thu NSNN đã tăng rõ rệt từ mức tương đương 22,3% GDP năm 2001 ước lên 27,9% GDP năm 2006; trong đó, tỷ trọng thu nội địa (không kể dầu thô) trong tổng thu NSNN đã tăng từ 49,05% năm 2001 lên tới 50,3% năm 2006. (Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Chính sách thuế và trợ cấp của Việt Nam: Những thành tựu và hạn chế). Chính sách thuế, thuế quan và trợ cấp cũng góp phần thúc đẩy thương mại quốc tế trong thời gian qua, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có độ mở thương mại (tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa so với GDP) lớn nhất trong các nước đang phát triển và chuyển đổi (tăng từ mức 95,6% GDP năm 2000 lên 140% GDP năm 2006); riêng xuất khẩu đã tăng từ mức tương đương 45% GDP năm 2000 lên 66% GDP năm 2006). (Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Chính sách thuế và trợ cấp của Việt Nam: Những thành tựu và hạn chế). Cuối cùng, thành tựu đầy ấn tượng trong thu hút FDI của Việt Nam, ngoài các nhân tố khác, không thể không nói đến vai trò của những cải cách và điều chỉnh trong chính sách thuế, thuế quan và trợ cấp thời gian qua. 1.4. Hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương và phát triển bền vững Ngoài việc thực hiện chức năng công bằng xã hội, chính sách thuế và trợ cấp Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương và phát triển bền vững. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam duy trì một số chương trình hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và duy trì sản xuất ở những khu vực có khó khăn. Phần lớn các khoản trợ cấp đều nhằm trợ giúp lãi suất cho các doanh nghiệp thu mua gạo, đường, thịt lợn… khi giá thị trường sụt giảm xuống quá thấp khiến cho người sản xuất bị thua lỗ. Đáng lưu ý là các nhóm trợ cấp này thuộc Hộp Màu hổ phách (bị cấm) chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị trợ cấp của Việt Nam (4,9% trong giai đoạn 1999 – 2001). Để hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương, các nguồn trợ cấp, ưu đãi (thuế) hướng tới những chương trình như: dự trữ quốc gia (cho mục tiêu an ninh lương thực), các chương trình môi trường, các chương trình hỗ trợ vùng (bao gồm các chương trình tái định cư, di dân, vùng kinh tế mới, hỗ trợ phí đi lại để vận chuyển lương thực, muối, phân bón, và thuốc trừ sâu từ vùng đồng bằng lên miền núi và vận chuyển các sản phẩm nông nghiệp từ vùng miền núi về đồng bằng), các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc), cung cấp cung cấp lương thực cho người nghèo ở những vùng miền núi, vùng khó khăn, cứu trợ thiên tai, bảo vệ thực vật và thú y….; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn; nghiên cứu khoa học, đào tạo, khuyến nông. 1.5. Các chính sách bảo hộ đã góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập Các chính sách bảo hộ đã góp phần bảo vệ và phát triển các ngành sản xuất trong nước, bảo vệ đời sống của nhân dân, từ đó làm cho người dân ngày càng tin tưởng vào Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Việc chính phủ áp dụng giấy phép hay hạn ngạch thuế quan đối với một số mặt hàng là vì mục đích đảm bảo công việc và thu nhập ổn định cho người dân, làm cho người dân yên tâm sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện một cách rõ rệt. Chính phủ đã ban hành một loạt những chương trình hỗ trợ sản xuất cho các đối tượng ở những vùng khó khăn như: Ÿ Trợ cấp đầu vào, áp dụng cho những người sản xuất có thu nhập thấp, có ít nguồn lực và sống ở các vùng khó khăn thông qua hỗ trợ lãi suất chênh lệch, khoanh hoặc xóa các khoản nợ xấu khi vay từ Ngân hàng người nghèo. Ÿ Hỗ trợ đầu tư thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi của Quỹ hỗ trợ phát triển theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và hỗ trợ chênh lệch lãi suất (nhằm cho phép các ngân hàng đưa ra mức lãi ưu đãi cho các khoản vay) và khoanh nợ hoặc xóa nợ xấu trong lĩnh vực nông nghiệp. Ÿ Hỗ trợ khuyến khích đa dạng hóa sản xuất và từ bỏ canh tác cây thuốc phiện. Ngoài ra, các chính sách bảo hộ còn góp phần ổn định kinh tế xã hội, tạo công ăn việc làm cho một số lực lượng lớn lao động. Đây là một đóng góp vô cùng to lớn không thể phủ nhận. 2. Những mặt hạn chế 2.1. Đối tượng tác động của các biện pháp bảo hộ còn dàn trải Các mặt hàng được bảo hộ trong thời gian vừa qua chưa có tính chọn lọc. Trong số các mặt hàng được bảo hộ, có những mặt hàng mà chúng ta không có lợi thế so sánh ( ô tô, sắt thép…) và những mặt hàng không có hiệu quả kinh tế cao (đường, giấy…), gây ra một sự lãng phí không nhỏ về nguồn vốn đầu tư. Mặt khác, chúng ta lại chưa có sự hỗ trợ tập trung, đủ lực cho các mặt hàng mang tính chiến lược của nền kinh tế mà chúng ta có lợi thế so sánh và đem lại hiệu quả kinh tế cao. 2.2. Hiệu quả thực hiện các biện pháp bảo hộ còn chưa cao Hệ thống thuế quan còn khá phức tạp, số lượng thuế quan còn nhiều và độ phân tán giữa các mức thuế quan còn khá cao là mảnh đất màu mỡ “dung dưỡng” cho các hoạt động tìm kiếm đặc lợi và tham nhũng. Mức bảo hộ bằng thuế quan vẫn còn quá chênh lệch giữa các ngành hàng là một trong nhiều nguyên nhân khiến một lượng vốn tương đối lớn được đầu tư vào các ngành hàng mà Việt Nam không có lợi thế so sánh, và do đó, dẫn đến nguồn vốn được phân bổ kém hiệu quả. Không chỉ chưa tạo ra nhiều công ăn việc làm, chính sách thuế quan bảo hộ các ngành thay thế nhập khẩu cũng chưa thể hiện vai trò nổi bật trong nâng cao năng lực cạnh tranh của một số ngành hàng. Việc một số mặt hàng được bảo hộ cao như đường ăn, xi măng,… có giá thành tương đối cao là những minh chứng cho nhận định này. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển (một dạng trợ cấp) từ Quỹ Hỗ trợ phát triển cũng chưa được sử dụng có hiệu quả. Việc mở rộng quá mức đối tượng được vay ưu đãi (theo Nghị định 43/1999/NĐ-CP trước đây) cùng với các chính sách bảo hộ, cơ chế phân cấp mạnh, quản lý không chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng nợ nần, đầu tư dàn trải, lãng phí và kém hiệu quả của nhiều dự án đầu tư. Việc quy định thiếu chặt chẽ về phạm vi và thời gian áp dụng nhiều khoản trợ cấp trong chừng mực nhất định đã gây sức ỳ và tâm lý ỷ lại vào trợ cấp, đặc biệt gây những sai lệch trong phân bổ nguồn lực và quyết định đầu tư. Chẳng hạn, ưu đãi trong thuế Thu nhập doanh nghiệp phần nào khuyến khích các nhà đầu tư “chia” doanh nghiệp hay dự án đầu tư của mình thành từng phần nhỏ, thay vì đầu tư mở rộng hoặc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao quy mô sản xuất và năng lực cạnh tranh. Trên thực tế, đối tượng thụ hưởng trợ cấp chủ yếu dường như là các DNNN (và cả một số quan chức) thay vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay nông dân và ngư dân. Kết quả điều tra gần đây – có tới 60% doanh nghiệp không biết về các điều kiện, quy định về vay ưu đãi – cho thấy tương đối rõ nét thực trạng này. Đối với một số ngành hàng, trợ cấp là cần thiết song không hoặc ít được thụ hưởng, trong khi đó, một số khoản trợ cấp không được sử dụng hết trong khuôn khổ nguồn trợ cấp khả dụng. Các khoản trợ cấp hỗ trợ xuất khẩu, nhất là xúc tiến xuất khẩu chỉ được sử dụng một tỷ lệ nhỏ so với tổng trợ cấp khả dụng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các khoản hỗ trợ sản xuất tập trung chủ yếu vào một vài nông sản có năng lực cạnh tranh thấp như đường ăn, bông…. Trong khi đó, một số dạng trợ cấp xuất khẩu mà các nước đang phát triển được phép áp dụng như hỗ trợ phí vận tải trong và ngoài nước, xúc tiến thương mại lại không được chú trọng đúng mức. 2.3. Các chính sách bảo hộ chưa thực sự là động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành hàng Trong thời gian vừa qua, để bảo hộ và nuôi dưỡng các ngành được coi là chiến lược, chính sách thuế và trợ cấp của Việt Nam đã quá chú trọng tới bảo hộ đầu vào và ra của sản phẩm mà chưa quan tâm đúng mức tới xây dựng và cải thiện các cơ chế khuyến khích đối với các nhân tố được coi là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thui chột của một số ngành. Có thể dẫn chứng như: thiếu cơ chế khuyến khích việc sử dụng công nghệ cao (trường hợp một số nhà máy sản xuất mía đường, xi măng…), nâng cao chất lượng quy hoạch, năng suất cây trồng (trường hợp mía đường, giấy …), phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ hợp lý và thúc đẩy liên kết (nhất là chuyển giao và hấp thụ công nghệ) giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và trong nước, giữa các ngành hạ nguồn và thượng nguồn (trường hợp ngành công nghiệp ô tô). Mục tiêu của việc bảo hộ là thúc đẩy sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, tuy nhiên, mặc dù đã được ưu đãi với rất nhiều chính sách bảo hộ nhưng phần lớn các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp của nước ta vẫn trong tình trạng tài chính yếu kém, không sử dụng hết công suất thiết kế và sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Một số ngành sản xuất được bảo hộ cao như xi măng, sắt thép, giấy… mới chỉ sử dụng hết khoảng 40% công suất thiết kế mà tình trạng tồn đọng hàng hóa này là khá lớn và lượng hàng hóa nhập khẩu vẫn không ngừng tăng lên. Do được hưởng chính sách bảo hộ, ít chịu sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài nên một số doanh nghiệp có thói quen ỷ lại, không đổi mới dây chuyền công nghệ và nâng cao kỹ năng sản xuất của mình. Kết quả là người tiêu dùng trong nước có thể phải chấp nhận tiêu dùng những hàng hóa chất lượng thấp với giá cả cao hơn trong điều kiện tự do cạnh tranh. Có thể nói, sự chưa thành công trong phát triển một số ngành hàng kể trên còn có sự “góp sức” của các nhân tố khác như: cơ chế giám sát, ra quyết định đầu tư và năng lực quy hoạch đầu tư còn hạn chế (ví dụ chọn vùng nguyên liệu không thích hợp), đầu tư theo phong trào (đối với mía đường, giấy, xi măng…), không tính đến các yếu tố quan trọng của bảo hộ ngành hoặc bị cản trở bởi các công cụ chính sách thuế trong nước chưa thích hợp đã làm giảm tính hiệu quả kinh tế nhờ quy mô sản xuất (trường hợp ngành công nghiệp ô tô) – điều cốt yếu đảm bảo thành công của chiến lược thay thế nhập khẩu. Ngoài ra, việc sử dụng các chính sách bảo hộ để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa mà không tính tới đầy đủ các đặc thù ngành, bối cảnh thị trường thế giới, chiến lược của các công ty xuyên, đa quốc gia và khả năng phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước có thể dẫn tới thất bại trong phát triển ngành chiến lược (trường hợp ngành công nghiệp ôtô). Với chính sách bảo hộ ngành chiến lược cùng với chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thuế quan và trợ cấp trong thời gian qua đã tạo ra một khu vực công nghiệp chế biến có tính “lưỡng thể”, bao gồm một khu vực sản xuất hàng xuất khẩu có năng lực cạnh tranh toàn cầu (chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và khu vực thay thế nhập khẩu yếu kém, ít gắn kết với khu vực sản xuất hướng tới xuất khẩu (các DNNN Việt Nam). Chính sách thuế quan và trợ cấp của Việt Nam vẫn còn thiếu minh bạch, công khai và còn mang tính tùy tiện, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Việc thiếu vắng một hệ thống thông tin đầy đủ và nhất quán về trợ cấp (nhất là trong công nghiệp), kể cả thông tin chính thức, nội bộ các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam và nội bộ đoàn đàm phán gia nhập WTO, phần nào thể hiện sự thiếu chuẩn bị chu đáo cho gia nhập WTO và đối phó với các thách thức sau khi gia nhập tổ chức này. Sự thiếu vắng hệ thống thông tin về trợ cấp có ảnh hưởng bất lợi tới công tác hoạch định chính sách của Việt Nam, nhất là tạo nên sự bị động trong đề xuất điều chỉnh chính sách kinh tế nói chung và chính sách trợ cấp nói riêng nhằm nâng cao năng lực ngành, thúc đẩy tăng trưởng bền vững sau khi gia nhập WTO. Trong bối cảnh gia nhập WTO, chính sách tài khóa của Việt Nam nên hướng tới giải quyết các yếu kém và bất cập kể trên để có thể đáp ứng được những mục tiêu của việc bảo hộ sản hợp lý xuất trong nước. Các biện pháp bảo hộ của Việt Nam cần phải được hoàn thiện hơn nữa để khắc phục những tác động tiêu cực đến nền kinh tế mà nó mang lại. Việc hoàn thiện này đòi hỏi phải được tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, bảo hộ hợp lý cả người sản xuất và người tiêu dùng. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ HỢP LÝ SẢN XUẤT TRONG NƯỚC I. Quan điểm về bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước 1. Bảo hộ một cách chọn lọc các đối tượng được bảo hộ Việc lựa chọn các đối tượng được bảo hộ là một khâu hết sức quan trọng, có ảnh hưởng quyết định tới tính hiệu quả của các chính sách bảo hộ sau này. Nhà nước không nên và không thể bảo hộ tràn lan, dàn trải mà phải bảo hộ có chọn lọc. Những ngành sản xuất được bảo hộ phải là những ngành thực sự có lợi thế so sánh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, có tiềm năng phát triển và có ảnh hưởng lan truyền tới những lĩnh vực khác của nền kinh tế. Đối với các ngành công nghiệp, chỉ nên bảo hộ những ngành có tính chất then chốt, thiết yếu. Việc lựa chọn dựa trên các tiêu chí: là ngành công nghiệp có thế mạnh, có điều kiện phát triển, đáp ứng nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu. Cơ sở lựa chọn là phân tích số liệu các ngành này có khả năng trở thành ngành có hiệu quả cao và phát triển những lợi thế so sánh năng động hay không. Ở nước ta, một số ngành công nghiệp có điều kiện phát triển, có khả năng cạnh tranh và sẽ trở thành chủ chốt cho nền kinh tế trong tương lai: ngành công nghiệp điện tử, ngành năng lượng, ngành vật liệu xây dựng, khai khoáng, chế biến thực phẩm, luyện kim màu. Các ngành này đều đáp ứng các yêu cầu là ngành có cơ hội và có điều kiện phát triển. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng nên chọn ngành công nghiệp phụ trợ như một chiến lược dài hạn cho sự phát triển kinh tế đất nước về lâu dài vì ngành này sẽ tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn, thu hút đầu tư nước ngoài. Muốn thực hiện việc này, Việt Nam cần cắt giảm và tiến tới loại bỏ các loại thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu, nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm thích hợp. 2. Các biện pháp bảo hộ phải hợp lý, có điều kiện và lộ trình cắt giảm phù hợp Sau khi đã lựa chọn được các đối tượng cần được bảo hộ thì một yêu cầu khác được đặt ra là: các biện pháp bảo hộ các đối tượng đó phải hợp lý, có điều kiện và lộ trình cắt giảm hợp lý. Sự hợp lý được thể hiện ở việc sử dụng các công cụ bảo hộ phù hợp với các quy định quốc tế, đặc biệt là WTO. Các biện pháp bảo hộ như thuế quan, phi thuế quan cần phải tuân thủ những nội dung mà Việt Nam đã cam kết và cắt giảm theo một lộ trình phù hợp. Mức độ bảo hộ và thời gian bảo hộ phải hợp lý và phát huy được hiệu quả của bảo hộ. Nếu bảo hộ quá nhiều và quá lâu sẽ tạo nên sức ỳ lớn và thái độ ỷ lại vào Nhà nước của các doanh nghiệp. Bảo hộ cần được khống chế trong khoảng thời gian nhất định và mức bảo hộ cần được giảm dần để tiến tới xóa bỏ. Sự bảo hộ của Chính phủ đối với doanh nghiệp bằng biện pháp thuế quan và phi thuế quan chỉ là tạm thời nhằm giúp doanh nghiệp có đủ thời gian tự phấn đấu vươn lên cạnh tranh và chuẩn bị về nội lực để đối phó với hàng hóa nước ngoài. 3. Các biện pháp bảo hộ phải hướng tới thúc đẩy và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế Mục tiêu hàng đầu của của các biện pháp bảo hộ là bảo vệ sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm. Tuy nhiên, nếu như thực hiện không hợp lý thì các chính sách này có thể bóp chết cạnh tranh. Việc thực hiện quá mức và không phù hợp có thể khiến các doanh nghiệp không những không nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm bằng việc tìm cách nâng cao chất lượng, hạ giá thành mà còn ỷ lại vào sự bảo hộ, không chịu đổi mới và tìm tòi phát triển sản phẩm. Việt Nam cần tận dụng các biện pháp thuế và phi thuế nhằm trợ giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mà trước mắt là tập trung cho các ngành công nghiệp mũi nhọn nhằm tạo lập và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và từng bước mở rộng thị trường quốc tế. Bảo hộ phải hướng đến từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ góp phần bảo hộ sản xuất trong nước. 4. Các biện pháp bảo hộ phải được thực hiện thống nhất, bình đẳng đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Bảo hộ sản xuất trong nước phải được áp dụng thống nhất với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bất kể đó là doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đối tượng bảo hộ là các ngành hàng, các sản phẩm chứ không phải một doanh nghiệp cụ thể nào. Cần phải xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Xây dựng kinh tế đất nước là sự nghiệp toàn dân, doanh nghiệp dù thuộc thành phần nào thì cũng đều góp phần tạo ra của cải, đóng góp ngân sách, tạo công ăn việc làm, đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm và dịch vụ. Điều kiện, môi trường kinh doanh phải bình đẳng cho mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau. Cạnh tranh là một cuộc chơi công bằng, và chỉ trên một sân chơi bình đẳng thì sự lựa chọn ra kẻ thắng người thua mới đúng đắn và có ý nghĩa. 5. Gắn bảo hộ sản xuất trong nước với việc tiếp tục điều chỉnh chức năng quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc thù kinh tế của Việt Nam là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong đó vai trò của Nhà nước là vô cùng quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế. Việc thực hiện các chính sách bảo hộ chính là thực hiện chức năng quản lý của Nhà nước, mục tiêu này cần hướng tới tạo điều kiện huy động các nguồn lực trong và ngoài nước vào việc khai thác tiềm năng và lợi thế nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất nước trong quá trình hội nhập trên cơ sở tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống con người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách. Các chính sách bảo hộ phải được thực hiện nhất quán, đồng bộ và thống nhất giữa các cấp ngành, tránh hiện tượng chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau, đồng thời phải mang tính tiên liệu và dự đoán được. II. Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam 1. Nhóm các biện pháp liên quan đến thuế và phi thuế 1.1. Nhóm các giải pháp liên quan đến thuế Thứ nhất, trong điều kiện cho phép phù hợp với các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam về lộ trình giảm thuế nhập khẩu, chúng ta vẫn tiếp tục bảo hộ bằng thuế đối với một số ngành hàng cần được hỗ trợ. Việc điều chỉnh mức thuế suất cần phải có thời gian chuyển đổi và công bố rộng rãi trước khi áp dụng để các doanh nghiệp có thể có sự chuẩn bị và chủ động trong những kế hoạch kinh doanh của mình, tránh sự lúng túng khi Nhà nước ban hành biểu thuế mới. Thứ hai, các biện pháp tính thuế phải được áp dụng một cách linh hoạt, chủ yếu áp dụng thuế phần trăm để đảm bảo tính minh bạch, hạn chế áp dụng thuế tuyệt đối. Nếu một dòng thuế nhập khẩu được chuyển đổi sang thuế tuyệt đối hoặc hỗn hợp, phải đảm bảo có mục đích rõ ràng, và mức thuế suất mới không vượt quá mức Việt Nam đã cam kết. Thứ ba, Việt Nam cần bảo vệ sản xuất trong nước tránh khỏi những cạnh tranh không bình đẳng của hàng nhập khẩu bằng cách áp dụng một cách có hiệu quả thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng. Các pháp lệnh về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được ban hành từ lâu, nhưng cho đến nay nước ta vẫn chưa tiến hành một cuộc khởi kiện nào đối với hàng nhập khẩu được bán phá giá hoặc trợ cấp vào thị trường nội địa mà luôn là đối tượng bị kiện. Điều đó tạo nên sự bất bình đẳng đối với hàng hoá sản xuất trong nước. Việt Nam cần áp dụng thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng vào thực tiễn trong thời gian tới để bảo vệ hàng hoá trong nước và quy trình áp dụng phải dựa trên cơ sở quy định của WTO. Thứ tư, nước ta cũng cần nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến thuế của các nước thành viên WTO và chuyển hoá một cách hợp lý vào điều kiện của Việt Nam. Nhà nước phải phối hợp với các doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác, các doanh nghiệp cần hợp tác chặt chẽ với Nhà nước để ngăn chặn nguy cơ bị cạnh tranh không công bằng bởi các hàng hoá nhập khẩu. Hệ thống thuế của Việt Nam về cơ bản không có mâu thuẫn hay trái ngược với các quy định liên quan của WTO. Để việc triển khai trên thực tế được khả thi và tuân thủ đúng các nguyên tắc của WTO, hệ thống này còn cần được hoàn thiện hơn nữa, chủ yếu theo hướng bổ sung quy định chi tiết cho các quy định khung hiện đại. 1.2. Nhóm giải pháp liên quan đến phi thuế Tuân thủ theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, việc dỡ bỏ các biện pháp thuế quan và phi thuế quan có tính chất bóp méo thương mại là một trong những yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, việc tạm thời bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước cũng là một việc làm chính đáng. Về lý thuyết, WTO và các định chế thương mại khu vực thường chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất, nhưng thực tế các nước không ngừng sử dụng các biện pháp phi thuế quan mới, vừa đạt được mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc tế. Ngày nay, các nước có xu hướng sử dụng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ phi thuế mang tính lộ liễu, áp đặt như lệnh cấm hay hạn chế số lượng nhập khẩu, thay vào đó là các biện pháp tinh vi hơn như tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy định về xuất xứ, nhãn hiệu, môi trường lao động… Với xu thế tự do hoá thương mại toàn cầu hiện nay, Việt Nam cần phải áp dụng các biện pháp đó một cách tinh vi hơn, hiệu quả hơn để có thể bảo vệ sản xuất trong nước mà không trái với các quy định và cam kết quốc tế. 1.2.1. Các biện pháp hạn chế định lượng Việc áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng như: cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép của Việt nam là hoàn toàn không trái với các điều ước quốc tế đã ký kết. Theo cam kết và phù hợp với quy định của WTO, Việt Nam cần tiếp tục duy trì hạn ngạch và chế độ cấp giấy phép nhập khẩu đối với những sản phẩm được phép, những mặt hàng ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, bảo vệ nguồn tài nguyên, môi trường, bảo vệ sức khoẻ con người. Đồng thời phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử. Một điểm đáng chú ý là danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý của các cơ quan chuyên ngành hiện nay vẫn còn khá nhiều. Việt Nam cần đổi mới biện pháp quản lý chuyên ngành đối với một số mặt hàng sang quản lý theo các quy định, tiêu chuẩn đối với sản phẩm, các quy định về môi trường. Điều này sẽ hạn chế được rất nhiều sự kém minh bạch trong quản lý. Việt Nam cũng cần lưu ý các vấn đề có thể gây ra tranh cãi như việc cấm nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, máy móc thiết bị cũ – trong khi vẫn cho lưu thông tiêu dùng trong nước. Điều này là vi phạm nguyên tắc phân biệt đối xử của WTO. Chúng ta nên thay thế việc cấm nhập khẩu các mặt hàng này bằng các biện pháp khác, như: các quy định, tiêu chuẩn về kỹ thuật, tiêu chuẩn về môi trường. Bằng cách này, chúng ta có thể hạn chế lượng nhập khẩu của các mặt hàng đó vào trong nước mà hoàn toàn không làm trái với các quy định của WTO. 1.2.2. Các biện pháp kỹ thuật Đây là biện pháp bảo hộ được nhiều nước rất ưa chuộng sử dụng bởi mức độ tinh vi của nó. Việt Nam cần có những bước đi tích cực hơn và khẩn trương hơn nữa trong vấn đề này. Thứ nhất, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống các điều luật và quy định về hàng rào kỹ thuật. Trong bối cảnh kinh tế quốc tế đang rất sôi động với nhiều cơ hội và thách thức thì hệ thống pháp luật của nước ta cần phải nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi các chính sách pháp luật về các tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, bảo hộ lao động trước, trong và sau quá trình sản xuất. Thứ hai, nước ta cần phải loại bỏ các tiêu chuẩn lạc hậu, xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện kinh tế của nước mình cũng như quy định bảo hộ hợp lý của WTO. Việt Nam nên thiết lập những rào cản kỹ thuật với mục đích bảo vệ môi trường, sức khỏe của người dân, phù hợp với xu hướng chung của thế giới, với Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT và Hiệp định về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS). Thứ ba, để có thể hoàn thiện và thực thi có hiệu quả các hàng rào kỹ thuật trong thương mại thì chúng ta cần phải thực hiện tốt những chương trình kế hoạch đã được vạch ra từ trước. Cụ thể là: Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, Triển khai quy hoạch và hoàn thiện cơ sở vật chất, Tăng cường hợp tác quốc tế về những vấn đề liên quan đến TBT, SPS và Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến. Cuối cùng, chúng ta phải lưu ý việc xây dựng những tiêu chuẩn trên là yêu cầu tất yếu song phải xây dựng sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế hiện tại. Nước ta không thể áp đặt vào một cách máy móc vào nước mình những tiêu chuẩn của các nước có nền kinh tế phát triển mạnh, mức độ đòi hỏi cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản… Nếu biết cách vận dụng linh hoạt và khéo léo các biện pháp kỹ thuật, Việt Nam có thể bảo vệ được sản xuất trong nước mà không gây phản ứng trong thương mại quốc tế. 1.2.3. Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời Hiện nay Việt Nam vẫn chưa có sự quan tâm thích đáng đối với việc áp dụng các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời mặc dù đây là một vấn đề thiết yếu nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ sản xuất trong nước, được WTO và các định chế thương mại thừa nhận. Về bán phá giá, chúng ta luôn là bị đơn trong các vụ kiện bán phá giá trong khi trên thực tế, hiện tượng hàng nước ngoài bán phá giá vào Việt Nam là hết sức phổ biến. Vì vậy, chúng ta cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống phá giá và chống trợ cấp, hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho hàng hoá nội địa. Về trợ cấp, trợ cấp cũng là vấn đề Việt Nam cần đặc biệt quan tâm khi chúng ta đã trở thành thành viên của WTO. WTO cho phép các nước thành viên duy trì các hình thức trợ cấp mà không làm hạn chế và bóp méo thương mại hoặc gây thiệt hại cho các thành viên khác. Thêm vào đó, WTO còn cho phép áp dụng một số vấn đề chưa có quy tắc thống nhất như: tín dụng xuất khẩu, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm xuất khẩu trong trợ cấp nông sản, trợ cấp nghiên cứu, phát triển, nâng cấp máy móc thiết bị đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, hỗ trợ hạ tầng nông nghiệp… Thành viên của WTO có thể áp dụng các biện pháp này mà không sợ hành động đối kháng, trả đũa. Việt Nam nên tận dụng những quy định này để tiến hành các biện pháp hỗ trợ sản xuất trong nước mà vẫn phù hợp với quy định của WTO. Một số giải pháp liên quan đến vấn đề trợ cấp: Ÿ Duy trì các chính sách đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư đang thực hiện mà không trái với quy định của WTO như: các hình thức ưu đãi gián tiếp, ưu đãi các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển nông nghiệp, nông thôn, đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn… Ÿ Nghiên cứu, đề xuất các chính sách đầu tư, ưu đãi đầu tư dưới các hình thức hỗ trợ nghiên cứu phát triển, giáo dục đào tạo, đầu tư cải tiến trang thiết bị đang sử dụng để đáp ứng các quy định mới về môi trường… Ÿ Sử dụng có hiệu quả các loại trợ cấp xuất khẩu được phép sử dụng như trợ cấp trong quá trình nghiên cứu, phát triển, tiếp thị sản phẩm ra các thị trường mới. 1.2.4. Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO đã đặt ra những thách thức lớn, trong đó có việc tạo ra một “sân chơi” bình đẳng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Chúng ta phải thực hiện Hiệp định TRIMs, những giải pháp mang tính bảo hộ sản xuất trong nước sẽ không được áp dụng. Việc hỗ trợ các doanh nghiệp được tiến hành một cách gián tiếp. Thực ra, đây là việc tạo dựng một môi trường kinh doanh mà ở đó, các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài đều được hưởng lợi hơn từ môi trường đầu tư mang tính cạnh tranh hơn. Điều này góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy đầu tư trong nước. Để tạo được môi trường cạnh tranh, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống chính sách về cạnh tranh và giảm độc quyền để tăng cường mở cửa và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho phát triển; ngăn ngừa các hoạt động kinh tế có thể tạo ra rào cản cho sự phát triển thị trường và cạnh tranh, làm giảm đầu tư và cơ hội tham gia thị trường của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chúng ta nên xem xét các giải pháp nhằm giúp Việt Nam thực hiện Hiệp định TRIMs mà vẫn hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp có hiệu quả: Ÿ Nhóm đầu tư liên quan đến đầu vào của các ngành công nghiệp, như: xây dựng cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế; phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao nhằm tăng cường thu hút vốn FDI; cần có chiến lược khuyến khích chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao năng lực công nghệ quốc gia; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu. Ÿ Nhóm giải pháp liên quan đến quản lý vĩ mô và chiến lược của doanh nghiệp: tăng cường hơn nữa tính minh bạch và chiến lược của doanh nghiệp, xây dựng quy chế phê duyệt và quản lý dự án đầu tư thông thoáng đơn giản và hiệu quả. Ngoài ra cũng phải có những giải pháp phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ. 1.2.5.Các biện pháp khác Ÿ Việt Nam phải tuân thủ Hiệp định về giá trị hải quan của WTO (AVC). Không được áp dụng các khoản phụ thu hay bảng giá tối thiểu gây bóp méo thương mại và không minh bạch. Chúng ta cũng phải thực hiện nghiêm túc Luật hải quan đồng thời cải cách thủ tục hải quan, đảm bảo tính minh bạch và chuẩn hoá theo quy định quốc tế, tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và đầu tư thông suốt. Ÿ Nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hải quan, tăng cường áp dụng hải quan điện tử để tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Ÿ Tập trung nghiên cứu áp dụng các hình thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm ngăn chặn các hoạt động gian lận thương mại, vi phạm bản quyền trên cơ sở các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. Việc áp dụng các biện pháp bảo hộ thông qua thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí tuệ không trở thành rào cản đối với thương mại hợp pháp, và phải gắn với thời hạn bảo hộ theo quy định của WTO. 2. Nhóm giải pháp liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh Khi thực hiện các cam kết mở rộng thị trường thì năng lực cạnh tranh chính là yếu tố cốt lõi, quyết định sự thành bại của nền kinh tế. Đây là công cụ hữu hiệu nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả và chất lượng. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng là nhiệm vụ trọng tâm và cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập nền kinh tế. 2.1. Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hoá vào dịch vụ đồng nghĩa với nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng doanh nghiệp muốn phát triển lại phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của quốc gia. Các vấn đề cần chú trọng khi muốn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: 2.1.1. Giải pháp về đầu tư Muốn thu hút được vốn đầu tư, điều đầu tiên phải chú trọng đó là xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển. Chính sự yếu kém về cơ sở hạ tầng sẽ hạn chế thu hút đầu tư, làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là khi các hình thức ưu đãi trái với quy định của WTO sẽ bị loại bỏ. Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta cần quan tâm đến những điểm sau: Thứ nhất, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng mà trước hết là năng lượng điện. Cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy điện có lợi ích tổng hợp (sản xuất điện, chống lũ, cấp nước, du lịch). Thêm vào đó, phát triển hợp lý các nguồn nhiệt điện khí; phát triển mạnh điện nhiệt than, điện gió, điện mặt trời, chuẩn bị để triển khai xây dựng điện hạt nhân đầu tiên. Chúng ta phải áp dụng đồng bộ các biện pháp về kỹ thuật, kinh tế và tổ chức nhằm sử dụng hợp lý và tiết kiệm điện, giảm tổn thất điện năng. Mặt khác, Việt Nam phải tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, chủ yếu là hệ thống đường sá, cảng biển, sân bay được xác định tại các vùng đã và sẽ có những dung lượng lưu thông hàng hóa lớn hoặc các vùng lân cận. Thứ hai, chúng ta cần phải có chiến lược và chính sách đầu tư phát triển các ngành công nghiệp trên cơ sở ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn. Tập trung phát triển các sản phẩm trong nước có lợi thế cạnh tranh trên cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế từ khai thác các lợi thế so sánh của đất nước và của từng vùng lãnh thổ về nhân sự, tài nguyên và truyền thống nghề nghiệp. Bên cạnh đó, phát triển có chọn lọc một số sản phẩm có tiềm lực cải thiện lợi thế cạnh tranh với sự giúp đỡ của Nhà nước trong khuôn khổ các cam kết quốc tế và quy định của WTO. Thứ ba, Việt Nam cần phải đẩy mạnh xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, các lĩnh vực cần nhiều vốn công nghệ cao, thân thiện với môi trường, tiêu hao ít tài nguyên. Chúng ta cần phải khắc phục tình trạng dàn trải (nhất là đối với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước) và đầu tư mang tính tình thế, thiếu chiến lược dài hạn đảm bảo khả năng phát triển bền vững. 2.1.2. Giải pháp về thị trường Giải pháp về thị trường đầu tiên mà Việt Nam cần phải quan tâm hiện nay là xoá bỏ sự can thiệp của Nhà nước vào giá cả. Trong dài hạn, chuyển dần sang giá thị trường đối với những mặt hàng hiện còn áp dụng cơ chế Nhà nước định giá, từng bước xoá bỏ hình thức bao cấp, trong đó bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá và dịch vụ theo lộ trình đã cam kết với WTO. Mặt khác, chúng ta cũng cần phải hoàn thiện chính sách về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền phù hợp với cam kết hội nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hỗ trợ và khuyến khích các hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp xây dựng lộ trình về giá sản phẩm quan trọng, có sản lượng lớn, nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh về giá, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững và hài hoà các lợi ích. Thứ hai, Việt Nam nên từng bước xoá bỏ độc quyền, khuyến khích và bảo hộ cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Phải biết kết hợp bảo hộ của Nhà nước với khuyến khích và bảo hộ cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cải thiện khả năng cạnh tranh để vươn dần ra thị trường nước ngoài. Thứ ba, một vấn đề cũng rất quan trọng trong nhóm giải pháp về thị trường là Nhà nước cần phải hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh. Ÿ Hỗ trợ thực hiện các biện pháp xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại; Ÿ Cung cấp thông tin thị trường để hoạch định chiến lược kinh doanh thích hợp; Ÿ Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách, các quy định pháp lý liên quan đến ký kết và thực hiện hợp đồng, giám sát, điều tiết thị trường và xúc tiến thương mại, đầu tư, giải quyết tranh chấp phù hợp với cam kết quốc tế. Ÿ Nhà nước nên khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quan hệ liên kết đảm bảo nguyên liệu, chế biến, phân phối sản phẩm trên thị trường. Tăng cường đầu tư về vốn, cơ sở vật chất và nhân lực cho hoạt động R&D; phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ; gắn kết các hoạt động giữa các viện nghiên cứu, các trường học với các doanh nghiệp. Ÿ Cần hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và cải tiến đào tạo nguồn nhân lực (cả nhân lực quản lý) có chất lượng cao; phát huy vai trò của các hiệp hội và ngành hàng trong việc hợp tác, thống nhất hành động giữa các doanh nghiệp trong hiệp hội, nâng cao năng lực cạnh tranh. 2.1.3. Giải pháp về huy động vốn Thứ nhất, Việt Nam phải phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Để có được điều đó, Nhà nước nên rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách ưu đãi đối với những sản phẩm và địa bàn đầu tư – kinh doanh thuộc diện được phép bảo hộ nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư lựa chọn cơ hội kinh doanh và loại hình tổ chức kinh doanh thích hợp với điều kiện của mình. Thứ hai, chúng ta phải xây dựng và phát triển hiệu quả thị trường tài chính. Phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước. Ÿ Nhà nước phải biết kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; tăng cường công tác quản lý và thanh tra, giám sát hoạt động của thị trường vốn. Ÿ Cần chú trọng đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại thực sự là những đơn vị kinh tế tự chủ, không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; đảm bảo các điều kiện và môi trường để các ngân hàng thương mại và sàn giao dịch chứng khoán hoạt động theo nguyên lý thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Ÿ Cần hoàn thiện cơ chế hoạt động tín dụng theo nguyên lý thị trường, hoàn thiện các quy định về thủ tục giao dịch tín dụng theo hướng thuận tiện nhất. Ÿ Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo tính hiệu quả, thực hiện đúng mục đích cổ phần hóa. Ÿ Nhà nước cần khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tiếp cận mọi nguồn vốn, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa từ các nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ quốc tế, tạo cơ chế hình thành các nguồn vốn hỗ trợ ban đầu cho các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường. 2.1.4. Giải pháp về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của nước ta hết sức dồi dào và có giá trị, tiềm năng không thể phủ nhận. Trong giai đoạn hiện nay, khi thế giới đã bước sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng của lao động càng được quan tâm hơn. Nguồn nhân lực nhiều là chưa đủ mà còn cần phải có trình độ, có tay nghề để đáp ứng như cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng nguồn lao động, Việt Nam cần phải từng bước thực hiện chương trình cải cách hệ thống giáo dục quốc gia. Chương trình này cần phải đảm bảo tính hệ thống và liên thông, đạt chuẩn khu vực và quốc tế nhằm tạo ra một đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu mới của nền kinh tế. Bên cạnh đó, nên tăng dần các khoản đầu tư của Nhà nước kết hợp với thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục để huy động nguồn lực cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, tăng cường đào tạo nghề. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế tong lĩnh vực giáo dục đào tạo, phát triển hình thức đào tạo ngoài nước để tiến cận nhanh với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động; khuyến khích khu vực tư nhân, doanh nghiệp tham gia dạy nghề. 2.1.5. Giải pháp về cải cách thủ tục hành chính Bên cạnh những kết quả khả quan đạt được khi thực hiện pháp luật về hải quan, công tác quản lý hành chính của Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Để hoàn thiện hơn nữa, chúng ta cần chú ý một số điểm sau: Ÿ Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không cần thiết để rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hóa và dịch vụ vào kinh doanh. Ÿ Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công. Ÿ Công khai, minh bạch hóa mọi chính sách, cơ chế quản lý. Điều này không những là tiền đề của chống tham nhũng mà còn là điều kiện tạo ra thị trường cạnh tranh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và công dân, tạo hiệu quả tăng trưởng. Ÿ Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước theo yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực để đảm bảo sự đồng bộ, tầm nhìn liên ngành, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi các thiết chế quản lý. 2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp. Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp cần phải tự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để tồn tại, đứng vững và phát triển trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Một là, nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết về kinh tế - xã hội, văn hóa, luật pháp... cho các chủ doanh nghiệp, các bộ quản lý và người lao động trong doanh nghiệp. Giáo dục - đào tạo cần trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và những tri thức cơ bản về kinh tế - xã hội, văn hóa, pháp luật... cho các chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và những người lao động. Hai là, tăng cường năng lực của chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp về quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Trong mọi điều kiện, doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết (kỹ năng quản trị trong cạnh tranh, kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp, kỹ năng quản lý sự biến đổi, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng đàm phán và giao tiếp v.v...) để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận nền kinh tế tri thức. Để có đủ sức cạnh tranh lâu dài và có thể tự tin bước vào kinh tế tri thức, các doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến chiến lược cạnh tranh và những kỹ năng mang tính chiến lược như: Quản trị chiến lược, quản trị rủi ro, và tính nhạy cảm trong quản lý, phân tích kinh doanh, dự báo và định hướng chiến lược phát triển... Ba là, hiện nay đa số các doanh nghiệp Việt Nam đều có quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ học vấn, kiến thức kinh doanh, hiểu biết luật pháp (nhất là luật pháp quốc tế) không cao, trình độ tay nghề của người lao động thấp... Trong điều kiện này, để thực hiện chiến lược cạnh tranh cần phải và nhất thiết phải thực hiện phương châm liên kết và hợp tác để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Sự liên kết và hợp tác không phải là phép tính cộng tổng số các doanh nghiệp, mà chính là tạo ra sức mạnh bội phần của các nhóm, các tập đoàn kinh tế cùng sản xuất kinh doanh một (hoặc một số) sản phẩm nhất định và cùng thực hiện chiến lược thương hiệu, xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm trên thị trường. Bốn là, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục - đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại... cho các doanh nghiệp. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội, các hội, các câu lạc bộ giám đốc và các tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp. Năm là, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa có vai trò quan trọng trong sự phát triển, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Từ xưa, cha ông ta đã đúc kết: "Phi trí bất hưng, phi thương bất phú, phi công bất hoạt". Ngày nay, trong xã hội hiện đại, quan niệm về giá trị, về lao động sáng tạo, ý thức cạnh tranh, ý chí làm giàu, sự tín nhiệm xã hội... có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng văn hóa doanh nghiệp. 2.3. Nâng cao năng lực của các ngành hàng 2.3.1. Nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đã rất thận trọng khi mở cửa thị trường nông sản. Tuy nhiên, do phải thực hiện cam kết cắt giảm thuế nông sản, nông nghiệp là lĩnh vực bị sức ép cạnh tranh khá lớn, nhất là nền nông nghiệp nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, năng suất kém. Vì vậy, chúng ta cần phải có những biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành nông nghiệp: Ÿ Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là trong bảo quản và chế biến nông sản, lâm sản, những ngành sản xuất sản phẩm sử dụng công nghệ cao và mới, sản phẩm sử dụng nhiều lao động… Tổ chức thực hiện phương thức sản xuất theo hợp đồng giữa hộ nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp; bảo vệ lợi ích của nông dân, phát triển bền vững và ít rủi ro, làm cho nông dân yên tâm chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Ÿ Điều chỉnh các chính sách hỗ trợ nông nghiệp theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, tăng hỗ trộ thông qua nhóm chính sách “hộp xanh” (green box). Điều chỉnh các chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nông dân và doanh nghiệp phản ứng nhanh nhạy, có hiệu quả trước sự thay đổi của thị trường. Ÿ Tiếp tục ưu tiên đầu tư về thủy lợi, về khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp như: đầu tư vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước. Xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp cho công nghiệp chế biến, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng, sức cạnh tranh cao cho sản phẩm. Bên cạnh đó, cần xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản lưu thông hàng hóa nông sản, nhất là xuất khẩu (như: cảng sông, cảng biển chuyên dụng, kho lạnh, xe bảo ôn, kho ngoại quan, chợ đầu mối bán buôn…) 2.3.2. Công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp Ÿ Tăng cường thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Bảo đảm sản xuất, đáp ứng nhu cầu những sản phẩm thiết yếu nhằm góp phần giữ ổn định nền kinh tế - xã hội và tăng trưởng xuất khẩu. Ÿ Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm công nghiệp, khai thác tối đa năng lực sản xuất và xuất khẩu của những sản phẩm đang có lợi thế cạnh tranh như: hàng dệt may, giày dép, đồng thời tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu lớn, có giá trị gia tăng cao; thiết bị điện, điện tử - máy vi tính,, phần mền công nghệ thông tin, sản phẩm nhựa, gỗ… Ÿ Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng công nghiệp theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao. KẾT LUẬN Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), diễn đàn kinh tế APEC, sáng lập viên ASEM và đặc biệt đã gia nhập chính thức WTO. Tuy nhiên, trình độ phát triển của nước ta còn thấp, năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Vì vậy, song song với tự do hoá thương mại, nước ta cần thực hiện các biện pháp bảo hộ hợp lý. Các biện pháp bảo hộ này sẽ làm giảm bớt những tác động tiêu cực và mặt trái của tự do hoá. Khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới thì việc bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước càng trở nên quan trọng và cấp bách. Thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, bài khoá luận đã hoàn thành những vấn đề cơ bản sau: Chương I: đã hệ thống hoá những vấn đề lý thuyết liên quan đến bảo hộ sản xuất, trong đó đặc biệt chú ý đến những quy định của WTO về các công cụ bảo hộ sản xuất. Chương II: phân tích một cách cụ thể các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước mà Việt Nam đã áp dụng. Đồng thời đưa ra những đánh giá về độ phù hợp của các biện pháp này đối với các cam kết quốc tế; xem xét các tác động tích cực, tiêu cực mà các biện pháp này mang lại. Chương III: Đề xuất một số giải pháp mà Việt Nam có thể áp dụng dựa trên các yêu cầu khách quan của tiến trình hội nhập và yêu cầu chủ quan của nền kinh tế nước ta. Sau ba năm kể từ ngày Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, các cam kết khi gia nhập đã và đang được Việt Nam thực hiện một cách nghiêm túc và tích cực, nền kinh tế và thị trường Việt Nam thực sự trở thành một bộ phận gắn bó chặt chẽ với kinh tế và thị trường thế giới. Nhờ có các công cụ và chính sách bảo hộ, chúng ta đã thực hiện khá hiệu quả việc bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu, giúp các doanh nghiệp nội địa đứng vững trên thị trường. Tuy nhiên, trước các diễn biến phức tạp và chuyển biến không ngừng cũng như xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, Việt Nam vẫn cần phải biết áp dụng một cách linh hoạt hơn nữa các biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước nhằm bảo hộ những ngành sản xuất còn non trẻ, sức cạnh tranh kém. Đồng thời, chúng ta cũng luôn phải nghiên cứu hoàn thiện để có thể đạt được các mục tiêu bảo hộ mà không đi ngược lại các quy định của WTO, góp phần đưa Việt Nam ngày một phát triển, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực và thế giới. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. GS.TS. Hoàng Văn Châu (2006), Việt Nam đã vào WTO – 1 số cam kết chủ yếu, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 20/2006, Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội. 2. Th.S Vũ Thị Hiền (2007), Cơ chế chính sách và biện pháp quản lý hoạt động nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. 3. Nguyễn Hữu Khải (2005), Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao động – xã hội. 4. GS.TS Bùi Xuân Lưu – PGS.TS Nguyễn Hữu Khải (2006), Giáo trình Kinh tế ngoại thương, Nxb Lao động xã hội. 5. Bùi Thị Lý (2006), Các biện pháp bảo vệ hợp lý thị trường nội địa trong tự do hoá thương mại, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 19/2006, Trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội. 6. GS.TS Võ Thanh Thu, Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế quốc tế, Nxb Thống kê. 7. Th.S Lê Quang Trung (2007), Tổ chức thương mại thế giới và vấn đề gia nhập của Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. Các website: Wikipedia tiếng việt: Bộ Công Thương: Bộ Tài Chính: Tổng cục thống kê: Tổ chức thương mại thế giới: Cổng thông tin kinh tế Việt Nam: Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh: Sở Thương mại thành phố Hồ Chí Minh:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước của Việt Nam trong bối cảnh là thành viên của WTO.doc