Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

Việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới hiện nay còn lúng túng ngay ở các xã thực hiện thí điểm chưa xác định được lợi thế, điểm mạnh của từng địa phương trong quy hoạch phát triển: - Sản xuất hàng hóa gì: Trồng lúa chất lượng cao hay loại cây trồng gì, nuôi con gì, làng nghề sản xuất hàng hóa gì. - Quy hoạch đất còn nhiều bất cập: Đất ở, đất cho sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa, làng nghề - Đất cho xây dựng các khu công nghiệp nhỏ để thu hút các doanh nghiệp vào hợp tác đầu tư - hợp tác 4 nhà. - Quy hoạch khu chợ phục vụ trao đổi hàng hóa. - Quy hoạch kho bãi bảo quản, phân loại sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo chât lượng, giá trị hàng xuất khẩu

doc52 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 9149 | Lượt tải: 100download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iả lý giải với nhiều luận cứ có tính thuyết phục. Công trình nghiên cứu của PGS, TS. Nguyễn Văn Bích và TS. Chu Tiến Quang do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1996 với tiêu đề: “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã luận giải nhiều nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về chính sách, các nội dung của chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới và những tác động của chúng. Công trình nghiên cứu: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng chủ biên do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chủ đề nghiên cứu như phân tích quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dưới sự tác động của hệ thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể như chính sách đất đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta. Về những mô hình hợp tác xã nông nghiệp nước ta, được coi là một mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn trong quan niệm xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, cũng được một tập thể các nhà khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu khá sâu sắc trong Đề tài tổng kết thực tiễn "Mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (2003) do GS,TS Lưu Văn Sùng làm chủ nhiệm. Đặc biệt công trình nghiên cứu do PGS. TS. Vũ Trọng Khải chủ trì được Nxb nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển của nông thôn Việt Nam. Công trình nghiên cứu này được xuất bản trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước do tác giả làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại”. Việc hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp Việt Nam cũng đã bước đầu được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Một số tác giả như GS,TS Bùi Xuân Lưu; GS,TS Nguyễn Điền, TS. Nguyễn Từ; Th.s Nguyễn Thu Hằng . Công trình nghiên cứu: “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do GS,TS Bùi Xuân Lưu, Nxb Thống kê ấn hành năm 2004. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp; phân tích khái quát những thành tựu cũng như hạn chế của nông nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị về sửa đổi các chính sách và hoàn thiện vai trò của Nhà nước để nông nghiệp, nông thôn nước ta hội nhập thành công. Công trình nghiên cứu: “Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành nông nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tổ chức Ausaid nghiên cứu đã đi sâu phân tích những quy định của WTO về thương mại nông sản. Qua đó dự báo khả năng tương thích của hệ thống chính sách nông nghiệp Việt Nam so với những quy định của WTO, khuyến nghị những sửa đổi về chính sách để phát triển nông nghiệp Việt Nam khi trở thành thành viên WTO. Công trình nghiên cứu: “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển nông nghiệp Việt Nam” là một dự án nghiên cứu tập thể do TS. Nguyễn Từ phụ trách. Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích các liên kết kinh tế quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam; đồng thời khuyến nghị những giải pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt các tác giả đã tập trung phân tích những quy định của WTO về chính sách nông nghiệp của các nước đang phát triển và nêu những hướng bổ sung, sửa đổi chính sách nông nghiệp của Việt Nam để hội nhập thành công. Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và môi trường .Rất nhiều tác giả quan tâm đến khía cạnh này của vấn đề. GS,TS Hoàng Chí Bảo về "hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn" (Nxb CTQG. H. 2004); "Các đoàn thể nhân dân trong đảm bảo dân chủ cơ sở" của PGS, TSKH Phan Xuân Sơn (Nxb. CTQG. H. 2002), TS. Nguyễn Văn Sáu và GS. Hồ Văn Thông về "Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay" (Nxb. CTQG. H. 2003). PGS,TSKH Phan Xuân Sơn và Th.S Lưu Văn Quảng đã trực tiếp bàn về chính sách, hơn nữa lại là chính sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn và chính sách dân tộc trong cuốn "Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay" (Nxb LLCT. H. 2005) Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta. Tuy nhiên, các công trình ấy không đi sâu nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách công về nông nghiệp, nông thôn nói chung và mô hình nông thôn mới của một tỉnh (Quảng Nam) của Việt Nam. Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu và sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau. 4.1. NỘI DUNG ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân mục tiêu của Chương trình xây dựng nôn thôn mới hiện nay - Đẩy mạnh việc cụ thể hóa thành các kế hoạch công tác triển khai thực hiện, lập danh sách các xã tập trung triển khai thực hiện điểm ở từng địa phương - Đẩy mạnh xây dựng, triển khai hoàn thiện, phê duyệt quy hoạch chi tiết trên các lĩnh vực (tiêu chí quy hoạch) vì quy hoạch phải đi trước một bước - Đẩy mạnh hoàn thành cơ bản cơ sở hạ tầng thiết yếu theo yêu cầu của đề án - Đẩy mạnh tập trung khai thác các nguồn lực cho phát triển sản xuất tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động - Đẩy mạnh nâng cao chất lượng thực hiện các nội dung của chương trinh xây dựng nôn thôn mới về giáo dục, y tê, vh, bảo vệ môi trường… - Đẩy mạnh triển khai xây dựng nôn thôn mới trên phạm vi toàn quốc, nhân rộng ra phạm vi cả nước đến năm 2020. CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 1. PHƯƠNG PHÁP HỆ NGHIÊN CỨU * Phương pháp thu thập dữ liệu: - Nguồn dữ liệu sơ cấp: Chủ yếu là các dữ liệu được thu thập thông qua nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tế tại các phòng ban ở xa Thụy Hương, Chương Mỹ, Hà Nội. - Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kết quả thống kê hoạt động sản xuất kinh doanh của các cá thể kinh doanh, hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân ở xã Thụy Hương. Báo cáo về kết quả từ các dự án đã đầu tư trong giai đoạn 2005 - 2010. Các báo cáo chuyên đề hàng tháng của HĐND, UBND xã Thụy Hương; các website của Bộ NN & PT NN, Tổng cục Thống kê. * Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu thu thập từ phương pháp thu thập, thống kê được so sánh, đối chiếu để phân tích dữ liệu để đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ở địa bàn xã Thụy Hương, thực trạng đầu tư xây dựng mô hình nông thôn mới; Tìm ra những mặt được và mặt còn hạn chế để làm cơ sở đưa ra các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới. 2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Tại Lễ công bố Báo cáo phát triển thế giới 2008 diễn ra ngày 11/12, TS. Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển NN NT cho rằng: Khu vực nông thôn ở Việt Nam đang rất dễ tổn thương trước tác động của toàn cầu hóa. Đầu tư cho nông nghiệp chiếm 10% vốn đầu tư của Ngân sách: Theo ông Sơn, kinh tế nông thôn Việt Nam hiện đang phải chịu gánh nặng từ những thách thức thị trường do ảnh hưởng từ việc leo thang giá cả thế giới trong thời gian qua. “Lạm phát gia tăng, trong khi đó mức tăng nông sản không bù đắp nổi giá tăng nguyên liệu đầu vào. Nông thôn Việt Nam đang đuối sức. Người nông dân và cả ngành nông nghiệp, khu vực nông thôn đang trông đợi vào sự hỗ trợ của Nhà nước”. Theo đánh giá này thì nền nông nghiệp Việt Nam đang phát triển mà chưa chú ý đến vai trò của dịch vụ môi trường. Nguồn tài nguyên đất và nước của Việt Nam đang dần mất đi, trong khi đó theo xu hướng phát triển tương lai thì nguồn lực sẽ không được ưu tiên do chi phí ngày càng cao, thay vào đó con đường phát triển trong tương lai sẽ là khoa học công nghệ. Chính sách về tam nông nông nghiệp - nông thôn - nông dân là vô cùng cần thiết. Đã đến lúc Việt Nam phải quan tâm đặc biệt đến tam nông về tất cả các mặt đào tạo, nâng cao nguôn nhân lực, xây dựng nông thôn mới và đặc biệt phải giảm dần sự cách biệt quá lớn quá bất bình đẳng hiện nay giữa nông thôn với thành thị, tạo ra một thiết chế pháp lý và trách nhiệm của toàn bộ cộng đồng đối với nông thôn, ông Sơn phân tích. “Đổi mới thể chế là bước đột phá trong kế hoạch Tam nông sắp tới của Việt Nam”, Theo thống kê, 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp, hàng năm đóng góp 20% GDP toàn quốc, nhưng đầu tư cho nông nghiệp chỉ khoảng 10% tổng vốn đầu tư của Nhà nước và 80% số đó lại tập trung vào thuỷ lợi. Tại Việt Nam, mức độ bảo hộ nông nghiệp vốn đã thấp, đầu tư công cũng hạn chế do đó chưa tạo ra được nhiều những thay đổi. Hỗ trợ cung cấp hàng hóa công ích của Việt Nam còn hạn chế. Theo báo cáo phát triển của Ngân hàng thế giới, hiện nay, Việt Nam chỉ đầu tư 0,14% GDP nông nghiệp cho nghiên cứu và phát triển trong khi mức trung bình ở các nước có nền kinh tế phụ thuộc nông nghiệp là 4%. Ông Martin Rama, Kinh tế gia, Trưởng Ngân hàng Thế giới đánh giá: Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn, vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại nữa không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông thôn và các dân tộc thiểu số là cần thiết để không ai bị bỏ rơi. Bản báo cáo cũng cho rằng nông nghiệp có thể là con đường thoát đói nghèo cho hàng triệu người ở khu vực nông thôn mà nếu không có thì họ sẽ bị tụt hậu trong các nền kinh tế đang chuyển đổi. Một cách xóa đói nghèo là thông qua các cuộc cách mạng nông nghiệp giá trị cao. Theo báo cáo, ngành nông nghiệp cần phải được phát triển bền vững hơn đồng thời trở thành nơi cung cấp các dịch vụ môi trường. “Điều cần làm lúc này không phải là kìm hãm sự phát triển nông nghiệp mà là tìm kiếm các hệ thống sản xuất bền vững hơn và tăng cường khả năng cung cấp các dịch vụ môi trường của ngành nông nghiệp”, ông Byerlee, đồng tác giả bản báo cáo phát triển cho biết. Tại các quốc gia đang chuyển đổi, trọng tâm chính của nông nghiệp cho phát triển là thu hẹp chênh lệch thu nhập nông thôn – thành thị và giảm nghèo nông thôn trong khi tránh cái bẫy của trợ cấp và bảo hộ những thách thức không được đề cập đúng mức. Ông Martin Rama cho rằng, một trong những lĩnh vực quan trọng trong tương lai Việt Nam nên chú trọng là cải cách thể chế bằng cách xây dựng các hiệp hội để quản lý tài nguyên tốt hơn; Đồng thời cần cải cách thể chế một cách tham vọng hơn. “Các nền kinh tế đang chuyển đổi, bao gồm Việt Nam, phải chuyển từ cách mạng xanh sang một nền nông nghiệp mới có giá trị cao vì thu nhập đô thị tăng và nhu cầu đối với các sản phẩm có giá trị cao ở thành phố đang là động cơ tăng trưởng cho nông nghiệp và giảm nghèo”. Báo cáo phát triển thế giới cũng đã hé lộ những chỉ dẫn cho các nước một lộ trình mà ngành nông nghiệp nên theo đó là việc tăng cường bảo hộ và trợ cấp cho nông nghiệp ở các nước và những cơ hội mà nông nghiệp và phi nông nghiệp đem lại. 3. KẾT QUẢ TRẮC NGHIỆM NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - Diện tích xã Thụy Hương: 519, 38 ha Xã có 7 làng; 7 cụm đất quy hoạch phi nông nghiệp. - Dân số: 8 018 người Số lao động: 4 900 người Số hộ: 1 000 hộ Số hộ làm vườn rau, cây cảnh: 200 hộ Bản đồ xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ, Hà Nội: * Kết quả nghiên cứu sơ cấp ở địa bàn nông thôn mới - xã Thụy Hương: CÂU HỎI PHỎNG VẤN & TRẮC NGHIỆM TRẢ LỜI Câu hỏi Đánh giá Thuận lợi Khó khăn - Bà con có phấn khởi với chương trình xây dựng nông thôn mới? - Cơ sở vật chất xây dựng cho thôn có khác nhiều so với trước đây? + Đường thôn, xã thế nào? + Nhà văn hóa? + Trường học, trạm y tế? + Điện sinh hoạt công cộng? + Điện sản xuất? - Địa phương đã làm gì để nâng cao ý thức bà con trong việc chuyển đổi mô hình nuôi trồng? - Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thôn, xã gồm những loại cây trồng nào? - Việc trồng giống lúa chất lượng cao ở Thụy Hương có đặc điểm gì khác về giá, chất lượng, sản lượng? - Chương trình có hỗ trợ bà con về kỹ thuật nuôi trồng và bây giờ đã ổn định sản xuất chưa? - Xã có tổ chức lớp bồi dưỡng kỹ thuật nuôi trồng vườn rau sạch - cây cảnh cho bà con không? - Bà con có gặp khó khăn trong sản xuất vườn rau sạch và cây cảnh? - Việc tiêu thụ thực phẩm sạch của địa phương đã gặp khó khăn gì? - Tỷ lệ trồng rau sạch - cây cảnh khoảng bao nhiêu? - Việc dồi điền đổi thửa bà con có ủng hộ không? - Ruộng chuyển dịch thành vườn rau sạch - cây cảnh có gây ra khó khăn gì lớn không? - Việc xây dựng phát triển chợ Thụy Hượng hiện nay cần thiết như thế nào? - Chợ của Thụy Hương được nâng cấp chưa? - Chợ kinh doanh thương mại đã phát triển chưa? - Vai trò của chợ đối với bà con? - Những đề xuất của bà con với chính sách Nhà nước để thúc đẩy kinh tế sản xuất ở địa phương? - Rất phấn khởi - Đã khác trước rất nhiều + Khang trang + Được xây mới + Được đổi mới + Đèn lắp mới + Bơm tưới rau - Tuyên truyền, vận động học tập - Lúa, rau sạch & cây cảnh - Giá bán cao, chất gạo ngon - Có hỗ trợ nhiều và tạm ổn định - Có 1 số lớp cho các hộ đi học tập - Đầu vào sản xuất thì dễ - Khoảng 20% - Có - Không lớn - Rất cần thiết vì chợ bé, dân đông - Được mở rộng - Phục vụ chủ yếu nhu cầu sinh hoạt - Nơi tiêu thụ hàng tiêu dùng - Giúp dân mở rộng thị trường tiêu thụ; Tiếp tục hỗ trợ dân các kỹ thuật sản xuất Sản lượng thấp, được 1,5 tạ/ sào - Đầu ra tiêu thụ thì còn khó quá - Chưa tìm được thị trường để bán - Có 1 chút tò mò và bỡ ngỡ - Chưa TỔNG CỘNG 21 5 Mô hình Vườn rau - cây cảnh & Môi trường sinh thái xã Thụy Hương: Mô hình Vườn rau xã Thụy Hương: * Kết quả nghiên cứu số liệu ở địa bàn nông thôn mới - xã Thụy Hương: Cơ cấu sản phẩm và thị trường tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề Thụy Hương: Đơn vị tính: % Sản phẩm Số lượng Xuất khẩu Nội địa Tự tiêu dùng 1. Đồ gỗ - Bàn ghế 5 000 cái 31,3 60,4 8,4 2. Mây tre đan 30 000 cái 29,4 53,9 16,7 3. Vườn rau sạch 550 tấn 0 70 30 4. Vườn cây cảnh hoa lan & cúc 1 200 triệu đ 0 75 25 5. Sản phẩm khác 5 000 triệu đ 0 80 20 Như vậy, nhìn chung người dân rất phấn khởi tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn mới và chương trình cũng đã có một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn vướng mắc ở đầu ra của sản phẩm. Về cơ cấu sản phẩm làng nghề Thụy Hương, đồ gỗ là sản phẩm có đầu ra mạnh nhất. Mặt khác, vẫn còn một số hạn chế về mức thu nhập của người lao động sản xuất đồ gỗ và sản xuất khác. 4. KẾT QUẢ TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ TRƯỚC ĐÂY & HIỆN NAY * Kết quả tổng hợp đánh giá trước đây: Trước đây, đường xá và phong cảnh của Thuỵ Hương đặc nông thôn - khá bẩn thỉu, luộm thuộm với rác, bùn đất và sặc mùi phân bò. Hệ thống cầu cống, trường học, trạm y tế chưa được nâng cấp và mở rộng. Nhà văn hóa để người dân sinh hoạt chưa được xây dựng. Năm 2008, Hà Nội mở rộng, nước thải Thành phố tràn về, người dân phải sử dụng nguồn nước “đen ngòm” vì xã chưa khoan được nước ngầm! Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thôn, xã chủ yếu trồng lúa thâm canh, ngô xen vụ tương đối nhàn. Ruộng của Thụy Hương cũng đã được quy hoạch dồi điền thành ruộng lớn rất dễ cho canh tác và thu hoạch. Việc xây dựng chợ Thụy Hượng trước đây với quy mô nhỏ hẹp, nên khi dân sinh tăng lên thì chợ rất chật chội và ùn tắc. Chợ chủ yếu phục vụ nhu cầu mua sắm tiêu dùng sinh hoạt của người dân địa phương. Nhân dân địa phương mong muốn, chính quyền xã đề nghị Nhà nước cấp nguồn tài chính, thực hiện phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng mở rộng chợ Thụy Hương để thúc đẩy kinh tế sản xuất ở địa phương. * Kết quả tổng hợp đánh giá hiện nay: Mô hình nông thôn mới tại xã Thụy Hương: Hơn 76 tỷ đồng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Trong đó có 31,1 tỷ đồng từ ngân sách trung ương và thành phố; ngân sách huyện, xã hơn 13,8 tỷ đồng; doanh nghiệp hỗ trợ 22 tỷ đồng và 9 tỷ đồng do nhân dân đóng góp. Được biết năm 2009, tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn xã đạt hơn 29,1 tỷ đồng, gồm: ngân sách trung ương 4 tỷ đồng; ngân sách thành phố 16,5 tỷ đồng, nhân dân đóng góp hơn 4,7 tỷ đồng… Tính đến thời điểm này, Thụy Hương là xã đã đạt được những kết quả khả quan trong việc triển khai thực hiện các mục tiêu của chương trình xây dựng nông thôn mới so với các xã thí điểm khác trên toàn quốc. Về lĩnh vực quy hoạch, Thụy Hương đã hoàn thành quy hoạch xây dựng theo tiêu chí của Bộ Xây dựng; lập xong kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020; chỉnh lý xong biến động bản đồ địa lý tỷ lệ 1/500 theo quy định của ngành Tài nguyên và Môi trường; các quy hoạch thuộc các chuyên ngành đang được tích cực triển khai thực hiện. Về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, theo Ban quản lý xây dựng mô hình NTM xã Thụy Hương, đã thi công được 8/12km đường giao thông, với kinh phí thực hiện 9,2/15 tỷ đồng. Bên cạnh đó, đã thực thi được 80% khối lượng của 3 công trình thủy lợi: trạm bơm, kiên cố hóa 2 tuyến kênh mương, với kinh phí thực hiện 3,4/4,4 tỷ đồng. Bàn giao 100% hệ thống trạm biên áp, đường dây cao thế, hạ thế cho ngành điện quản lý. Ngành điện đã đầu tư xây dựng 0,45 km đường dây 35KV và 1 trạm biến áp 250 KVA-35/0,4KV chống quá tải; thay thế hệ thống công tơ, hộp điện theo tiêu chuẩn an toàn để bán điện đến hộ; di chuyển xong trạm biến áp trụ sở UBND xã với kinh phí 3 tỷ đồng. Xây dựng xong cơ bản khu nhà 2 tầng, 12 phòng bệnh để khám chữa bệnh, kinh phí 2,5 tỷ đồng. Hoàn thành xây mới nhà học 2 tầng, 8 phòng học của trường tiểu học, 3 phòng học trường mầm non, với kinh phí 2,9 tỷ đồng… Qua 1 năm triển khai và tổ chức thực hiện mô hình nông thôn mới tại xã, Thuỵ Hương đã đạt được những kết quả quan trọng, trong đó 14/19 tiêu chí của Trung ương cơ bản hoàn thành; 5/19 tiêu chí đạt trên dưới 70%. Đây chính là những thuận lợi cơ bản và các mục tiêu mà Nghị quyết Đảng bộ xã phấn đấu hoàn thành trong giai đoạn 2010 - 2015. Ông Nguyễn Đức Học, Chủ tịch UBND xã Thuỵ Hương cho biết, vấn đề khó khăn nhất đối với xây dựng mô hình nông thôn mới là làm thế nào để chuyển biến và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân để tất cả coi đây là nhiệm vụ của chính mình, xây dựng cho mình và cho gia đình mình. Để làm được điều đó, xã xác định mỗi cán bộ, đảng viên phải đi đầu, gương mẫu; mọi nội dung công việc liên quan đến xây dựng nông thôn mới phải được đưa ra nhân dân bàn bạc một cách công khai, dân chủ để người dân quyết định những việc gì làm trước, hình thức thực hiện thế nào, đóng góp ra sao. Với cách làm như vậy, nhân dân đã tin tưởng và tự nguyện thực hiện. Đến nay, số vốn nhân dân tự đóng góp cho mô hình xây dựng nông thôn mới là 6,1 tỷ đồng, đạt 40% kế hoạch, tuy nhiên nếu nhìn mức thu nhập bình quân mới đạt 9,9 triệu đồng/người/năm thì có thể thấy đây là cố gắng lớn của Thuỵ Hương. Để tạo điều kiện cho việc huy động đóng góp của nhân dân, xã sẽ vận dụng một cách linh hoạt các hình thức đóng góp bằng tiền, ngày công, vật tư, phương tiện… tuỳ theo điều kiện từng gia đình để xây dựng, đầu tư cơ sở hạ tầng. Trong xây dựng mô hình nông thôn mới, xã xác định việc tổ chức sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm để nâng cao đời sống nhân dân là những ưu tiên hàng đầu. Do dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển nên Thuỵ Hương sẽ tập trung dồn điền, đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Xã sẽ thực hiện 7 dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng và ký kết với một số đơn vị kinh doanh để đầu tư, bao tiêu sản phẩm. 5. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH CÁC DỮ LIỆU THỨ CẤP Mặc dù mới triển xây dựng mô hình NTM chưa được hai năm, nhưng tính đến hết tháng 10/2010, xã Thụy Hương, Chương Mỹ, Hà Nội đã đạt chuẩn 13/19 tiêu chí. Với bàn đạp thuận lợi như vậy, Thụy Hương đang tăng tốc để hoàn thành mục tiêu đến tháng 6/2011 cơ bản trở thành một xã NTM. Trong bốn xã được Hà Nội chọn thí điểm xây dựng mô hình NTM, Thụy Hương là địa phương có tốc độ xây dựng và chuyển biến rõ ràng, nhanh chóng nhất. Về Thụy Hương những ngày này, chúng ta dễ dàng hình dung được một bộ mặt NTM đã bắt đầu hình thành. Từ đường làng, ngõ xóm đến ruộng đồng đều như một đại công trường đang đẩy nhanh tiến độ thi công. Đoạn đường quan trọng nhất nối liền xã Thụy Hương với thị trấn Chúc Sơn và quốc lộ 6 cũng đã được gấp rút hoàn thành những km cuối cùng. Tính đến tháng 10/2010, gần như 100% công tác xây dựng cơ sở hạ tầng của Thụy Hương đã cơ bản hoàn thành. Xã cũng đã triển khai dự án sản xuất và tiêu thụ rau an toàn quy mô 80 ha và đang triển khai lập dự án chuyển đổi 15 ha sang trồng trồng cây ăn quả, 10 ha trồng hoa, 10 ha nuôi trồng thủy sản và 9,5 ha chăn nuôi tập trung xa khu dân cư… Việc đạt được nhiều tiêu chí chỉ trong một thời gian ngắn như vậy ghi nhận một nỗ lực rất lớn của lãnh đạo cũng như người dân xã Thụy Hương. Nhà lưới, nhà xưởng trồng hoa và rau an toàn được lập lên nhanh chóng. Nhà văn hóa xã, thôn được xây dựng, cải tạo khang trang. Người dân xã Thụy Hương phấn khởi hưởng ứng khi được thành phố chọn thí điểm xây dựng mô hình NTM. Với sự hỗ trợ hơn 3000 gôc đào này, dự tính Tết Nguyên đán năm sau người dân sẽ thu về cả trăm triệu đồng. Thụy Hương thành lập cùng lúc 3 HTX là: HTX rau an toàn, HTX hoa và HTX chăn nuôi. Trong đó, 50% là tiền ngân sách, 50% do xã viên tự đóng góp.  Thay đổi được suy nghĩ của người dân, Thụy Hương đã thành công được 80%. Mặt khác, sản phẩm làng nghề của Thụy Hương là đồ gỗ, mây tre đan cũng được đánh giá cao; Trong đó, đồ gỗ đang phát triển rất mạnh hiện nay. Các sản phẩm làng nghề được khâu trung gian bao tiêu xuất khẩu và bán trong thị trường nội địa nên sản phẩm đầu ra rất thuận tiện, đem lại một nguồn thu nhập đáng kể cho người dân Thụy Hương. Như vậy, để làm tốt chương trình xây dựng nông thôn mới, xã Thụy Hượng cần tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từ xã đến thôn, xóm; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư, ưu tiên cho lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, xã cũng đề nghị các ngành chức năng hướng dẫn, tạo điều kiện cho địa phương khai thác nguồn lực tại chỗ thông qua việc đấu giá quyền sử dụng đất, đất xen kẽ để làm nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. CHƯƠNG 4. CÁC KẾT LUẬN, THẢO LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỚI VẤN ĐỀ ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 1. CÁC KẾT LUẬN VÀ PHÁT HIỆN QUA NGHIÊN CỨU * Các kết luận qua nghiên cứu: + Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước: - Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của nước ta; Làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. - Việc huy động các cơ quan khoa học, kỹ thuật, các doanh nghiệp trực tiếp tham gia phát triển sản xuất của các xã điểm đã bước đầu có các kết quả rõ ràng. Giá trị thu trên một đơn vị diện tích và thu nhập của nông dân được tăng lên, một số xã có mức thu nhập tăng đáng kể, cải thiện đời sống kinh tế nhân dân ở địa phương. - Các xã coi trọng triển khai xây dựng các thiết chế văn hóa, tuyên truyền vận động nhân dân đăng ký, thực hiện các nội dung ''Làng văn hóa'', giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Làng quê nông thôn. Ngoài thực hiện các dự án xử lý rác thải, nước thải, xây dựng nghĩa trang, nhiều địa phương coi trọng chỉ đạo, vận động nhân dân, đoàn thể, thôn xóm thực hiện công trình vệ sinh tại hộ, chỉnh trang đường làng ngõ xóm, kết hợp với khơi thông hệ thống thoát nước; Tổ chức các tổ, hợp tác xã tham gia vệ sinh nông thôn, trồng cây xanh làm hàng rào, bờ dậu tạo cảnh quan, thay đổi bộ mặt nông thôn. + Một số thành tựu đạt được: - Nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; Xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản tăng nhanh; Trình độ khoa  học - công nghệ được nâng cao hơn. - Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là thuỷ lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn. - Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. - Đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; Xoá đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Thành tựu này được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đồng thời, các công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh, phổ cập giáo dục, văn hoá, thông tin, thể thao cũng được quan tâm và đẩy mạnh hơn. - Hệ thống chính trị ở nông thôn do Đảng lãnh đạo được tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; vị thế giai cấp nông dân được nâng cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. + Một số điểm cần khắc phục: - Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực; chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ. - Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. - Các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn đổi mới chậm, chưa đủ sức phát triển mạnh sản xuất hàng hoá. - Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn yếu kém, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai thấp. - Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao và còn phát sinh một số vấn đề xã hội bức xúc. * Các phát hiện qua nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu khoa học sử dụng cách tiếp cận mới khi hệ thống hóa những lý luận chung về xây dựng nông thôn mới. Đề tài đã nghiên cứu các tiêu chí cơ bản để đánh giá tình hình sản xuất ở nông thôn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Tình trạng đầu vào cho khâu sản xuất và đầu ra cho khâu tiêu thụ nông sản ở nông thôn trong việc triển khai mô hình nông thôn mới ở một số địa phương trong cả nước còn có một số hạn chế, bất cập: - Chậm tiến độ xây dựng nông thôn mới. - Chất lượng xây dựng từng tiêu chí chưa cao. - Số lượng tiêu chí đạt chưa đáp ứng được yêu cầu. - Ban chỉ đạo còn lung túng trong việc kịp thời chỉ đạo giải quyết khó khăn, đôi khi còn hình thức. - Công tác quy hoạch để phát triển kinh tế hàng hóa trong nông thôn còn hạn chế: Từ tư duy thế nào là xây dựng kinh tế hàng hóa ở nông thôn, các bước triển khai chưa có quy trình (từ khảo sát, đánh giá, xây dựng quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết, tiến độ triển khai…) - Công tác xây dựng chợ nông thôn còn nhiều vấn đề cần lưu ý, rút kinh nghiệm: + Quy hoạch địa điểm chợ nông thôn: . Vấn đề quy hoạch của nông thôn vần còn ngổn ngang. . Không gian thuần khiết của nông thôn ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. . Quy hoạch thiếu những kế hoạch cơ bản, đồng bộ và lâu dài. + Xây dựng nội quy quản lý, Ban quản lý chợ: . Nội quy quản lý được thực hiện chưa nghiêm. . Ban quản lý chợ làm việc chưa hết chức năng, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý hỗ trợ người kinh doanh trong chợ. + Phương thức hoạt động của chợ: Bán buôn, bán lẻ, kho chứa đảm bảo giữ chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tổ chức tiếp nhận, vận chuyển còn nhiều bất cập. + Thời gian hoạt động của chợ: . Các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường họp vào buổi sáng nên chưa phát triển kinh doanh, thương mại. . Chợ hình thành do nhu cầu trao đổi và tập quán của từng vùng, từng địa phương quy định nên chưa thay đổi thời gian hoạt động của chợ. + Vấn đề tạo điều kiện cho các thương nhân kinh doanh ở chợ: . Chưa tạo điều kiện cho phép các thương tham gia vào quá trình đầu tư và quản lý chợ. . Chưa tạo cơ chế thu hút thương nhân vào đầu tư xây dựng, kinh doanh, phát triển chợ. + Vấn đề các cơ sở tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện thanh toán nhanh thuận lợi: Còn nhiều thủ tục và mất nhiều thời gian cho việc đi vay vốn tín dụng. + Vấn đề khai thác các nguồn lực: . Chưa động viên có hiệu quả các nguồn lực trong dân như vốn trong dân, cơ sở vật chất hiện có... . Chưa tạo được phong trào trong dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới: tham gia xây dựng, thực hiện quy hoạch; tham gia đóng góp ý kiến, công sức... Bằng phương pháp thu thập, khảo sát thực địa và phân tích, đề tài đã đánh giá được những nguyên nhân gây ra những điểm yếu của sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh doanh chợ nông thôn Việt Nam hiện nay phổ biến vẫn ở quy mô nhỏ, phân tán, lạc hậu, chưa chú ý nhiều đến chất lượng từ khâu chọn giống, chăm sóc đến khâu chế biến, bảo quản và tổ chức xuất khẩu. Trong khi đó công tác quy hoạch chưa đảm bảo sự gắn kết giữa vùng nguyên liệu có quy mô lớn với các cơ sở chế biến, tổ chức hệ thống kinh doanh nông sản còn yếu kém... Như vậy, cần phải có các giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới trong điều kiện hội nhập hiện nay; Nâng cao năng lực sản xuất khu vực nông thôn; Phát triển kinh doanh, thương mại hàng nông sản; Tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông từ khâu đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ. Muốn sự liên kết này hoạt động có hiệu quả, phải tuân theo nguyên tắc dựa trên khả năng, mối quan tâm thực sự và đảm bảo lợi ích hài hòa của các bên tham gia. 2. CÁC THẢO LUẬN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA QUA NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Các giải pháp thuộc về xây dựng cơ chế chính sách: * Chính sách về hướng dẫn xây dựng quy hoạch: + Thực trạng hiện nay các địa phương rất lúng túng trong xây dựng quy hoạch đáp ứng các yêu cầu về xây dựng nông thôn mới, cụ thể: - Các địa phương không có bộ phận chuyên trách nghiên cứu, xây dựng quy hoạch, chưa xác định được đúng tiềm năng thế mạnh của từng địa phương, từng vùng của địa phương đó. Việc quy hoạch chue yếu dựa vào kinh nghiệm, chưa dựa trên các luận cứ khoa học . - Không xác định đúng thế mạnh khả năng phát triển nền kinh tế hàng hoá của địa phương Ví dụ: Làng nghề của địa phương là một thế mạnh, phải quy hoạch để đảm bảo đẩy mạnh phát triển hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm cho các hộ gia định hay các doanh nghiệp, quy hoạch để có hướng phát triển mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu, cả trong ngắn hạn và dài hạn và đảm bảo các yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững. Xây dựng các phương án phát triển tiểu thủ công nghiệp phải được quy hoạch chung với phương án phát triển các làng nghề - Hậu quả là các phương án quy hoạch ít khả năng thực thi, quy hoạch không hiệu quả chưa đáp ứng được các yêu cầu đặt ra về phát triển kinh tế hàng hoá ở nông thôn ; chậm hoàn thành quy hoạch hoặc quy hoạch chỉ là những kế hoạch ngắn hạn không có tầm nhìn chiến lược… + Do vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề sau: Xây dựng hướng dẫn riêng về công tác quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch để đẩy mạnh phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn, bao gồm: - Quy hoạch dồn điền đổi thửa để xây dựng những cánh đồng ''mẫu lớn'' cho chuyên canh cây hàng hoá như: lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, đậu tương giàu dinh dưỡng là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biên thức ăn gia súc… - Quy hoạch hạ tầng cơ sở nông thôn: đường, trạm điện, các cơ sở dịch vụ thông tin liên lạc. - Quy hoạch khu vực xây dựng cụm công nghiệp hoặc nhà máy sử dụng nhiều nhân công lao động ở nông thôn, quy hoạch khu dân cư. - Quy hoạch chợ nông thôn cần thuận tiện gần khu đông dân cư. * Chính sách về cơ chế tài chính hỗ trợ: + Xây dựng quy chế chung về hỗ trợ cho các địa phương tiến hành triển khai xây dựng nông thôn mới, tuy nhiên phải khắc phục tình trạng phân bổ bình quân hiện nay làm giảm sút hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ của nhà nước, gây tâm lý ỷ lại của người dân trông chờ vào đầu tư của Nhà nước. + Trên cơ sở lập quy hoạch chi tiết ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở cấp tỉnh cùng với các Ban quản lý xây dựng nông thôn mới ở các xã trực tiếp kiểm tra, thống nhất phương án vốn đầu tư của Nhà nước trong khung quy định, xác định rõ hạng mục nào đầu tư bằng vốn của Nhà nước, tiến độ công việc, kế hoạch giải ngân… + Xây dựng các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư hoặc hợp tác xây dựng doanh nghiệp tại các vùng nông thôn mục đích: đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa ở nông thôn, nâng cao thu nhập cho người lao động, tạo điều kiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn; có cơ chế ưu đãi các doanh nghiệp tạo thị trường đầu ra tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. + Xây dựng các chế độ, chính sách tín dụng riêng đối với các địa phương triển khai xây dựng nông thôn mới với lãi xuất thấp, ra hạn thời gian thanh toán - vay dài hạn. + Khuyên khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông thôn, kể cả các doanh nghiệp nước ngoài. * Chính sách về phát triển chợ nông thôn: + Phải xây dựng mô hình điểm về chợ nông thôn: - Mô hình kết cấu hạ tầng phù hợp với điều kiện nông thôn, thuận lợi trong giao dịch mua bán, tiết kiện chi phí xây dựng… - Xây dựng mô hình quản lý chợ nông thôn, bên cạnh mô hình Ban quản lý chợ như hiện nay, cần mạnh dạn áp dụng mô hinh doanh nghiệp xây dựng và quản lý chợ nông thôn đảm bảo nâng cao hiệu quả của chợ phục vụ đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa trong nông thôn, hình thành các thói quen, văn hóa tiêu dùng lành mạnh trong khu vực nông thôn, đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tạo đều kiện thúc đẩy sản xuất hàng hóa. + Thí điểm triển khai cho phép cá nhân, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế xây chợ nông thôn, quản lý kinh doanh, vận hành theo cơ chế thị trường - hình thức kinh doanh. * Chính sách về phát huy mọi nguồn lực xây dựng nông thôn mới: + Nguồn lực về tài chính: - Chính sách huy động vốn từ trong nhân dân để dầu tư phát triển sản xuất hàng hóa. - Khuyến khích thu hút nguồn vốn từ liên doanh liên kết - liên kết 4 nhà; Coi trọng nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp để đẩy mạnh sản xuất hàng hóa. - Đẩy mạnh thu hút nguồn hỗ trợ, kể cả hỗ trợ từ thân nhân người Việt, người nước ngoài… + Nguồn lực về con người: - Nhà nước hỗ trợ các địa phương trong đào tạo nhân lực quản lý, công nhân kỹ thuật, đào tạo nghề… - Có chính sách đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, kết hợp kinh nghiệm của người địa phương và vận dụng kiến thức khoa học phát triển những bước mới trong sản xuất hàng hóa ở nông thôn. - Khuyến khích thu hút những người tài tâm huyết với quê hương về phục vụ quê hương. + Nguồn lực về khoa học kỹ thuật: - Có chính sách khuyến khích sự hợp tác của 4 nhà tăng cường sự trợ giúp của doanh nghiệp trong việc cung cấp các mô hình nuôi, trồng hiệu quả theo hướn sản xuất hàng hóa, doanh nghiệp chủ động kết hợp với nông dân đầu tư cây con, vật tư nông nghiệp, hướng dẫn cách chăm sóc và thu hoạch sản phẩm của nông dân. - Nhà nước có hỗ trợ cho nông dân trong nghiên cứu cơ bản, xây dựng quy hoạch chi tiết, xác định phát triển cây con gì có hiệu quả. - Nhà nước hỗ trợ mời gọi các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến phát triển tại địa phương theo cơ chế Nhà nước đẩy manh xúc tiến mời gọi cac doanh nghiệp đầu tư khoa học - kỹ thuật vào nông thôn cùng hưởng lợi, cung cấp bí quyết kỹ thuật nuôi trồng sản phẩm và bao tiêu 100% sản phẩm đầu ra. + Nguồn lực về vị trí địa lý: - Nhà nước nên có chính sách nghiên cứu cơ bản về lợi thế của từng địa phương về vị trí địa lý, các nghề truyền thống của từng địa phương. - Nhà nước nên cos chính sách phát triển đường mạng lưới giao thông nông thôn theo hướng nhà nước đầu tư làm các tuyến đường chính, liên xã, liên huyện tạo thuận lợi cho giao thông nông thôn, vân chuyển hàng hóa, sản phẩm nôpng nghiệp nhanh chóng thuận tiện cho tiêu thụ cũng như đảm bảo sự thuận tiện trongc ung cấp vật tư đầu vào. + Nguồn lực về nghề truyền thống của địa phương: Phải xác định đây là nguồn lực, thế mạnh của từng địa phương; Phải có chính sách phát triển mạnh làng nghề, đồng thời quy hoạch, xây dựng làng nghề thành các khu, cụm công nghiệp nông thôn. 3. CÁC DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI - Xây dựng nông thôn mới thực sự là cần thiết trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nước ta hiện nay là nội dung cơ bản trong chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước. - Tập trung hoàn thành 19 tiêu chí là nhiệm vụ cơ bản trong để đẩy nhanh tiến độ chất lượng xây dựng nông thôn mới ở các địa phương thì công tác quy hoạch đăc biệt là quy hoạch để phát triển kinh tế hàng hóa ở nông thôn là việc phải làm ngay, đi trước một bước, coi trọng xây dựng chợ nông thôn là điều kiện quan trọng để thúc đẩy trao đổi hàng hóa; Khai thác có hiệu quả nguồn lực để phát triển kinh tế hàng hóa ở nông thôn là việc quan trọng đóng góp tích cực vào thành công của xây dựng nông thôn mới. Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo 11 xã điểm triển khai xây dựng nông thôn mới ở nước ta đang gặp phải ba khó khăn lớn sau đây: Một là, tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân khó thực hiện được. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư, đến 2020 thu nhập của dân nông thôn tăng gấp 2,5 lần hiện nay, bình quân cư dân nông thôn hiện nay thu nhập 400 $/người/năm (cả nước xấp xỉ 1.000 $/người), trong khi cả nước hiện còn hơn 2.000 xã/9.800 xã nghèo nhất nước có tỷ lệ hộ nghèo dưới 50%, khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn và đô thị đang ngày càng rộng ra, đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, khí hậu thời tiết ngày càng khắc nghiệt, đó là thách thức rất lớn. Hai là, xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu, nhất là miền núi, vùng đồng bằng dân tộc ít người; Trong khi nguồn vốn đầu tư của Chính phủ rất hạn chế. Mặt khác, lại phải xây dựng được môi trường sinh thái nông thôn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc - xây dựng nông thôn mới không phải biến nông thôn thành thành thị. Ba là, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, sao cho đến năm 2020, lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội, thay vì gần 60% như hiện nay. 4. CÁC ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 * Cơ chế chính sách quản lý nhà nước: + Cơ chế hoạt động Chương trình Mục tiêu Quốc gia: - Xây dựng chương trình hoạt động, dự án đầu tư mô hình nông thôn mới Việt Nam hoàn thiện và được nâng lên tầm cao mới. - Xây dựng cơ chế hoạt động, cơ chế kiểm tra giám sát thực hiện tốt chương trình mô hình nông thôn mới tại các địa phương thí điểm. + Cơ chế huy động vốn: - Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn theo nguyên tắc: Điều tiết 100% vốn các chương trình MTQG chuyên về nông thôn và vốn trực tiếp bố trí chương trình MTQG nông thôn mới để xây dựng nông thôn mới. Điều tiết 70-80% vốn các chương trình MTQG mang tính chất chung cả tỉnh cho nông thôn mới. - Huy động tối đa nguồn lực của địa phương để triển khai, UBND huyện trình HĐND huyện xem xét để lại 70% tiền thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã để lại cho địa phương đầu tư xây dựng chương trình nông thôn mới. - Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; Doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển, hỗ trợ sau đầu tư và được ưu đãi đầu tư theo quy định pháp luật và kêu gọi đầu tư vào khu công nghiệp ứng dụng công nghệ cao. - Các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể phải được HĐND xã thông qua: Đất đai, hoa màu, vật kiến trúc, ngày công lao động, hiện vật, bằng tiền mặt… - Các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư. - Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng: Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được sử dụng đúng theo Nghị định số 106/2008/NĐ-CP ngày 19/8/2008 của Chính phủ. Vốn tín dụng thương mại theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ở các địa phương có hướng dẫn cụ thể nguồn vốn huy động này. - Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác. + Nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn: Tranh thủ tối đa nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương được nêu trong Quyết định 800/QĐ-TTg; Tỉnh ưu tiên cân đối đủ nguồn lực và đối ứng các địa phương; Chủ đầu tư phải cam kết và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh đảm bảo giải ngân một cách tốt nhất trong năm thực hiện kế hoạch. - Hỗ trợ 100% NSTƯ cho: Công tác quy hoạch; Đường giao thông đến trung tâm xã; Xây dựng trụ sở xã; Xây dựng trường học đạt chuẩn; Xây dựng trạm y tế xã; Xây dựng nhà văn hóa xã; Kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã. - Hỗ trợ một phần từ NSTƯ cho xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; Đường thôn, xóm; Giao thông kênh mương nội đồng; Phát triển sản xuất và dịch vụ; Nhà văn hóa thôn, bản; Công trình thể thao thôn, bản; Hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản. - Mức hỗ trợ từ NSTƯ căn cứ điều kiện kinh tế xã hội để bố trí phù hợp với quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTƯ Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt. + Cơ chế đầu tư: Tổ chức thực hiện đúng theo Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. - Chủ đầu tư các dự án xây dựng công trình CSHT trên địa bàn xã là Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã do UBND xã quyết định. Đối với các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi có trình độ chuyên môn mà BQL xã không đủ năng lực và không nhận làm chủ đầu tư thì UBND huyện giao cho một đơn vị có đủ năng lực làm chủ đầu tư và có sự tham gia của UBND xã; - Dự án đầu tư xây dựng CSHT tại các xã, thôn, bản có thời gian thực hiện dưới 2 năm hoặc giá trị công trình đến 3 tỷ, chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trong đó phải nêu rõ tên công trình, mục tiêu đầu tư, địa điểm xây dựng, quy mô kỹ thuật công trình, thời gian thi công, thời gian hoàn thành, nguồn vốn đầu tư và cơ chế huy động nguồn vốn kèm theo thiết kế, bản vẽ thi công và dự toán; Đối với các công trình có giá trị trên 3 tỷ hoặc công trình có ý kiến kỹ thuật cao thì việc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế, bản vẽ thi công và dự toán phải do đơn vị tư vấn có tư cách pháp nhân thực hiện. Việc lựa chọn tư vấn phải theo quy định hiện hành. Trong quá trình chuẩn bị đầu tư cần tiến hành lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư về báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế, bản vẽ thi công và dự toán các công trình cơ sở hạ tầng. - UBND huyện là cấp quyết định đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật các công trình có mức vốn đầu tư trên 3 tỷ đồng có nguồn gốc từ ngân sách và các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao; - UBND xã là cấp quyết định đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật các công trình có mức vốn đầu tư đến 3 tỷ đồng có nguồn gốc từ ngân sách; - Lựa chọn nhà thầu: Việc lựa chọn nhà thầu xây dựng CSHT các xã thực hiện theo 3 hình thức: Giao các cộng đồng dân cư thôn, bản, ấp (những người hưởng lợi trực tiếp từ chương trình) tự thực hiện xây dựng; Lựa chọn nhóm thợ, cá nhân trong xã có đủ năng lực để xây dựng; Lựa chọn nhà thầu thông qua hình thức đấu thầu theo quy định hiện hành. Khuyến khích thực hiện hình thức giao cộng đồng dân cư hưởng lợi trực tiếp từ công trình tự thực hiện xây dựng. - Ban giám sát cộng đồng gồm đại diện của Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc xã, các tổ chức xã hội và đại diện của cộng đồng dân cư hưởng lợi công trình do dân bầu thực hiện giám sát các công trình CSHT xã theo quy định hiện hành về giám sát đầu tư của cộng đồng. * Thông tin tuyên truyền: + Các cấp, các ngành, những người đứng đầu cơ quan, tổ chức và từng tổ chức, đơn vị cần phải chủ động, nhanh chóng cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội XVIII thành nội dung, chương trình hành động của mình, mang tính chất đặc trưng của ngành, cấp, lĩnh vực, đơn vị mình đi đôi với làm tốt công tác cán bộ và cách thức đưa nghị quyết vào cuộc sống. - Sắp xếp, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ để thực sự đạt được yêu cầu ''cán bộ là cái gốc của mọi công việc''; để có cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Triển khai kịp thời, sâu sắc, toàn diện Luật Cán bộ công chức và các quy định liên quan đến công tác tổ chức, cán bộ; Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ''vừa hồng vừa chuyên'' như lời Bác Hồ dạy. - Phải làm tốt công tác dân vận, công tác mặt trận phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, công tác thông tin tuyên truyền để đưa Nghị quyết vào cuộc sống một cách sáng tạo, phù hợp với nhận thức và thực tế phát triển xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu mà Nghị quyết đã đặt ra. + Thực hiện cuộc vận động xã hội sâu rộng về xây dựng nông thôn mới: - Tổ chức phát động, tuyên truyền, phổ biến đạt mục tiêu yêu cầu đã đề ra. - Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh có kế hoạch cụ thể phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, tổ chức khen thưởng xứng đáng cá nhân, tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hàng năm và 5 năm. + Đào tạo cán bộ chuyên trách để triển khai Chương trình MTQG: - Hình thành đội ngũ cán bộ chuyên trách từ tỉnh đến huyện, xã để triển khai có hiệu quả chương trình. - Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện chủ trì phối hợp với các ban ngành và UBND xã tổ chức đào tạo, tập huấn cán bộ xây dựng nông thôn mới. + Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới. * Tổ chức quản lý, triển khai thực hiện: + Về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp: Khu vực này đóng góp vào GDP nhỏ so với ngành công nghiệp và dịch vụ; nhưng đây là khu vực đông dân nhất, có thu nhập thấp nhất và ở vùng khó khăn nhất; là khu vực sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu phục vụ con người; là bộ phận dân cư quan trọng giữ cho ổn định xã hội, tạo thế cho phát triển bền vững. Do đó, phát triển sản xuất ở khu vực này cần quan tâm các giải pháp: - Thực hiện toàn diện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây là giải pháp cho cả nhiệm kỳ và lâu dài nhằm xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí cho từng lĩnh vực đã được nhà nước ban hành. - Nghiên cứu, áp dụng khoa học kỹ thuật, biện pháp sản xuất trong từng lĩnh vực nông nghiệp, là then chốt để phát triển nông nghiệp. Vậy nên, xác định cán bộ làm công tác khuyến nông, cán bộ thú y, bảo vệ thực vật là những cầu nối để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật đến cho bà con nông dân. - Phải tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên, diện tích đất mặt nước cho sản xuất (hiện tại ta đang sử dụng chưa hiệu quả hàng nghìn ha diện tích mặt nước, hàng nghìn ha rừng kém hiệu quả...) - Củng cố quan hệ sản xuất đi đôi với phát triển lực lượng sản xuất, tạo chuyển dịch ngành nghề trong nhân dân; Đẩy nhanh đô thị hóa nông thôn theo quy hoạch. + Để phát triển bền vững trong lĩnh vực sản xuất, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung: - Đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải ngân của các dự án: Quy hoạch, giao thông, xây dựng ở tất cả các nguồn vốn trên cơ sở khai thác có hiệu quả các dự án đã hoàn thành trên mọi lĩnh vực. Kịp thời xử lý các dự án thiếu đồng bộ, thu hồi các dự án chậm tiến độ, phải khách quan xem xét, đánh giá toàn diện các dự án đã đăng ký, loại bỏ những dự án ''nhận chỗ'', tìm kiếm dự án có tính chất quyết định sản phẩm canh tranh trong tương lại. Thực tế có dự án nhà máy kéo dài thời gian tiến độ gấp 2 lần so với kế hoạch nên khi sản phẩm ra đời thì thị trường đã bão hòa; Việc không đồng bộ trong quy hoạch đã gây không ít khó khăn cho thu hút đầu tư và có được các dự án tốt… - Cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề môi trường trong phát triển bền vững; Khai thác và sử dụng nước mặt, nước ngầm hợp lý; Xử lý hiệu quả nước thải, khí thải... làm ô nhiễm môi trường, gây nhiều chi phí, khó khăn và tốn kém cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường. - Phải coi trọng đổi mới công nghệ, đưa tiến bộ kỹ thuật áp dụng vào sản xuất, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm mới, tạo ra nhiều ''thế thắng''. * Nhóm kiểm tra giám sát, rút kinh nghiệm kịp thời: - Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình MTQG cấp huyện, xã do các đồng chí Chủ tịch làm Trưởng ban. - Thành lập ''Văn phòng điều phối chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới'', cấp huyện giao cho Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện là cơ quan Thường trực điều phối. - Trong quá trình điều hành, quản lý chương trình, các cơ quan lãnh đạo cấp trên phải thường xuyên quan tâm kiểm tra giám sát, rút kinh nghiệm kịp thời để bổ sung trực tiếp vào chương trình dự án đang thực thi. 5. NHỮNG HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU * Những hạn chế nghiên cứu: - Do thời gian nghiên cứu eo hẹp nên trong quá trình nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin, khảo sát thực địa và phân tích số liệu còn hạn chế. - Các phân tích đánh giá đã được xem xét tỉ mỉ nhưng không tránh khỏi một số thiếu xót trong một đề tài có phạm vi bao quát rộng lớn. - Vì thời gian không cho phép nên nhóm chưa tổ chức đi nghiên cứu thực địa ở nhiều xã thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới nên số liệu đưa ra ít và khả năng đánh giá còn hạn chế so với yêu cầu thực tế. * Vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu: Việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới hiện nay còn lúng túng ngay ở các xã thực hiện thí điểm chưa xác định được lợi thế, điểm mạnh của từng địa phương trong quy hoạch phát triển: - Sản xuất hàng hóa gì: Trồng lúa chất lượng cao hay loại cây trồng gì, nuôi con gì, làng nghề sản xuất hàng hóa gì... - Quy hoạch đất còn nhiều bất cập: Đất ở, đất cho sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa, làng nghề… - Đất cho xây dựng các khu công nghiệp nhỏ để thu hút các doanh nghiệp vào hợp tác đầu tư - hợp tác 4 nhà. - Quy hoạch khu chợ phục vụ trao đổi hàng hóa. - Quy hoạch kho bãi bảo quản, phân loại sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo chât lượng, giá trị hàng xuất khẩu…

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015.doc
Luận văn liên quan