Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam: Cơ hội và thách thức

LỜI MỞ ĐẦU2 PHẦN I. SƠ LƯỢC CHUNG VỀ TỔ CHỨC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH.3 I. KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ TGTC3 1.1. Các tổ chức tài chính chính thức:3 1.1.1. Các ngân hàng thương mại:3 1.1.2.Các Công ty tài chính :3 1.1.3. Các hợp tác xã tín dụng:4 1.2.Các tổ chức tài chính không chính thức:4 II. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC TCTGTC TRONG HỆ THỐNG TÀI CHÍNH.4 2.1. Vị trí của các TCTGTC trong hệ thống tài chính.4 2.2. Vai trò của các TCTGTC.5 PHẦN II. THỰC TRẠNG CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY7 I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI7 1.1. KHÁI NIỆM . 7 1.2. Vị trí của NHTM trong hệ thống tài chính. 7 1.3.Chức năng của NHTM . 8 a. chức năng trung gian tín dụng. 8 b. chức năng trung gian thanh toán.9 c. chức năng tạo tiền. 10 1.4.Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.11 b. ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp và thị trường.11 c. NHTM là công cụ vĩ mô để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.11 d. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.11 II. CÁC TỔ CHỨC PHI NGÂN HÀNG.19 A.Bảo hiểm và các quỹ trợ cấp. 19 B.CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ QUỸ ĐẦU TƯ27 2.1.CÔNG TY TÀI CHÍNH27 2.1.1.Các loại hình CTTC:27 2.1.2. Thực trạng của các CTTC:28 2.1.3. CTTC cổ phần.28 2.2.Quỹ đầu tư. 29 2.2.1. Cho thuê tài chính và sự hoạt động của các công ty cho thuê tài chính. 29 2.2.2. Khả năng tăng trưởng dư nợ cho thuê của các công ty cho thuê tài35 C. Thị trường chứng khoán Việt Nam36 2.1. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam36 2.2.Điều kiện để thị trường chứng khoán hoạt động tốt.36 2.4.Thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động theo quy luật nào. 42 2.5.Điều kiện để thị trường chứng khoán hoạt động tốt44 KẾT LUẬN46 TÀI LIỆU THAM KHẢO47

doc27 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/05/2013 | Lượt xem: 2098 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam: Cơ hội và thách thức, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời mở đầu Trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngành ngân hàng ngày càng tỏ rõ vị trí quan trọng hàng đầu của mình đối với sự phát triển của đất nước. Thực tế những năm qua, trong sự đổi mới của bộ mặt đất nước hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng được coi không chỉ là điều kiện mà còn là động lực đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới. Để đạt được điều đó là do có sự đóng góp một phần không nhỏ của kế toán ngân hàng và kế toán ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết, tổ chức tốt công tác kế toán ngân hàng là đòn bẩy không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo ra một hệ thống ngân hàng hoạt động tốt, có hiệu quả nhờ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Nhưng để tồn tại và phát triển thì ngân hàng phải luông có các nghiệp vụ riêng . Mà mỗi nghiệp vụ riêng lại ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của ngân hàng. Vì vậy việc biết và nhận biết rõ nội dung vai trò của từng nghiệp vụ ngân hàng là một điều không thể thiếu đối với các nhân viên và các nhà quản lí ở ngân hàng. Nhận biết sự cần thiết của đề tài; “ khái quát về các nghiệp vụ ngân hàng thương mại hiện nay” Mục đích của đề tài là: Dưa ra các khái niệm cơ bản nhất về các nghiệp vụ ngân hàng và thực tế vận dụng các nghiệp vụ trong một số ngân hàng thương mại ở nước ta hiện nay. Nội dung của đề tài gồm III phần: Phần I: Khái quát chung về ngân hàng thương mại và nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Phần II: Thực trạng chung về các nghiệp vụ ngân hàng tại một số ngân hàng thươnng mại tại Việt Nam hiện nay. Phần III: Giải pháp và Đánh giá chung về các nghiệp vụ ngân hàng thương mại hiện nay. Phạm vi đề tài nghiên cứu là nghiệp vụ các ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2007 tới nay. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, bài viết đưa ra một số ý kiến nhằm phát triển hoạt động này tại ngân hàng. Do thời gian có hạn nên trong bài có thể có nhiều thiếu sót mong cô và các bạn có thể giúp đỡ đóng góp ý kiến của mình để chúng em có thể hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn. Danh sách nhóm 9 MỤC LỤC Phần I: Khái quát về ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại I. Ngân Hàng Thương Mại là gì? Ngân hàng Thương Mại là loại hình Tổ chức Tín Dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân Hàng (hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân Hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền gửi này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán) và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan và mục tiêu lợi nhuận. II. Mô hình hoạt động của NHTM? Theo tính chất hoạt động - Ngân Hàng chuyên môn hóa: chuyên kinh doanh trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định hoặc trong phạm vi một hoặc một số địa bàn nhất định - Ngân Hàng đa năng: là loại hình ngân hàng đa dạng, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, không giới hạn về phạm vi, địa bàn hoạt động, thực hiện đa dạng nhiều nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng. Theo quy mô và khối lượng giao dịch: - Ngân Hàng bán lẻ: là loại hình ngân hàng có quan hệ với đối tượng khách hàng vừa và nhỏ như cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Ngân Hàng bán buôn: là loại hình ngân hàng có quan hệ giao dịch chủ yếu với các khách hàng lớn, bao gồm các công ty lớn, các tập đoàn đa quốc gia, chính phủ các nước... III. Đánh giá hoạt động của NHTM: Bảng tổng kết Tài Sản (Balance Sheet), hay Bảng cân đối Kế toán của NHTM là một báo cáo tài chính tổng hợp, được trình bày dưới dạng cân đối, phản ánh tổng quát tình hình sử dụng vốn hoạt động của NHTM tại một thời điểm nhất định. Bảng tổng kết Tài Sản được kết cấu thành hai phần: Tài sản Có (Assets) và Tài sản Nợ (Liabilities). - Tài sản Nợ gồm những khoản là nguồn vốn hoạt động của NHTM, do dân chúng gửi vào NHTM hay NHTM đi vay các đối tượng trong nền kinh tế như Ngân hàng Trung Ương, các Ngân hàng trung gian hay tổ chức kinh tế khác, nước ngoài, các doanh nghiệp... Ngoài ra, các khoản vốn tự có hay vốn cổ phần, lợi nhuận trước thuế hay tài sản ròng cũng được xem là yếu tố cấu thành của Tài sản Nợ - Tài sản Có phản ánh những khoản mục sử dụng vốn của NHTM, hay những khoản NHTM cho thị trường vay.Vì mục tiêu của NHTM là cho vay để kiếm lời, nên Tài sản Có hay các khoản mà NHTM cho thij trường vay còn được gọi là khoản đầu tư của ngân hàng. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM: * Nghiệp vụ Tài sản Có: phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các NHTM, bao gồm: - Nghiệp vụ ngân quỹ - Nghiệp vụ cho vay - Nghiệp vụ đầu tư tài chính - Nghiệp vụ khác * Nghiệp vụ Tài sản Nợ và Vốn tự có của NHTM: phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các nghiệp vụ sau: - Nghiệp vụ tiền gửi - Nghiệp vụ phát hành các giấy tờ có giá - Nghiệp vụ đi vay - Nghiệp cụ huy động vốn khác. - Vốn tự có * Nghiệp vụ ngoài Bảng tổng kết tài sản: môi giới mua bán những công cụ tài chính đã tạo ra thu nhậpnhờ các khoản lệ phí và chuyển nhượng những khoản vay; bán các khoản cho vay; thực hiện kinh doanh hối đoái nhân danh một khách hàng, phục vụ chứng khoán hỗ trợ vay thế chấp bằng cách thu tiền gốc và tiền lãi rồi tất toán, bảo đảm các chứng khoán vay nợ, ví dụ các hồi phiếu được ngân hàng chấp nhận và cung cấp các mức tín dụng hỗ trợ Phần II: Thực trạng chung về các nghiệp vụ ngân hàng tại một số ngân hàng thươnng mại tại Việt Nam hiện nay. THỰC TRẠNG CHUNG CỦA NGÂN HÀNG HIỆN NAY . Ngành ngân hàng trong năm 2008 Ngành ngân hàng trong năm 2008 đã trãi qua nhiều biến động khó khăn. a. Lạm phát: Đầu năm phải đối mặt với lạm phát tăng cao (theo tính tóan sơ bộ lạm phát năm nay của Việt Nam là 24%) do đó việc thắt chặt tiền tệ đã gây khó khăn không nhỏ cho ngân hàng. Thứ nhất: họ phải tăng lãi suất vay vì thế cho nên phải tăng lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay quá cao khiến càng ít doanh nghiệp vay vốn, làm cản trở đến việc kinh doanh của ngân hàng. Thứ hai: Do lãi suất cao nên khả năng hoàn trả của các con nợ bị giảm sút, việc thu hồi nợ khó khăn hơn, các khoản nợ xấu gia tăng, làm tăng khả năng rủi ro của các ngân hàng. Thứ ba: Do lý do thứ hai nên các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho vay vốn, tiền không được mang ra sử dụng lưu thông trở thành những khoản tiền vô ích, làm tăng chí phí cho ngân hàng. b. Cơn bão tài chính Mỹ: Gần cuối năm, ngành tài chính ngân hàng phải đón nhận tin cơn bão tài chính ở Mỹ. Nhưng có lẽ nó có ít tác động đến ngành ngân hàng Việt Nam mà nhiều khi còn là tin tốt. Tin tốt là vì: Khi nhìn thấy sự khủng hoảng của ngành ngân hàng tại Mỹ, các ngân hàng Việt Nam sẽ suy xét và nhìn nhận lại cách làm ăn của mình. Họ sẽ thận trọng hơn với các khoản cho vay của mình; họ sẽ tìm cách giảm rủi ro trong quá trình cho vay; họ sẽ đề phòng và miễn dịch với các dự án đầu tư hay cho vay mà ở đó các khoản nợ xấu, khó đòi là cao; họ sẽ tập trung vào các khoản mục sinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có sự phát triển trong tương lai. c. Cạnh tranh giữa các ngân hàng: Đầu tiên là sự cạnh tranh các ngân hàng trong nước và các ngân hàng nước ngoài. Càng ngày càng có nhiều ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam. Lợi thế của họ là có nhiều vốn, có tiềm lực tài chính và quản lý. HSBC là ngân hàng nước ngoài tích cực nhất hiện nay. HSBC vừa được Ngân hàng Nhà nước chính thức cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Việc thành lập ngân hàng con sẽ cho phép HSBC mở rộng mạng lưới phân phối rộng hơn, tới các khách hàng hiện tại cũng như khách hàng mới. HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam sở hữu 20% cổ phần tại một ngân hàng trong nước sau khi nâng cổ phần sở hữu tại Techcombank từ 14,4% lên 20%. Điều này cho phép HSBC mở rộng sức ảnh hưởng và gia tăng tầm hoạt động của mình. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các ngân hàng nội. Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thế mới đó là việc hợp tác của các ngân hàng nội. Việc rõ ràng nhất là “liên minh ATM”. Cầm thẻ ATM của ngân hàng Techcombank nhưng khi đến trạm rút tiền của ngân hàng Vietcombank bạn vẫn có thể rút tiền được. Điều này làm gia tăng tầm hoạt động, khả năng cạnh tranh, sức thu hút khách hàng hơn là những ngân hàng không nằm trong liên minh. Nhưng sự cạnh tranh dù là giữa nội – ngoại hay nội – nội vẫn là cần thiết. Vì như thế các ngân hàng sẽ không ngừng cải thiện, không ngừng gia tăng chất lượng dịch vụ, luôn luôn sáng tạo để làm thỏa mãn những đòi hỏi của đất nước, của người dân và các doanh nghiệp. d. Cạnh tranh với thị trường chứng khoán: Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợi tức. Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng. Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn). Bên cạnh đó, các doanh ngiệp ngoài kênh huy động vốn là vay mượn các ngân hàng họ còn có cách là phát hành cổ phiếu ra thị trường. Đấy cũng là một cách tốt để huy động vốn. Nói đến khó khăn thì cũng cần nhắc đến những thành tựu hay dấu hiệu khả quan mà ngành ngân hàng đã làm được trong năm nay. Dấu hiệu khả quan:Trong năm nay, ngành ngân hàng phải chống chọi với lạm phát và cơn bão khủng hoảng tín dụng của Mỹ nên chưa có những bước phát triển như mong muốn. Dấu hiệu khả quan có thể nhận thấy ngay là góp phần cùng với ngân hàng trung ương hạn chế lạm phát một cách tích cực và hiệu quả. Những điểm cần khắc phục:Cần mở rộng hơn nữa các chi nhánh ngân hàng. Hiện nay mới chỉ tập trung ở các thành phố lớn. Tầm hoạt động còn hẹp. Điểm cần khắc phục ngay là hệ thống ATM. Còn quá ít các điểm rút tiền tự động, mỗi lần rút là cả một sự chờ đợi. Ngày nay, việc trả lương cho công nhân viên qua hệ thống ATM cho nên cần khắc phục chất lượng của hệ thống ATM, tránh sự chờ đợi và hết tiền trong lúc chờ đợi rút tiền. Phải có liên mình ATM rộng rãi hơn nữa. Có lẽ các ngân hàng trong nước cần hợp tác với nhau về vấn đề này nhiều hơn. Cần có cơ chế quản lý rủi ro. Bài học từ tài chính Mỹ có lẽ bài học đắt giá cho ngành ngân hàng. Lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao, bài học ngàn năm muôn thuở. Ngày nay, ngân hàng cũng tham gia vào thị trường bất động sản, chứng khoán và thị trường vàng. Quả thực đây là các thị trường có khả năng sinh lợi cao và thật khó mà bỏ qua nhưng đấy cũng là điểm cần quan tâm. Có lẽ cần có cơ chế quản lý hay giảm thiểu rủi ro. Các trường đại học về kinh tế chỉ mới có môn học về quản lý rủi ro nhưng vẫn chưa có một chuyên ngành về quản lý, hạn chế rủi ro. Có lẽ cũng cần suy xét về vấn đề này. Nếu ngành ngân hàng và các trường đại học tham gia cùng huấn luyện hay đào tạo sinh viên về quản lý và hạn chế rủi ro thì là tốt nhất. Các sinh viên này sau khi ra trường có thể làm việc tại ngân hàng nơi mà họ được chính các ngân hàng nay tham gia đào tạo.     2. Dự báo cho ngành ngân hàng trong năm 2009 Động thái đầu tiên mà ngân hàng sẽ làm là giảm lãi suất cho vay, nới lỏng tiền tệ. Mà bằng chứng là các ngân hàng đang rục rịch giảm lãi suất khi lãi suất cơ bản giảm còn 13%. Với động thái này các doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận với vốn vay ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó, các khoản vay sẽ được giám sát kỹ hơn do di chứng và bài học từ khủng hoảng Mỹ để lại. Qua cơn bão tài chính Mỹ vừa qua và các chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ và ngân hàng trung ương làm các ngân hàng nhỏ điêu đứng và sang năm 2009 này các ngân hàng nhỏ, lẻ, yếu kém sẽ bị sáp nhập. Sự sáp nhập này có các điều lợi sau: Thứ nhất: Củng cố hệ thống ngân hàng trong nước. Thứ hai: Việc quản lý vĩ mô của chính phủ qua các ngân hàng sẽ dễ dàng hơn vì có ít các ngân hàng để quản lý hơn. Thứ ba: Tạo sức mạnh mới cho các ngân hàng sáp nhập, mở rộng về quy mô và tầm hoạt động. Các dịch vụ ngân hàng sẽ được củng cố, các ngân hàng sẽ chú trọng đến mảng bán lẻ hơn. Trong số đó, các dịch vụ cho vay chứng khoán, mua vàng, hay mua bất động sản sẽ được chú trọng và phát triển nhiều hơn. Bên cạnh đó sẽ có các dịch vụ chăm sóc khách hàng cá nhân tốt hơn. Mảng bán lẽ này sang năm 2009 sẽ là mảng đấu tranh quyết liệt nhất giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Sẽ có hàng loạt các dịch vụ mới được tung ra khi các mảng đầu tư lớn đang ẩn chứa nhiều rủi ro cao. Sang năm 2009 có thể các ngân hàng thương mại sẽ cùng ngân hàng trung ương tham gia vào việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Hiện nay, đồng USD đang lên giá so với đồng nội tệ (tức là 1 USD có thể đổi lấy nhiều VND hơn trước) mà như thế sẽ tác động đến xuất khẩu (1USD đổi lấy nhiều VND hơn vì thế người ta sẽ muốn xuất khẩu nhiều hơn để lấy ngoại tệ và khi quy đổi ra nội tệ để sử dụng thì sẽ có lợi hơn). Lúc này sẽ có nhiều ngoại tệ hơn trong lưu thông và do đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm, lúc này cũng sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu. Vì vậy, ngân hàng trung ương cùng với ngân hàng thương mại sẽ góp tay vào việc bình ổn tỷ giá hối đoái trên thị trường. Lúc đầu sẽ có sự chênh vênh về tỷ giá hối đoái nhưng sau đó nó sẽ được bình ổn dần. Đối với những người muốn đầu cơ đồng USD thì có lẽ đây là thời điểm tốt. Năm 2009 là năm dè chừng các khoản cho vay của ngân hàng. Các ngân hàng sẽ không dễ dãi cho vay mà sẽ suy xét cẩn thận hơn. Chính điều này sẽ làm các ngân hàng thêm vững, đầu tư sẽ không dàn trãi mà tập trung, do đó khả năng lợi nhuận cũng khả quan, bên cạnh đó tránh những rủi ro không cần thiết. Năm 2009, giá xăng sẽ còn giảm nhẹ, sau đó thì bình ổn một thời gian dài. Đây là thời điểm tốt để các doanh nghiệp trong nước đầu tư phát triển. Khi nói đến đầu tư thì người ta nghĩ ngay đến ngân hàng với các khoản vốn cho vay. Thời gian sắp tới các ngân hàng sẽ bận rộn với việc xem xét các khoản cho vay của mình và lợi nhuận sắp tới của ngân hàng sẽ được tăng cao. Có lẽ không rực rỡ nhưng khả năng thu hồi vốn sẽ cao và đồng tiền sẽ trở nên lỏng hơn. NGIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ngiệp vụ ngân quỹ Khái niệm: Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản vốn của ngân hàng được dùng vào với mục đích đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán thường xuyên và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân Hàng Trung Ương đề ra.Theo quy định của NHNN Việt Nam hiện nay thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10%. Các khoản mục trong nghiệp vụ ngân quỹ: giữ một lượng tiền mặt dưới các dạng sau: a/ Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng( vault cash ): gồm tiền giấy và tiền kim loại hiện có tại kho của ngân hàng. Nhu cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp tùy thuộc theo quy mô hoạt đông của ngân hàng, tính thời vụ, cũng như nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng. b/ Tiền gửi ở các ngân hàng khác: Nhiều các ngân hàng nhỏ gửi tiền ở các ngân hàng lớn để đổi lấy nhiều dịch vụ khác nhau như thanh toán giữa các ngân hàng, gia dịch ngoại tệ, giúp mua chứng khoán. Các ngân hàng cũng mở tài khoả_Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, ngân hàng luôn n tại các ngân hàng khác để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng. c/ Tiền gửi tại các ngân hàng trung ương: Bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTW và tiền gửi thanh toán đẻ phục vụ các hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng thong qua vai trò trung gian thanh toán của NHTW. Ngoài tiền mặt, ngân hàng còn giữ các chứng khoán ngắn hạn, có tính lỏng cao đẻ có thể chuyển thành tiền mặt nhanh chóngkhi cần như tín phiếu, thương phiếu… Các bộ phận trên hình thành nên phàn dự trữ của ngân hàng thương mại. Mặc dù dự trữ của ngân hàng thương mại không tạo nên lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanh toán và các nghĩa vụ tài chính khác cho ngân hàng.Vì thế nó hạn chế rủi ro thanh khoản, nâng cao uy tín cho ngân hàng, tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời của ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay: Khái niệm: cho vay là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Nghiệp vụ này bao gồm các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn đối với nền kinh tế. Đây có thể nói là nghiệp vụ chính của các ngân hàng thương mại. Trong thực tế các ngân hàng có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau để có thể đáp ứng các nhu cầu vay của nhiều đối tượng trong xã hội như : phân theo thời gian có vay ngắn hạn, vay trung hạn và vay dài hạn. Phân theo đối tượng ta có vay tiêu dùng và vay cho sản xuất, hay các dịch vụ trả góp của ngân hàng cũng là một hình thức cho vay của ngân hàng. 2. Hoạt động cho vay tiêu dùng ở Việt Nam Do những lợi ích mà cho vay tiêu dùng mang lại, nhiều NHTM Việt Nam hiện nay đã thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng. Các hình thức cho vay tiêu dùng rất phong phú như cho vay mua nhà mới, sửa nhà, cho vay mua ô tô, du học, đồ dùng gia đình và các sản phẩm khác. Các ngân hàng đã triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng gồm có các ngân hàng thương mại Nhà nước như Vietcombank, ngân hàng công thương, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng đầu tư Việt Nam. Bên cạnh đó, các ngân hàng cổ phần cũng tham gia rất tích cực vào thị trường mới mẻ này như ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng cổ phần quân đội, ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng Cổ phần nhà Hà Nội… 3. Ngân hàng đồng loạt mở lại các sản phẩm tín dụng tiêu dùng, nhưng cửa cho vay đã thực sự thoáng? Trong thời gian gần đây nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đồng loạt thông báo chính thức mở cửa cho vay tiêu dùng, sau khi “nút thắt” lãi suất đã được Ngân hàng Nhà nước gỡ. Những ghi nhận ban đầu cho thấy, có vẻ nghiệp vụ này đã thoáng hơn ở các hạn mức tín dụng và lãi suất vay vốn. Hạn mức 500 triệu đồng Trong năm 2007, năm tín dụng tiêu dùng bùng nổ, thị trường ghi nhận những hạn mức cho vay tín chấp cán bộ điều hành doanh nghiệp lên tới 200 - 300 triệu đồng. Sau gần một năm bị siết chặt từ khó khăn thanh khoản trước đó và cơ chế lãi suất trần về sau, trong sự trở lại trên diện rộng từ giữa tuần này, thị trường ghi nhận kỷ lục về hạn mức cho vay tiêu dùng tín chấp tới 500 triệu đồng. Kỷ lục trên có ở Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank). Cụ thể, theo thông báo của ngân hàng này, khách hàng là cán bộ, nhân viên của các tổ chức, doanh nghiệp có thể vay vốn mà không cần tài sản bảo đảm và không cần bảo lãnh trả thay của công ty với hạn mức vay có thể lên đến 500 triệu đồng, thời hạn cho vay tối đa là 36 tháng. Theo ông Nguyễn Đức Hưởng, Tổng giám đốc LienVietBank, “mặc dù tín chấp tiêu dùng chứa đựng nhiều rủi ro (không có tài sản đảm bảo) nhưng nếu quy định rõ ràng, cụ thể với quy trình quản lý chặt chẽ thì đây chính là thị trường đầy tiềm năng để các công ty tài chính và ngân hàng khai thác, đặc biệt là trong hoàn cảnh các chính sách vĩ mô đang hướng tới việc đẩy mạnh phát triển kinh tế như hiện nay”. Ngoài ra, ông Hưởng cho biết thêm, đẩy mạnh tín dụng tiêu dùng tham gia kích cầu là một trong những mục tiêu lớn của LienVietBank trong năm 2009. Đầu tuần này, một ngân hàng cổ phần lớn là Sacombank cũng khẳng định tiếp tục đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng, tham gia kích cầu tiêu dùng bên cạnh việc triển khai chương trình hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh. Cùng thời điểm trên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank) cho biết sẽ dành một gói 2.000 tỷ đồng để hỗ trợ cho các khách hàng cá nhân vay vốn tiêu dùng, cải thiện đời sống. Ngân hàng này còn áp dụng cơ chế tặng hợp đồng bảo hiểm “đính kèm” với giá trị tối đa lên tới 800 triệu đồng… Cửa đã thực sự thoáng? Ngày 23/1, Ngân hàng Nhà nước có Thông tư số 01, hướng dẫn về lãi suất thoả thuận của tổ chức tín dụng đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Văn bản này chính thức tạo điều kiện để tín dụng tiêu dùng tìm hướng trở lại. Với văn bản trên, các tổ chức tín dụng được thực hiện lãi suất thoả thuận đối với cho vay các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, được xác định giới hạn tín dụng liên quan… Ngay sau văn bản trên, tại một ngân hàng thương mại cổ phần, một số nhân sự chủ chốt đã được trả lại đúng vị trí để mở lại nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, sau một thời gian bị điều chuyển do nghiệp vụ này bị đóng chặt. Phó phòng Tín dụng ngân hàng trên cho biết, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã “bật đèn xanh”, nhưng việc triển khai cụ thể của ngân hàng mình vẫn đang dè chừng. Trước hết, phải chờ đợi phản ứng của các ngân hàng bạn, phải đánh giá lại thực tế của nhu cầu thị trường, hoạch định cơ chế kiểm soát rủi ro, lãi suất và xây dựng các hạn mức liên quan… Theo đánh giá của ông, với sự trở lại này, nhiều ngân hàng sẽ thận trọng, đặc biệt là trong định hướng tăng trưởng tín dụng, giám sát rủi ro và chính sách lãi suất phù hợp. Tại LienVietBank, mức lãi suất cho vay loại này thấp nhất là 1%/tháng, ứng với 12%/năm; được cho là mức thấp nhất trên thị trường hiện nay. Tại một số ngân hàng thương mại khác, mức thấp nhất được ghi nhận ở mức 13,8%/năm, cao nhất là 15%/năm; nhiều thành viên áp phổ biến quanh mốc 14%/năm. Theo phân tích của cán bộ tín dụng trên, dù thời gian qua lãi suất cho vay đã liên tục giảm, so với năm 2008 có vẻ đã xuống mức thấp và hấp dẫn đối với các nhu cầu vay vốn. Tuy nhiên, người tiêu dùng đã thận trọng hơn trong cơ chế thực hiện các mức lãi suất nói trên. “Trong năm 2008, nhiều người phải vay loại này với lãi suất lên tới 2%/năm. Đó là một mức cao. Cũng có thể vay được mức thấp hơn, nhưng thực tế chưa chắc đã có lợi, cũng như lãi suất 14% hay 15%/năm như hiện nay chưa hẳn đã thoáng”, ông này nhận định. Cụ thể, trong thời gian qua, nhiều ngân hàng cho vay tiêu dùng với lãi suất “add - on” (lãi suất tính trên tổng vốn gốc trong suốt thời hạn vay). Theo đó, có vẻ mức lãi suất thấp nhưng người vay vẫn phải trả trên tổng vốn vay ban đầu, dù dư nợ thực tế đã giảm dần. Hiện nay, trong sự trở lại nói trên, độ thoáng của các mức lãi suất 14% - 15% còn phụ thuộc vào cơ chế của các sản phẩm. Với các sản phẩm tính theo cơ chế lãi suất “add-on” nói trên, đó vẫn là một rào cản lớn. Mặt khác, với biến động của lãi suất như đã từng diễn ra trong năm 2008, người vay vốn trở nên thận trọng hơn với các kỳ điều chỉnh, bởi các khoản vay thường có kỳ hạn từ 2 - 4 năm, trong khi tình hình lãi suất hiện nay không chắc sẽ tiếp tục ổn định trong những năm. II. Nghiệp vụ đầu tư tài chính 1. Khái niệm: Đầu tư tài chính là một hình thức đầu tư chủ yếu thông qua hình thức,mua chứng khoán, trái phiếu hoặc thông qua công cụ tài chính khác. Nhà đầu tư tài chính thông thường chỉ nhắm vào mục đích mua và bán chứ ít làm tăng giá trị thực của công ty mà họ đầu tư vào. 2. Thực trạng đầu tư tài chính: Các ngân hàng thương mại thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như : • Hùn vốn, mua cổ phần của các công ty, xí nghiệp; việc hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn tự có của ngân hàng. • Mua trái phiếu Chính phủ, chính quyền điạ phương. • Mua trái phiếu công ty… Tất cả mọi hoạt động đầu tư vào chứng khoán đều nhằm đa dạng hóa thu nhập nhưng mặc khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán. Ngoài ra, nếu đầu tư vào trái phiếu Chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp. Vì vậy, các NHTM có xu hướng tập trung nguồn vốn nhàn rỗi đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Các ngân hàng thương mại thành lập các công ty chứng khoán (CTCK), công ty quản lý quỹ đầu tư, , một số ngân hàng còn phối hợp với các tập đoàn tài chính kinh tế lớn hình thành công ty đầu tư tài chính, Việc đẩy mạnh đầu tư tài chính và hình thành các công ty chuyên đầu tư tài chính là điều kiện tốt để các ngân hàng tạo thêm lợi nhuận, Chẳng hạn, song song với việc đầu tư qua CTCK trực thuộc SBS, Công ty quản lý Quỹ VFM, Sacomreal..., ngày 25/7/2007, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đã phối hợp với Toàn Thịnh Phát và Công ty Thành Thành Công chính thức ra mắt Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn Thương Tín (SacomInvest), với tổng vốn điều lệ ban đầu lên đến 300 tỷ đồng, trong đó tỷ lệ góp vốn của Sacombank là 11%. Ông Đặng Văn Thành, Chủ tịch HĐQT Sacombank cho rằng, việc thành lập Công ty nhằm đáp ứng một cách tốt nhất và trọn gói nhu cầu về tài chính của tất cả các đối tượng khách hàng, từ doanh nghiệp đến các cá nhân. Đồng thời, qua đó sẽ dần hình thành nền tảng cho một tập đoàn tài chính đa chức năng trong tương lai của Sacombank. Không chỉ Sacombank, hiện DongA Bank, ABBANK cũng đã cơ cấu danh mục bỏ vốn đầu tư. Trong kế hoạch tăng vốn lên 2.800 tỷ đồng 2007, DongA Bank sẽ sử dụng một phần cho việc hùn vốn để liên doanh. Ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank cho biết, hiện hoạt động liên doanh, liên kết và tài trợ đầu tư của Đông Á với các đơn vị kinh tế đang có nhiều triển vọng. Hoạt động này sẽ giúp các đơn vị kinh tế có điều kiện thực hiện những dự án đầu tư cần vốn lớn và trong thời gian dài. Do vậy, DongA Bank dự kiến dành khoảng 5% tổng vốn điều lệ cho hoạt động trên. Còn ABBANK có kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 5.000 tỷ đồng trong năm nay để triển khai các kế hoạch đầu tư tài chính, như mua lại cổ phần của các doanh nghiệp tiềm năng, đầu tư vào các dự án bất động sản triển vọng. Ông Lưu Đức Khánh, Tổng giám đốc ABBANK cho rằng, trước đây, với việc tăng vốn điều lệ, các ngân hàng thường phải chịu áp lực lớn về cổ tức và đảm bảo lợi nhuận, nhưng hiện nay, ngoài việc kinh doanh truyền thống, còn có nhiều kênh khác để bỏ vốn đầu tư. Vì vậy, họ không quá lo lắng khi thừa vốn và thiếu khách hàng đến vay. Trao đổi với Đầu tư, ông Phạm Văn Thiệt, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng cho hay, đầu tư tài chính là hướng đầu tư mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng. Hiện Việt Nam chưa có ngân hàng đầu tư, nên các ngân hàng thương mại phải kiêm luôn việc đầu tư tài chính. Với Eximbank, tổng nguồn vốn dành cho việc đầu tư tài chính trong năm 2007 lên đến 9.000 tỷ đồng (dựa trên tổng tài sản dự kiến đến hết năm 2007 đạt 30.000 tỷ đồng). Trong đó, trái phiếu chiếm 70% và 30% còn lại được Ngân hàng đầu tư vào thị trường cổ phiếu. Tuy nhiên cuộc khoảng hoảng tài chính năm 2008 đã ảnh hưởng tới sự đầu tư tài chính của các cá nhân, tổ chức, cũng như các ngân hàng thuơng mại, lượng đầu tư tài chính giảm, kinh doanh trên thị trường cổ phiều cũng giảm. Cụ thể đầu tư tài chinh, góp vôn đầu tư dài hạn của ngân hàng BIDV báo cáo trong ngày 31/12/08 đó là 2.753.072 triệu đồng, chứng khoán đầu tư 31394.906 triệu đồng. Ngân hàng Phương Đông trong báo cáo cuối năm 2008 thì góp vốn và đầu tư dài hạn là 203.088 triệu đồng, chứng khoán kinh doanh là 73.660 triệu đồng giảm 95,313 triệu đồng’ Một số nghiệp vụ khác  Thực hiện trao đổi ngoại tệ. Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại. Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt.   Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung Cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng. Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện.  Tài trợ các hoạt động của Chính phủ. Trong thời kỳ Trung Cổ và vào những năm đầu cách mạng Công nghiệp, khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Âu – Mỹ. Thông thường, ngân hàng đượccấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được.  Cung cấp các tài khoản giao dịch. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu và Châu Mỹ đã đánh dấu sự ra đời những hoạt động và dịch vụ ngân hàng mới. Một dịch vụ mới, quan trong nhất được phát triển trong thời kỳ này là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) – một tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ.  Cung cấp dịch vụ ủy thác. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp thương mại. Theo đó ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Chức năng quản lý tài sản này được gọi là dịch vụ ủy thác (trust service).  Tư vấn tài chính: Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.  Quản lý tiền mặt. Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.   Dịc vụ thuê mua thiết bị. Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Cho vay tài trợ dự án. Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Bán các dịch vụ bảo hiểm. Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế  Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm.  Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp. Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai ( chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: Tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự tăng giá trị vốn).  NGHIỆP VỤ TÀI SẢN NỢ VÀ VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG Thực trạng huy động vốn của các ngân hàng thương mại 1. Tổng nguồn vốn huy động của các NHTM và tổ chức tín dụng toàn quốc trong 5 năm qua đạt tốc độ tăng khoảng 20% - 25%/năm, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể năm 2000 vốn huy động của hệ thống ngân hàng tăng 26,5% so với năm trước, năm 2001 tăng 25,53%, năm 2002 tăng 17,7%, năm 2003 tăng 24,94%, năm 2004 tăng 30,39%, năm 2005 tăng 18% và 6 tháng đầu năm 2006 tăng hơn 12%. Hệ thống NHTM quốc doanh chiếm trên 75% thị trường huy động vốn đầu vào. 2. Trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư thông qua kênh hệ thống ngân hàng vào nền kinh tế chiếm trung bình 20-22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong thời gian qua, để tiếp tục nâng cao năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh, các ngân hàng thương mại cổ phần liên tục mở rộng quy mô, mạng lưới họat động và tăng năng lực tài chính thông qua việc tăng vốn điều lệ Theo bản báo cáo này theo quy định của Ngân hàng Nhà nước đang được các ngân hàng thương mại công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng. Ngân hàng thương mại cổ phần Phú Mĩ Xuyên thời điểm hết năm 2007, tổng tiền gửi và vay tổ chức tín dụng khác lên tới 624 tỷ đồng, tăng mạnh so với 166 tỷ đồng của năm 2006. Trong khi đó, vốn huy động từ khách hàng chỉ có 328,7 tỷ đồng, tăng hơn 3 lần so với mức 109 tỷ đồng cuối năm 2006. Như vậy trong cơ cấu nguồn vốn 952,7 tỷ đồng thì vốn huy động trên thị trường 2, tức là trên thị trường liên ngân hàng chiếm tới 65,5%. Cũng tại thời điểm này, dư nợ cho vay khách hàng là 1.266 tỷ đồng, tăng hơn 4 lần so với mức 392,9 tỷ đồng cuối năm 2006. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Gia Định có quy mô rất khiêm tốn trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần, cũng tính đến hết năm 2007 tổng số tiền gửi và tiền vay của tổ chức tín dụng khác là 840 tỷ đồng, gấp 5 lần mức 168 tỷ đồng hết năm 2006; trong khi đó, tiền gửi và huy động từ khách hàng chỉ đạt 417 tỷ đồng, tăng rất chậm so với mức 332 tỷ đồng năm trước. Tính chung trong cơ cấu nguồn vốn huy động 1.257 tỷ đồng, thì vốn đi vay trên thị trường liên ngân hàng chiếm tới 66,8%; trong khi dư nợ cho vay khách hàng là 1.049 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2006. Nhìn vào cơ cấu nguồn vốn huy động Một số ngân hàng thương mại cổ phần khác mới chuyển từ nông thôn lên đô thị, ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ cũng có tỷ trọng vốn đi vay trên thị trường liên ngân hàng cao tương tự như hai ngân hàng thương mại cổ phần nói trên. Một ngân hàng khác thuộc nhóm quy mô khá, đó là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế, cũng tính đến hết năm 2007 có tổng số tiền gửi và tiền vay các tổ chức tín dụng khác là 12.846,6 tỷ đồng, tăng hơn 4 lần so với mức 3.429,3 tỷ đồng cuối năm 2006. Vốn huy động từ khách hàng là 17.686,7 tỷ đồng, tăng khoảng 1,7 lần so với mức 9.813,5 tỷ đồng cuối năm 2006. Tương tự, trong cơ cấu nguồn vốn huy động là 27.500,2 tỷ đồng thì vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng chiếm 46,7%. Về sử dụng vốn, riêng dư nợ cho vay khách hàng là 16.611 tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với mức 9.058,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế cũng có số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác là 12.347 tỷ đồng, gấp gần 4 lần năm 2006. Cũng thuộc nhóm có quy mô khá, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương đến hết năm 2007 có tổng tiền gửi và tiền vay của tổ chức tín dụng khác là 8.458,9 tỷ đồng, tăng gần 1,7 lần so với mức 5.077,8 tỷ đồng cuối năm 2006. Vốn huy động từ tiền gửi của khách hàng là 24.476,6 tỷ đồng, tăng khoảng 2,5 lần so với mức 9.566 tỷ đồng cuối năm 2006. Như vậy, trong tổng nguồn vốn huy động là 32.934,9 tỷ đồng, thì vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng chiếm 25,7%. Tuy nhiên, cũng tại thời điểm nói trên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương có số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác là 9.303,6 tỷ đồng, lớn hơn số tiền huy động trên thị trường liên ngân hàng. Dư nợ cho vay đến hết năm 2007 là 20.486 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với mức 8.696 tỷ đồng cuối năm 2006. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội, đến hết năm 2007 có tổng số dư tiền gửi và tiền vay tổ chức tín dụng khác là 10.805,5 tỷ đồng, gấp hơn 2 lần so với mức 4.858 tỷ đồng cuối năm 2006. Vốn huy động của khách hàng là 8.467 tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với mức 4.484,8 tỷ đồng cuối năm 2006. Như vậy, trong tổng nguồn vốn huy động 15.290,3 tỷ đồng thì vốn huy động trên thị trường liên ngân hàng chiếm tỷ trọng 70,7%. Tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội cũng có số dư tiền gửi và cho vay tổ chức tín dụng khác là 10.894 tỷ đồng, gấp 3 lần năm 2006. Tại thời điểm này, dư nợ cho vay khách hàng là 9.285,8 tỷ đồng, tăng gấp 1,9 lần năm 2006. NGIỆP VỤ TIỀN GỬI Khái niệm: phản ánh các khoản tiền gửi từ các doang nghiệp vào ngân hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó NHTM có thể huy động và được sử dụng vào kinh doanh.Ngoài ra NHTM còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích lấy lãi suất, được gọi là các khoản tiền tiết kiệm Thực trạng: Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), mặt bằng lãi suất huy động VND tháng 7 tăng từ 0,3-0,6%/năm. Hiện lãi suất huy động bình quân của ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước khoảng 8,24%/năm, của NHTM cổ phần khoảng 8,62%/năm. Lãi suất cho vay giữ ổn định ở mức 8,5 - 10,5%/năm. Mức lãi suất cho vay sau khi được hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức 4,5-6%/năm. Mặc dù lãi suất cơ bản được giữ nguyên, các ngân hàng vẫn điều chỉnh tăng lãi suất huy động để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng vừa nhằm cạnh tranh với các ngân hàng khác. Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 7-2009 ước tăng 2,75% so với cuối tháng trước và tăng 20,92% so với cuối năm trước. Trong đó, số dư tiền gửi VND tăng 3,17% so với cuối tháng trước. Tín dụng đầu tư cho nền kinh tế ước tăng 2,15% so với cuối tháng trước. Cũng có ngân hàng đủ vốn cho vay nhưng không nằm ngoài cuộc “chạy đua”, bởi việc thu hút tiền gửi là một biện pháp góp phần ổn định nguồn vốn. Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là từ tiền gửi kỳ hạn ngắn, nhu cầu về vốn trung và dài hạn lại đang tăng cao. Phát hành các loại giấy tờ có giá của ngân hàng nhằm thu hút vốn dài hạn cũng khó thực hiện. Trong khi đó, khách hàng cũng mạnh tay rút tiền gửi tại ngân hàng để đầu tư vào các kênh có sức hấp dẫn hơn như vàng, chứng khoán. Do đó nếu không tăng lãi suất và khuyến mại thì khó có thể huy động được nguồn vốn trung và dài hạn. Tỷ trọng thấp khó gọi vốn Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) cũng có quyết định phát hành chứng chỉ tiền gửi trung và dài hạn với lãi suất vượt trội so với các sản phẩm huy động thông thường, cao nhất lên đến 10,05%/năm. Có thể xem đó là những phản ứng bước đầu của các ngân hàng sau khi Ngân hàng Nhà nước giảm mạnh tỷ lệ sử dụng tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn; rộng hơn, đó cũng là một trong những phương án góp phần giải quyết khó khăn trong huy động vốn trung và dài hạn kéo dài thời gian qua. Theo tìm hiểu của VnEconomy trong tuần này, tại nhiều ngân hàng tỷ trọng vốn trung và dài hạn hiện chỉ chiếm khoảng 15% - 30%, còn lại là vốn ngắn hạn chiếm từ 70% - 85%. Đây là một tỷ trọng hạn chế khi gánh nặng cung vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế vẫn đang dồn ở vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại. Theo giải thích của đại diện Ngân hàng Ngoài quốc doanh (VPBank), một nguyên nhân khiến việc huy động vốn trung và dài hạn từ các tổ chức, cá nhân khó khăn là do bị tác động nhiều bởi lãi suất. “Diễn biến lãi suất huy động trên thị trường rất phức tạp và có xu hướng tăng cao, đặc biệt là những tháng cuối năm. Tâm lý người gửi tiền không muốn gửi kỳ hạn dài do lo ngại lãi suất ngắn hạn tăng tạo ra rủi ro lãi suất”, đại diện này nói. Trả lời VnEconomy, phía Ngân hàng Quân đội (MB) cũng cho rằng lãi suất là một yếu tố tạo những tác động bất lợi theo những diễn biến trên thực tế. Cụ thể, MB phân tích: “Hiện nay khách hàng vẫn tập trung lựa chọn các kỳ hạn ngắn do những biến động lãi suất trong năm 2008 và những thông tin thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng về sự thiếu ổn định lãi suất VND và liên tục các ngân hàng tăng lãi suất, khuyến mại tạo cho khách hàng có tâm lý gửi kỳ hạn ngắn để chờ đợi mức lãi suất cao hơn trong tương lai. Mặt khác tâm lý sợ lạm phát quay trở lại làm người dân ít gửi những kỳ hạn dài cũng gây khó cho hoạt động huy động vốn trung và dài hạn”. “Ngoài ra, hiện nay các thị trường khác như bất động sản, chứng khoán đang dần hồi phục và có “sóng” nên đang hấp dẫn các nhà đầu tư vào đó thay vì gửi tiết kiệm, hoặc gửi tiết kiệm với kỳ hạn ngắn để có thể rút ra đầu tư vào các thị trường khác khi có cơ hội”, MB phân tích them. NGIỆP VỤ PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ 1. Khái niệm: NHTM sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn dài, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư các khoản vốn dài hạn của ngân hàng vào nền kinh tế; giúp tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh. Theo định hướng Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo ở quyết định trên, kế hoạch phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ trên thị trường nội địa đang được Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp xây dựng. Điểm đáng chú ý là đối tượng phát hành có cả các cá nhân, thay vì chỉ các tổ chức tham gia như với trái phiếu Chính phủ bằng VND hiện nay. Liên quan đến kế hoạch trên, hiện có một số nhận định trái chiều về khả năng tác động đối với lãi suất USD trên thị trường. Một số chuyên gia cho rằng việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ khó có thể “kích” lãi suất USD tăng lên, do độ tín nhiệm cao hơn trái phiếu do chính quyền địa phương hay doanh nghiệp phát hành. Theo đó, lãi suất trái phiếu Chính phủ có thể thấp hơn lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại và không làm thay đổi mặt bằng lãi suất huy động USD. Trong khi đó, ý kiến ngược chiều lại cho rằng khi Chính phủ phát hành trái phiếu bằng VND có lợi suất khoảng 7%, bằng lãi suất cơ bản và khó thành công do lợi suất thấp, việc “chuyển hướng” sang huy động bằng USD là một hướng mới. Tuy nhiên, nếu lợi suất thấp hơn 3% như mặt bằng lãi suất huy động USD ở kỳ hạn 12 tháng phổ biến hiện nay, liệu có hấp dẫn và thành công? Nếu cao hơn 3%, điều này sẽ tác động đến lãi suất huy động trên thị trường. Ngoài ra, các khả năng tác động còn tùy thuộc vào kế hoạch và cách thức triển khai cụ thể của Bộ Tài chính trên thực tế. NGHIỆP VỤ ĐI VAY VÀ NGIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN KHÁC Khái niệm: Ngiệp vụ đi vay: NHTM tạo vốn bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàng Trung Ương dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo, nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ. Nghiệp vụ huy động vốn khác : NHTM nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; sử dụng vốn nhàn rỗi trên tài khoản của khách hàng để đưa vào hoạt động kinh doanh. VỐN TỰ CÓ CỦA NGÂN HÀNG Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong qúa trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia làm hai loại: - Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo qui định của ngân hàng nhà nước). - Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Theo quy định của các cơ quan quản lý ngân hàng, thì vốn tự có bổ sung không được vượt qúa 50% vốn tự có cơ bản (Mỹ và Pháp). Ở VN, theo Luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Các nguồn vốn tự có khác của ngân hàng: Tin phiếu : Tín phiếu là một loại "trái phiếu ngắn hạn" do ngân hàng nhà nước(NHNN) phát hành, khác nhau về thời gian có giá trị tối đa là 364 ngày. Theo qui định, tín phiếu có thời hạn dưới 12 tháng, còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng. Về nguyên tắc, tín phiếu do các ngân hàng thương mại tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, ngân hàng thương mại có thể bán lại tín phiếu cho NHNN để lấy tiền về. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết NHNN "bắt buộc" các ngân hàng thương mại... phải mua một lượng tín phiếu để điều chỉnh chính sách tiền tệ, như tháng 02/2008 vừa qua VD: Trong năm 2009 mặc dù gặp nhiều khó khăn về huy động vốn trong bối cảnh thị trường vẫn khan hiếm tiền đồng, nhưng các ngân hàng đến thời điểm này đã sẵn sàng cho đợt mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vào ngày 17/3. Theo ông Phạm Văn Thiệt, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), kết thúc tháng 2/2008, tổng vốn huy động của Eximbank tăng cao hơn 1.924 tỷ đồng so với tháng trước, đạt 24.822 tỷ đồng. Tuy vậy, với chỉ tiêu được giao là 500 tỷ đồng để mua tín phiếu của NHNN, nhất là trong bối cảnh cung tiền đồng khan hiếm thì áp lực cho việc huy động vốn để đáp ứng yêu cầu trên là không nhỏ. Còn tổng giám đốc một ngân hàng quy mô nhỏ tại Hà Nội cho rằng, với chỉ tiêu được giao mua tín phiếu là 200 tỷ đồng, nhưng trong tình hình hiện nay, để có được nguồn vốn trên quả thực rất khó khăn. Tuy đã chuẩn bị đủ 200 tỷ đồng để mua tín phiếu bắt buộc của NHNN, nhưng vị tổng giám đốc trên cho rằng, so với lãi suất huy động vốn của ngân hàng hiện nay đều đụng trần cho phép 12%/năm thì lãi suất tín phiếu ở mức 7,8%/năm là quá thấp. Mặt khác, NHNN còn yêu cầu các ngân hàng không được sử dụng loại tín phiếu này trong giao dịch tái cấp vốn cũng là một hạn chế. Theo vị tổng giám đốc trên, cung - cầu tiền đồng căng thẳng đang ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Vốn huy động được, các ngân hàng không dám cho vay vì sợ không thu hồi kịp, nếu NHNN có thêm giải pháp đột xuất về hạn chế tiền đồng, kiềm chế lạm phát. Trong khi đó, các ngân hàng vẫn phải trả lãi cao cho khách hàng gửi tiết kiệm. So với trước đây, vốn trên thị trường liên ngân hàng hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn. Các ngân hàng dù thiếu vốn cũng khó có thể vay mượn trên thị trường này một cách dễ dàng như trước. Hiện lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng, với thời gian vay trong vòng 1 tuần, được áp dụng ở mức tương đối mềm, khoảng 7 - 8%/năm; nhưng với kỳ hạn từ 1 tháng trở lên, lãi suất vẫn ở mức khá cao, lên đến 15 - 17%/năm so với lãi suất huy động đầu vào 12%/năm. Tuy nhiên, khó khăn đối với các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ hiện nay là lãi suất huy động tiết kiệm của khối ngân hàng quốc doanh cũng điều chỉnh lên mức trần cho phép 12%/năm. Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Việt Á (VietA Bank), ông Phạm Duy Hưng cho biết, với chỉ tiêu được giao mua 150 tỷ đồng tín phiếu NHNN bắt buộc, đến nay VietA Bank đã hoàn tất. Trước khi Công điện 02/CĐ-NHNN về việc khống chế lãi suất huy động không quá 12%/năm phát ra, VietA Bank là một trong những ngân hàng điều chỉnh lãi suất lên mức khá cao, đạt 13,96%/năm (kỳ hạn 3 tháng). Với mức lãi suất hấp dẫn này, VietA Bank đã nhanh chóng hút được nguồn vốn lớn sau 3 ngày điều chỉnh, bình quân hút về khoảng 450 tỷ đồng/ngày. Tuy nhiên, sau đó, VietA Bank phải nhanh chóng điều chỉnh giảm để đáp ứng kịp thời yêu cầu của NHNN. Hiện lãi suất huy động của VietA Bank được áp dụng ở mức 12%/năm. Đến thời điểm này, các ngân hàng đã sẵn sàng chuẩn bị cho đợt mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc của NHNN. Tuy nhiên, theo các ngân hàng, áp lực cung - cầu tiền đồng vẫn rất căng thẳng, trong khi cung ngoại tệ tiếp tục chảy vào các ngân hàng buộc họ phải từ chối mua vì thiếu tiền đồng. Trong cuộc họp với các ngân hàng TMCP mới đây, NHNN - Chi nhánh TP. HCM cho biết, đã có kiến nghị lên NHNN về việc tăng thêm lãi suất tín phiếu và giãn thời gian thực hiện, nhằm giảm bớt áp lực và khó khăn cho các ngân hàng trong việc chuẩn bị vốn mua tín phiếu. Tuy nhiên, qua trao đổi với ĐTCK, ông Hồ Hữu Hạnh, Giám đốc NHNN - Chi nhánh TP. HCM cho biết, đến thời điểm này NHNN vẫn chưa có ý kiến chính thức. Theo ông Hạnh, khó có thể giãn thời gian thực hiện việc mua 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, vì đó là giải pháp tích cực để kiềm chế tốc độ gia tăng của lạm phát. Trái phiếu chuyển đổi: Theo như tên gọi của nó, trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà người nắm giữ có khả năng chuyển đổi chúng thành một lượng cổ phiếu nhất định của công ty phát hành. Phần III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CÁC NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HIỆN NAY. Trong giai đoạn hiện nay các ngân hàng không ngừng phát triển và đi đều với nó là việc hoàn thiện, nâng cao các nghiệp vụ ngân hàng của các nhân viên ngân hàng. Để làm được điều đó các ngân hàng phải Luôn định hướng phát triển các nghiệp vụ chính của ngân hàng như : nghiệp vụ nhận tiền giửi, nghiệp vụ đầu tư tài chính …theo các thời kì kinh tế việc định huớng phát triển xẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể dễ dàng hoàn thiện, nâng cao nghiệp vụ hơn Luôn chú trọng tới việc đào tạo các cán bộ nhân viên ngân hàng đi sâu vào từng nghiệp vụ tào một nguồn nhân viên có trình độ cao, chuyên ngành sâu. Vì đây xẽ là nền tảng là nhân tố quan trọng tới việc phát triển các nghiệp vụ sau này. Không ngừng mở rộng các chi nhánh ngân hàng trên toàn quốc. Điều này xẽ tạo điều kiện không nhỏ cho các ngân hàng phát triển các nghiệp vụ chính của mình. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và các hệ thống thanh toán của ngân hàng Đẩy mạnh các nghiệp vụ maketing của ngân hàng nhằm đưa các dịch vụ của ngân hàng tới người tiêu dùng một cách dễ dàng hơn. Ngoài ra phải không nghừng đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng nhằm tăng sức cạnh tranh của các ngân hàng đồng thời mang lại lợi nhuận tối đa cho ngân hàng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docngan hang tm.doc
Luận văn liên quan