Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự

Lời Mở đầu Mục đích cao nhất của nguyên tắc hai cấp xét xử vụ án hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không đê lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự như thế nào để có thể đạt được mục đích trên là nhiệm vụ đặt ra cho quá trình lập pháp của mọi quốc gia trên thế giới. Vấn đề đặt ra là một vụ án nên được xét xử ở mấy cấp xét xử là phù hợp? Quan điểm phổ biến là một vụ án đã được xét xử có thể được xét xử lại một hay nhiều lần nữa để đảm bảo việc xét xử chính xác, khách quanh. Vì vậy các quốc gia trên thế giới đều có những quy định mang tính nguyên tắc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quan điểm này. Tuy nhiên, do có sự khác biệt nhất định về nhiều mặt, hính thức tổ chức tố tụng để xét xử có sự khác biệt nhất định về nhiều mặt, hình thức tổ chức tố tụng để xét xử có sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam để đạt được mục đích xét xử nói trên, quan điểm về tổ chức tố tụng để xét xử hiện nay là một vụ án hình sự đã được xét xử ở cấp sơ thẩm có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm. Quán triệt quan điêm này, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) quy định thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS. Vậy ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử là gì? Để đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc này có hiệu quả thì ta cần những điều kiện gì? Những nội dung sau sẽ trả lời cho hai câu hỏi trên.

doc22 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/02/2013 | Lượt xem: 5773 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời Mở đầu Mục đích cao nhất của nguyên tắc hai cấp xét xử vụ án hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không đê lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự như thế nào để có thể đạt được mục đích trên là nhiệm vụ đặt ra cho quá trình lập pháp của mọi quốc gia trên thế giới. Vấn đề đặt ra là một vụ án nên được xét xử ở mấy cấp xét xử là phù hợp? Quan điểm phổ biến là một vụ án đã được xét xử có thể được xét xử lại một hay nhiều lần nữa để đảm bảo việc xét xử chính xác, khách quanh. Vì vậy các quốc gia trên thế giới đều có những quy định mang tính nguyên tắc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quan điểm này. Tuy nhiên, do có sự khác biệt nhất định về nhiều mặt, hính thức tổ chức tố tụng để xét xử có sự khác biệt nhất định về nhiều mặt, hình thức tổ chức tố tụng để xét xử có sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam để đạt được mục đích xét xử nói trên, quan điểm về tổ chức tố tụng để xét xử hiện nay là một vụ án hình sự đã được xét xử ở cấp sơ thẩm có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm. Quán triệt quan điêm này, pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) quy định thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS. Vậy ý nghĩa của nguyên tắc hai cấp xét xử là gì? Để đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc này có hiệu quả thì ta cần những điều kiện gì? Những nội dung sau sẽ trả lời cho hai câu hỏi trên. Nội dung I. LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái niệm chung Xét xử là hoạt động của Tòa án, một hoạt động đặc trưng của việc thực hiện chức năng Tư pháp của Nhà nước. Hoạt động này được tiến hành theo cách thức (thủ tục) nhất định dựa trên các nguyên tắc tố tụng hết sức nghiêm ngặt. Bởi lẽ kết quả của nó ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành quy định hai cấp xét xử và đảm bảo thực hiện bằng việc quy định về thủ tục tố tụng và tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử. Tương ứng với việc tổ chức hệ thống Tòa án xét xử ở cấp phúc thẩm có các quy định về thủ tục tố tụng phúc thẩm. Từ khái niệm xét xử nói chung thì xét xử vụ án hình sự được hiểu là dạng hoạt động đặc biệt của Nhà nước, do Tòa án tiến hành theo trình tự thủ tục và các nguyên tắc nhất định nhằm giải quyết các vụ án hình sự bằng việc ra bản án, quyết định theo quyết định của pháp luật. Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử và xét xử lại các vụ án, hình thức tổ chức tố tụng này được bảo đảm thực hiện bằng việc quy định các thủ tục tố tụng xét xử cụ thể và tổ chức hệ thống tòa án có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng xét xử khác nhau, nhằm xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động..v..v.. được đúng đắn khách quan. 1.1.Khái niệm xét xử sơ thẩm và cấp xét xử sơ thẩm 1.1.1. Khái niệm xét xử Sơ thẩm Xét xử Sơ Thẩm có thể được hiểu là: “Xét xử lần đầu vụ án hình sự, khi xét xử Tòa án giải quyết mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án bằng việc ra bản án, quyết định, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại Tòa án cấp phúc thẩm theo quy định của Pháp luật tố tụng” 1.1.2. Cấp xét xử Sơ thẩm Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chúng ta có hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, từ khái niệm về cấp xét xử đã nêu trên, thì cấp sơ thẩm được hiểu là: “ Cấp sơ thẩm là hình thức tổ chức tố tụng để xét xử lần đầu vụ án hình sự, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm. 1.2. Xét xử phúc thẩm và cấp xét xử phúc thẩm 1.2.1. Xét xử phúc thẩm Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án đã được xét xử tại Tòa án cấp sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết vụ án theo nội dung kháng cáo, kháng nghị, bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ra quyết định. 1.2.2 Cấp xét xử phúc thẩm Cấp xét xử phúc thẩm là hình thức tố tụng để xét xử lại vụ án hình sự mà bản án, quyết định của cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay. 2. Mối quan hệ giữa cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc hẩm - Xét xử ở cấp sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án hình sự, tại cấp xét xử này tất cả những vấn đề thuộc nội dung vụ án lần đầu được xem xét, đánh giá và kết luận. - Xét xử ở cấp phúc thẩm là xét xử lại vụ án được xét xử ở sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. - Mục đích của sơ thẩm là xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. - Cơ sở pháp lý làm phát sinh hoạt động xét xử tại cấp sơ thẩm là quy định truy tố của Viện kiểm sát. Nội dung kháng cáo, kháng nghị cũng đồng thời xác định phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, vì phúc thẩm là xét xử lại vụ án mà cấp sơ thẩm đã xét xử, để đánh giá tính có căn cứ của các phán quyết mà cấp sơ thẩm đã đưa ra, vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm không thể xét xử vượt ra ngoài phạm vi những vấn đề mà cấp Sơ thẩm đã xem xét và quyết định 3. Khái niệm nguyên tắc hai cấp xét xử Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự, được quy định trong pháp luật TTHS, trong đó xác định một vụ án hình sự được xét xử lần đầu ở cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) có thể được xét xử lại và chỉ có thể được xét xử lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai) nếu có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật TTHS, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. 4. Nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử Theo Điều 20 BLTTH năm 2003 nguyên tắc hai cấp xét có nội dung như sau: - Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTHS này. Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất, khi xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về thẩm quyền theo sự việc, thẩm quyền theo đối tượng và thẩm quyền theo lãnh thổ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án và quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án một lần nữa. - Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ Luật TTHS năm 2003 quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai. Khi xét xử lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà còn xét xử lại vụ án về mặt nội dung bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án và được đưa ra thi hành. - Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tòa án cấp giám đốc thẩm và tái thẩm không phải là một cấp xét xử, không xét xử lại vụ án về nội dung mà chỉ xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các bản án và quyết định đó. Khi giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án không thực hiện chức năng xét xử mà thực hiện chức năng việc giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới. II .Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ 1.Ý nghĩa pháp lý Khi một vụ án hình sự được đưa ra để xét xử, nếu Tòa án cấp sơ thẩm mà xét xử sai thì khi đó quyền và lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác sẽ ra sao? Vậy khi đó họ phải làm thế nào để bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình? Để trả lời cho câu hổi đó, pháp luật quy định và thực hiện nguyên tắc 2 cấp xét xử trong tố tụng hình sự. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát, bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án thể hiện thái độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án bằng việc kháng cáo, kháng nghị của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo quy định của Pháp luật tố tụng hình sự, để vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm. Thông qua đó các chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị có thể bảo vệ được quyền và lợi ích của mình, và trong nhiều trường hợp lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng được bảo đảm. Mặt khác, việc quy định một vụ án hình sự có thể được xét xử qua hai cấp là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa án được chính xác và đúng đắn. Thông qua đó, những vấn đề thuộc về nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích và đánh giá kỹ càng hơn, đầy đủ hơn. Trên cơ sở đó các phán quyết mà Tòa án đưa ra sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn. Luật Tố tụng hình sự không những quy định trong mọi trường hợp các vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp mà còn quy định về việc sơ thẩm có thể bị sửa, bị hủy bản án, quyết định ở cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng xét xử sơ thẩm giúp họ có thái độ thận trọng và có trách nhiệm hơn trước khi đưa ra phán quyết của mình. Việc quy định xét xử vụ án qua hai cấp xét xử, để thông qua hoạt động xét xử ở cấp phúc thẩm (cấp xét xử thứ hai), Tòa án cấp phúc thẩm sẽ kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm sửa chữa những sai lầm của mình. Đây cũng chính là một hình thức hướng dẫn áp dụng pháp luật có hiệu quả to lớn giữa Tòa án cấp phúc thẩm với Tòa án cấp sơ thẩm. Nhờ đó mà chất lượng xét xử tại các cấp xét xử ngày càng được nâng cao. Việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai lầm hay những vi phạm pháp luật trong việc áp dụng pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Từ đó giúp tìm ra các giải pháp thích hợp để sửa chữa, khắc phục về lập pháp cũng như về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là hoàn thiện tổ chức Tòa án đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử và yêu cầu cải cách tư pháp. 2. Ý nghĩa chính trị - xã hội 2.1.Ý nghĩa chính trị: Việc quyết định và thực hiện hai cấp xét xử trong TTHS đáp ứng những yêu cầu của Nhà nước Pháp quyền với việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là sự thể hiện nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của Tòa án phù hợp với nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin về nhận thức thế giới. Đó là, nhận thức luôn có sự vận động và phát triển, không phải trong mọi trường hợp nhận thức của con người về một sự vật, hiện tượng đã đúng đắn ngay từ lần nhận thức đầu tiên.Việc quyết định một vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử khác nhau là phù hợp quy luật của nhận thức nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động xét xử. Quy định nguyên tắc hai cấp xét xử thể hiện thái độ thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra phán xét về số phận pháp lý, sinh mạng chính trị, quyền lợi của người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự và những người khác có liên quan, là sự thể hiện rõ ràng nhất bản chất của Nhà nước Pháp quyền Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân trong đó vấn đề tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng và hợp pháp của công dân là một nội dung quan trọng của Nhà nước Pháp quyền. Tòa án với nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, trong phạm vi hoạt động của mình phải xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật, đảm bảo các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, “Hơn bất kỳ một dạng hoạt động nào của Nhà nước hoạt động xét xử phản ánh trực tiếp và sâu sắc bản chất của Nhà nước, sai lầm của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án chính là sai lầm của Nhà nước.Vì thế đòi hỏi xét xử phải chính xác, công minh, thể hiện được í chí, nguyện vọng của nhân dân”. Đây cũng là một hình thức thực hiện có hiệu quả chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự thể hiện sự tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả các quyền con người trong lĩnh vực tư pháp, một lĩnh vực mà từ xưa đến nay bất kỳ một quốc gia nào cũng phải thừa nhận là vô cùng quan trọng của đời sống xã hội. Việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS tạo điều kiện để các chủ thể tham gia tố tụng có thể trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích của mình nhiều lần tại các phiên tòa xét xử khác. Đồng thời với việc đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng, việc xét xử ở hai cấp giúp cho họ nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong vụ án để có thái độ hợp tác tích cực với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình. Việc quy định nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS với nội dung cơ bản là một vụ án hình sự có thể được xét xử và chỉ có thể được xét xử ở hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và phúc thẩm, giúp tránh tình trạng vụ án được (bị) xét xử ở quá nhiều cấp làm cho quá trình tố tụng kéo dài, ảnh hưởng tới hiệu lực của bản án, quyết định, nhất là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp lực. 2.2. Ý nghĩa xã hội: Việc quyết định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS góp phần rất lớn vào việc đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng. Bởi lẽ việc xét xử phải nhằm tới mục đích cao nhất là đúng người, đúng tội, áp dụng đúng pháp luật tránh oan, sai, đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trong TTHS. Do vậy sẽ là không công bằng nếu như là tước bỏ quyền bảo vệ, quyền và lợi ích của bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án một lần nữa tại phiên tòa xét xử khác, nếu như chưa thể có các điều kiện thực tế để khẳng định hay đảm bảo rằng : phán quyết của lần xét xử đầu tiên là chính xác. Với việc quy định và thực hiện nguyên tắc xét xử công khai ở hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm, người dân có điều kiện biết rõ về điều kiện. Mặt khác, khi biết được kết quả của hoạt động xét xử Phúc thẩm, thấy được sự đánh giá về tính đúng đắn hay không đúng đắn của xét xử sơ thẩm người dân mới thực hiện được triệt để quyền giám sát hoạt động xét xử của Tòa án các cấp. Trên cơ sở đó mới có thái độ chính xác nhất về tính khách quan của hoạt động này trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công dân, lợi ích chung của xã hội và cộng đồng. III. ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ 1. Điều kiện để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự 1.1. Trên phương diện lập pháp: Để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử, các quy định về thủ tục cần thỏa mãn các điều kiện sau: Thứ nhất, phải đảm bảo đầy đủ các cơ sở pháp lý cho việc xét xử sơ thẩm, Tòa án chỉ xét xử khi có quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán. Các quy định pháp luật cần đảm bảo đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho việc xét xử thật sự khách quan, toàn diện, chính xác ngay từ lần xét xử đầu tiên. Tòa án phải đảm bảo cho tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án có điều kiện được bảo vệ quyền lợi của mình tại phiên tòa, hạn chế xét xử vắng mặt những người thuộc diện này bằng việc giao quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán, thông báo thời gian, địa điểm mở phiên tòa, lịch xét xử…đúng thời hạn, đúng đối tượng. Thủ tục tố tụng tại phiên tòa cần đảm bảo đề cao yếu tố tranh tụng, tôn trọng và đảm bảo quyền bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng tại phiên tòa; mọi vấn đề thuộc nội dung vụ án đều được cấp sơ thẩm giải quyết, tránh phiến diện làm mất thời gian, không kịp thời khắc phục những hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Ví dụ: Những vấn đề về dân sự trong vụ án hình sự cần giải quyết và có thể giải quyết đồng thời với những vấn đề hình sự nếu có yêu cầu của những người tham gia tố tụng có liên quan tại phiên tòa, mặc dù trước khi mở phiên tòa họ không yêu cầu. Thứ hai, quyền kháng cáo của bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý liên quan, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm phải được đảm bảo tối đa. Sự đảm bảo này phải được thể hiện trong các quy định liên quan đến thẩm quyền kháng cáo, kháng nghị. Các quy định pháp luật cần xác định rõ ràng diện đối tượng có quyền kháng cáo, điều kiện để họ có thể được thực hiện quyền này (nếu có), trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho các chủ thể có quyền kháng cáo biết được quyền của mình và có thể thực hiện quyền này một cách thuận lợi, có hiệu quả nhất; phạm vi thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị phải được quy định sao cho mọi vấn đề mà Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận và phán quyết nếu liên quan, ảnh hưởng đến quyền lợi của bất cứ chủ thể tham gia tố tụng nào cũng có thể được xem xét, đánh giá lại một lần nữa ở cấp phúc thẩm, nếu các chủ thể đó có yêu cầu. Thủ tục kháng cáo phải thật sự dễ dàng, thuận tiện, quy định đa dạng hóa hình thức kháng cáo; thời hạn kháng cáo, kháng nghị cần cụ thể, nhất là thời hạn kháng cáo đối với các trường hợp khác nhau như trường hợp người có quyền kháng cáo có mặt hoặc vắng mặt tại phiên tòa. Hiệu lực của kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị hoặc đối với phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị… Thứ ba, các quy định pháp luật phải thực hiện rõ ràng và đầy đủ rằng phúc thẩm một cấp xét xử (cấp xét xử thứ hai). Xác định chính xác tính chất của phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đối với vụ án ấy bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm phải được tiến hành tương tự như phiên tòa sơ thẩm, tức là cũng phải tiến hành tuần tự theo các bước giống như các bước tại phiên tòa sơ thẩm, đủ điều kiện để xem xét, đánh giá đưa ra những kết luận đúng đắn, chính xác. Các nguyên tắc tố tụng xét xử cần được áp dụng thống nhất tại hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Tuy nhiên, cách thức tiến hành xét xử tại phiên tòa phúc thẩm chắc chắn sẽ không thể rập khuôn như phiên tòa sơ thẩm do có sự khác nhau giữa hai phiên tòa về phạm vi những vấn đề cần xem xét, thành phần tham gia tố tụng, các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa phúc thẩm phải quy định cụ thể sự khác biệt đó…. Thứ tư, phạm vi xét xử phúc thẩm phải được xác định rõ ràng không vượt quá những vấn đề đã được cấp sơ thẩm xét xử và kết luận, đồng thời không vượt quá yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị để đảm bảo tính ổn định của phần bản án, quyết định không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị; quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử lại vụ án về nguyên tắc không được quy định vượt quá yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị, vì cơ sở pháp lý làm phát sinh thủ tục phúc thẩm chính là kháng cáo, kháng nghị. Do vậy, nội dung các yêu cầu đặt ra trong kháng cáo, kháng nghị phải được coi là sự giới hạn quyền được xem xét và xử của Tòa án cấp phúc thẩm. Mặt khác, do phúc thẩm là xét xử lại vụ án đã xử lần đầu ở cấp sơ thẩm cho nên về nguyên tắc khi xét xử và đưa ra phán quyết về nội dung vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không được có nưhngx phán quyết vi phạm giới hạn sét xử ở cấp sơ thẩm. Với việc quy định tại BLTTHS cho phép Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo hướng đổi tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sở thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, trong thực tế hiện nay, điều kiện này đã không được đảm bảo thực hiện. 1.2.Trên phương diện thực hiện pháp luật Thứ nhất, việc giải thích , hướng dẫn áp dụng pháp luật phải nhanh chóng, kịp thời. Bởi lẽ, muốn thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật, trước tiên phải làm cho các quy phạm pháp luật trước nên dễ hiểu, dễ áp dụng. Đặc điểm của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở việt Nam là: các quy định của pháp luật rất co đọng, nhiều quy định có tính chất định hướng hay lựa chọn, thậm chí vẫn còn tồn tại không ít quy định có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong các văn bản pháp luật lại không có các quy phạm định nghĩa hay quy phạm giải thích như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Vì vậy, muốn áp dụng chính xác, dễ dàng, đưa pháp luật vào cuộc sống cần phải kịp thời ban hành các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật. Đây là một trong những điều kiện cần thiết và rất quan trọng giúp cho việc nhận thức pháp luật được đúng đắn, việc áp dụng được thống nhất và dễ dàng. Thực tế hiện nay ở nước ta, việc ban hành các văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật thường rất chậm và có tính chất sự vụ, thiếu đồng bộ làm chậm phát huy hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Vấn đề đặt ra là nên quy định cụ thể thẩm quyền giải thích luật và hướng dẫn áp dụng luật cho cơ quan nào thì có hiệu quả nhất và kịp thời nhất. Hiện nay chúng ta đang tách hai mặt của một vấn đề giải thích, hướng dẫn áp dụng luật ra làm hai : việc giải thích luật được quy định trong Hiến pháp thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; việc hướng dẫn áp dụng luật trong tư pháp hình sự thuộc TANDTC, VKSNDTC. Tuy nhiên, việc thực hiện, quyền giải thích luật của Ủy ban thường vụ Quốc hội gần như chưa thấy thực hiện do vậy khi hướng dẫn áp dụng luật các cơ quan có thẩm quyền lại phải làm thay Ủy ban Thường vụ Quốc hội chức năng này. Thứ hai, đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất để các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm thực hiện kịp thời, đầy đủ quyền kháng cáo, kháng nghị của mình. Quy định rõ trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc đảm bảo quyền kháng cáo, kháng nghị trên các phương diện như giải thích cho các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị biết về quyền của mình cũng như thời hạn, phạm vi kháng cáo, địa điểm, hình thức được thực hiện quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án ngay từ khi bắt đầu phiên tòa sơ thẩm và giải thich rõ về quyền này một lần nữa sau khi tuyên án sơ thẩm; Cần quy định chính xác phạm vi những người có quyền kháng cáo để tạo cho họ những điều kiện thuận lợi cho việc kháng cáo bản án, quyết định nếu không đồng tình với phán quyết của tòa án, đồng thời cũng chế bớt các trường hợp kháng cáo, không đúng quy định PLTTHS; Việc giao bản án , gửi bản án, quyết định, việc cấp trích lục bản án, quyết định phải được thực hiện đúng thời hạn luật định, đúng đối tượng cần thiết sau khi kết thúc phiên tòa, để đảm bảo tất cả những chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị, biết được nội dung các phán quyết của tòa án, có thời gian xem xét, cân nhắc, quyết định có thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị hay không. 1.3 Trên phương diện tổ chức và các phương diện khác: Tổ chức hệ thống tòa án và quy định về thẩm quyền xét xử của các tòa án phải phù hợp khả năng thực tế của từng cấp xét xử khác nhau về trình độ tổ chức, khả năng chuyên môn cũng như về điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xét xử, phù hợp với yêu cầu của nguyên tắc hai cấp xét xử, đảm bảo xét xử kịp thời, khách quan, chính xác. Hiện nay hệ thống tòa án nước ta tổ chức theo nguyên tắc hành chính- lãnh thổ nên có nhiều bất cập, làm hạn chế việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử, gây lãng phí về nhân lực và kinh phí, hạn chế các điều kiện thuận lợi để có thể tổ chức xét xử thật sự khách quan, đúng đắn; Tổ chức tòa án theo cấp xét xử phải thể hiện rõ quan hệ giữa cấp tòa án xét xử theo các thủ tục tố tụng khác nhau chủ yếu là quan hệ tố tụng (quan hệ giữa các cấp xét xử có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục tố tụng nhất định) chứ không đơn thuần là quan hệ hành chính. Dưới góc độ quan hệ giữa các tòa án, hiện tại, cách thức tổ chức hệ thống tòa án ở nước ta chưa đáp ứng được điều kiện quan trọng này, thực tế tòa án nhân dân cấp huyện hiện nay là tòa án cấp dưới của nhân dân cấp tỉnh, tòa án nhân dân cấp tỉnh là tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp của tòa án nhân dân cấp huyện; Tòa án nhấn dân tối cao là tòa án cấp trên trực tiếp của tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tổ chức tòa án theo cấp xét xử phải đảm bảo được sự độc lập xét xử, hạn chế đến mức thấp nhất sự lệ thuộc và can thiệp vào hoạt động xét xử, phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp quyền, tất cả các quan hệ xã hội đều nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật, với tinh thần thượng tôn pháp luật. Hiện nay hệ thống tòa án nước ta tổ chức theo nguyên tắc hành chính – lãnh thổ nên chưa thực sự xác lập được điều kiện này, do còn nhiều sự lệ thuộc giữa Tòa án với các cơ quan, tổ chức. Tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng khác như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải đổi mới cho phù hợp và tương ứng với tổ chức của Tòa án để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất với mô hình tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng trong cải cách tư pháp, phù hợp với việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Hiện nay cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc hành chính – lãnh thổ giống như Tòa án nên những cơ quan này cũng tồn tại những bất cập giống nhau trên nhiều phương diện. Để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử, ngoài viêc đổi mới tổ chức hệ thống tòa án cần đổi mới hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng này. Chất lượng người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm…)có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng xét xử. Vì vậy cần có đội ngũ người tiến hành tố tụng có chuyên môn , đáp ứng yêi cầu của công tác xét xử, có đạo đức nghề nghiệp để thực sự nghiêm chính, chí công vô tư, thật sự khách quan trong công tác; tại Tòa án phải đảm bảo đủ biên chế về số lượng phù hợp với lượng án xét xử của từng cấp xét xử, tránh tình trạng quá tải do lượng án ngày càng có chiều hướng gia tăng; Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác xét xử cần được tăng cường cả về lượng và chất, đảm bảo đáp ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn của công tác xét xử ở từng cấp xét xử. 2. Thực trạng về việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử Hiên nay,ở hầu hết tai các địa phương cơ quan xét xử đã bảo đảm thực hiện đúng chế độ 2 cấp xét xử, bảo đảm thực hiện đúng quyền kháng cáo, kháng nghị đối với các vụ án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Qua đó, góp phần bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của công dân, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm. Điều này có ý nghĩa tích cực trong việc xây dưng Nhà nước Pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân mà trong đó quyền và lợi ích của nhân dân được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên trên thực tế còn rất nhiều vụ án vẫn vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử, vẫn tồn tại tình trạng Tòa phúc thẩm khi xét lại vụ án mà Tòa sơ thẩm đã xét xử nhưng lại vượt quá quyền hạn của Tòa sơ thẩm do đó mục đích và ý nghĩa của việc quy định chế độ 2 cấp xét xử đã không được bảo đảm, trong nhiều trường hợp đã xâm phạm đến các quyền và lợi ích chinh đang của nhân dân. Có thể ví dụ một số vụ an sau: - Vụ án thứ nhất: Nguồn : Quyết định giám đốc thẩm số 25/2006/HS-GĐT ngày 02/8/2006 của HĐTPTANDTC (toàn bộ nội dung vụ án được trich dẫn trong phần phụ lục đính kèm của bài tập này). Như vậy,căn cứ diều 20 BLTTHS năm 2003 có quy định về thực hiện chế độ hai cấp xét xử thì Tòa án cấp phúc thẩm trong vụ án này đã vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử. Vì: Tại bản án sơ thẩm số 639/HSST ngày 27.4.2004, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ xử lý 35 chiếc xe (tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với xe do Cơ quan điều tra tạm giữ, nộp sung quỹ Nhà nước đối với xe do người mua bảo quản). Còn 2 xe (1 xe cơ quan điều tra đang tạm giữ, một xe người mua đang quản lý) tòa án cấp sơ thẩm bỏ sót, không xử lý. Do vậy, việc Tòa án cấp phúc thẩm quyết đinh tịch thu sung quỹ nhà nước 2 chiếc xe mà Tòa án cấp phúc thẩm đã bỏ sót là vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử. Điều này đã xâm hại đến quyền lợi của người có 2 chiếc xe, bởi họ đã không có quyền kháng cáo với quyết định của bản án cấp phúc thẩm. - Vụ án thứ 2: Nguồn : Quyết định giám đốc thẩm số 09/2005/HS-GĐT ngày 19/4/2005 của Tòa hình sự TANDTC (toàn bộ nội dung vụ án được trich dẫn trong phần phụ lục đính kèm của bài tập này). Căn cứ Điều 28 của BLTTHS năm 2003 quy định về việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Áp dụng trong trường hợp này, Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/HSST ngày 04-5-2004, Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn phạt Trần Binh 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm; về trách nhiệm dân sự công nhận bị cáo đã nộp 9.951.000đ để chi phí thuốc men điều trị cho người bị hại, tách việc bồi thường các chi phí tiếp theo để giải quyết bàng vụ án dân sự khác khi anh Tuấn có yêu cầu (Tại phiên tòa, anh Trần Minh Tuấn có yêu cầu: do hiện nay vết thương chưa lành, chi phí thuốc men chưa thể thống kê được nên khi nào lành hẳn sẽ yêu cầu cụ thể bằng một vụ án khác).việc tách vụ án của tòa sơ thẩm là hoàn toàn đúng đắn và có căn cứ pháp luật. Do vây, Tòa phúc thẩm gộp vấn đề dân sự trong vụ này bằng quyết định buộc Trần Binh phải bồi thường cho anh Trần Minh Tuấn 30.800.000đồng (không tính 9.951.000đồng đã chi phí trước) là vi phạm điều 28 BLTTHS. 3. Các giải pháp đê nâng cao hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật. Đổi mới Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra về tổ chức và thẩm quyền phù hợp với tổ chức và thẩm quyền của vụ án. Nâng cao năng lực của người tiến hành tố tụng và đội ngũ luất sư. + Nâng cao năng lực của Thẩm phán + Nâng cao năng lực của Hội thẩm + Nâng cao năng lực của Điều tra viên + Nâng cao năng lực của Kiểm sát viên + Nâng cao năng lực của Luật sư Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động xét xử Lời kết Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một nguyên tắc mới được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 nhưng thực tế., chế độ hai cấp xét xử đã được quy định trong luật tố tụng hìng sự từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà và được duy trì trong suốt quá trình phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này thể hiện sự thận trọng của Toà án trong việc xét xử và tôn trọng quyền cuả bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được chống lại bản án và quyết định của Toà án. Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội và nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ mà những quy định về chế độ hai cấp xét xử có những nội dung cụ thể khác nhau nhưng xu hướng phát triển là ngày càng đảm bảo triệt để hơn việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nguyên tắc này được thực hiện đối với tất cả các vụ án, không bị hạn chế trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nguyên tắc này cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Toà án của hầu hết các nước trên thế giới, “pháp luật các nước đều quy định đương sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm”, trừ một số trường hợp ngoại lệ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự.doc