Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

CÁC NỘI DUNG TRIỂN KHAI: I. Khái quát về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật II. Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. 1. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập. a. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau trong khi xét xử: b. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với các chủ thể khác của Tòa án: c. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng khác: d.Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với các cơ quan tiến hành tố e. Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với yêu cầu của những người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo chí. 2. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. a. Tuân thủ theo pháp luật hình sự b. Tuân thủ theo pháp luật tố tụng hình sự c. tuân theo các văn bản pháp luật có liên quan - Thứ nhất là pháp luật dân sự - Thứ hai là pháp luật chuyên ngành khác 3. Mối liên hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử III. Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập IV. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này. 1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật V. Kết luận

doc11 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 5733 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
NỘI DUNG Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Điều 130 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 Và Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) ghi nhận: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc này nói lên hai yêu cầu cơ bản khi xét xử một vụ án hình sự đối với Thẩm phán và Hội thẩm, đó là: độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Theo Từ điển tiếng Việt: “Độc lập là đứng một mình, không dựa vào ai, không nhờ cậy ai, không bị ai kiềm chế”. Nội dung độc lập trong nguyên tắc này được hiểu dưới hai khía cạnh là độc lập với các yếu tố bên ngoài và độc lập với các yếu tố bên trong. Độc lập với các yếu tố bên ngoài đó là: khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Không phụ thuộc vào ý kiến của các cơ quan khác hay của Tòa án cấp trên,.. Độc lập với các yếu tố bên trong đó là: khi xét xử, các thành viên của Hội đồng xét xử độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận sự việc phạm tội, người phạm tội, mức hình phạt mà không bị phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Chỉ có thành viên của Hội đồng xét xử mới được tham gia nghị án. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ vụ án. Yêu cầu chỉ tuân theo pháp luật đối với quá trình xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm được hiểu,mọi phán quyết và nhận định, đánh giá của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử phải hoàn toàn dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất kỳ một cơ quan nào. Nội dung của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như đã đề cập ở trên, Nội dung nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thể hiện hai yêu cầu đối với Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử, đó là xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là hai yêu cầu bắt buộc đối với Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử. Hai yêu cầu này vừa có tính độc lập tương đối lại vừa có mối quan hệ qua lại với nhau. Sau đây, chúng em xin được tìm hiểu từng nội dung cụ thể: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập. Thẩm phán và Hội thẩm là các thành viên của Hội đồng xét xử tại Tòa án. Do Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền xét xử và quyết định một người có tội hay không có tội, là trọng tài trong các vụ án, vì vậy quyết định của tòa án phải là quyết định khách quan, chính xác. Độc lập trong khi xét xử có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm tự đưa ra quyết định dựa trên chứng cứ và quy định của pháp luật để kết luận về vụ án mà không phụ thuộc bất cứ sự tác động nào khác.Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử được thể hiện ở những khía cạnh sau: Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với nhau trong khi xét xử: Việc độc lập xét xử giữa Thẩm phán và Hội thẩm được ghi nhận thành những nguyên tắc của luật tố tụng, đó là: việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân tham gia, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán. Luật quy định như vậy có nghĩa là, mỗi một thành viên trong HĐXX có quyền ngang nhau trong việc đánh giá chứng cứ và đưa ra kết luận vụ án. Việc đánh giá chứng cứ, kết luận vụ án được thực hiện một cách độc lập, Thẩm phán không có quyền chỉ đạo Hội thẩm trong việc định tội danh, quyết định hình phạt, Hội thẩm cũng không được ỷ lại vào quyết định của Thẩm phán mà phải tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong hoạt động chứng minh tội phạm. Trước khi mở phiên tòa, khi Hội thẩm nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán không được đưa ra ý kiến, nhận định chủ quan của riêng mình để tránh ảnh hưởng đến sự đánh giá chứng cứ của Hội thẩm tại phiên tòa. Để đảm bảo cho Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, Điều 222 BLTTHS quy định “Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành viên của HĐXX phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án…”. Những quy định trên đã loại trừ việc Thẩm phán lạm quyền, tác động đến kết quả xét xử của Hội thẩm. Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với các chủ thể khác của Tòa án: Mối quan hệ giữa Thẩm phán, Hội thẩm và nội bộ ngành Tòa án được thể hiện ở mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án và các đồng nghiệp khác trong Tòa án, giữa Thẩm phán và Tòa án cấp trên, giữa Thẩm phán và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, giữa Hội thẩm và Chánh án tòa nơi Hội thẩm tham gia xét xử. Những quan hệ này không đơn thuận là quan hệ về tổ chức hành chính, càng không đơn thuần là quan hệ tố tụng. Trong quan hệ hành chính có quan hệ tố tụng và trong quan hệ tố tụng có quan hệ hành chính nhất định, không có sự tách bạch rõ ràng. Có thể nói, Thẩm phán và Hội thẩm là người chịu sự quản lý của Chánh án và Tòa án cấp trên. Thông qua công tác tổ chức xét xử như họp bàn án trước khi xét xử, phân công Thẩm phán, Hội thẩm xét xử vụ án, Chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Việc Tòa án cấp trên hủy bán án của Tòa cấp dưới cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy, khi xét xử, để đưa ra được phán quyết một cách chính xác và khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm cần phải đảm bảo độc lập với ý kiến, sự tác động của Chánh án và Tòa án cấp trên, phải có chính kiến và quan điểm riêng của mình trong việc xem xét các vấn đề cụ thể trong quá trình xét xử. Song độc lập trong xét xử với Chán án và Tòa án cấp trên không có nghĩa là không lắng nghe, không học hỏi, đưa ra những quyết định dựa trên ý nghĩ chủ quan của mình. Việc tranh thủ ý kiến của tập thể Thẩm phán, của Tòa án cấp trên để áp dụng pháp luật thống nhất, hạn chế những sai sót có thể xảy ra do ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với các cơ quan tiến hành tố tụng khác: Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không được dựa vào kết luận của Cơ quan điều tra, quyết định của Viện kiểm sát, mà phải tự mình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, kết hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên tòa xét xử để có kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề. Đồng thời, các cơ quan quản lý không được can thiệp vào việc xét xử của tòa án, vì công tác xét xử đã được nhà nước giao duy nhất cho tòa án. Những kết quả điều tra của Cơ quan điều tra hay bản cáo trạng của Viện kiểm sát chỉ làm căn cứ bổ sung cho việc xem xét của Tòa án một cách chính xác hơn, khách quan hơn chứ không phải Tòa án chỉ dựa hoàn toàn vào những căn cứ đó để đưa ra phán quyết, nếu như vậy thì vai trò trọng tài của Tòa án đặt ra là hoàn toàn không có giá trị. Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với yêu cầu của những người tham gia tố tụng, với dư luận và với cơ quan báo chí. Phán quyết của tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện những nhóm mâu thuẫn về lợi ích, đó là mâu thuẫn về lợi ích của bị cáo với người bị hại, giữa nguyên đơn dân sự và bị đơn dân sự, giữa nhà nước và người phạm tội. Ai cũng muốn kết quả xét xử mang lại kết quả tối ưu nhất cho họ, hoặc ít ra là tước bỏ tối thiểu quyền và lợi ích của họ. Sau phán quyết của Tòa án dư luận sẽ có rất nhiều ý kiến bình luận, trong đó có cả cơ quan báo chí về việc Tòa án xử đúng hay xử sai, nặng hay nhẹ, công bằng hay không. Việc này ảnh hưởng khá lớn đến tâm lí của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Xét xử theo luật hay theo ý kiến của dư luận, báo chí yêu cầu, hay xử vì lợi ích của người bị hại? Xử đúng chưa chắc đã được dư luận, báo chí đồng tình, lại không đảm bảo theo yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với người tham gia tố tụng, với dư luận và cơ quan báo chí là việc xét xử chỉ căn cứ vào chứng cứ vụ án và những quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào ý kiến của những người nói trên. Ngoài ra, tính độc lập trong khi xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm còn được thể hiện ở việc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập với sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, độc lập với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Thẩm phán và Hội thẩm xét xử chỉ tuân theo pháp luật. C.Mác đã nói : “Cấp trên của quan tòa là pháp luật” có nghĩa là, khi xét xử, pháp luật-ý chí của Nhà nước chính là cấp trên của Hội đồng xét xử mà không phải là một cơ quan, hay cá nhân nào. Dựa vào các quy định do Nhà nước đặt ra để Thẩm phán và Hội thẩm đưa ra các phán quyết khi xét xử. Điều 69 Hiến pháp Việt Nam 1946 quy định: “Trong khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Trong các Hiến pháp tiếp theo được ban hành vào các năm 1959, 1980, 1992 và Luật tổ chức Toà án nhân dân ban hành vào các năm 1960, 1981, 1992 và 2002, nguyên tắc này luôn được khẳng định. Từ đây có thể thấy được vai trò, tậm quan trọng và ý nghĩa to lớn của nguyên tắc này trong quá trình xét xử. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân theo pháp luật. Nó đòi hỏi “Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha thứ cho bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào”. Đó là đòi hỏi tính chất bắt buộc. Việc xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm chỉ dựa trên những quy định của pháp luật và pháp luật là căn cứ duy nhất để quyết định các vấn đề giải quyết vụ án. Pháp luật là tối thượng trong quá trình xét xử. Như lời của Luật sư Xirêron thời La mã cổ đại từng nói “Quan Tòa – đó là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”.Từ đây có thể suy ra quan tòa (Hội đồng xét xử) là đại diện cho quyền lực Nhà nước, có nhiệm vụ làm cho những quy định của Nhà nước trong luật được hiện thực trên thực tế, vì vậy cũng chỉ phải tuân thủ duy nhất một thứ, đó là pháp luật. Nội dung Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử được hiểu trên những khía cạnh sau: Tuân thủ theo pháp luật hình sự: Luật hình sự nói chung bao gồm cả luật thực định và khoa học về luật hình sự. Bộ luật hình sự có hai phần, phần chung và phần các tội phạm. Phần chung quy định về phạm vi áp dụng, các trường hợp phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, tổng hợp hình phạt, tuổi chịu trách nhiệm hình sự ... Phần các tội phạm quy định cụ thể các hành vi như thế nào thì bị coi là tội phạm và các khung hình phạt, mức hình phạt tương ứng với các trường hợp phạm tội. Muốn áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự buộc Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về định tội danh, về quyết định hình phạt. Tuân thủ theo pháp luật tố tụng hình sự: Có thể chia hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm thành hai giai đoạn, thứ nhất là từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước ngày mở phiên tòa và thứ hai là tại phiên tòa.Trong cả hai giai đoạn này, Hội đồng xét xử đều phải tuân thủ những quy định mà pháp luật tố tụng hình sự đưa ra. Giai đoạn trước khi mở phiên tòa:Thẩm phán và Hội thẩm phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét lại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ đó xây dựng kế hoạch xét hỏi và những tình huống xảy ra tại phiên tòa để có kế hoạch ứng phó thích hợp và những công việc khác cần thiết cho phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cần nắm chắc những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự từ thủ tục bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa, trong đó quan trọng là phần xét hỏi, về phạm vi và trình tự hỏi đã được quy định tại Điều 207 BLTTHS. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng vụ việc và từng tội trong vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý. Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến hội thẩm, sau đó là Kiểm sát viên và người bào chữa...Về nội dung, pháp luật không quy định hỏi cụ thể như thế nào nhưng mục đích của hoạt động xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các vấn đề được quy định tại Điều 63BLTTHS. Đối với bị cáo khi khai nhận thực hiện hành vi phạm tội có thể có nhiều động cơ khác nhau nên đồng thời với việc hỏi bị cáo cần phải kết hợp với việc hỏi những người khác, xem xét vật chứng để xác định phù hợp hay không phù hợp với lời nhận tội của bị cáo. Chỉ có thể kết luận bị cáo phạm tội khi lời nhận tội của họ phù hợp với chứng cứ khác trong vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Việc xét hỏi phải mang tính toàn diện, khách quan, không được có định kiến trước là bị cáo có tội. Trong phần tranh luận, Hội đồng xét xử phải xác định mục đích của tranh luận, chủ thể thực hiện việc tranh luận. Chủ thể tranh luận là Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Mục đích tranh luận là làm sáng tỏ các vấn đề có tội hay không có tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ ...Chủ tọa là người điều khiển phần tranh luận cho phép ai được phát biểu, ai không, phát biểu ở giới hạn nào, Hội đồng xét xử không tham gia tranh luận. Khi Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, Hội đồng xét xử phải chú ý lắng nghe, ghi chép để lắm bắt những điểm chính thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát, quan điểm đó dựa trên những tài liệu, chứng cứ nào. Hoạt động tranh luận tại phiên tòa rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định nên Hội đồng xét xử cần nắm rõ những quy định về tranh luận để điều khiển việc tranh luận có hiệu quả, tránh trường hợp Hội đồng xét xử tranh luận với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác như một số trường hợp xảy ra trong thực tiễn xét xử. Khi nghị án, Hội đồng xét xử cần nghiêm túc tuân thủ những quy định về thủ tục nghị án, nội dung nghị án và việc biểu quyết. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án. Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội. Khi nghị án chỉ được căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Khi nghị án phải lập biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử ký tại văn phòng nghị án trước khi tuyên án. Nghị án là giai đoạn mà tính độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm được biểu hiện một cách rõ ràng và tập chung nhất. Vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm cần phát huy những quyền năng của mình để quyết định các vấn đề của vụ án một cách khách quan, chính xác trên cơ sở quy định của pháp luật. Ngoài việc phải tuân theo các quy đinh trong Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự, hai bộ luật có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quy định về nội dung xét xử và cách thức tiến hành xét xử thì khi xét xử, Hội đồng xét xử còn phải tuân theo các văn bản pháp luật có liên quan: Thứ nhất là pháp luật dân sự: Khi giải quyết vụ án hình sự, cùng với việc quyết định vấn đề tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử còn phải xử lý phần dân sự trong vụ án hình sự, chủ yếu là việc giải quyết bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Yêu cầu giải quyết vấn đề trên đòi hỏi Hội đồng xét xử phải cần nắm rõ những quy định của các văn bản pháp luật dân sự về căn cứ bồi thường, mức bồi thường, nguyên tắc bồi thường. Các quyết định này phải dựa vào pháp luật dân sự và các văn bản hướng dẫn trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, không được phép quyết định cảm tính, chủ quan, dựa vào tình cảm cá nhân để ấn định mức bồi thường. Thứ hai là pháp luật chuyên ngành khác: Hoạt động định tội danh là một hoạt động khá phức tạp, đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có kiến thức tổng hợp về pháp luật chứ không đơn thuần là chỉ hiểu biết các quy định của luật hình sự. Một số tội danh không được mô tả cụ thể trực tiếp tại điều luật của bộ luật hình sự mà hành vi cụ thể được quy định ở các luật, văn bản pháp luật chuyên ngành như nhiều tội trong Chương Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, các tội xâm phạm liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể như y tế, xây dựng...Muốn định tội danh đều phải làm rõ các quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành. Nếu không am hiểu phải trưng cầu ý kiến của chuyên gia về các lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, thẩm phán và hội thẩm cũng phải nắm chắc các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, các thông tư liên ngành để giải quyết chính xác các trường hợp cụ thể. Mối liên hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là hai yêu cầu trong quá trình xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc với nhau. Từ tính độc lập giúp cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử, tạo ra tính khách quan và tạo nên độ chính xác công bằng. Từ việc tuân theo pháp luật, giúp hạn chế việc áp đặt ý chí chủ quan của Thẩm phán và Hội thẩm để họ dựa vào những quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, qua đó xét xử đúng người đúng tội và đồng thời không để lọt tội phạm. Cụ thể, mối quan hệ giữa tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong quá trình xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm được thể hiện như sau: Thứ nhất, độc lập là biểu hiện của việc tuân theo pháp luật: Nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử đối với Thẩm phán và Hội thẩm không chỉ đươc quy định thành nguyên tắc của BLTTHS mà còn được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân,…Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập, không chịu bất cứ sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có tính khách quan, vô tư, mới đảm bảo đúng pháp luật. Đảm bảo được tính độc lập chính là một biểu hiện của vuệc tuân thủ pháp luật. Thứ hai, độc lập là điều cần thiết để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật: Pháp luật sẽ là căn cứ duy nhất để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo nếu đáp ứng được yêu cầu độc lập, vì khi đã độc lập với nhau và với các yếu tố khác thì Thẩm phán và Hội thẩm không còn sự lựa chọn nào khác ngoài căn cứ vào pháp luật để đưa ra nhận định, phán quyết của mình. Thứ ba, Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử tuân theo pháp luật là cơ sở để thực hiện độc lập Tuân thủ là làm theo những quy định của pháp luật, để có thể tự mình đưa ra quyết định, Thẩm phán và Hội thẩm phải có kiến thức về pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp luật. Khi nắm vững kiến thức pháp luật Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể hiện sự độc lập trong phán quyết của mình. Tuân thủ pháp luật sẽ loại trừ các tác động đến hoạt động xét xử, bởi vậy mà Thẩm phán và Hội thẩm có sự độc lập. Thứ tư, tính độc lập khi xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm thống nhất với tuân thủ pháp luật: Độc lập không có nghĩa là thoát ly các quy định của pháp luật, tự áp đặt ý chí chủ quan của mình và tuân theo pháp luật mà không độc lập. Đôc lập phải trên cơ sở của pháp luật. Nếu việc xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm mà không tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến sự tùy tiện, độc doán, không tránh khỏi việc đưa ra nhận định một cách chủ quan, cảm tính khi đánh giá vấn đề. Từ những phân tích trên có thể thấy rằng trong quá trình xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, độc lập luôn đi đôi với việc chỉ tuân theo pháp luật. Ý nghĩa của nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có ý nghĩa đặc biệt nghiêm trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án. Có thể khái quát một số ý nghĩa của nguyên tắc này như sau: Tư pháp độc lập là một trong những yếu tố để đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hoạt động tư pháp tuân thủ đúng theo pháp luật góp phần làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được đảm bảo khi người cầm cân nảy mực thực sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Đồng thời các tệ tham nhũng, quan lieu cũng được hạn chế khi nguyên tắc này được thực hiện một cách nghiêm túc. Nguyên tắc này là cơ sở pháp lý để thẩm phán và hội thẩm tiến hành hoạt động xét xử khách quan, đúng pháp luật. Đây cũng là cơ sở đảm bảo việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ có ý nghĩa và có tác dụng khi nguyên tắc độc lập xét xử được tuân thủ một cách triệt để. Độc lập chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử vừa là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của thẩm phán và hội thẩm. Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật bảo đảm việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Nguyên tắc này loại trừ các sự tác động không cần thiết, thậm chí tiêu cực của cơ quan, tổ chức khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm, đảm bảo sự bình đẳng, độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc này. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên tắc quan trọng được ghi nhận rất sớm trong Hiến pháp và pháp luật. Trên thực tế, nguyên tắc này đã được các chủ thể của hoạt động xét xử tuân thủ và ngày càng phát huy ý nghĩa tích cực của nguyên tắc, đảm bảo hoạt động xét xử của tòa án được khách quan, đúng pháp luật, hạn chế đến mức tối đa oan sai, thiếu chính xác. Việc thực hiện nguyên tắc trên đã đạt được một số thành tựu trên thực tế, tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục biểu hiện ở những mặt sau: Thứ nhất, hoạt động xét xử chủ yếu là hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm chưa phát huy hết quyền năng được giao khi thực hiện nhiệm vụ xét xử. Vai trò của Hội thẩm không chỉ được ghi nhận ở nguyên tắc trên mà còn được quy định bằng một loạt các nguyên tắc và quy định khác trong BLTTHS như thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia (Điều 15 BLTTHS), Hội thẩm có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa, tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử (Điều 40 BLTTHS)… Tuy nhiên, trên thực tế dường như Hội thẩm chưa phát huy được hết quyền năng của mình. Có những vị Hội thẩm chỉ đến nghiên cứu cáo trạng hoặc không nghiên cứu hồ sơ những vẫn tiến hành hoạt động xét xử tại phiên tòa… Hội thẩm rơi vào tình trạng lệ thuộc, thiếu chủ động trong quá trình chứng minh tội phạm cũng như việc quyết định bản án. Thứ hai, Thẩm phán và Hội thẩm còn lệ thuộc vào kết quả điều tra ban đầu, những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong nhiều trường hợp, Hội đồng xét xử tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có thành kiến bị cáo có tội, từ đó đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt, buộc bị cáo khai đúng với lời khai trước đó,… Từ đó dẫn đến tình trạng bản án được xét xử theo kết luận của Cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát. Thứ ba, còn có sự tác động từ các nhân tố bên ngoài tới việc xét xử của Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân như: sự tác dộng của Chánh án, sự tác động của các cấp Đảng ủy, của các cá nhân, tổ chức khác, của cơ quan báo chí, dư luận,… Hiện nay, Tòa án cấp trên quản lý Tòa án cấp dưới cả về tổ chức, tài chính và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ, do đó dễ dẫn đến sự vi phạm nguyên tắc xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi mà Tòa án cấp dưới chịu nhiều sự tác động của Tòa án cấp trên trong quá trình xét xử. Sở dĩ còn tồn tại những hạn chế trên là do nhiều nguyên nhân như: thiếu một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh; tổ chức và hoạt động của Tòa án còn nhiều bất cập; sự hạn chế trong trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Hội thẩm và Thẩm phán; vấn đề đạo đức nghề nghiệp chưa được coi trọng thực sự; chế độ ưu đãi đối với Thẩm phán và Hội thẩm chưa đúng mức, trong khi sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đặt yếu tố lợi ích lên hàng đầu cũng ảnh hưởng đến Thẩm phán và Hội thẩm... Do đó, cần thiết phải có những giải pháp cụ thể để khắc phục kịp thời những hạn chế trên. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Để nâng cao tính độc lập và chỉ tuân theo trong xét xử của các Hội đồng xét xử, hạn chế tối đa oan sai, tiêu cực; xét xử đúng người, đúng tội, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp và nâng cao hoạt động xét xử thực tiễn khi áp dụng nguyên tắc này thì chúng ta cần phải làm tốt một số nội dung sau: Thứ nhất, Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức, lương tâm nghề nghiệp. Các Thẩm phán phải được đào tạo chuẩn (có trình độ tốt nghiệp đại học và trên đại học chuyên ngành luật) và thường xuyên được cập nhật những kiến thức mới về tin học, ngoại ngữ, pháp luật quốc tế. Đồng thời, có tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh cho sự công bằng, bảo vệ lẽ phải. Chỉ khi Thẩm phán có một trình độ chuyên môn cao với cái tâm trong sáng, tôn trọng sự công bằng, thì họ mới không bị chi phối bởi những suy nghĩ lệch lạc hoặc những tác động bên ngoài mang tính chất vụ lợi cá nhân. Khi đó, Thẩm phán sẽ có niềm tin nội tâm vững chắc để xét xử đúng pháp luật. Cùng với Thẩm phán, các Hội thẩm nhân dân cũng phải được bồi dưỡng tập huấn nâng cao kiến thức pháp luật, kỹ năng xét xử để đủ năng lực khi xét xử. Đổi mới quy trình bổ nhiệm Thẩm phán theo hướng rút ngắn thủ tục, giảm sự can thiệp của các cơ quan chính quyền địa phương. Nhiệm kỳ năm năm đối với Thẩm phán các cấp hiện nay là quá ngắn. Vì vậy, để Thẩm phán yên tâm công tác, tận dụng được tối đa kinh nghiệm xét xử và dám thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp, cần kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán. Mặt khác, để thực hiện bổ nhiệm Thẩm phán có chất lượng, phải thực hiện thường xuyên quy trình luân chuyển cán bộ, nguồn bổ nhiệm Thẩm phán cấp trên nên là Thẩm phán cấp dưới trong một thời hạn nhất định, nguồn bổ nhiệm Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp trên nên chú trọng lấy từ các Chánh án, Phó Chánh án Tòa án cấp dưới đã làm tốt công tác quản lý, xét xử. Cần hoàn thiện các quy định để nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán như quy định về kỷ luật, quy định về bãi miễn khi Thẩm phán vi phạm phẩm chất đạo đức hoặc năng lực xét xử yếu kém. Bởi vì, pháp luật quy định người Thẩm phán độc lập trong xét xử thì họ cũng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình. Thứ hai, Xây dựng và củng cố các cơ quan, tổ chức, bổ trợ tư pháp vững mạnh. Thực tiễn xét xử cho thấy, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… tuy không trực tiếp quyết định các bản án, nhưng sự khách quan, kịp thời, chính xác của các hoạt động bổ trợ tư pháp sẽ góp phần bảo đảm chất lượng xét xử của Tòa án. Nếu hoạt động bổ trợ tư pháp kém hiệu quả, sẽ dẫn đến sự sai lệch trong kết quả điều tra, truy tố và khi xét xử, Thẩm phán rất dễ sai lầm, đưa ra phán quyết không đúng pháp luật. Vì vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp, phải hoàn thiện pháp luật về luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch theo hướng công khai, minh bạch, đơn giản và thuận tiện cho người dân. Thứ ba, Tăng cường vai trò giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Đồng thời, nâng cao chất lượng hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động xét xử. Thứ tư, Tăng cường cơ sở vật chất, chế độ chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư xây dựng trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho các Tòa án; cần có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với Thẩm phán, cán bộ Tòa án để họ yên tâm công tác và tăng khả năng tự vệ phòng, chống tiêu cực trong hoạt động xét xử. Mặt khác, Nhà nước cần quy định chế độ bảo đảm an ninh đối cơ quan Tòa án, Thẩm phán và gia đình họ trong trường hợp thi hành công vụ. Thứ năm, Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, không chồng chéo, mâu thuẫn với nhau; các văn bản hướng dẫn thi hành và giải thích luật phải kịp thời. Có như vậy mới tạo điều kiện cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân khi xét xử có cơ sở pháp lý vững chắc và chỉ tuân theo pháp luật.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.doc
Luận văn liên quan