Những chủ trương cải cách nền tư pháp của Đảng và những đánh giá

LỜI MỞ ĐẦU Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN - Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là một trong những chủ trương lớn và nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Trong Nhà nước pháp quyền, quyền tư pháp là một bộ phận của quyền lực nhà nước luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và quyền hành pháp trong tổng thể quyền lực nhà nước thống nhất và giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Quyền tư pháp được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó hoạt động xét xử của TAND thể hiện tập trung nhất của quyền tư pháp, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật. Vì vậy, mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta đến năm 2020 đã được chỉ ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Nghị quyết số 49-NQ/TW) là: "xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Nghiên cứu về vấn đề cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, và đặc biệt là những chủ trương của Đảng ta về cải cách tư pháp ở Việt Nam có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn Nội dung: I. Vì sao Đảng ta phải chủ trương tiến hành cải cách tư pháp?. 1 II. Chủ trương cải cách tư pháp của Đảng. 1 1. Khẳng định chức năng của cả hệ thống tư pháp. 2 2. Yêu cầu chung đối với hệ thống tư pháp. 2 3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của từng cơ quan tư pháp với toà án là khâu trung tâm của cả hệ thống tư pháp2 a. Về đổi mới tổ chức và hoạt động toà án. 2 Ø Về tổ chức:2 Ø Về hoạt động:3 Ø Về quản lý toà án:3 b. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát3 Ø Về chức năng. 3 Ø Về tổ chức và hoạt động:3 c. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra. 4 d. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án. 4 e. Về đổi mới tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp. 6 4. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các trường hợp oan sai do người có thẩm quyền tố tụng gây ra. 6 5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, các chức danh tư pháp trong sạch – vững mạnh. 6 6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chế độ, chính sách. 7 7. Đổi mới và củng cố mối quan hệ giữa hệ thống tư pháp với nhân dân. 7 8. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống tư pháp. 7 III. Kết luận. 8

doc8 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 8934 | Lượt tải: 58download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những chủ trương cải cách nền tư pháp của Đảng và những đánh giá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÀI LÀM I. Vì sao Đảng ta phải chủ trương tiến hành cải cách tư pháp? Kể từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng ta, chủ trương đổi mới toàn diện đất nước được đặt ra và triển khai, trong đó có đề cập đến “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trọng tâm là cải cách hành chính nhà nước”. Vì vậy, cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết để có thể thích ứng với những đổi mới về kinh tế, hệ thống chính trị...Từ sau Đại hội, hệ thống các cơ quan tư pháp và các hoạt động tư pháp đã được chú trọng hơn, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả tổ chức, công dân. Nhưng thực tế, công tác này cũng còn bộc lộ một số hạn chế về chính sách, chế định; tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các cơ quan còn bất hợp lý; cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu và một bộ phận còn yếu về trình độ, bản lĩnh chính trị, thậm chí một số còn suy thoái về đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp; cơ sở vật chất, phương tiện làm việc còn thiếu thốn, lạc hậu; nhất là vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử. Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân, chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung… Trước những đòi hỏi, yêu cầu cấp bách của thực tiễn nền tư pháp nước nhà, vấn đề cải cách tư pháp đã chính thức được đặt ra tại các Đại hội sau đó của Đảng và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung ương khoá VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khoá VIII, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Từ đó cho thấy vấn đề cải cách tư pháp là nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước nói chung và của các cơ quan tư pháp nói riêng nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Như vậy, những yêu cầu và đòi hỏi của tình hình mới đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp thiết cả về phương diện lý luận cũng như phương diện thực tiễn nhằm mục tiêu "xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, đất nước... đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đổi mới hệ thống chính trị và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. II. Chủ trương cải cách tư pháp của Đảng Từ Đại hội Đảng VIII đến nay, các định hướng cải cách nền tư pháp của Đảng ta được cụ thể hoá và phát triển trong nghị quyết của Đại hội Đảng VIII, IX, các Hội nghị trung ương khoá VII,VIII, IX và phát triển thêm một bước ở Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị khoá IX ngày 2/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Có thể khái quát một số chủ trương chính, có tính xuyên suốt của Đảng trong việc chỉ đạo đổi mới hệ thống tư pháp như sau: 1. Khẳng định chức năng của cả hệ thống tư pháp: Hoạt động Tư pháp phải nhằm ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. 2. Yêu cầu chung đối với hệ thống tư pháp – Các cơ quan Tư pháp phải là mẫu mực của việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải thể hiện công lý, tính độc lập, tính dân chủ, công khai trong hoạt động; là lực lượng nòng cốt, là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp trong đời sống hàng ngày. 3. Đổi mới tổ chức và hoạt động của từng cơ quan tư pháp với toà án là khâu trung tâm của cả hệ thống tư pháp. Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp phải đảm bảo giữ vững các nguyên tắc: phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền tư pháp; trong hoạt động tố tụng: tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, khắc phục tình trạng tố tụng cắt khúc, đùn đẩy trách nhiệm; yêu cầu phân định rõ thẩm quyền hành chính và thẩm quyền tố tụng trong hoạt động của các cơ quan tư pháp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ các cơ quan tư pháp. Về đổi mới tổ chức và hoạt động toà án Về tổ chức: -   Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử; phân định lại thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân các cấp: từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân cấp huyện theo hướng chủ yếu xét xử sơ thẩm; Toà án nhân dân tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm, Toà án nhân dân tối cao thực hiện chức năng giám đốc thẩm và hướng dẫn đường lối xét xử; xoá bỏ thẩm quyền và thủ tục xét xử sơ chung thẩm của Toà án nhân dân tối cao và Toà án quân sự trung ương. Về vấn đề này, Nghị quyết 49 xác định nhiệm vụ của Tòa án các cấp như sau: “Tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng nhấn mạnh: “Việc thành lập Toà án chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn, với đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành”.  Thành lập các toà chuyên môn phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, hội nhập kinh tế quốc tế. Về hoạt động: - Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lơi ích hợp pháp liên quan để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định. - Nghiên cứu quy định và áp dụng thủ tục rút gọn để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, phạm tội quả tang, hậu quả pháp lý ít nghiêm trọng. - Đổi mới thủ tục giám đốc thẩm để bảo đảm việc xét xử vừa đúng đắn vừa nhanh chóng. Về quản lý toà án: -   Tổng kết kinh nghiệm quản lý toà án; nhiệm vụ quản lý toà án địa phương phải góp phần đảm bảo tính độc lập và hiệu quả hoạt động của toà án; gắn việc theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn với việc nhận xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ; - Nghiên cứu phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm thẩm phán thuộc toà án các cấp theo hướng Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát Về chức năng: Đã có sự chuyển biến quan trọng trong việc nhận thức lại về chức năng của Viện kiểm sát: từ yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cần làm tốt 3 chức năng: kiểm sát chung, công tố và kiểm sát tư pháp (Hội nghị Trung ương 8 khoá VII) đến yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động của Viện kiểm sát theo cả 3 chức năng quy định trong Hiến pháp, nhưng tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” (Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII, 1997), sau đó khẳng định Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện tốt 2 chức năng – công tố và kiểm sát tư pháp (Đại hội Đảng IX, Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị). Về tổ chức và hoạt động: - Hoạt động công tố được xác định thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà thông qua việc bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác - Hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp tập trung vào kiểm sát việc bắt, giam, giữ, tạm giam, tạm giữ theo hướng kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giam, tạm giữ trong những trường hợp chưa cần áp dụng các biện pháp này, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan sai trong việc bắt, tạm giam, tạm giữ thuộc phạm vi phê chuẩn của mình. - Giảm bớt chồng chéo về chức năng trong hoạt động kiểm sát. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra -   Sắp xếp lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định, Bộ Công an cần thống nhất chỉ huy các Cơ quan điều tra thuộc Bộ; mỗi đơn vị, bộ phận thuộc Cơ quan điều tra cần được tổ chức, phân công chuyên sâu về từng lĩnh vực và quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm, đặc biệt là quyền hạn, trách nhiệm của từng chức danh trong Cơ quan điều tra; kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra tố tụng và trinh sát; nghiên cứu sáp nhập các Cơ quan điều tra thuộc Công an ở địa phương. Có phương án đổi mới tổ chức, hoạt động của các Cơ quan điều tra trong quân đội phù hợp với hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của các Cơ quan điều tra của Nhà nước. ở ngành Kiểm sát chỉ tổ chức Cơ quan điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp- Kết hợp chặt chẽ giữa trinh sát, điều tra ban đầu với hoạt động của cơ quan điều tra nhằm bảo đảm sự thống nhất trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm quyền dân chủ và an toàn của công dân (Hội nghị TW 3 khoá VIII). - Chuyên môn hoá lực lượng điều tra: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 tiếp tục chỉ đạo, xác định rõ nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong mối quan hệ với cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo hướng Cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của Cơ quan điều tra chuyên trách. Trước mắt, tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức Cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các Cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự. Theo hướng chỉ đạo này, để bảo đảm tính ổn định, hoạt động có hiệu quả, các Cơ quan điều tra cần được tiếp tục củng cố và kiện toàn theo lộ trình cải cách tư pháp nhưng cần hết sức thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, lấy ổn định làm trọng tâm. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án - Về tổ chức và quản lý thi hành án: Ngay từ Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1995), Đảng đã chủ trương kiện toàn các tổ chức thi hành án, xây dựng Luật Thi hành án theo hướng tập trung thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án vào Bộ Tư pháp, Đến 1997, Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII tái khẳng định “Chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản lý tập trung thống nhất công tác thi hành án”. Với chủ trương đổi mới, nâng cao vị thế và hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự; Nghị quyết số 48-NQ/TW đã khẳng định: “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất về công tác thi hành án”. Tiếp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã tiếp tục khẳng định: “Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện chuyển giao công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Đây là một chủ trương lớn của Đảng, phù hợp với xu thế hội nhập, cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. - Về hoạt động thi hành án: yêu cầu chung là bảo đảm các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực phải được tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh, đầy đủ, nhanh chóng. Chấn chỉnh các trại giam để giáo dục, cải tạo tốt phạm nhân; có chính sách tái hoà nhập đối với người mãn hạn tù. Xây dựng đề án thay đổi việc tổ chức thi hành án phạt tử hình (Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị). Từng bước thực hiện việc xã hội hoá các hoạt động thi hành án dân sự. Chủ trương xã hội hoá đã được đề cập nhiều trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, ví dụ tại Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định: “Nghiên cứu việc xã hội hoá một số hoạt động bổ trợ tư pháp”. Trong lĩnh vực thi hành án, đặc biệt là thi hành án dân sự cần phải tích cực xã hội hoá, bởi có xã hội hoá thì mới chia sẻ được gánh nặng công việc thi hành án cho Nhà nước, mới nâng cao hiệu quả công tác thi hành án. Nghị quyết 49-NQ/TW tiếp tục khẳng định: “Từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”, bên cạnh đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW còn yêu cầu phải: “Nghiên cứu chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên): trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”. - Về nhân sự: đổi mới cơ chế thu hút, tuyển chọn cán bộ thi hành án và chế độ, chính sách đối với cán bộ thi hành án. Nghị quyết 49-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu: "Có cơ chế thu hút, tuyển chọn những người có tâm huyết, đủ đức, tài vào làm việc ở các cơ quan tư pháp"; "Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn"; "Có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động của cán bộ tư pháp. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và có cơ chế thanh tra, kiểm tra từ bên ngoài đối với hoạt động của các chức danh tư pháp". Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo cán bộ nguồn cho các cơ quan thi hành án, Nghị quyết 49-NQ/TW đã khẳng định: "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân Luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa". - Về cơ sở vật chất: tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ quan thi hành án ở địa phương. Nghị quyết số 49-NQ/TW đã quy định: "Nhà nước bảo đảm điều kiện vật chất cho hoạt động tư pháp phù hợp với đặc thù của từng cơ quan tư pháp và khả năng của đất nước. Từng bước xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp khang trang, hiện đại, đầy đủ tiện nghi ...  khẩn trương trong một vài năm xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp cấp huyện". Về đổi mới tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp Các quan điểm chung là củng cố và tăng cường các tổ chức bổ trợ tư pháp theo hướng đổi mới quản lý nhà nước đối với các hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp phù hợp với chủ trương xã hội hoá; kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp trên cơ sở quy định rõ nguyên tắc, nội dung hoạt động của các tổ chức bổ trợ tư pháp. Các quan điểm chung là củng cố và tăng cường các tổ chức, hoạt động động luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, giám định tư pháp theo hướng nâng cao vai trò, năng lực (cả về số lượng và chất lượng hoạt động) của các tổ chức này trong việc hỗ trợ đắc lực hoạt động tư pháp và hỗ trợ cho mọi cá nhân, tổ chức tiếp cận hệ thống pháp luật và tư pháp; đổi mới quản lý nhà nước đối với các tổ chức bổ trợ tư pháp phù hợp với chủ trương xã hội hoá; kết hợp quản lý nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật. Về đổi mới tổ chức, hoạt động: Tổ chức hình thức tư vấn pháp luật cho các cơ quan, tổ chức và nhân dân, tạo điều kiện cho người nghèo được hưởng dịch vụ tư vấn pháp luật miễn phí; tăng cường, củng cố các tổ chức luật sư; Cải tiến nội dung và thủ tục công chứng để phục vụ nhân dân, bảo đảm nhanh chóng, thuận tiện, chính xác; Củng cố và hoàn thiện các tổ chức giám định tư pháp, thành lập Viện giám định pháp y quốc gia; Nghiên cứu thành lập Cảnh sát tư pháp (trước mắt do Bộ Công an quản lý) để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ phiên toà, hỗ trợ công tác thi hành án, dẫn giải bị can, bị cáo, quản lý các trại giam…; Nghiên cứu xây dựng một cơ quan thực hiện thống nhất công tác thống kê tư pháp, nâng cao chất lượng công tác này. 4. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết các trường hợp oan sai do người có thẩm quyền tố tụng gây ra: từ yêu cầu minh oan công khai, truy cứu trách nhiệm cá nhân người có thẩm quyền (Hội nghị TW 8 khoá VII); khắc phục những biểu hiện hữu khuynh trong đấu tranh chống tội phạm, đồng thời chống tình trạng bắt và giam giữ oan sai, xét xử không công minh, vi phạm quyền dân chủ của công dân (Hội nghị TW 3 khoá VIII) đến yêu cầu khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thương thiệt hại đối với những trường hợp bị oan sai trong hoạt động tố tụng, nghiên cứu xây dựng Quỹ bồi thường thiệt hại về tư pháp (Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị). 5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, các chức danh tư pháp trong sạch – vững mạnh: Xây dựng đội ngũ thẩm phán, thư ký toà án, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư… về cơ bản đủ số lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị và đạo đức chí công vô tư, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, trong sạch, vững mạnh; Tiêu chuẩn hoá các chức danh tư pháp theo hướng nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức, có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp theo chức danh; tiến tới thực hiện thi sát hạch trước khi bổ nhiệm. Lập quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ tư pháp theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn cụ thể; quy định thời hạn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, cải tiến thủ tục bổ nhiệm theo hướng gọn, kịp thời, bảo đảm dân chủ, công khai; thực hiện luân chuyển cán bộ tư pháp giữa các cấp và có chế độ, chính sách phù hợp để thực hiện việc luân chuyển đó. Hoàn thiện cơ chế lựa chọn, bầu cử, bồi dưỡng, quản lý và nâng cao chất lượng của hội thẩm nhân dân, đề cao trách nhiệm và vai trò của hội thẩm nhân dân trong xét xử. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, đánh giá, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ yếu kém, vi phạm kỷ luật. Thống nhất đầu mối đào tạo nghề nghiệp cho các chức danh tư pháp, riêng điều tra viên do Bộ Công an đào tạo. 6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chế độ, chính sách đảm bảo điều kiện cho cơ quan, cán bộ tư pháp hoạt động hiệu quả. Đảm bảo đủ các điều kiện tối thiểu về trụ sở, phương tiện làm việc để từng bước hiện đại hoá các cơ quan tư pháp phù hợp với chủ trương tăng thẩm quyền xét xử cho các toà án cấp huyện. Chính sách, chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, đãi ngộ phù hợp với đặc thù và vị trí tôn vinh của nghề nghiệp các chức danh tư pháp. 7. Đổi mới và củng cố mối quan hệ giữa hệ thống tư pháp với nhân dân theo hướng: Huy động sự tham gia rộng rãi và tích cực của nhân dân vào công tác tư pháp, phòng chống vi phạm pháp luật ngay tại địa bàn dân cư; nâng cao hiệu quả của các hình thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án như hoà giải, trọng tài góp phần xử lý đúng, nhanh chóng các mâu thuẫn, khiếu kiện trong nhân dân, giảm nhẹ công việc cho toà án và cơ quan nhà nước khác; Tăng cường và nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan đại biểu nhân dân, các tổ chức xã hội và của nhân dân đối với cơ quan, hoạt động tư pháp; Đẩy mạnh công tác giải thích pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật về tư pháp, nhất là thông qua các hoạt động tư pháp cụ thể như các phiên toà xét xử lưu động của toà án để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tăng cường sự hiểu biết và niềm tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp và nền công lý nước nhà. 8. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống tư pháp, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với cơ quan tư pháp. Như vậy, Đảng ta đã có một quá trình nghiên cứu, cụ thể hóa và thực thi trên thực tế các chủ trương cải cách tư pháp. Các nội dung cải cách tư pháp do Đại hội IX của Đảng và Nghị quyết số 08 nêu ra vừa thể hiện tính liên tục, kế thừa phát triển của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa thể hiện sự tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của thế giới về khoa học tổ chức quyền lực nhà nước và quản lý xã hội được vận dụng từng bước một cách thích hợp vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trong thời gian qua, phần lớn những chủ trương trên đây của Đảng ta đều phát huy hiệu quả trong đời sống, nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, bảo đảm được tính công khai, dân chủ và nghiêm minh; bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; vai trò của luật sư ngày càng được nâng cao, góp phần cùng các cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh phòng chống tội phạm và phát triển xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hệ thống tư pháp vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, như việc tranh luận tại phiên tòa nhiều khi còn mang tính hình thức, vai trò và ý kiến của luật sư chưa được coi trọng đúng mức; các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật tố tụng vẫn còn nhiều khiếm khuyết, thiếu chặt chẽ, khiến cho quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người tham gia tố tụng tại nhiều nơi không được bảo đảm đầy đủ và đúng đắn. Sự chậm chạp trong việc thực hiện các yêu cầu của cải cách tư pháp như: việc đầu tư cơ sở vật chất cho cơ quan tư pháp cấp huyện, thành lập cơ quan giám định tư pháp quốc gia, đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà tạm giữ, tạm giam; thi hành án dân sự; việc hướng dẫn áp dụng các quy định pháp luật mới...cũng là những yếu tố giảm hiệu quả của cuộc cải cách tư pháp trong thời gian qua. Đặc biệt theo báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2008, 10% số án bị khiếu tố được xem xét có dấu hiệu oan sai, điều này cho thấy chất lượng xét xử ở tòa án sơ thẩm rất đáng phải quan tâm. Cũng chính vì thế, nền tư pháp nước nhà vẫn còn rất kỳ vọng và luôn không ngừng đòi hỏi hoạt động cải cách tư pháp sẽ được tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các chủ trương, đường lối chính sách mà Đảng đã đề ra. Trong Văn kiện Đại hội X, khi tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền, mà còn ghi nhận điều chúng ta “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Khẳng định xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Nhà nước pháp quyền là một bước đột phá trong tư duy và thực tiễn xây dựng Nhà nước trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta. Đó là cơ sở chính trị cho việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu về nhà nước pháp quyền, đổi mới một cách căn bản, có hệ thống tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là ngày một, ngày hai chúng ta có thể xác lập ngay được Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong lý luận và cả trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết mà cải cách tư pháp là một trong những nội dung đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. Từ đó,các Văn kiện Đại hội Đảng khóa sau cần tiếp tục kế thừa những thành tựu về cải cách tư pháp của các thời kì trước trên tinh thần cập nhật, bổ sung và hoàn thiện đáp ứng những yêu cầu mới của quá trình đổi mới. Đặc biệt là tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra vào tháng 1 năm 2011 vừa qua, bên cạnh chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, Đảng cũng tiếp tục chủ trương đẩy mạnh công tác cải cách tư pháp và đảm bảo tính hiệu quả hơn nữa hoạt động này ở nước ta trong thời gian tới. III. Kết luận Khi chuyển sang một nền kinh tế thị trường, cùng với việc từng bước từ bỏ cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp, hoạt động của các cơ quan tư pháp càng ngày càng có ý nghĩa, việc cải cách tư pháp đang trở nên ngày một bức xúc. Trong tinh thần ấy, Nghị quyết Số 08 ngày 2/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là một đòn bẩy mạnh mẽ đối với việc cải cách các hoạt động tư pháp hiện nay ở Việt Nam. Trong tiến trình thực hiện công tác cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng đề ra sẽ còn rất nhiều khó khăn, toàn bộ hệ thống các cơ quan tư pháp sẽ còn phải nổ lực không ngừng để thực hiện chủ trương đó của Đảng thiết thực và có hiệu quả, điều đó cũng có nghĩa là nền tư pháp Việt Nam sẽ không thể ngày một ngày hai mà hoàn thiện được. Nó đòi hỏi sức lực và trí tuệ của cả ngành Tòa án, cả sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp khác, và đặc biệt là việc hoạch định những chủ trương đúng đắn của Đảng ta đối với công tác cải cách tư pháp trong gia đoạn hiện nay ở nước ta; đòi hỏi sự tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp theo hướng xác định rõ nội dung và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp trong thời gian tới. Sau khi phân tích, về ý kiến của bản thân, theo em về công tác cải cách tư pháp nước ta trong thời gian tới, cần tập trung vào ba yếu tố: yếu tố về con người là hàng đầu : phải có những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó đội ngũ thẩm phán cần được chú trọng, vì hoạt động xét xử của TAND thể hiện tập trung nhất của quyền tư pháp, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật; yếu tố thứ hai là từng ngành, từng cơ quan phải đánh giá nghiêm túc với tinh thần phê bình và tự phê bình cao để nhìn nhận những yếu kém của mình; thứ ba: cần hoàn thiện hệ thống pháp luật mà then chốt đó là nâng cao tính khả thi, “sức sống” của mỗi văn bản luật, văn bản dưới luật sau khi “ra đời”, đồng thời với đó là tăng cường và nâng cao tính hiệu quả trong công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc tổ chức thực hiện pháp luật.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững chủ trương cải cách nền tư pháp của Đảng và những đánh giá.doc
Luận văn liên quan