Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa - Lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện

LỜI MỞ ĐẦU Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là: trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Con đường tiến lên CNXH, đã đang và sẽ là sự lựa chọn duy nhất của chúng ta. Tuy nhiên để tiến đến được CNXH chúng ta còn phải trải qua nhiều chặng đường đầy gian lao và thử thách, đó là bước quá độ để Tổ quốc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc hùng mạnh trên thế giới, để chúng ta tiến đến chế độ mới, chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Nhưng từ giờ đến đó chúng ta còn bao nhiêu công việc phải làm, bao nhiệm vụ phải hoàn tất. Con đường mà chúng ta đang đi đầy chông gai, đòi hỏi chúng ta phải có được phương hướng đúng đắn. Phải nêu được rõ nhiệm vụ cơ bản mà chúng ta cần làm. Để có thể làm được điều đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về CNXH và con đường quá độ để tiến lên CNXH. Và để có thể làm được điều đó thì tất cả chúng ta cùng phải đồng lòng, chung sức vun đắp nó. Thế hệ trẻ chúng em sẽ cố gắng, nỗ lực hết mình để góp phần vào cùng đất nước tiến lên. Đó chính là lý do khiến em chọn đề tài: Quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa: lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện. Qua đề tài này, em muốn gửi lời cảm ơn tới cô giáo Đào Phương Liên, người đã giúp em nhận thức rõ hơn con đường mà cả nước ta đang tiến đến. Những lời giảng của cô giúp em hiểu thêm những khó khăn, thử thách mà cả nước đang phải trải qua trên con đường tiến lên CNXH, và chúng ta sẽ phải làm gì để vững bước đi lên.

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 29/01/2013 | Lượt xem: 7206 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa - Lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo cách nói tóm tắt và mộc mạc của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là: trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc. Con đường tiến lên CNXH, đã đang và sẽ là sự lựa chọn duy nhất của chúng ta. Tuy nhiên để tiến đến được CNXH chúng ta còn phải trải qua nhiều chặng đường đầy gian lao và thử thách, đó là bước quá độ để Tổ quốc Việt Nam có thể sánh vai với các cường quốc hùng mạnh trên thế giới, để chúng ta tiến đến chế độ mới, chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Nhưng từ giờ đến đó chúng ta còn bao nhiêu công việc phải làm, bao nhiệm vụ phải hoàn tất. Con đường mà chúng ta đang đi đầy chông gai, đòi hỏi chúng ta phải có được phương hướng đúng đắn. Phải nêu được rõ nhiệm vụ cơ bản mà chúng ta cần làm. Để có thể làm được điều đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn về CNXH và con đường quá độ để tiến lên CNXH. Và để có thể làm được điều đó thì tất cả chúng ta cùng phải đồng lòng, chung sức vun đắp nó. Thế hệ trẻ chúng em sẽ cố gắng, nỗ lực hết mình để góp phần vào cùng đất nước tiến lên. Đó chính là lý do khiến em chọn đề tài: Quá độ lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa: lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện. Qua đề tài này, em muốn gửi lời cảm ơn tới cô giáo Đào Phương Liên, người đã giúp em nhận thức rõ hơn con đường mà cả nước ta đang tiến đến. Những lời giảng của cô giúp em hiểu thêm những khó khăn, thử thách mà cả nước đang phải trải qua trên con đường tiến lên CNXH, và chúng ta sẽ phải làm gì để vững bước đi lên. NỘI DUNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUÁ ĐỘ ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1. Thời kỳ quá độ lên CNXH: 1.1. Thời kỳ quá độ lên CNXH: Nhìn chung, lịch sử xã hội toàn nhân loại đã phát riển qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, tương ứng mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Cho đến nay, lịch sử nhân loại đã trải qua bốn hình thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và đang quá độ lên CNXH. Quá độ lên CNXH là giai đoạn đàu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa- hình thái kinh tế của lịch sử xã hội. Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để và toàn diện từ xã hội cũ sang xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa .Nó diễn ra từ khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản giành được chính quyền, bắt tay vào việc xây dựng xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công các cơ sở của xã hội XHCN về vật chất - kỹ thuật, kinh tế, văn hoá tư tưởng. Nói cách khác, kết thúc thời kỳ quá độ khi đã xây dựng xong cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng xã hội XHCN. 1.2. Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH: Đặc điểm nổi bật của thời kỳ quá độ lên CNXH là những nhân tố của xa hội mới và tàn dư của xâ hội cũ tồn tại đan xen lẫn nhau, đấu tranh với nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, tư tưởng, tập quán trong xã hội. Về kinh tế, đây là thời kỳ bao gồm những mảng, những phần, những bộ phận của CNTB và CNXH xen kẽ nhau, tác động với nhau, lồng vào nhau, nghĩa là thời kỳ tồn tại nhiều thành phần kinh tế, cả thành phần kinh tế XHCN lẫn thành phần kinh tế TBCN, thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ cùng tồn tại phát triển, vừa hợp tác thống nhất vừa mâu thuẫn, cạnh tranh với nhau gay gắt. Thời kỳ này bắt đầu từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền và kết thúc khi xây dựng xong cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH. 2. Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên CNXH : Vận dụng lý luận của C.Mác và Ph.Ăngnghen vào công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga trước đây, V.I.Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên CNXH. Thời kỳ quá độ lên CNXH là tất yếu khách quan đối với mọi nước xây dựng CNXH. Tuy nhiên, đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì thời kỳ quá độ lên CNXH có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN từ nền kinh tế kém phát triển. Theo V.I.Lênin, sự cần thiết khách quan phải có thời kỳ quá độ lên CNXH là do đặc điểm ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa và cách mạng vô sản quy định. Quan hệ sản xuất phong kiến và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đều dựa trên cơ sở chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Các cuộc cách mạng xã hội trước đây chỉ là sự thay thế chế độ tư hữu này bằng một chế độ tư hữu khác. Cách mạng XHCN nhằm vào mục tiêu xoá bỏ chế độ tư hữu để xác lập chế độ công hữu, mà chế độ công hữu và tư hữu là đối lập nhau, cho nên quan hệ sản xuất XHCN lấy công hữu làm nền tảng không thể hình thành trong lòng phương thức sản xuất cũ dựa trên chế độ tư hữu được. Sự thật lịch sử đã chứng tỏ, có những nước do điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình phát triển của mình. Đối với nước ta, con đường phát triển bỏ qua chế độ TBCN là tất yếu và có khả năng thực hiện. Điều kiện quan trọng để thực hiện sự phát triển “rút ngắn” mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra đối với các nước tiền TBCN đi lên CNXH là: - Phải có được tấm gương của một cuộc cách mạng tư sản đã thắng lợi. - Có được sự giúp đỡ, sự ủng hộ tích cực cử cá c nước tiên tiến và giai cấp vô sản các nước đó. - Có một chính đảng đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo đất nước tiến lên CNXH. Với những điều kiện mà các nhà kinh điển đã chỉ ra như trên, xét trong tình hình của khung cảnh quốc tế hiện thời, nước ta hoàn toàn có đủ điều kiện và năng thực hiện một sự phát triển “rút ngắn” để đi tới CNXH tương lai. 3. Các hình thức quá độ lên CNXH: Theo chủ nghĩa Mác – Lênin thì thời kì quá độ là một tất yếu đối với mọi nước đI lên CNXH. Tuy nhiên do đặc điểm của từng nước là khác nhau, có nước nền kinh tế còn lạc hậu kém phát triển, có nước nền kinh tế phát triển theo CNTB, vì vậy thời kì quá độ lên CNXH cũng khác nhau. chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng có hai loại hình quá độ, đó là: 3.1.Qúa độ từ CNTB lên CNXH: Loại hình này quy luật phát triển tuần tự của xã hội loài người. Đó là loại hình quá độ đối với các nước đã trảI qua giai đoạn phát triển TBCN, nên đã sẵn có tiền đề về cơ sở vật chất kĩ thuật. Vì thế công cuộc quá độ chỉ còn là biến những tiền đề ấy thành cơ sở vật chất của CNXH, thiết lập một quan hệ sản xuất mới, một nhà nước mới, một xã hội mới- xã hội XHCN. 3.2. .Qúa độ từ các hình thái kinh tế- xã hội trước CNTB lên CNXH: Loại hình này quy luật phát triển nhảy vọt của xã hội loài người. Với các nước có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển cũng có khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN. Tuy nhiên để có thể tiến lên CNXH thì các nước này cần phải từng bước quá độ và phải có những điều kiện phù hợp. Để có thể quá độ lên CNXH , các nước này cần phảI có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản ở các nước tiên tiến đang xây dựng CNXH. Đồng thời các nước này cũng phải hình thành được cac tổ chức đảng cách mạng và cộng sản, phải dành được chính quyền về tay mình, xây dựng được các tổ chứcnhà nước mà bản chất là xô viết nông dân và xô viết những người lao đọng. Lênin khẳng định rằng ở một nước kém phát triển thì cần phải tạo ra những điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH bằng một cuộc cách mạng thiết lập chính quyền liên minh công nông và phảI tiến lên CNXH qua các bước quá độ, không được nhảy vọt cũng như nóng vội. 4.Thời kì quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam: Thời kì quá độ là thời kì lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đI lên CNXH cũng đều phải trải qua. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN thì lại càng phải trải qua một thời kì quá độ lâu dài. 4.1. Tính tất yếu khách quancủa thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta: Thực tiễn đã khẳng định CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng được thay bằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội XHCN. Cho dù hiện nay, vớinhững cố gắng để thích nghi với tình hình mới, CNTB thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưqng vẫn không vượct quakhỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó. Những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc. CNTB không phải là tương lai của loài người. đặc điểm của thời đậi ngày nayy là thời kì qúa độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Quá trình cải biến xã hội ncũ, xây dựng xã hội mới- xã hội XHCN không phải là quá trình cải lương duy ý chí, mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan, hợp với quy luật của lịch sử. CNXH khoa học, tự do, dân chủ và nhân đạo mà loài người đang vươn tới đaịi diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại, đại diện cho lợi ích của người lao động. Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người, vì sự phát triển tự do và toàn diện của con gười, vì sự tiến bộ chung của loài người. Hơn thế nữa, cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX. Nhờ đI theo con đường ấy, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám thành công, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngày nay, chỉ có đi lên CNXH mới giữ vững được độc lập tự do cho dân tộc, thực hiện mục tiêu làm cho mọi người dân được ấm no, tự do và hạnh phúc. Vì vậy sự quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta là một tất yếu lịch sử. 4.2. Khả năng về quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam: Chúng ta có khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN bởi chúng ta có đầy đủ điề kiện thuận lợi cả về khách quan lẫn chủ quan. Về khách quan: chúng ta đi lên CNXH trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất mang tính quốc tế hoá cao, sự phụ thuộc vào nhau giữa các quốc gia rong quá trình phát triển ngày càng lớn. Vì vậy, muốn phát triển, các quốc gia đều phải mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài. đó là xu thế phát triển của thời đại. Chúng ta muốn phát triển cũng không thể nằm ngoài xu thế đó. Trong quá trình đó, cho phép chúng ta tranh thủ được vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, phát triển nhanh nền kinh tế trong nước. 4.3. Nhận thức về quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam: Quá độ lên CNXH bỏ qua TBCN ở Việt Nam, đây chính là con đường phát triển rút ngắn đI lên CNXH ở nước ta, thực chất là quá trình đưa nước ta tiến nhanh từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn. Bỏ qua chế độ TBCN không phảI là bỏ qua sở hữu tư nhân, không phảI là bỏ qua sự phát triển kinh tế tư bản tư nhân mà không phảI là bỏ qua quan hệ sản xuất TBCN, sự thống trị của kiến trúc thượng tầng TBCN. Tức là bỏ qua sự thống trị của giai cấp tư sản trong nền kinh tế. Bỏ qua chế độ TBCN không phải là bỏ qua sự phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường mà là tạo ra những điều kiện để phát triển nhanh kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chúng ta không phủ nhận tất cả những thành tựu của nhân loại dưới TBCN mà phảI biết tiếp thu tranh thủ tận dụng những thành tựu đã đạt được dưới tư bản để phát triển nhanh nền kinh tế nước ta. Sự rút ngắn con đường đi lên CNXH bỏ qua TBCN để thực hiện thông qua những hình thức kinh tế quá độ trung gian, thông qua việc sử dụng kết hợp với thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. II.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THẮNG LỢI QUÁ ĐỘ LÊN CNXH BỎ QUA CNTB Ở VIỆT NAM: 1.Thực trạng nền kinh tế quá độ ở nước ta: 1.1. Thành tựu: Công cuộc đổi mới của Đảng khởi xướng từ năm 1986, sau 20 năm đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, qua từng chặng đường. Tính chung cho cả thời kỳ chiến lược 10 năm (1921- 2001) thì kết quả đạt được là rất khả quan: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%, trong đó nông- lâm- ngư nghiệp tăng 4,2%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong 10 năm tăng 2,07 lần. Đại hội IX đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 10 năm (2001- 2010) với mục tiêu tổng quát là: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tập trung xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng với công nghệ cao, sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kĩ thuật, công nghệ tiên tiến cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ và đáp ứng nhu cầu quốc phòng, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và xây dựng nền tảng để đén năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Chất lượng đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Thể ché kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa định hình về cơ bản. Nguồng lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được tăng cường. Vị thế nước ta trong quan hệ quóc tế được củng cố và nâng cao. Trong 5 năm đầu thực hiện chiến lược 10 năm (2001 – 2010), nèn kinh tế vãn duy trì được khả năng tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch đáng kể, nguồn lực phát triển trong các thành phần kinh tế được huy động khá hơn, nhiều lợi thế so sánh trong từng ngành, từng vùng đã được phát huy. Năm 2001 tốc độ tăng trưởng kinh tế là 0,9%, cao hơn 0,2% so với năm 2000, năm 2220 là 7,04%, năm 2203 tăng 7,24%, nưm 2004 tăng 7,7%, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm(2001 – 2005) koảng 7,5% Những kết quả nổi bật trong thời kì đổi mới. *Tạo lập sự ổn định trog kinh tế vĩ mô Trong suet quá trình đổi mới, chúng ta giữ vững được ổnđịnh chính trị và đời sống xã hộ. Tài chính quốc gia có nhiều cảI thiện. Tỷ lệ huyđộng vào ngân sách Nhà nước so với GDP tăng từ 20%năm 1995 lên 23,5% năm 2205. Huy động vốn đầu tư tăng qua các năm. Năm 2000 vốn đàu tư chiếm 28%, nam 2005 mức huy động lên đến 36,5%. *Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế Tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong GDP đã giảm từ 25% năm 2000 xuóng còn 20,5% năm 2005, công nghiệp và xây dựng từ 36,7% năm 2000 lên khoảng 41% năm 2005. *Kinh tế đối ngoại phát triển khá, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, nước ta đã chủ động tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ngoạn mục, năm 2005 đạt 32,233 triêu USD. Bình quân đầu người đạt gần 388 USD. Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt trên 60%. Việc thu hút nguồn vốn đàu tư trực tiếp từ nước ngoài đạt được nhiều kết quả. Việc thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) đã có nững bước tiến bộ. *Giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ có bước phát triển. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã cố những chuyển biến tích cực trong các bậc học, ngành học. Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở được triển khai tích cực. Đến hết năm 2003 số tỉnh đạt chỉ tiêu phổ cập trung học cơ sở đạt 19 tỉnh. Chương trình nội dung giảng dạy đã có đổi mới bước đầu được cải thiện. *Những thành tựu đáng kể trong việc giảI quyết trong các vấn đề xã hội và xoá đói giảm nghèo. Đến năm 2005 đã có 56% số xã được đầu tư 8 công trình hạ tàng theo quy định 70% số xã đã xây dựngđược năm công trình hạ tầng chủ yếu, 30/49 tỉnh có 100% số xã có đường ôtô đến trung tâm xã. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Năm 2001 tỷ lệ hộ nghèo cả nước là 17,5%, đến năm 2005 giảm còn dưới 7%, trung bình mỗi năm giảm 2 – 2,5%. 2. Hạn chế, tồn tại, khó khăn: Nhìn chung, năng suất lao động nước tacòn thấp, chất lượng sản phẩm chưua tốt, giá thành chưa cao. Nhiều sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp không tiêu thụ được cả trong nước và nước ngoài. Vì vây, nước ta chủ yếu vẫn là một nước nhâp siêu. Về yếu tố lao động, trình độ người lao động chưa cao. Tỷ lệ thất nghiệp hàng năm vẫn còn nhiều. Năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp là 6,4%, năm 2005 là 5,3%. Giáo dục và đào tạo đã có nhiều tiến bộ, song chất lượng giáo dục, đào tạo còn thấp, cơ cấu còn bất hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực, nhân tài. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo mới đạt 25%. Về chênh lệch giàu nghèo, hệ số chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo còn lớn. Việc bảo vệ và cải thiện môi trường đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên môI trường đang xuống cấp trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm do các khu công nghiệp. Nạn khai thác rừng xảy ra khắp nơi. Hệ thống giao thông thiếu đồng bộ. Giao thông qua các thành phố, thị xã, các vùng kinh tế trọng điểm chưa hoàn chỉnh. Tai nạn giao thông xảy ra rất nhiều. Các hoạt động khoa học công nghệ chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự CNH- HĐH đất nước, năng lực tạo ra công nghệ mới còn có hạn. Hạ tầng bưu chính viễn thông còn thiếu đồng bộ, chất lượng dịch vụ còn thấp, giá dịch vụ còn cao. Đô thị phát triển chậm, chất lượng quy hoạch thấp… Các tệ nạn xã hội lan rộng, nhất là ma tuý và nạn mại dâm. Trật tự an toàn xã hội chưa được đảm bảo. III. GIẢI PHÁP CHO CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM: 1.Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Con đường CNH- HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức \mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH- HĐH. CNH- HĐH phải đảm bẩo xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. 2. Xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN. Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam phảI là con đường ra đời của phương thức sản xuất XHCN. Cùng với quá trình CNH- HĐH, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, tất yếu phảI có quá trình phát triển tương ứng các quan hệ sản xuất mới. Về mặt kinh tế, nước ta xuất phát từ một trình độ kinh tế lạc hậu, để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất mới theo định hướng XHCN là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đề ra chủ trương đúng đắn. 3.Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ ,rộng mở đa phương hoá ,đa dạng hoá các quan hệ quốc tế . Việt Nam sẵn sàng là bạn ,là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế ,phấn đấu vì hoà bình ,độc lập và phát triển . Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, bảo vệ môi trường. Sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế phải dẫn đến CNXH mà không đi chệch hướng. Phải xây dựng được một nền kinh tế mà cơ cấu phải chuyển dịch dần theo hướng tiến bộ ,hiện đại, có sự cân đối hợp lý giữa công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng kinh tế .Sau cùng đó phải là một nền kinh tế giữ vững được ổn định kinh tế vĩ mô ,bảo đảm cho nền kinh tế đủ sức đứng vững và ứng phó được với tất cả các tình huống phức tạp . . LỜI KẾT Sau khi nghiên cứu và tìm hiểu con đường quá độ lên CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN ở Việt Nam, ta thấy rằng đó là một tất yếu khách quan. Mặc dù đó là một con đường đầy thử thách, nhưng lại hứa hẹn một tương lai tươi sáng và tốt đẹp. Muốn vậy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải cùng đồng lòng ,chung sức và cùng cố gắng, thì mới có thể thành công. Việt Nam bước được tới đỉnh vinh quang hay không, có bước được đến CNXH-CNCS hay không, điều đó còn phải tuỳ thuộc vào cố gắng, nỗ lực của tất cả mọi người. Tất cả chúng ta sẽ cùng cố gắng để có thể thực hiện được ước mơ và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, bởi quá độ được đến CNXH, chúng ta sẽ tìm được thấy hạnh phúc, ấm no và công bằng, chúng ta sẽ thấy được ánh sáng của văn minh nhân loại , cái mà bấy lâu nay chúng ta tìm kiếm. Cuối cùng, một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn cô giáo Đào Phương Liên đã hướng dẫn giúp em hoàn thành đề tài này. Tài Liệu Tham Khảo 1. Giáo trình Kinh Tế Chính Trị - tập II Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . 2. “Nhận thức về con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam” Tác giả :GS.Nguyễn Đức Bình . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . 3. Tạp chí Dự báo và kinh tế số 8/2005- Bài “Thực trạng kinh tế Việt Nam sau 20 năm đổi mới” 4.Tạp chí Lý luận và chính trị - số 8-2003 Bài " Tìm hiểu quan điểm của Đảng về công nghiệp hoá và hiện đại hoá ." 5. “Về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam” Tác giả :GS.Nguyễn Đức Bình . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia . 6.Văn kiện Đại hội IX của Đảng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 7.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuá độ lên CNXH bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghĩa Lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện.DOC
Luận văn liên quan