So sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán

MỞ BÀI Thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từng ngày chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Qua mấy năm vận hành, các bộ phận thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra diện mạo mới cả về hàng hóa, tính đa dạng của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường còn non trẻ, không tuân theo quy luật, mà tình trạng này được báo giới gọi là “thị trường chứng khoán Việt Nam lình xình”. Đồng thời, thị trường chứng khoán có chức năng là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bất kì một vấn đề nào liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán đều đem lại những ý nghĩa nhất định. Việc so sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán không chỉ đem lại những ý nghĩa chung mà nó còn đem lại những ý nghĩa riêng nhất định. Dưới đây, nhóm em xin đi trình bày cụ thể vấn đề. NỘI DUNG I.Một số vấn đề lý luận chung. 1.Một số vấn đề cơ bản về chứng khoán. a.Khái niệm chứng khoán. Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trên phương diện pháp lý. Ở Việt Nam, khái niệm chứng khoán được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán”. b.Phân loại chứng khoán.

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/02/2013 | Lượt xem: 4385 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ BÀI Thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từng ngày chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Qua mấy năm vận hành, các bộ phận thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra diện mạo mới cả về hàng hóa, tính đa dạng của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường còn non trẻ, không tuân theo quy luật, mà tình trạng này được báo giới gọi là “thị trường chứng khoán Việt Nam lình xình”. Đồng thời, thị trường chứng khoán có chức năng là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bất kì một vấn đề nào liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán đều đem lại những ý nghĩa nhất định. Việc so sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán không chỉ đem lại những ý nghĩa chung mà nó còn đem lại những ý nghĩa riêng nhất định. Dưới đây, nhóm em xin đi trình bày cụ thể vấn đề. NỘI DUNG I.Một số vấn đề lý luận chung. 1.Một số vấn đề cơ bản về chứng khoán. a.Khái niệm chứng khoán. Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trên phương diện pháp lý. Ở Việt Nam, khái niệm chứng khoán được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006: “Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn góp của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán”. b.Phân loại chứng khoán. Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chứng khoán được phân thành nhiều loại. Cách phân loại thông dụng là dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể phát hành và nhà đầu tư, chứng khoán được chia thành: Thứ nhất: Cổ phiếu: là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu gồm cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu phổ thông: là loại cổ phiếu phổ thông nhất tạo cho người nắm giữ các quyền lợi về kinh tế và quyền lực dựa trên nguyên tắc đối vốn. Mỗi cổ phiếu phổ thông có một phiếu biểu quyết và có thể trở thành cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu đãi: là một loại cổ phiếu có tính khác biệt với cổ phiếu phổ thông, loại này tạo cho người sở hữu một số quyền lợi cao hơn người sở hữu cổ phiếu phổ thông, đồng thời cũng phải chịu một số hạn chế khác. Thứ hai: Trái phiếu: là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu. Thứ ba: Chứng chỉ quỹ đầu tư: là loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ hoặc các quỹ đầu tư phát hành xác nhận quyền lợi của nhà đầu tư đối với quỹ phát hành. 2.Kinh doanh chứng khoán. Nói một cách khái quát, kinh doanh chứng khoán là loại hình hoạt động thương mại đặc biệt mà ở đó các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các chủ thể được phép kinh doanh chứng khoán tiến hành các nghiệp vụ về kinh doanh chứng khoán cho chính mình và cho khách hàng vì mục tiêu lợi nhuận tối đa. Theo quy định tại Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì: “Kinh doanh chứng khoán là việc thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu kí chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán”. Cụ thể: Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.  Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng. Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán. Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán. Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán là việc công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện quản lý theo uỷ thác của từng nhà đầu tư trong mua, bán, nắm giữ chứng khoán. Kinh doanh chứng khoán quyết định sự sôi động và hiệu quả của thị trường, mỗi loại chủ thể kinh doanh chứng khoán được phép tiến hành những hoạt động kinh doanh khác nhau. Nổi bật lên trong số các chủ thể đó là công ty chứng khoán với hoạt động tự doanh chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán. II.Những điểm giống và khác nhau giữa hoạt động tự doanh chứng khoán và hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán. 1.Những điểm giống nhau. a.Chủ thể Chủ thể tiến hành hai hoạt động này đều là các pháp nhân, mà cụ thể là các doanh nghiệp nên chúng đều có những đặc điểm chung của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo quy định tại Khoản 21 Điều 6 Luật chứng khoán năm 2006 thì chủ thể của hoạt động tự doanh chứng khoán chỉ có thể là công ty chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay tuy Luật chứng khoán không đưa ra định nghĩa về công ty chứng khoán song qua các quy định cụ thể trong Luật chứng khoán có thể khái quát định nghĩa về công ty chứng khoán như sau: “Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, hoạt động theo quy định của Luật chứng khoán và các quy định khác của pháp luật để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép do Ủy ban chứng khoán Nhà nước cấp: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Qua định nghĩa trên có thể thấy: công ty chứng khoán tại Việt Nam được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Do đó, nó đều là các pháp nhân. Công ty đầu tư chứng khoán là công ty được thành lập từ vốn góp của các nhà đầu tư và sử dụng số vốn góp đó để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Công ty đầu tư chứng khoán có thể huy động vốn thông qua việc tổ chức chào bán cổ phiếu riêng lẻ để thành lập công ty đầu tư chứng khoán phi đại chúng hoặc thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập công ty đầu tư chứng khoán đại chúng. Do đó, có thể thấy công ty đầu tư chứng khoán luôn được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Do đó, nó cũng là một pháp nhân có tổ chức bộ máy hoàn chỉnh. b.Chủ thể tiến hành hai hoạt động này có nhiều quyền và nghĩa vụ tương đồng. Xét về bản chất, hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán và hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán đều là việc mua vào, bán ra các loại chứng khoán nên khi thực hiện các hoạt động này, cả công ty chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đều có một số quyền và nghĩa vụ cơ bản sau: Với tư cách là bên mua chứng khoán: Quyền yêu cầu bên bán chứng khoán hoặc nhà môi giới chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán cho mình. Quyền năng này thường được thực hiện sau khi công ty chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đã hoàn thành nghĩa vụ chuyển giao tiền mua chứng khoán cho người bán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc chuyển giao chứng khoán trước khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán tiền mua chứng khoán. Đồng thời với quyền đó là nghĩa vụ thanh toán tiền mua chứng khoán cho bên bán. Với tư cách là người bán chứng khoán: Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán cho bên mua và quyền yêu cầu bên mua thanh toán tiền mua chứng khoán cho mình. c.Cả hai hoạt động này đều được diễn ra trên thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi chứng khoán. Tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán thực chất cũng là hoạt động công ty chứng khoán mua bán chứng khoán , giống như việc mua, bán chứng khoán của các công ty đầu tư chứng khoán. Do đó, cả hai hoạt động này đều phải được diễn ra trên thị trường chứng khoán. d.Cả hai hoạt động này đều có chung một loại hàng hóa đặc biệt, đó là chứng khoán. Hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán và hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán đều được thực hiện thông qua loại hàng hóa đặc biệt là chứng khoán. Tính đặc biệt của loại hàng hóa này được thể hiện thông qua các đặc điểm khác biệt so với các loại hàng hóa thông thường khác: Thứ nhất: Tính sinh lời: thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán một khoản lợi nhuận trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Lợi nhuận do chứng khoán mang lại có thể là cố định hoặc biến đổi tùy thuộc vào từng loại chứng khoán. Là một loại hàng hóa đặc biệt, chứng khoán tạo ra một khoản tiền lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà đầu tư đưa vào kinh doanh. Tính sinh lời của chứng khoán đã tạo nên sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán và là hình thức đầu tư được nhiều nhà đầu tư lựa chọn. Thứ hai: Tính rủi ro: bản chất của hoạt động đầu tư luôn tiềm ẩn trong nó những rủi ro. Việc kinh doanh chứng khoán là một hoạt động đầu tư để thu lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định. Mức độ rủi ro của chứng khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn, thực trạng, triển vọng của chủ thể phát hành. Tính rủi ro luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và khả năng thanh khoản của chứng khoán. Thứ ba: Chứng khoán có khả năng thanh khoản cao: có nghĩa là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt một cách dễ dàng của chứng khoán. Đây vừa là đặc điểm vừa là lợi thế của chứng khoán làm cho chứng khoán được lưu hành rộng rãi trên thị trường. Tính thanh khoản của chứng khoán xuất phát từ nhu cầu mua bán, sử hữu chứng khoán của các nhà đầu tư, thị trường chứng khoán. Điều này tạo thuận lợi cho người sở hữu chứng khoán khi không muốn nắm giữ chứng khoán, họ có thể bán cho người khác để thu tiền mặt hoặc chuyển một khoản đầu tư dài hạn thành ngắn hạn. Tính thanh khoản của chứng khoán tạo nên sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, góp phần làm cho thị trường chứng khoán trở nên sôi động. Thứ tư: Chứng khoán có tính không đồng nhất giữa mệnh giá thị giá: giá cả của chứng khoán không thể xác định bằng biện pháp thông thường như đối với hàng hóa, dịch vụ khác. Giá trị của chứng khoán có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào doanh nghiệp phát hành và thị trường. Việc định giá chúng phải căn cứ vào thực trạng và triển vọng của người phát hành, điều đó đòi hỏi phải có chuyên môn cao. e.Cả hai hoạt động này đều được các chủ thể tiến hành nhằm mục đích kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Các công ty chứng khoán và công ty đầu tư chứng khoán đều là các thương nhân, tiến hành các hoạt động kinh doanh và đầu tư chứng khoán nhằm mục đích để thu lợi nhuận. Đó là mục đích rõ ràng được thể hiện ngay từ khi các chủ thể này tiến hành đăng ký kinh doanh. f.Ngoài ra, hai hoạt động tự doanh chứng khoán và mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán còn một số đặc điểm chung như: Cả hai hoạt động này đều chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán và các văn bản có liên quan. Hai hoạt động này đều đặt dưới sự quản lý Nhà nước trực tiếp của cơ quan quản lý chính thức là Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Cả hai hoạt động này đều diễn ra các hoạt động chủ yếu là mua và bán chứng khoán trên thị trường. Nguồn vốn để tiến hành các hoạt động này đều là nguồn vốn, tài sản của chính công ty để thực hiện các hành vi mua và bán chứng khoán trên thị trường nhằm đem lại lợi nhuận cho mình. 2.Những điểm khác nhau. Xét về mặt hình thức, hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán có nhiều điểm giống với hoạt động mua, bán chứng khoán của người đầu tư trên thị trường chứng khoán nói chung và của công ty đầu tư chứng khoán nói riêng. Tuy nhiên, nếu xét về bản chất kinh tế và bản chất pháp lý thì hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán có rất nhiều điểm khác biệt so với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán. a.Về chủ thể tiến hành. Hoạt động tự doanh chứng khoán chỉ được tiến hành bởi một chủ thể duy nhất trên thị trường, đó là công ty chứng khoán. Còn hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán được tiến hành bởi các công ty đầu tư chứng khoán. Giữa hai chủ thể này có rất nhiều điểm khác biệt. Một là: Về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh Công ty chứng khoán là chủ thể kinh doanh trên thị trường chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh chứng khoán. Tại điều 60 Luật chứng khoán năm 2006 chỉ rõ: công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán dưới đây theo giấy phép được cấp: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Ủy ban chứng khoán Nhà nước chỉ cấp giấy phép hoạt động bảo lãnh phát hành khi công ty chứng khoán đã được phép hoạt động tự doanh. Công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ lưu ký chứng khoán khi được cấp giấy phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán hoặc tự doanh chứng khoán. Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh theo giấy phép được cấp, công ty chứng khoán được cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác. Đối với công ty đầu tư chứng khoán, nguồn vốn mà công ty huy động được sau khi thực hiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ hoặc chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ được sử dụng vào đầu tư chứng khoán, tức là không phải cung cấp các dịch vụ chứng khoán như công ty chứng khoán mà là bỏ vốn để mua các loại chứng khoán, hưởng cổ tức hoặc bán nếu thấy có lãi; ngoài ra, phần ít hơn, có thể đầu tư vào bất động sản. Hai là: Về hình thức tổ chức pháp lý. Công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (có thể là công ty đại chúng hoặc công ty phi đại chúng). b.Về điều kiện để tiến hành. Hoạt động tự doanh chứng khoán có bản chất kinh tế là nghề nghiệp kinh doanh đồng thời có bản chất pháp lý là hành vi thương mại. Hoạt động này luôn được thực hiện một cách thường xuyên, chuyên nghiệp bởi chủ thể kinh doanh là công ty chứng khoán. Do có bản chất là hoạt động kinh doanh đặc thù nên việc tự doanh chứng khoán phải được cấp giấy phép và đăng ký kinh doanh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Công ty chứng khoán phải thỏa mãn các điều kiện nhất định mới có thể tiến hành hoạt động tự doanh chứng khoán. Những điều kiện này cũng được quy định tương tự như đối với các loại hình hoạt động kinh doanh chứng khoán khác, ngoại trừ điều kiện về mức vốn pháp định tối thiểu phải là 100 tỉ đồng Việt Nam. Đối với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán: do đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh chủ yếu nhất của các công ty đầu tư chứng khoán ngay từ khi thành lập nên các công ty đầu tư chứng khoán chỉ cần có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thành lập công ty với số vốn pháp định là 50 tỉ đồng là có thể tiến hành các hoạt động mua, bán chứng khoán mà không cần phải được cấp giấy phép như hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán. c.Về cơ sở để tiến hành hoạt động. Hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán được thực hiện trên cơ sở trực tiếp kí kết các hợp đồng mua, bán chứng khoán với khách hàng hoặc đặt lệnh mua, bán trên thị trường cho các nhà môi giới chứng khoán thực hiện. Xét về bản chất, dù là thỏa thuận trực tiếp giữa công ty chứng khoán với khách hàng hay thỏa thuận gián tiếp thông qua các nhà môi giới là đại diện thì việc mua vào, bán ra chứng khoán của công ty chứng khoán tự doanh vẫn phải được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán chứng khoán. Hợp đồng mua bán chứng khoán tự doanh là thỏa thuận giữa công ty chứng khoán tự doanh với khách hàng về việc mua, bán các chứng khoán niêm yết và chứng khoán chưa niêm yết. Theo hợp đồng này, công ty chứng khoán tự doanh có thể trực tiếp tự mình thỏa thuận mua hoặc bán một số lượng chứng khoán nhất định với khách hàng hoặc gián tiếp thỏa thuận với khách hàng thông qua nhà môi giới chứng khoán là người đại diện mua hoặc đại diện bán. Đối với việc mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán thì chủ yếu được tiến hành thông qua hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ hoặc chào bán chứng khoán ra công chúng và hoạt động đặt lệnh mua chứng khoán trên thị trường. d.Về mục đích tiến hành hoạt động. Nói một cách cụ thể và đầy đủ thì hoạt động tự doanh chứng khoán thực chất là việc công ty chứng khoán tiến hành các hoạt động mua và bán chứng khoán cho chính mình, bằng nguồn vốn của mình và thu lợi nhuận cho mình trên thị trường chứng khoán. Đó có thể hiểu là hoạt động mua, bán chứng khoán thông thường nhằm mục đích thu lợi hoặc đôi khi nhằm mục đích can thiệp điều tiết giá trên thị trường. Việc mua chứng khoán thường được tiến hành khi giá chứng khoán đang ở mức thấp và khi giá chứng khoán lên cao, công ty chứng khoán đánh giá là có lãi thì sẽ tiến hành bán chứng khoán. Lợi nhuận ở đây chủ yếu là khoản chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán. Hay nói cách khác, hoạt động tự doanh chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán. Chứng khoán ở đây là một loại hàng hóa. Đối với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán, tuy các hoạt động mua, bán chứng khoán cũng được công ty đầu tư chứng khoán thực hiện cho chính mình, bằng nguồn vốn của mình và thu lợi nhuận cho mình trên thị trường chứng khoán nhưng đó không đơn thuần là hoạt động mua, bán chứng khoán thông thường mà đó là một hoạt động đầu tư: công ty đầu tư chứng khoán bỏ vốn ra để mua chứng khoán, không phải cứ thấy sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán là tiến hành bán chứng khoán để thu lợi nhuận mà lợi nhuận công ty đầu tư chứng khoán hướng đến chính là các khoản lợi tức thu được từ chứng khoán. Chính vì thế, về bản chất đây là hai hoạt động khác nhau. Khoản thu từ lợi nhuận của hai hoạt động này là khác nhau. Một bên là khoản chênh lệnh giữa giá mua và giá bán chứng khoán một bên là lợi tức phát sinh từ khoản đầu tư chứng khoán. e.Về thời gian tiến hành hoạt động mua, bán chứng khoán. Hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán hướng đến tìm kiếm lợi nhuận từ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán, do đó thời gian công ty chứng khoán giữ chứng khoán đã mua thường là không dài, khi thấy có lãi công ty sẽ tiến hành bán chứng khoán. Đối với công ty đầu tư chứng khoán, thực chất việc mua chứng khoán là một hoạt động đầu tư, do đó khi đã mua chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán sẽ đi cùng doanh nghiệp để hưởng lợi tức, việc bán chứng khoán chỉ được tiến hành sau một khoảng thời gian tương đối dài. f.Về các hạn chế đối với hoạt động tự doanh chứng khoán và hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán. Theo Điều 20 Quy chế hoạt động của tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán số 55/2004/QĐ-BTC quy định về hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán thì khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh , công ty chứng khoán không được: + Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán + Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán + Đầu tư quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết + Đầu tư quá 15% số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết Đối với công ty đầu tư chứng khoán, khi thực hiện việc mua, bán chứng khoán phải chấp hành các quy định được quy định tại Nghị định 14/2007/NĐ-CP như sau: Công ty đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ chỉ được chào bán cổ phiếu cho tối đa 99 nhà đầu tư, trong đó nhà đầu tư có tổ chức phải đầu tư tối thiểu 3 tỷ đồng và cá nhân đầu tư tối thiểu 1 tỷ đồng. Công ty đầu tư chứng khoán phát hành riêng lẻ không phải tuân thủ các quy định về hạn chế đầu tư như công ty đầu tư chứng khoán đại chúng quy định tại Điều 92 Luật Chứng khoán. - Công ty đầu tư chứng khoán đại chúng phải tuân thủ các quy định về hạn chế đầu tư chứng khoán tại Điều 92 Luật chứng khoán. Khi thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán không được: Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó hoặc của một quỹ đầu tư khác; Đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá 15% tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó; Đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành; Đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất động sản; đầu tư vốn của quỹ mở vào bất động sản; Đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau III.Ý nghĩa của việc so sách hoạt động tự doanh chứng khoán và mua bán chứng khoán của công ty chứng khoán. 1.Giúp nhà đầu tư lựa chọn loại hình hoạt động phù hợp Thực hiện quá trình cải cách nền kinh tế, Việt Nam đã và đang từng ngày chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Qua mấy năm vận hành, các bộ phận thị trường chứng khoán Việt Nam đã tạo ra diện mạo mới cả về hàng hóa, tính đa dạng của hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường còn non trẻ, không tuân theo quy luật, mà tình trạng này được báo giới gọi là “thị trường chứng khoán Việt Nam lình xình”. Đồng thời, thị trường chứng khoán có chức năng là “kênh dẫn vốn cho nền kinh tế”, với giới đầu tư đó là một kênh đầu tư hiệu quả nếu đánh giá được thị trường. Chính vì vậy, việc nghiên cứu bất kì một vấn đề nào liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán đều đem lại những ý nghĩa nhất định mà cơ bản là tăng tầm hiểu biết về vấn đề cần quan tâm. Việc so sánh hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán và hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán cũng vậy. Việc so sánh chúng giúp nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hình đầu tư nào là phù hợp, loại hình kinh doanh nào là phù hợp với mình nhất. Loại hình kinh doanh chứng khoán với việc lựa chọn thành lập công ty chứng khoán để hoạt động tự doanh chứng khoán hay là thành lập công ty đầu tư chứng khoán với việc mua, bán chứng khoán để đầu tư chứng khoán. 2.Giúp nhà nước quản lý thị trường chứng khoán hiệu quả Việc so sánh hai loại hình hoạt động này cho thấy có sự khác nhau về mục đích và cách thức thực hiện việc mua, bán chứng khoán. Cùng là hoạt động mau bán nhưng mà hai loại hình này có sự tác động khác nhau đến thị trường chứng khoán. Nhà nước cần có sự phân biệt để có những chính sánh hợp lý với từng hoạt động. Bởi lẽ một môi trường pháp luật điều chỉnh sẽ xác định một cách rõ ràng trách nhiềm, nghĩa vụ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường, tạo điều kiện cho thị trường hoạt động hiệu quả, ổn định và pháp triển bền vững. ngược lại hệ thống pháp luật ko đầy đủ, đồng bộ, không phủ hợp với môi trường kinh tế, nhiều kẽ hở sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh doanh không hợp pháp phát sinh. Vì thế, mỗi một loại hình cần có những chính sách điều tiết khác nhau. Hoạt động tự doanh hiện nay đươc xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các công ty chứng khoán tại Việt Nam trong việc nâng cao lợi nhuận . Nhưng đây cũng là lĩnh vực có thể có khả năng can thiệp điều tiết thị trường chứng khoán. Nên việc điều chỉnh và quản lý của nhà nước đối với hoạt động này chặt chẽ hơn so với hoạt động mua bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán. buộc các chủ thể kinh doanh phải tuân thủ, các quy định này được ban hành nhằm mục đích: Bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân Đảm bảo thị trường hoạt động trôi chảy và hiệu quả Ngăn chặn các hoạt động tiêu cực trên thị trường chứng khoán Giảm thiểu sự tác động tiêu cực của thị trường chứng khoáng đến các hoạt động của nền kinh tế. Chính vì thế, luật chứng khoán quy định: Trong thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải chấp hành các quy định sau: Phải đảm bảo có đủ tiền và chứng khoán để thanh toán các lệnh giao dịch cho tài khoản của chính mình. Phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của chính mình. Phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trong giao dịch trực tiếp với khách hàng và không được thu phí giao dịch của khách hàng trong trường hợp này. Trong trường hợp lệnh mua, bán của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá trị của loại chứng khoán đó, công ty chứng khoán không được mua, bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua, bán chứng khoán đó. Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua, bán cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện. Các quy định của pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán nên có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chứng khoán. Bên cạnh sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực chứng khoáng và thị trường chứng khoán, tự doanh chứng khoán còn chịu sự chi phối của hàng loạt cơ chế, chính sách khác, đặc biệt là các chính sách tài chính liên quan như thuế, phí, lệ phí… các chính sách này sẽ tác động trực tiếp đến kết quả , hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp qua đó có tác động kích thích hoặc kìm hãm các hoạt động tự doanh chứng khoán pháp triển. KẾT LUẬN Ta thấy hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán thực chất cũng là hoạt động công ty chứng khoán mua bán chứng khoán, giống như việc mua, bán chứng khoán của các công ty đầu tư chứng khoán. Vì vậy, rất có thể hiểu nhầm hai hoạt động này là một nếu chỉ nhìn vào hoạt động cơ học diễn ra. Vì vậy, việc so sánh mà phần lớn là chỉ ra sự khác biệt giữa hai hoạt động này giúp nhận diện chúng được dễ dàng hơn. Trên là bài viết cả nhóm em về so sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán. Tất nhiên, dưới cái nhìn còn non trẻ nên không thể trình bày hoàn toàn thấu đáo được vấn đề, nhóm em mong sẽ nhận được những lời nhận xét, góp ý từ các thầy cô. Nhóm em xin trân thành cảm ơn. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Luật chứng khoán, trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công An nhân dân 2008; Lê Thị Thu Huyền “Hoàn thiện pháp luật về quĩ đầu tư chứng khoán và công ti đầu tư chứng khoán ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học 2007; Bùi Doãn Đức, “Pháp luật hợp đồng mua bán chứng khoán những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khoá luận tốt nghiệp, 2004 Trần Thị Thanh Thảo “Pháp luật Việt Nam hiện hành về công ty chứng khoán - thực trạng và phương hướng, giải pháp hoàn thiện” Luận văn thạc sĩ luật học”, 2001; Đoàn Quốc Hùng, “Pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán - thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ luật học; Nguyễn Bảo Giang ,“Công ty chứng khoán theo pháp luật Việt Nam” Luận văn thạc sĩ luật học, 2005; Lê Anh Đức “Pháp luật Việt Nam về công ty chứng khoán thực trạng và hướng hoàn thiện “ Khoá luận tốt nghiệp, 2006; TH.S Trần Vũ Hải “Một số vấn đề pháp lí về công ti đầu tư chứng khoán”, Tạp chí luật học số 8/2006. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docSo sánh hoạt động tự doanh chứng khoán với hoạt động mua, bán chứng khoán của công ty đầu tư chứng khoán.doc