Tác động của công ty đa quốc gia đối với nền kinh tế- Vấn đề chuyển dịch công ty

Ngày 10 tháng 5 năm 2002, tại đại hội cổ đông thường niên, các cổ đông được yêu cầu bỏ phiếu biểu quyết để thông qua k ếhoạch Inversion. Tuy nhiên, nhiều nỗi lo ngại đã nảy sinh do những rối rắm dễ gây nhầm lẫn trong các hướng dẫn biểu quyết và khiến cho kế hoạch không được thông qua. Thực tế, dưạvào bảng thống kê cho thấy đã có 67,8% cổ đông tán thành, nhưng kết quả này bị Luật sư Richard Blumenthal của Connecticut và Treasurer Denise Nappier, cùng với các nhà lãnh đạo công đoàn huỷ do, do việc công bố thông tin không rõ ràng dẫn đến việc bỏ phiếu sai lạc. Hơn nữa họ còn cáo buộc các nhà lãnh đạo của Stanley đã không đưa ra thông tin trung thực để nhà đầu tư tính toán chi phí của quá trình này.

pdf75 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 16/12/2013 | Lượt xem: 1927 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động của công ty đa quốc gia đối với nền kinh tế- Vấn đề chuyển dịch công ty, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c trao đổi này. Tất nhiên chuyển dịch phải có lợi ích hơn đó là loại bỏ nghĩa vụ thuế tại Mỹ đánh trên thu nhập tích lũy của McDermott International khi nó còn là công ty thuộc quyền kiểm soát ở nước ngoài (CFC)6. Nếu không có sự chuyển dịch, các khoản thu nhập tích lũy này sẽ bị đánh thuế tại McDermott như đánh trên cổ tức khi bán cổ phiếu hay thanh lý McDermott International theo mục 1248.7 Kể từ đó, về hình thức thì McDermott đã không chuyển nhượng cổ phiếu mà mục 1248 quy định, nhưng thu nhập tích lũy thu được từ giao dịch này loại bỏ nghĩa vụ thuế tại Mỹ một cách hiệu quả. 5Subpart F là thu nhập do một công ty thuộc quyền kiểm soát nằm ở nước ngoài (CFC) tạo ra và nguồn thu này công ty mẹ được chủ yếu thông qua quyền sở hữu tài sản, không phải thông qua hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ. 6Sau cuộc chuyển dịch, McDermott chỉ còn sở hữu khoảng 10% cổ phiếu của McDermott International, trong khi trước đây các cổ đông của McDermott sỡ hữu khoảng 90%. 7Trừ khi có chỉ định khác, còn không thì tất cả tài liệu tham khảo phần này đều từ Bộ Luật Thuế năm 1986 đã được sửa đổi. 45 Sau đó, năm 1994, một công ty khác đã phát hiện ra cách thức hiệu quả hơn, đó là dịch chuyển công ty ra nước ngoài của Helen of Troy – công ty chuyên cung cấp những sản phẩm làm đẹp, đặt trụ sở tại Texas. Đây là làn sóng hiện đại đầu tiên của chuyển dịch ra nước ngoài và được xem là một sự chuyển dịch “thuần túy” được Helen tiên phong thực hiện với mong đợi làm gia tăng giá trị các cổ đông. Để thực hiện chuyển dịch, các cổ đông của công ty Helen of Troy ở Mỹ trao đổi cổ phần của họ với Helen of Troy Limited, công ty mới thành lập ở Bermuda. Sau khi thực hiện cuộc chuyển dịch, công ty Helen of Troy có những sự thay đổi sau: (i) Helen of Troy Bermuda đã gộp cổ phiếu của nó với Helen of Troy Mỹ trong công ty Barbados để nhận lợi ích từ hiệp ước thuế US - Barbados đối với các khoản thanh toán cổ tức hay tiền lãi xuất phát từ Helen of Troy ở Mỹ. (ii) Helen of Troy Mỹ đã chuyển dịch hiệu quả các hoạt động của công ty con ở nước ngoài của nó đến Helen of Troy Bermuda với mục đích các công ty này không còn là công ty thuộc quyền kiểm soát nằm ở nước ngoài (CFCs) của nó nữa. (iii) Henlen of Troy có lẽ dự định chuyển dịch tất cả các khoản thu được và các khoản đầu tư sang Helen of Troy Bermuda. Rõ ràng giao dịch chuyển đổi này được thực hiện để các cổ đông của công ty sau khi thực hiện chuyển dịch không phải chịu thuế. IRSđã phản ứng nhanh chóng đối với sự chuyển dịch của Helen. Đặc biệt, chuyển dịch này liên quan đến việc “các công ty đa quốc gia ở Mỹ gần đây đã thực hiện tái cơ cầu nhằm mục đích thuế” và “sự chuyển dịch này, hoặc là các giao dịch liên quan, thực hiện đúng theo như hình thức tái cơ cấu, đều là cơ hội để tránh thuế ở Mỹ.”8 Một lần nữa cơ quan thuế IRS quy định đây là một trường hợp chịu thuế “nếu công ty chuyển nhượng mang quốc tịch Mỹ sỡ hữu bằng 8Cục thuế đã ban hành Thông tư 94 – 46 về việc công bố sửa đổi một số quy định theo Mục 367 (a). 46 hoặc hơn 50% quyền biểu quyết của công ty thụ hưởng nước ngoài ngay sau khi trao đổi”9. Mức thuế cho cổ đông này dường như đã ngăn chặn một cách hiệu quả cho đến năm 1998 – 1999, khi bắt đầu xuất hiện làn sóng mới của trường hợp chuyển dịch ra nước ngoài. Làn sóng thứ ba là kết quả của việc tái thành lập công ty ra nước ngoài của 17 công ty đa quốc Mỹ, điển hình như Tyco và Ingersoll - Rand, và cuối cùng đã dừng lại bởi nguy cơ chống đối sắp tới của pháp luật về việc chuyển dịch công ty ra nước ngoài mà những chính sách pháp luật này không dễ dàng được dự đoán trước. Giữa năm 2002 việc từ bỏ ý định chuyển dịch của Stanley Works, thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng về chuyển dịch. Các biện pháp chống lại chuyển dịch đã được đề xuất, một số biện pháp đã có hiệu lực trước đó. Những đề xuất này đã đủ để ngăn chặn các giao dịch chuyển đổi vào thời điểm này. Còn nhiều đề xuất lập pháp khác nhau chưa được cụ thể hóa vào biện pháp quản lý cuối cùng, mặc dù việc áp dụng luật pháp có khả năng đối phó với hiện tượng chuyển dịch một cách trực tiếp hay thông qua các phương diện khác. 2.1.3. Động cơ thúc đẩy thực hiện chuyển dịch công ty Giảm gánh nặng về thuế của các công ty đa quốc gia Xem xét hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho thấy các công ty ở Mỹ đang thực hiện (hoặc ít nhất là xem xét thực hiện) chuyển dịch với mục đích chủ yếu là tiết kiệm thuế. Điều “thu hút” đặc biệt của sự chuyển dịch đó là nó cho phép công ty tiết kiệm thuế đáng kể mà không cần thay đổi báo cáo hoạt động hay báo cáo tài chính. Các mục đích thuế đặc biệt của việc chuyển dịch là: (1) Giảm thiểu trách nhiệm pháp lý của thuế đánh trên nguồn thu nhập nước ngoài. (2) Giảm nghĩa vụ thuế đánh trên nguồn thu nhập trong nước Mỹ. 9Mục 367 (a) của Thông tư 94 – 46. 47 Trong trường hợp thực hiện chuyển dịch vì hai mục đích trên, chỉ đơn thuần là các công ty muốn làm giảm chi phí, như bất kỳ một công ty lợi nhuận nào, và tự đặt mình vào một “sân chơi” bình đẳng với các đối thủ cạnh tranh của họ. Theo nhận xét của Bộ Tài chính, “Các quy định thuế quốc tế của Mỹ tạo gánh nặng về thuế cho các công ty có trụ sở tại Mỹ so với các công ty ở nước ngoài. Những điều luật này góp phần tạo nên bất lợi cạnh tranh cho các công ty Mỹ khi hoạt động trong thị trường toàn cầu.” Các công ty đa quốc gia ở Mỹ có thể có đối thủ cạnh tranh từ các khu vực Châu Âu vì có hệ thống thuế thấp hơn ở Mỹ. Ví dụ, các đối thủ cạnh tranh có trụ sở tại Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ và Pháp, và gần đây nhất là ở Anh, có một số trường hợp là đầu tư vào công ty con ở nước ngoài, và chúng chỉ nộp thuế trong các quốc gia mà chúng đầu tư và không phải trả thuế (hoặc rất ít) trên các khoản thu nhập từ nước ngoài chuyển về nước. Còn đối với các công ty đa quốc gia ở Mỹ thì bị đánh thuế trên thu nhập toàn cầu, nhưng không bị tính thuế hai lần thông qua khoản tín dụng thuế nước ngoài. Những khoản tín dụng thuế này được sử dụng để bù trừ vào nghĩa vụ thuế ở Mỹ - phần thuế bị Mỹ đánh trên nguồn thu từ nước ngoài. Do đó, có thể thấy rằng nếu thuế suất ở nước ngoài cao hơn Mỹ thì sẽ có lợi cho các công ty ở Mỹ về tính cạnh tranh, nhưng nếu thấp hơn, các công ty này phải gánh thêm một nghĩa vụ thuế trên phần thu nhập chuyển về nước. Theo thống kê hiện nay, Mỹ là nước có mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp cao so với hầu hết các quốc gia trên thế giới: 39,21% (2010), đứng thứ 2 trong 10 nước có thuế thu nhập cao nhất năm 2010 (sau Nhật Bản) do Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) xếp hạng. Do đó, quy định về khoản tín dụng thuế nước ngoài của Luật thuế Mỹ hầu như không thể xóa bỏ được bất lợi trong việc phải chịu thuế thu nhập nước ngoài của các công ty đa quốc gia ở Mỹ. Chính sách ưu đãi thuế của các quốc gia 48 Trong khi thuế suất của Mỹ rất cao so với các quốc gia và luật thuế của nó còn quy định đánh thuế thu nhập toàn cầu, thì ở một số nước khác có chính sách thuế ưu đãi hơn cho các công ty đa quốc gia trong nước khi không đánh thuế thu nhập trên các khoản thu nhập phát sinh từ nước ngoài và thậm chí một số quốc gia không hề đánh thuế thu nhập doanh nghiệp trong nước (nghĩa là thuế suất 0%) như Bermuda, Bahamas, Islands,...Nhờ lợi thế về thuế nên tại đây có rất nhiều công ty đa quốc gia được thành lập để đầu tư ra nước ngoài. Không những thế, sự khác biệt về mức thuế suất cũng như luật thuế ưu đãi tại các quốc gia này đã khiến nhiều công ty đa quốc gia ở Mỹ tìm cách chuyển dịch công ty ra nước ngoài, thay đổi quốc tịch sang các quốc gia có thuế suất thấp hơn, tiêu biểu là các quốc gia như Bermuda (0%), nhằm mục đích tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của mình tại Mỹ và giảm bớt những bất lợi về thuế. Do đó, những nước có luật thuế tương tự như Bermuda trở thành nơi để các công ty đa quốc gia lợi dụng để tránh thuế, chúng được gọi với cái tên là “các thiên đường thuế”. 2.1.4. Cách thức thực hiện Bởi vì yếu tố cốt lõi của giao dịch chuyển đổi là thiết lập công ty mẹ trở thành một công ty nước ngoài, cho nên bước đầu tiên là phải tìm một công ty nước ngoài thay thế cho công ty mẹ hiện hữu tại Mỹ. Việc thay thế này có thể thực hiện dưới nhiều loại hình thức. Các hình thức giao dịch chuyển đổi không chỉ có thể tác động trực tiếp đến đặc tính thuế, mà còn tác động đến công ty vàviệc công bố thông tin, chúng phải được tiến hành theo thứ tự để giao dịch có thể được thực hiện. Cần nhấn mạnh ngay từ đầu rằng bản thân giao dịch chuyển đổi thường không thực hiện theo mục đích mà chuyển dịch công ty được thực hiện. Thay vào đó, nó chỉ thiết lập khuôn khổ để theo đó các giao dịch có liên quan khác được thực hiện (như chuyển giao tài sản và cổ phần, tái cấp vốn, phát 49 hành nợ, thành lập công ty con mới, vv). Các giao dịch có liên quan này, thông thường được xem như là một phần của chuyển dịch công ty. Tuy nhiên, hình thức của giao dịch ban đầu rất quan trọng với một số lý do. Đầu tiên, nó đặt ra các điều khoản mà giao dịch ban đầu sẽ bị đánh thuế, từ đó xác định xem công ty và các cổ đông khi thực hiện chuyển dịch sẽ cần phải trả các chi phí thuế đó trước hay không và trả ở chừng mực nào. Thứ hai, nó có thể ảnh hưởng đến bản chất việc công ty công bố thông tin và các thủ tục cần thiết để công ty thực hiện chuyển dịch. Cuối cùng nó tạo ra một cấu trúc công ty mới cấp cao nhất, không chỉ làm thay đổi đáng kể cấu trúc thuế của doanh nghiệp, mà còn thay đổi cả hệ thống doanh nghiệp và cơ cấu kiểm soát của nó. Các hình thức chủ yếu của việc chuyển dịch, đó là “share inversion” (chuyển dịch cổ phần), thường được thực hiện bởi việc sáp nhập 3 bên, và “asset inversion” (chuyển dịch tài sản), thường là thực hiện chuyển giao tài sản để thành lập một công ty mới. Ngoài ra, có thể kết hợp chuyển dịch cổ phần và tài sản để đạt được cấu trúc cấp cao nhất mà công ty mong muốn. Ba hình thức này được mô tả chi tiết như sau: “Share Inversion” thông qua việc mua lại cổ phiếu của công ty mẹ hiện hữu ở Mỹ. Mục đích của hình thức này là thiết lập một công ty nước ngoài mới (Newco), và trở thành công ty mẹ thay thế cho công ty mẹ hiện hữu ở Mỹ (USco)10. Theo hình thức đơn giản nhất, giao dịch này có thể thực hiện bằng cách các cổ đông USco trao đổi tất cả các cổ phiếu của họ với các cổ phần của Bermudaco – gọi là hình thức tái cơ cấu cổ điển “B”.Để thực hiện hình thức này đòi hỏi phải 80% cổ phần của USco trở lên được trao đổi và chỉ trao đổi duy nhất với cổ phiếu có quyền biểu quyết của Bermudaco. Để 10Ngoài thay đổi trong cơ cấu doanh nghiệp, có thể gồm cả việc chuyển nhượng giữa các công ty (lower-tier) nhỏ hoặc là thay đổi quyền hạn trong nội bộ của các công ty nhỏ nếu xét chúng cần thiết trong việc chuyển dịch của công ty mẹ. 50 đạt được một sự trao đổi như vậy, đối với cổ phiếu của công ty đạichúng thường rất khó khăn, có khi là không thể thực hiện được, vì nó yêu cầu các cổ đông phải đấu giá cổ phần của mình để thực hiện trao đổi. Do đó, nếu trường hợp chỉ có một số ít trong số các cổ đông đồng ý thực hiện giao dịch thì thủ tục đơn giản này dường như là không khả thi. Thay vào đó là thực hiện sáp nhập ba bên, thường được biết đến như cuộc sáp nhập “triangular” hay là sáp nhập “reverse triangular”, và được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch tái tổ chức và mua lại khác tại Mỹ. Hình thức sáp nhập “reverse triangular” là trường hợp công ty con của Bermudaco sáp nhập vào USco, cổ phiếu của công ty con này chuyển thành cổ phiếu của USco.Tương tự như kết quả của một cuộc sáp nhập, là USco sẽ trở thành công ty con thuộc sỡ hữu hoàn toàn của Bermudaco và các cổ đông của USco sẽ nhận lại cổ phiếu của Bermudaco. Lợi thế của việc sáp nhập này là USco không có bất kỳ thay đổi trong công ty hiện hữu của nó. Cũng giống như hình thức tái cấu trúc “B”, đòi hỏi phải sử dụng cổ phiếu biểu quyết của Bermudaco để có được quyền kiểm soát USco. Nhưng USco SUB Cổ đông USco Sơ đồ sáp nhập “reverse triangular” Cổ phiếu Bermuda co Bermu daco Sáp nhập USco Bermu daco Cổ đông Bermudaco (Cổ đông cũ của USco) Sau khi thực hiện giao dịch 51 nhờ cuộc sáp nhập của công ty con mà các cổ đông cũ của USco xem như cũng đã trao đổi cổ phiếu của nó với cổ phiếu có biểu quyết của Bermudaco, và cuộc chuyển dịch cũng khả thi. Hầu hết các báo cáo về chuyển dịch cổ phần là thực hiện theo hình thức sáp nhập “reverse triangular”.11 Chuyển dịch tài sản Nếu hình thức chuyển dịch cổ phần làm thay đổi cơ cấu công ty bằng cách tìm một công ty nước ngoài thay vào vị trí của công ty hiện hữu ở Mỹ, thì ngược lại hình thức chuyển dịch tài sản là hình thức tái cơ cấu công ty hoàn toàn bằng việc loại bỏ công ty mẹ cũ tại Mỹ (USco) và thay thế nó với một công ty mẹ nước ngoài mới (Bermudaco). Các công ty nước ngoài được USco kiểm soát trực tiếp trong cùng một hệ thống trước khi chuyển dịch gọi là những công ty thuộc quyền kiểm soát nằm ở nước ngoài (CFCs), do đó tạo ra trách nhiệm thuế cho USco đối với một số loại thu nhập thụ động chắc chắn hoặc thu nhập Subpart F khi chúng được chuyển về nước.Nhưng khi USco được chuyển đổi thành công ty nước ngoài,thì các công ty CFC của nó cũng được chuyển đổi, và nhờ đó loại bỏ mọi trách nhiệm thuế mà USco phải gánh chịu12. Theo mục đích quy định của công ty, chuyển đổi tài sản thường được thực hiện như một cuộc tái thành lập công ty theo hai bước. Đầu tiên, USco thực hiện tái thành lập công ty sang một quốc gia cóluật doanh nghiệp không yêu cầu phải 100% cổ đông chấp thuận;và sau đó nóduy trì hoạt động ở quốc gia đó hoặc là lại tái thành lập công ty theo đạo luật ở nước ngoài. Bước thứ hai của giao dịch có thể được thực hiện thuận lợi 11Chuyển dịch cổ phần bao gồm Helen of Troy (báo cáo 05/01/1994), Công ty năng lượng Triton (báo cáo 23/02/1996), Fruit of the Loom (báo cáo 15/10/1998), Everest Group Re (báo cáo tháng 1/2000), Nabors Industries (báo cáo 22/03/2002), Weatherford Industries (báo cáo 05/04/2002). 12Công ty mẹ mới ở nước ngoài được tổ chức công khai, điều này tạo điệu kiện để tránh tình trạng các cổ đông của nó được cho là cổ đông CFC. 52 nếu đạo luậtcủa quốc gia đó có thủ tục cho phép việc công ty nước ngoài tái thành lập sang. Bermuda, “cảng đậu” ưa thích của nhiều công ty chuyển dịch, có quy định điều lệ như vậy. Do đó, USco đã chuyển dịch thành công ty Bermudaco, công ty mẹ mới ở Bermuda, và cổ phiếu hiện hành của USco tự động chuyển đổi thành cổ phiếu của Bermudaco. Công ty mẹ nước ngoài mới (Bermudaco) mua lại tất cả tài sản của USco, và chúng được chuyển giao theo giá thị trường của những tài sản này. Do đó, sự chuyển dịch tài sản ra nước ngoài này hoàn toàn bị đánh thuế lên công ty USco. Nếu Usco sỡ hữu các các công ty thuộc quyền kiểm soát ở nước ngoài (CFCs), các công ty này cũng phải chịu thuế đánh trên thu nhập cổ tức tương tự nhưkhi bán cổ phiếu. Chi phí thuế cao có thể làm việc chuyển dịch tài sản không thể thực hiện trong trường hợp không có đặc tính thuế bù trừ. Khi USco được áp dụng thuộc tính thuế bù trừ - USco CFCs Bermudaco Bermudaco CFCs Cổ đông USco Tất cả tài sản của USco Cổ phiếu Bermudac o Cổ đông Bermudaco Sau khi thực hiện giao dịch Trước khi giao dịch Sơ đồ chuyển dịch tài sản 53 chẳng hạn như các khoản lỗ hoạt động ròng hay vượt quá các khoản thuế tín dụng nước ngoài – thì chi phí thuế có thể được giảm thiểu. Bởi vì phải chịu các khoản chi phí, nên chuyển dịch tài sản hiếm khi được chọn như một hình thức tái cơ cấu công ty. Không có gì ngạc nhiên khi một số công ty thực hiện chuyển đổi bằng cách sử dụng cấu trúc này – White Mountain và Xoma – chọn cấu trúc này kể từ khi chi phí thuế phát sinh thuế là tối thiểu hoặc không chịu thuế thông qua việc sử dụng các thuộc tính thuế bù trừ. Tóm lại, đối với hình thức chuyển dịch cổ phiếu, các cổ đông của USclà người chịu thuế khi thực hiện trao đổi cổ phiếu. Lợi ích thuế trong chuyển dịch là sự chênh lệch giữa giá trị thị trường của cổ phiếu và … Còn đối với hình thức chuyển dịch tài sản, thì chính công ty có nghĩa vụ chịu thuế chứ không phải các cổ đông. Và lợi ích của hình thức này là chêch lệch giữa giá thị trường của tài sản và…Các công ty sẽ phải đánh giá ảnh hưởng tài chính của các hình thức thực hiệntrước khi họ quyết định chuyển dịch công ty. Chuyển dịch kết hợp Chuyển dịch kết hợp tập hợp các yếu tố của cả chuyển dịch cổ phần và chuyển dịch tài sản. Mục đích là để kết hợp các giao dịch khác nhau để giảm thiểu chi phí về thuế tổng thể trong khi vẫn đạt được hiệu quả thuế tối ưu. Bước đầu tiên của giao dịch là xây dựng một cấu trúc về căn bản tương tự như chuyển dịch tài sản. Công ty mẹ (USco) thực hiện tái thành lập trong quyền hạn pháp lý ở Mỹ cho phép tái thành lập công ty ở Mỹ ra nước ngoài mà không cần các cổ đông nhất trí tán thành, và sau đó được duy trì hoạt động bởi công ty mới thành lập ở nước ngoài (ví dụ như là Bermudaco) theo quyền hạn pháp lý nước ngoài. Bước thứ hai của giao dịch bao gồm chuyển dịch các tài sản nhất định được coi là nhận được từ Bermudaco đến một một công ty con mới được thành lập ở Mỹ (USnewsub) để đổi lấy cổ phiếu của Usnewsub. Việc lựa chọn tái chuyển giao tài sản cho USnewsub phụ thuộc vào sự kết hợp tổng thể của các tài sản 54 được tổ chức ban đầu bởi USco, sự tăng giá của tài sản và hiệu lực của các thuộc tính thuế để có thể bù trừ việc tăng giá trị của tài sản. Tài sản mà không tạo ra khoản tăng thêm đáng kể (built-in gain) (ví dụ như gần đây đã mua các chi nhánh nước ngoài, các công cụ tài chính) nói chung sẽ được giữ lại bởi Bermudaco. Ngược lại, tài sản tăng giá và tài sản ở Mỹ sẽ chuyển giao lại cho USnewsub. Giao dịch tổng thể được xem như gồm hai yếu tố: (a) chuyển giao ra nước ngoài toàn bộ tài sản của Usco cho Bermudaco, ngoại trừ những tài sản tái chuyển đổi cho Usnewsub, và (b) chuyển giao cổ phiếu trong nước ra nước ngoài một cách gián tiếp bởi các cổ đông của Usco – cổ phiếu của Usnewsub như một sự kế thừa riêng của Usco – trong phạm vi của tài sản tái chuyển đổi từ Bermudaco sang Usnewsub. Do đó, giao dịch làm phát sinh thuếlên cả cổ đông và công ty mẹ ở Mỹ. Tài sản giữ lại ở Bermudaco (công ty mẹ mới) được coi là đã chuyển giao cùng với tài sản chuyển giao ra nước ngoài, được công nhận bởi Usco (công ty mẹ cũ ở Mỹ). Các phần khác của giao dịch – như là trao đổi cổ phiếu bởi cổ đông ở Mỹ trong phạm vi tài sản được tái chuyển giao đến Usnewsub (công ty con mới thành lập ở Mỹ), phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các cổ đông. Kết quả là mức thuế doanh nghiệp có thể được giảm thiểu bằng cách hạn chế các tài sản có hiệu quả chuyển giao đến Bermudaco mà chỉ là các tài sản không tạo ra lợi nhuận đáng kể và sử dụng các đặc tính thuế bù trừ. Thuế đánh trên cổ đông có thể được giảm đến mức chỉ bao gồm các nhà đầu tư miễn thuế hay giá cổ phiếu phản ánh cả thua lỗ bên trong. Do chi phí thuế đánh trên cả cổ đông và doanh nghiệp, cùng với độ phức tạp của các kế hoạch thuế được thiết kế để tối thiểu hóa chi phí, nên chuyển dịch kết hợp là hình thức tương đối hiếm khi sử dụng để tái cơ cấu công ty ra nước ngoài. 2.1.5. Sự phát triển của chuyển dịch công ty trong những năm vừa qua Theo như Báo cáo của Bộ Tài chính ghi nhận “xuất hiện một sự gia tăng nỗi bật gần đây về quy mô, tốc độ và thông tin của các cuộc chuyển đổi công ty”. Trong năm 1999, 55 có hơn 6 công ty chuyển dịch, tiếp theo thêm 2 công ty chuyển dịch vào năm 2000, và 4 công ty trong năm 2001. Sau đó, có một thời gian tạm lắng sau sự kiện ngày 11/9, nhưng sang năm 2002 đang có ít nhất ba công ty dự định thực hiện chuyển dịch đã được công bố (Stanley Works, NaBors, Weatherford International). Tuy nhiên, bên cạnh đó, sau sự kiện ngày 11/9, cùng với mối quan tâm của cộng đồng và sự phản đối gay gắt của Chính Phủ, đã có 7 dự án luật đưa ra đang chờ xử lý trong Quốc Hội để ngăn chặn sự chuyển dịch. Cho đến năm 2009, có 10 doanh nghiệp lớn đã chuyển dịch trụ sở ra nước ngoài để giảm bớt gánh nặng về thuế:  Halliburton: công ty thuộc lĩnh vực Công nghệ và Dịch vụ Dầu khí, đã công bố việc mở một trụ sở công ty tại United Arab Emirates của Dubai vào ngày 12 tháng 3 năm 2007. Công ty cho biết sự chuyển dịch của nó là một phần trong chiến lược tập trung nguồn lực ở Trung Đông để thu hút kinh doanh được công bố năm 2006.  Accenture: là một công ty tư vấn và là cánh tay đắc lực của Công ty kiểm toán Arthur Andersen tại Bermuda. Accenture đã thu được 662 triệu $ trên mỗi hợp đồng vào giữa 01/10/2001 đến 30/09/2002. Theo như lập luận của Accenture thì không nên cho rằng hoạt động của nó là một sự chuyển dịch công ty bởi vì nó chưa bao giờ có trụ sở tại Mỹ như Arthur Andersen.  Foster Wheeler Ltd: là một công ty kỹ thuật, đã chuyển dịch công ty đến Bermuda vào năm 2001. Gần 70% hoạt động kinh doanh của Foster Wheeler đến từ các hoạt động kinh doanh quốc tế, và việc chuyển dịch đến Bermuda cho phép công ty giảm nghĩa vụ thuế trên thu nhập mà nó thu được từ bên ngoài nước Mỹ. Hầu hết các văn phòng chính của công ty vẫn còn ở New Jersey.  Ingersoll-Rand Co. Ltd .: là công ty sản xuất xe tải lạnh Thermo King, có trụ sở tại New Jersey. Công ty cũng chuyển dịch đến Bermuda vào năm 2001 . Trong năm 2007, công ty phải đối mặt với việc Cục thuế IRS (Internal Revenue 56 Service) tiến hành kiểm toán một số khoản nợ khi nó tái thành lập công ty ở Bermuda vào năm 2002.  Tyco International Ltd: làcông ty sản xuất và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, kiểm soát, an ninh, viễn thông và điện tử. Tyco International tái thành lập công ty ở Bermuda vào năm 1997. Năm 2002, Chủ tịch kim Giám đốc điều hành của Tyco International, bị truy tố về tội đã trốn thuế hơn $ 1 triệu USD ở New York.  Cooper Industries Inc: là công ty cung cấp các sản phẩm và công cụ về điện với thương hiệu nổi tiếng như Halo, Lumière, đã chuyển dịch công ty từ Houston tới Bermuda vào năm 2002 và sau đó thu về 3,6 triệu USD trong các hợp đồng của chính phủ. Bà Victoria Guennewig, một phát ngôn viên của Cooper Industries phát biểu: "Chúng tôi nhận thấy rằng nếu dựa trên các luật thuế được ban hành hiện tại, rõ ràng các công ty ở Mỹ bị đặt vào thế bất lợi kinh tế so với các công ty nước ngoài".  Noble Drilling Services Inc: công ty khai khoáng dầu và khí tự nhiên lớn thứ tư trên thế giới, có trụ sở tại Cayman Islands nhưng thực chất công ty hoạt động ở Sugar Land, Texas. Năm 2002, Mỹ bắt đầu tiến hành chiến dịch để loại bỏ Noble và chín công ty khác của Mỹ có trụ sở chính ở nước ngoài.  Global Crossing: Global Crossing cung cấp các giải pháp viễn thông đầu tiên của thế giới hợp nhất mạng IP trên toàn cầu. Công ty này có trụ sở hợp pháp tại Bermuda, mặc dù trụ sở hành chính của nó là ở New Jersey.  Seagate Technology LLC: là công ty thiết kế, sản xuất và marketing các ổ đĩa cứng có trụ sở tại California, và đã chuyển dịch sang Cayman Islands.  Nabors Industries Ltd: là nhà đấu thầu dầu và khí lớn nhất thế giới, chuyển dịch từ Texas đến Bermuda và Barbados vào năm 2002. Nabors Industries đã báo cáo 428,4 triệu USD lợi nhuận ở Mỹ trong năm 2005 và sẽ chỉ trả thuế 86 triệu USD trên số tiền đó. 57 2.1.6. Các chính sách đặt ra đối với chuyển dịch công ty Chuyển dịch công ty ra nước ngoài được xem như là hành động thích hợp để giảm thiểu các tác động tiêu cực của luật thuế ở Mỹ, chính các luật về thuế đó đã đặt công ty đa quốc gia của Mỹ vào thế bất lợi cạnh tranh so với các công ty đa quốc gia có trụ sở ở nước ngoài. Ngược lại, một số nhà bình luận lại xem việc chuyển dịch như là hành vi không yêu nước. Dựa trên hai dòng ý kiến trái ngược nhau, có nhiều ý kiến được trình bày liên quan tới bản chất của hành vi chuyển dịch. Tác động tiêu cực của chính sách thuế đối với sự chuyển dịch công ty ra nước ngoài là không thể nghi ngờ gì. Ở mức độ kỹ thuật, các giao dịch chuyển đổi được thiết kế để đạt được mục tiêu “là nằm ngoài hệ thống mà Quốc Hội đã thiết lập chính sách thuế cho các doanh nghiệp Mỹ”.13 Chuyển dịch công ty làm thay đổi trạng thái của nó cho mục đích thuế mà không cần phải chịu bất kỳ thay đổi đáng kể trong tổ chức và hoạt động. Thay đổi tình trạng thuế theo quy mô này mà không chứng minh do việc kinh doanh thay đổi, có thể làm suy yếu niềm tin của công chúng trong việc thống nhất và công bằng của hệ thống thuế. Điều này thể hiện một nguy cơ nghiêm trọng cho hệ thống thuế của Mỹ, dựa trên sự tuân thủ tự nguyện. Hiện tượng chuyển dịch nêu lên những bất cập của hệ thống thuế có thể là do: (i) thiếu sót trong các điều lệ cơ bản và thống nhất quan niệm, (ii) lỗ hổng trong các quy định về kỹ thuật và (iii) không hoàn hảo về cơ chế thực thi. Các nhà bình luận về thuế xem chuyển dịch như là một sản phẩm có những thiếu sót trong việc thống nhất quan niệm cơ bản của luật thuế, và họ luôn luôn nhấn mạnh rằng mục tiêu giảm thiểu thuế thông qua chuyển dịch có thể hợp pháp hóa thông qua các phương tiện khác. “Bởi sự định hình ngay từ đầu thông qua công ty mẹ ở nước ngoài, do đó có thể đạt được tiết kiệm thuế như nhau thông qua giao dịch chuyển dịch sau 13Báo cáo NYSBA 58 đó.” Có thể cho rằng, việc công ty nước ngoài mua lại công ty ở Mỹ về cơ bản có thể đạt được kết quả như nhau, loại bỏ những tác dụng trong phạm vi quyền hạn về thuế của Mỹ.14 Các tranh luận này xem việc công ty từ bỏ quốc tịch là để phản ứng lại các gánh nặng thuế “bất cân xứng” áp đặt lên các công ty đa quốc gia Mỹ. Theo phương pháp này – được xác nhận bởi Báo cáo của Bộ Tài chính về chuyển dịch – “Luật thuế quốc tế của Mỹ sử dụng để áp đặt gánh nặng lên các công ty đa quốc gia có trụ sở ở Mỹ không cân xứng so với các gánh nặng về thuế mà các công ty đa quốc gia ở các nước đối tác phải chịu. Hoạt động chuyển dịch gần đây cùng với việc thôn tín từ nước ngoài của công ty đa quốc gia ở Mỹ tăng lên là bằng chứng cho thấy những bất lợi về cạnh tranh do các luật thuế quốc tế của Mỹ, là vấn đề nghiêm trọng gây ra những hậu quả đáng kể cho các doanh nghiệp và nền kinh tế Mỹ.” Những kết luận này còn đang tranh cãi nên không được hỗ trợ những dữ liệu thống kê rõ ràng. Tuy nhiên, Báo cáo Bộ Tài chính dường như chấp nhận “lý do bất lợi trong cạnh tranh” và sử dụng yếu tố này trong việc hỗ trợ cho nhiệm vụ thay đổi cấu trúc thuế nước ngoài của Mỹ. Lý do bất lợi cạnh tranh dựa trên giả định Hoa Kỳ có đặt phạm vi đánh thuế trên thu nhập của các công ty có trụ sở chính trong nước rộng hơn so với các nước khác. Với lý lẽ thường xuyên đưa ra là để thúc đẩy các lợi ích của thuế trong lãnh thổ. Tuy nhiên, điều chú ý quan trọng là Hoa Kỳ không chỉ duy nhất đánh thuế trên thu nhập toàn cầu của các công ty đa quốc gia có trụ sở chính trong phạm vi quyền hạn của nó, và hiện đang đánh thuế trên cả phần thu nhập thu động của chúng thông qua chế độ chống trì hoãn (anti-deferral) (ngăn chặn nguồn thu nhập từ nước ngoài được giữ lại vĩnh viễn tại các công ty nước ngoài). 14Báo cáo NYSBA và Báo cáo Bộ Tài chính về chuyển dịch 59 Dựa vào các yếu tố thuận lợi của chuyển dịch cho thấy việc không phân biệt giữa các công ty có trụ sở ở Mỹ và ở nước ngoài có thể góp phần làm cho chuyển dịch xảy ra. Có ít nhất hai cách thay thế để giải quyết vấn đề này. Thứ nhất, các nguyên tắc của luật thuế cư trú phải được đánh giá lại để đảm bảo rằng thuế cư trú được xác định bởi các quan hệ kinh tế của công ty đa quốc gia và Mỹ. Thứ hai, khung quy định về miễn thuế cần được sửa đổi để nhấn mạnh tính hữu hiệu của các lợi ích phi thuế quan tại các nước cư trú. Tóm lại, việc chuyển dịch công ty ra nước ngoài có thể phải đối diện với viễn cảnh suy giảm dần. Sự quan tâm của công chúng tăng lên, thêm vào đó là dự định thực hiện chuyển dịch của Stanley Works, cùng với sự hăm dọa của pháp luật sắp tới, đã ngăn chặn một làn sóng mới của việc từ bỏ quốc tịch ra nước ngoài cư trú của các công ty đa quốc gia. Nhưng nếu xem xét chính sách phương diện rộng hơn thấy rằng tiến trình di dời xứ của công ty sẽ không dễ dàng biến mất. Trong thế giới của doanh nghiệp đa quốc gia, thì việc xem xét về phạm vi quyền hạn của thuế, lợi ích kinh tế và quản trị doanh nghiệp được coi là nền tảng. 2.2. Stanley Works và kế hoạch Inversion 2.2.1. Giới thiệu về công ty Stanley Works Stanley Works được thành lập vào năm 1843 ở New Britain, Connecticut bởi Frederick T. Stanley, chuyên sản xuất về các dụng cụ trong gia đình. Năm 1920, Stanley Works đã sáp nhập với công ty Stanley Rule & Level – một công ty cùng ngành chuyên sản xuất về các công cụ và thiết bị bằng tay được thành lập bởi một người anh họ của Frederick T. Stanley, đây chính là một cột mốc quan trọng góp phần vào sự phát triển Stanley. Với chất lượng cao, các đổi mới phù hợp và cải thiện hoạt động tốt thì Stanley đã định vị được thương hiệu của mình. Hiện nay, Stanley là công ty hàng đầu trong việc sản xuất các công cụ ở Mỹ với doanh thu khoảng 2.6 tỷ USD năm 2001 (doanh thu cập nhật đến hết năm 2010 là khoảng 8,41 tỷ USD) với gần 15.000 lao động. Là 60 nhà sản xuất toàn cầu, có mặt ở 18 quốc gia, chiếm khoảng 20% thị phần. Stanley hoạt động trong hai nhóm chính, thứ nhất là sản xuất các công cụ chiếm khoảng 77% doanh thu và thứ hai là các loại cửa chiếm 23% doanh thu. Nhóm công cụ sản xuất chuyên về các công cụ bằng tay cho người tiêu dùng và cả những người sử dụng chuyên nghiệp, những công cụ cơ khí công nghiệp…Nhóm thứ hai sản xuất các hệ thống cửa đơn giản cho gia đình cũng như hệ thống cửa tự động cho các trung tâm thương mại và cao ốc. Các sản phẩm của Stanley đến tay người tiêu dùng thông qua các trung tâm, hệ thống bán lẻ lớn như Home Depot, Sears và Wal-Mart, và hầu hết doanh thu của công ty cũng đến từ các hệ thống bán lẻ này, riêng Home Depot trong năm 2001 đã đóng góp khoảng 18% doanh thu của tập đoàn. Hiện nay, bên cạnh hai nhóm ngành chính thì Stanley Works còn đầu tư vào nhiều nhóm ngành khác. 2.2.2. Kế hoạch Inversion của Stanley Works Stanley Works cũng như nhiều công ty đa quốc gia khác đặt trụ sở tại Mỹ cảm thấy ngày càng bị đè nặng bởi hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp của quốc gia này. Thu nhập tại Mỹ của Stanley Works bị đánh thuế với mức thuế suất 35%. Mức thuế suất này chỉ thay đổi lên hoặc xuống khoảng 1% trong hơn 15 năm nay và trở nên ngày càng cao so với mức thuế suất thuế doanh nghiệp trên toàn cầu do nhiều quốc gia đã đồng loạt cắt giảm mức thuế suất thuế doanh nghiệp một cách đáng kể trong suốt những năm 1990. Nó thực sự trở thành vấn đề khi mà Stanley và các công ty đa quốc gia khác phải đối mặt với việc ngày càng có nhiều khoản thu nhập phát sinh bên ngoài nước Mỹ trong khi cơ quan thuế Hoa Kỳ không chỉ đánh thuế lên các khoản lợi nhuận bên trong quốc gia mình mà còn đánh thuế lên tất cả những khoản lợi nhuận này khi chúng được “hồi hương” về công ty mẹ hay cả khi không “hồi hương” (theo Subpart F trong bộ luật thuế IRS, mục 951 – 964). Nếu Stanley tại châu Âu hoạt động tạo ra lợi nhuận, đầu tiên họ phải đóng thuế cho chính phủ nước sở tại, chẳng hạn như Pháp hoặc Đức, và sau đó phải đóng thêm thuế trên kho Mỹ. Hình 2.1. Nghĩa vụ thu Nguồn: “Stanley Works and Corporate Inversion”, Phần lớn doanh thu và l – nơi có gần 50% nhân viên c nguyên vật liệu ngày càng t Trước thực trạng trên c thực hiện Inversion đế chiến lược này được th của công ty, gia tăng s được một khoản thuế sức mạnh cho công ty trong dài h 61 ản lợi nhuận này khi nó được hồi h ế của Stanley Works tại Mỹ trước khi th công ty ra nước ngoài. ợi nhuận của Stanley đến từ các chi nhánh bên ngoài n ủa công ty cư trú. Hơn nữa, công ty còn có m ăng đến từ nhiều nguồn trên thế giới. ũng như làn sóng Inversion trong thời gian v n Bermuda đã được ban quản trị của công ty quan tâm t ực hiện sẽ góp phần tăng cường tính linh ho ức cạnh tranh trên thị trường đồng thời giúp công ty ti đáng kể. Đây là sáng kiến mang tính chi ạn. ương về công ty mẹ ở ực hiện chuyển dịch Exhibit 1. ước Mỹ ột tỷ lệ ừa qua thì ý định ới. Nếu ạt trong hoạt động ết kiệm ến lược sẽ tăng cường Hình 2.2. Nghĩa vụ thu Nguồn: “Stanley Works and Corporate Inversion”, Vào ngày 8 tháng 2 nă công ty đến Bermuda. 2.3. Lợi ích và ch 2.3.1. Những l Giảm thiểu nghĩa vụ thu Thứ nhất, Bermuda là không đánh thuế đối v 62 ế của Stanley Works tại Mỹ sau khi thực hi ty ra nước ngoài. m 2002, Stanley Works (Mỹ) tuyên bố sẽ i phí của Stanley Works khi thực hi ợi ích của Stanley Works khi Inversion ế điển hình của hầu hết những trung tâm tài chính n ới các khoản thu nhập ngoài nước. (Trong th ện chuyển dịch công Exhibit 2. thực hiện chuyển dịch ện Inversion ước ngoài ực tế, Bermuda 63 không có thuế thu nhập doanh nghiệp). Lợi nhuận của Stanley được tạo ra trên khắp thế giới có thể được phân phối lại một cách tự do xuyên suốt quá trình kinh doanh toàn cầu, bao gồm cả công ty mẹ, mà không phải chịu thêm bất kỳ nghĩa vụ thuế nào tại quốc gia đặt công ty mẹ (đặt tại Bermuda thay vì Mỹ). Với kế hoạch Inversion công ty ra nước ngoài, Chủ tịch và Giám đốc điều hành John Trani cho rằng cả tính linh hoạt trong hoạt động và sự hiệu quả thuế đều được cải thiện. Cụ thể, Trani dự đoán rằng thuế suất thuế thu nhập Stanley sẽ giảm được 7% đến 9% từ mức thuế suất hiện tại là 32% xuống 23% đến 25%. Sử dụng bản dự thảo tài chính ước tính thu nhập cho năm 2003, Stanley dự kiến sẽ phải trả 134 triệu USD tiền thuế vào năm 2003 đánh trên 420 triệu USD thu nhập trước thuế. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, nếu thực hiện Inversion, Stanley Works sẽ tiết kiệm được khoảng 30 triệu USD nghĩa vụ thuế mỗi năm15. Giả sử một tỷ lệ lãi suất 2,5%, hơn 10 năm này sẽ cho kết quả trong một khoản tiết kiệm 263 triệu USD nếu quy về hiện giá. Đồng thời, Stanley Works ước tính rằng lợi nhuận cao hơn của công ty từ việc thực hiện Inversion có thể làm thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) tăng khoảng 11,5%. 15 Stanley nhất quán theo một ước tính thận trọng khi công bố ra công chúng là có thể tiết kiệm được 30 triệu USD tiền thuế mỗi năm. Cách tính này trái ngược với cách tính ra con số 33 triệu USD ở đây 64 Bảng 2.1. Những thay đổi ước tính trong thu nhập của Stanley Works sau khi thực hiện chuyển dịch Trước Sau Tiết kiệm Thu nhập trước thuế $420 $420 Thuế (32%/24%) (134) (101) Thu nhập sau thuế $286 $319 + $33 Số cổ phần đang lưu hành 88.0 88.0 Thu nhập trên mỗi cổ phần $3.250 $3.625 + $0.375 or 11.5% Nguồn: “Stanley Works and Corporate Inversion”, Exhibit 3. Thứ hai, những hoạt động của Stanley Mỹ bây giờ sẽ được thực hiện như là công ty con đặt tại Mỹ của một công ty nước ngoài. Điều này sẽ dẫn đến khả năng tái cấu trúc lại doanh nghiệp, theo đó công ty con tại Mỹ sẽ gia tăng nghĩa vụ đối với công ty mẹ tại Bermuda như tiền bản quyền, dịch vụ nợ, lệ phí cấp giấy phép,… là những khoản phí hợp pháp có thể được giảm trừ ở Mỹ, nhưng lại là khoản thu nhập cho công ty mẹ ở Bermuda. Kết quả là làm giảm trách nhiệm thuế tại Mỹ khi Stanley tiến hành hoạt động kinh doanh trên quốc gia này. Khía cạnh thứ hai của những lợi ích về thuế khi thực hiện chuyển dịch doanh nghiệp thường được gọi là “earnings stripping”. Thuật ngữ này đề cập đến việc cơ cấu lại hoạt động của doanh nghiệp trong nước Mỹ để có những khoản chi phí hợp pháp giảm trừ vào lợi nhuận chịu thuế. Điều này được thực hiện ở những môi trường có mức thuế suất cao như nước Mỹ. 65 Ví dụ, một công ty con ở Mỹ có thể vay tiền từ công ty mẹ ở nước ngoài và trả nợ với lãi suất cao. Pháp luật về thuế Liên bang nói chung cho phép các công ty có thể khấu trừ các khoản thanh toán lãi suất khi tính thu nhập doanh nghiệp chịu thuế, do đó làm giảm các loại thuế cho công ty con ở Mỹ. Trong khi đó, các công ty mẹ ở nước ngoài (các thiên đường thuế như Bermuda …) nhận được các khoản thanh toán lãi suất mà lại không chịu thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc bị đánh thuế rất thấp. Và thứ ba, đó là phản ứng của thị trường vốn đối với sự tái cấu trúc này. Tính trung bình, giá cổ phiếu của công ty sẽ tăng 1.7% khi thông tin về chuyển dịch công ty ra nước ngoài được công bố. Sự gia tăng này chính là hiện giá của dòng tiền tiết kiệm được từ việc cắt giảm thuế đánh trên nguồn thu nhập nước ngoài và trên các khoản thu nhập trong nước (Mỹ). Đây chính là kết quả của việc tái cấu trúc hoạt động của công ty sau khi thực hiện chuyển dịch. Tạo điều kiện cạnh tranh cho doanh nghiệp Thay đổi này sẽ tăng cường tính linh hoạt trong hoạt động của công ty, giúp công ty quản lý các dòng tiền quốc tế và đối phó với cấu trúc thuế quốc tế phức tạp tốt hơn. Kết quả, làm gia tăng khả năng cạnh tranh để Stanley trở thành một thương hiệu lớn. Môi trường kinh doanh, kiểm soát và chính sách thuế ở Bermuda được kỳ vọng sẽ tạo ra giá trị đáng kể cho cổ đông. Bên cạnh những lợi ích mang lại như tính linh hoạt trong hoạt động, khả năng quản lý dòng tiền trên toàn thế giới được cải thiện và những lợi thế cạnh tranh, cấu trúc doanh nghiệp mới này còn làm gia tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế – tạo điều kiện cho sự tăng trưởng hữu cơ, sự liên minh và mua lại mang tính chiến lược trong tương lai. Thêm vào đó, điều này được nhấn mạnh với những quan ngại của William Millerick, trưởng phòng thương mại của Stanley ở New Britain, ông lưu ý là Cooper Industries và Ingersoll-Rand, hai đối thủ cạnh tranh của Stanley works vừa mới thực hiện Inversion gần đây, đã và đang đẩy Stanley works vào thế bất lợi. 66 2.3.2. Những yếu tố cản trở Stanley thực hiện Inversion Ảnh hưởng đến uy tín công ty Khi thực hiện Inversion, công ty sẽ không mang quốc tịch Mỹ nữa. Uy tín công ty có thể sụt giảm đáng kể theo thị hiếu người tiêu dùng. Rất nhiều nhà tiêu dùng phân biệt sự ưa thích sản phẩm dựa trên xuất xứ của hàng hóa. Có một điều gần như chắc chắn là khách hàng sẽ sẵn lòng chi trả với mức giá cao hơn cũng như đánh giá là chất lượng cao hơn cho sản phẩm mang thương hiệu Mỹ hơn là Bermuda. Chi phí sử dụng vốn của công ty khi đặt tại nước ngoài có khả năng cao hơn các đối thủ cạnh trạnh vì các nhà cho vay sẽ cảm thấy rủi ro cũng như phát sinh nhiều chi phí hơn. Ví dụ như, luật doanh nghiệp của Bermuda khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nợ. Và đây cũng sẽ trở thành một môi trường pháp lý không thân thiện ngăn cản các nhà cho vay đòi lại các khoản đầu tư vốn trong trường hợp công ty mất khả năng thanh toán cho các nghĩa vụ của mình. Vì thế, chủ nợ sẽ đòi hỏi tỷ suất sinh lợi cao hơn cho rủi ro tăng thêm này, gây nên chi phí lớn hơn cho việc thay đổi cấu trúc công ty. Phản ứng của người lao động và cư dân địa phương Stanley Works là một trong những công ty công nghiệp lớn nhất ở New Britain, là niềm tự hào của cư dân New Britain khi mà công ty có một bề dày lịch sử hơn 160 năm. Tuy nhiên kế hoạch Inversion này có thể khiến cho người lao động nơi đây lo lắng về công việc của họ, sự dịch chuyển công ty ra nước ngoài cũng đồng nghĩa với việc công việc của họ cũng sẽ bị dịch chuyển theo. Chính điều này đã gây ra làn sóng phản đối trong dư luận và những người lao động. Và quan trọng hơn, điều này có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa công ty và cư dân địa phương. Phản ứng của cổ đông Những lợi ích về phía công ty có thể nhận được khi thực hiện Inversion là không thể chối bỏ. Tuy nhiên đứng ở khía cạnh các cổ đông họ sẽ có khả năng chịu thuế trên 67 phần thu nhập được ghi nhận do quá trình bán hay trao đổi cổ phiếu cho công ty mẹ mới ở nước ngoài. Ước tính đối với các cổ đông hiện tại của Stanley Works ở Mỹ sẽ phải chịu một khoản thuế tương đương với 150 triệu USD nếu tiến hành Inversion Inversion cũng sẽ hạn chế nhiều đặc quyền của cổ đông hiện hữu của công ty Mỹ. Chẳng hạn, Bermuda không cho cổ đông quyền được tác động đến các quyết định then chốt ảnh hưởng đến tương lai của công ty của ban điều hành: không có quyền biểu quyết khi công ty xử lý một lượng lớn tài sản. Hơn nưa, luật Bermuda hầu như hạn chế các giao dịch nội bộ bởi các nhà điều hành và giới hạn nhiều trường hợp mà các cổ đông có thể kiện cáo. Những điều này có thể khiến cho các cổ đông của Stanley Works phản đối kế hoạch này. Các chi phí khi thực hiện Inversion Chi phí của đảo chiều bao gồm không chỉ là chi phí hành chính thực hiện inversion, mà còn là lãi vốn tăng theo trách nhiệm pháp lý thuế của họ (Desai và Hines (2002) ) Các chi phí này được đưa ra để chống lại các lợi ích của Inversion, trong đó bao gồm lợi ích từ thuế lãnh thổ, mức thuế thu nhập thấp hơn, và cơ hội để gỡ bỏ các khoản thu nhập từ Mỹ Phản ứng từ giới chính trị Kế hoạch của Stanley Works đã thu hút sự chú ý của đông đảo mọi người, đặc biệt là từ giới chính trị. Sau khi Stanley công bố kế hoạch, tất cả mọi người từ John Sweeney, chủ tịch của AFL-CIO, các chính trị gia của chính phủ đã chỉ trích động thái này. Một vấn đề phức tạp là kế hoạch của Stanley đã trở thành một quả bóng cho giới chính trị. Nó làm nổi dậy các vấn đề trong hệ thống thuế ở Mỹ và đã trở thành một vấn đề trong cuộc đua chính trị giữa Đảng Cộng hòa ở New Britain đại diện là Nancy Johnson và ông Maloney, một ứng cử viên khác vào một ghế trong quốc hội. Mọi người đều hiểu rằng nếu không thay đổi thuế thì có lẽ sẽ không chỉ Stanley mà nhiều công ty khác và cả chính phủ sẽ phải gánh chịu hậu quả. Họ cũng hiểu 3 năm trước khi mà Daimler và 68 Chrysler thông báo là việc sát nhập của họ sẽ dẫn tới kết quả là một công ty ở Đức thay vì một công ty ở Mỹ bởi vì việc đánh thuế của nước Mỹ. Và như ông Blumenthal đã chỉ ra, Stanley Works có thể là một đồng minh lớn trong cuộc chiến để chặn các lỗ hổng thuế, các công ty sẽ có một sân chơi bình đẳng hơn. Một số quan chức nhà nước cũng đã bắt đầu chiến dịch chống lại các công ty. California Treasurer Phil Angelides kêu gọi hai quỹ hưu trí lớn nhất của tiểu bang để ngăn chặn đầu tư vào các công ty chuyển trụ sở của họ ra nước ngoài để tránh nộp thuế, và cho biết nhà nước sẽ liệt các công ty này vào “danh sách đen”. Lòng yêu nước và hình tượng công ty Sự kiện Enron và Arthur Andersen gây nên sự xáo trộn mạnh mẽ trong nước Mỹ, nhưng cuộc tranh cãi về hành động Inversion – theo một vài cách nghĩ nào đó còn mãnh liệt hơn sự náo động trong tội lỗi của Enron và Arthur Andersen. Kể từ ngày 11 tháng 9, lòng yêu nước đã được coi là tối quan trọng tại Hoa Kỳ. Việc chuyển dịch công ty đến Bermuda được cho là không yêu nước – do không hỗ trợ nước Mỹ trong suốt giai đoạn suy thoái và nguy cơ khủng bố tiếp tục đe dọa nước Mỹ sau sự kiện 11– 9. Stanley và các công ty khác bị tố cáo trong phiên điều trần của Quốc hội. Những người chỉ trích nói rằng họ đã bỏ rơi Mỹ chính tại thời điểm khi đất nước cần thu thuế lớn hơn để thực hiện cuộc chiến chống khủng bố. Trong một buổi điều trần của Quốc hội gần đây, Hạ nghị sĩ Scott McInnis - Đảng Cộng hòa Colorado, mô tả những gì ông đã làm trong chuyến thăm John Trani. McInnis cho biết ông đã cho Trani một thẻ với tên của tất cả các binh sĩ Mỹ thiệt mạng trong cuộc chiến ở Afghanistan. "Tôi nói với anh ta hãy giữ nó trong ví của mình", McInnis nói, "sau đó lấy nó ra và nhìn vào những cái tên mỗi lần anh ấy nói về chuyện di chuyển tới Bermuda”. 69 Tất cả các trở ngại trên đã dấy lên một cuộc tranh luận liệu rằng Stanley có nên thực hiện kế hoạch Inversion của mình hay không. 2.3.3. Những thay đổi trong cấu trúc nếu Stanley Works tiến hành Inversion Việc Stanley Works thực hiện Inversion - làm dịch chuyển địa chỉ công ty mẹ từ Connecticut sang Bermuda chỉ mang tính chất danh nghĩa vì trên thực tế, địa điểm đặt các trụ sở của công ty tại Connecticut cũng như việc chỉ đạo các hoạt động kinh doanh hằng ngày vẫn không hề thay đổi. Nói cách khác, việc thực hiện các giao dịch này chỉ làm thay đổi cấu trúc công ty về mặt kĩ thuật Sau khi chuyển đổi hình thức, quyền sở hữu của cổ đông trong công ty vẫn không hề thay đổi, bởi lẽ ngay sau khi việc tái tổ chức được hoàn tất, các cổ đông sẽ được sở hữu số lượng cổ phần của Stanley Bermuda bằng đúng với số lượng cổ phần đã sở hữu trước đây ở Stanley Connecticut. Tuy nhiên, sau khi tái tổ chức, quyền kiểm soát của cổ đông có thể thay đổi chút ít. Nguyên nhân là do trước đây, các quyền của cổ đông được bảo vệ và quản lý theo đạo luật ở Connecticut và điều lệ công ty của Stanley Connecticut, sau khi sát nhập, các cổ đông này sẽ trở thành người nắm giữ cổ phần thường của Stanley Bermuda, do đó sẽ phải chịu sự giám sát và quản lý dưới Luật công ty Bermuda. Ngoài ra kế hoạch Inversion có thể làm thay đổi trong cấu trúc vốn của Stanley Works. cấu trúc mới giúp công ty thu hút được sự đầu tư của nhiều nhà đầu tư bên ngoài nước Mỹ, bởi lẽ nhà đầu tư sẽ không còn phải bận tâm về thuế suất đánh trên cổ tức quá cao ở Mỹ, cũng như không phải chịu bất kì mức thuế nào đánh trên thu nhập có được từ việc bán hay chuyển nhượng cổ phần. Còn đối với công ty con ở Mỹ cũng có thể gia tăng đòn bẩy tài chính của mình để làm giảm nghĩa vụ thuế. 2.4. Tiến trình thực hiện Inversion của Stanley Works 70 Vào ngày 8 tháng 2 năm 2002, Stanley Works (Mỹ) tuyên bố sẽ thực hiện chuyển dịch công ty, khi đó Stanley sẽ thành lập lại chính nó và trở thành công ty có trụ sở chính đặt tại Bermuda. Tuy nhiên, thông báo đã vấp phải sự không đồng tình mạnh mẽ từ nhân viên, cổ đông, và các bang, địa phương, và chính quyền quốc gia. Ngày 10 tháng 5 năm 2002, tại đại hội cổ đông thường niên, các cổ đông được yêu cầu bỏ phiếu biểu quyết để thông qua kế hoạch Inversion. Tuy nhiên, nhiều nỗi lo ngại đã nảy sinh do những rối rắm dễ gây nhầm lẫn trong các hướng dẫn biểu quyết và khiến cho kế hoạch không được thông qua. Thực tế, dưạ vào bảng thống kê cho thấy đã có 67,8% cổ đông tán thành, nhưng kết quả này bị Luật sư Richard Blumenthal của Connecticut và Treasurer Denise Nappier, cùng với các nhà lãnh đạo công đoàn huỷ do, do việc công bố thông tin không rõ ràng dẫn đến việc bỏ phiếu sai lạc. Hơn nữa họ còn cáo buộc các nhà lãnh đạo của Stanley đã không đưa ra thông tin trung thực để nhà đầu tư tính toán chi phí của quá trình này. Giá chứng khoán của Stanley Works đã có nhiều sự thay đổi từ lúc công ty công bố thông tin sẽ Inversion đến Bermuda cho đến khi đại hội cổ đông không thông qua kế hoạch Inversion vào ngày 10/5/2002. 71 Hình 2.3. Giá chứng khoán của Stanley Works (SWK) sau công bố kế hoạch Inversion Nguồn: Mihir A. Desai, James R. Hines Jr. (2002) Expectations and Expatriations: Tracing the Causes and Consequences of Corporate Inversions, F. 3 (1) 8/2/2002 : công bố dự định giao dịch đảo chiều đến Bermuda. (2) 25/2/2002 : công bố việc liên minh chiến lược với Home Depot. (3) 3/4/2002 : gia tăng việc phân tích các số liệu dựa trên doanh thu bán hàng bán lẻ; doanh thu này và những thu nhập khác ước tính không ảnh hưởng đến khả năng chuyển dịch đến Bermuda. (4) 11/4/2002: Thượng Nghị Viện phác thảo dự luật ngăn chặn việc chuyển dịch công ty. (5) 26/4/2002 : thu nhập quý I tăng do các biện pháp cắt giảm chi phí; kết quả phản ánh các thị trường yếu liên tục. (6) 10/5/2002 : Stanley Works tổ chức họp đại hội cổ đông thông qua kế hoạch Inversion nhưng thất bại. 72 Ngày 10 tháng 7, năm 2002 Stanley sửa đổi cáo bạch của mình, đệ trình với Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, Stanley Works, Inc (“Stanley Connecticut”) có kế hoạch hình thành một công ty Bermuda (Stanley Works Ltd hoặc “Stanley Bermuda”), đồng thời hình thành nên một công ty con với mục đích sáp nhập với công ty ở gọi là Stanley Mergerco. Cổ đông sở hữu trong Stanley Connecticut sẽ được tự động trao đổi cùng một số cổ phần của Stanley Bermuda mới. Tuy nhiên, kết quả cuối cùng, như “một đứa trẻ bướng bỉnh”, nó sợ bị cắt đứt từ gia đình nhiều hơn so với mong muốn một sự độc lập. Stanley Works đã hủy bỏ kế hoạch Inversion của mình và tiếp tục gắn bó với Connecticut. Hy vọng rằng Stanley Works sẽ tiếp tục phát triển, cạnh tranh được với các đối thủ đã từ bỏ gia đình để đến một “thiên đường khác”. 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO David Sicular (2002) “Report on Outbound Inversion Transactions”, New York State Bar Association Tax, Report. No. 1014. Henry A. Waxman and Jim Turner (2002) “Information on Federal Contractors That Are Incorporated Offshore”, United States General Accounting Office, Washington DC, GAO-03-194R.. Mcdonald (2009) “Financial Highlights”, link: www.aboutmcdonalds.com. Mcdonald (2010) “Annual Report”, link: www.mcdonalds.com. Mcdonald (2010) “Financial Highlights”, link: www.aboutmcdonalds.com. Mcdonald (2010) “McDonald’s Australia Corporate Responsibility & Sustainability Report”, link: www.mcdonalds.com.au. Mihir A. Desai and James R. Hines Jr. (2002) “Expectations and Expatriations: Tracing the Causes and Consequences of Corporate Inversions”, link: Orsolya Kun (2003) “A Broader View of Corporate Inversions: The Interplay of Tax, Corporate and Economic Implications”, ExpressO Preprint Series, The Berkeley Electronic Press, Paper.78. Richard M. Ebeling (2002) “Corporate Inversions and the Tax State”, Freedom Daily, link: Robert McEntyre (2011) “The McDonald’s Public Library System of 2020”, LGMA National Congress & Expo, Cairns Australia, P. 15. SEEP Network (2008) “Social Performance Map”, The SEEP Network Social Performance Working Group, Chapter 2: Business Case for CSR, P. 20 – 27. 74 Shane (2005), From Ice Cream to the Internet Using Franchising to Drive the Growth and Profits of Your Company, Pearson Prentice Hall, P. 1 – 67. Daniel F. Spulber (2007), Global Competitive Strategy, Cambrige University Press, P. 135 – 140. McDonald’s Corporation (2008), Franchising at McDonald’s, ©2008 McDonald’s Corporation, P. 1 – 6.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfvanluong_blogspot_com_ccct_8526.pdf
Luận văn liên quan