Tài liệu ôn thi môn tư tưởng Hồ Chí Minh

Câu 1:Vì sao CN Mac-Lenin khẳng định: chỉ có CNXH mới giải quyết được vấn đề dân tộc?Trình bày tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc?Vì sao HCM khẳng định CN dân tộc là động lực lớn ở những nước đang đấu tranh giành chính quyền? Câu 2: Dựa trên cơ sở nào Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc phải theo con đường cách mạng vô sản và phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo ? Câu 3: Dựa trên cơ sở nào HCM cho rằng: Cách mạng giải phóng dân tộc phải là sự nghiệp đúc kết của tòan dân, trên cơ sở liên minh công nông và phải thực hiện bằng con đường bạo lực cách mạng? Câu 4: Dựa trên cơ sở nào Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc cần tiến hành chủ động ,sáng tạo và có thể thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc? Câu 5 : Vì sao trong điều kiện hiện nay để xây dựng và bảo vệ thành công CNXH thì phải khơi dậy mạnh mẽ Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc , phải nhận thức và giải quyết các vấn đề dân tộc trên quan điểm của giai cấp công nhân . Câu 6: Vì sao trong điều kiện hiện nay, phải chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam? Câu 7: Trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh : đạo đức là gốc của người cách mạng và phân tích những phẩm chất đạo đức cơ bản của người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Câu 8: Trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới.Phân tích tác hại khi cán bộ Nhà nước không thực hiện đúng nguyên tắc “nói phải đi đôi với làm,phải nêu tấm gương đạo đức”

docx35 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 4172 | Lượt tải: 32download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tài liệu ôn thi môn tư tưởng Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình trên thế giới . Câu 8: Trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới.Phân tích tác hại khi cán bộ Nhà nước không thực hiện đúng nguyên tắc “nói phải đi đôi với làm,phải nêu tấm gương đạo đức” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ phải nhanh chóng đào tạo , bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ , viên chức nhà nước có trình độ văn hóa , am hiểu pháp luật thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cân nảy mực cho công lý. Trong việc dùng cán bộ, Người nhắc nhở phải tẩy sạch óc bè phái . Khác với những cán bộ của các cơ quan dân cử, làm việc theo nhiệm kì bầu cử, công chức theo chế độ chức nghiệp, vì vậy cần phải qua một kì thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính. Nội dung thi tuyển yêu cầu khá toàn diện , bao gồm 6 môn thi:chính trị , kinh tế , pháp luật , địa lí , lịch sử và ngoại ngữ.Điều đó thể hiện tầm nhìn xa, tính chính quy, hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ,… của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam. Nhưng trong vấn đề cán bộ, đặc biệt là với cán bộ quản lí nhà nước, điều quan tâm thường xuyên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là phẩm chất đạo đức và tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, bởi thiếu điều cơ bản này thì dù có năng lực mấy cũng không dùng được. Nói chuyện trước cuộc mittinh của hơn hai vạn cử tri Hà Nội ủng hộ cuộc bầu cử Quốc hội (ngày 5-1-1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:”Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu”. Người hiểu rõ khó tránh khỏi xu hướng quan liêu hóa của cán bộ quản lí Nhà nước, nên luôn nhắc nhở họ phải thân dân , gần dân , trọng dân, không dược lên mặt “quan cách mạng” với dân, phải lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của dân. Chỉ có trí tuệ và lòng dân mới có thể làm cho chính quyền trở nên mạnh mẽ và sáng suốt. Về vấn đề xây dựng nhà nước trong sạch , vững mạnh, hiệu quả, Người nhấn mạnh hai nội dung cơ bản sau: *Một là, tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức: Phải nhấn mạnh vai trò của pháp luật, phải khẩn trương xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân, song không nên vì thế mà đề cao một chiều vai trò của pháp luật, coi pháp luật là tối thượng, bỏ qua vai trò hỗ trợ của các nhân tố khác, trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật đều là hai hình thức ý thức xã hội, thuộc hai lĩnh vực khác nhau nhưng lại kết hợp và bổ sung cho nhau trong thực tế trị nước; và những nhà chính trị sáng suốt thường không bao giờ tuyệt đối hóa địa vị độc tôn của một yếu tố riêng lẻ nào.Trong suốt 24 năm ở cương vị đứng đầu Nhà nước Bác Hồ là một mẫu mực của sự kết hợp đạo đức và pháp luật, luôn luôn chú trọng giáo dục đạo đức nhưng cũng không ngừng nâng cao vai trò, sức mạnh của pháp luật.Chính trị Hồ Chí Minh là một nền chính trị đạo đức , và đạo đức cao nhất , theo Người là “ Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”. Người thường xuyên nhắc nhở :”Nước lấy dân làm gốc”. Suốt đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gương mẩu chấp hành kỉ cương , phép nước , đồng thời cũng suốt đời kiên trì giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền. Nếu chỉ kêu gọi đạo đức thôi thì không bao giờ giải quyết được vấn đề, phải kết hợp giáo dục đạo đức với trừng trị bằng pháp luật. Vì vậy ta thấy Bác Hồ nêu khẩu hiệu cần , Kiệm đi liền với Liêm, Chính. Như Người giải thích : “Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân. Chính tức là việc phải dù nhỏ cũng làm việc trái thì dù nhỏ cũng tránh”. Ngày 27 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi sồ tiền nhận hối lộ. Ngày 26 tháng 1 năm 194, Người kí “quốc lệnh” khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tôi tử hình. *Hai là, kiên quyết chống ba thứ “giặc nội xâm” là tham ô, lãng phí, quan liêu: Sức mạnh, hiệu quả của Nhà nước một mặt dựa vào tính nghiêm minh của việc thi hành pháp luật, mặt khác dựa vào sự gương mẫu, sự trong sạch về đạo đức của người cầm quyền. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi “cán bộ phải thực hành chữ LIÊM trước, để làm kiểu mẫu cho dân”. “Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nôi xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”. Về tác hại nghiêm trọng của bệnh quan liêu, Mác và Angghen đã từng cảnh tỉnh giai cấp vô sản rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các Đảng Cộng sản cầm quyền đến chỗ “đánh mất một lần nữa chính quyền vừa giành được”, “đi vào con đường tiêu vong như đã từng xảy ra đối với mọi loại hình Nhà nước từng xuất hiện từ trước đến nay”. Vì vậy, không thể nói đến một Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả nếu như không kiên quyết, thường xuyên đấu tranh để chặn đứng , tiến tới tiêu diệt tận gốc những nguyên nhân đã gây ra nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Câu 9: Hãy phân tích hậu quả xấu khi mỗi người không thực hiện đúng nguyên tắc “phải tu dưỡng đạo đức suốt đời”.Theo nhận thức của anh,chị trong điều kiện hiện nay việc thực hiện nguyên tắc “xây và chống”, “phải tu dưỡng đạo đức suốt đời” có những khó khăn và thuận lời gì? Bác Hồ rất đề cao phép nước , “nhân trị” đi đôi với “pháp trị”. Tình trạng tiêu cực trong đời sống pháp luật ở nước ta hiện nay có một phần là do hệ thống pháp luật của ta thiếu đồng bộ, một phần nữa là do thi hành không nghiêm. Nhưng dù sau này hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đến đâu, việc thi hành vẫn không thể tốt nếu tăng cường pháp luật không đi liền với thường xuyên giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ Nhà nước, trước hết là những người giữ chức năng bảo vệ pháp luật . Ngày nay, trong một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường tất yếu đẻ ra những tên gian manh, bịp bợm. Do sự quản lí và giáo dục yếu kém của Nhà nước, chúng đã móc nối được với những phần tử thoái hóa trong bộ máy Nhà nước, ra sức tung hoành, ăn cướp, lừa đảo, chiếm đoạt hàng nghìn tỷ đồng của nhân dân, dẫn đến những vụ án tày đình, làm xôn xao dư luận xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân về sự trong sạch, vững mạnh của bộ máy Nhà nước ta. Công luận đang đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết phanh phui, vạch tội, xét xử chúng một cách văn minh cà trừng trị thật đích đáng để đem lại niềm tin cho nhân dân vào sức mạnh và hiệu lực của Nhà nước ta. Vì sao nạn tham nhũng, hối lộ không giảm mà có chiều hướng gia tăng? Vì sao có hiện tượng “nhờn” pháp luật? Có nguyên nhân do cơ chế quản lí kinh tế, do sơ hở về chính sách, pháp luật, do thiếu nghiêm minh trong xét xử và thi hành án, do công tác quản lí, giáo dục còn yếu kém, vân vân, …Cũng có nguyên nhân về nạn phe phái, ô dù bao che cho nhau. Nhưng có một nguyên nhân quan trọng nữa không thể bỏ qua đó là bệnh quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội, biết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểm tra đến nơi, đến chốn… Thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững… Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”. V.I.Lenin cũng viết:”…chúng ta bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”(tức chủ nghĩa quan liêu). Sự tiên liệu của các bậc thầy vĩ đại đã không được những người kế tục sau này cảnh giác, đề phòng , khắc phục. Sự sụp đổ của Nhà nước Xô viết có những nguyên nhân sâu xa của nó, song có một nguyên nhân mà ai cũng thấy, đó là bộ tham mưu của nó đã quan liêu hóa, ngày càng xa rời nhân dân, nên đã rơi vào thoái hóa, biến chất. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức chưa từng có. Xu thế toàn cầu hóa đang phát triển sâu rộng với tốc độ nhanh, mở ra cơ hội cho các nước chậm phát triển có thể đuổi kịp các nước phát triển, dồng thời cũng gia tăng nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân mới. Trong tình hình đó, nếu không có một nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh , hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, tranh thủ nắm lấy vận hội, đưa đất nước vượt qua nguy cơ , thách thức thì chủ nghĩa xã hội sẽ không có mà độc lập dân tộc cũng khó bảo vệ được. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh , liên hệ với tình hình hiện nay, có thể thấy nổi lên mấy vấn đề cấp bách sau đây, cần tập trung đột phá nhằm tạo ra những chuyển biến rõ rệt: Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân: Để vượt lên tình trạng thấp kém của nền kinh tế, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa nước ta và nhiều nước trên thế giới , phải “phát huy cao độ nội lực của dân tộc”, mà một trong những nhân tố cơ bản làm nên nội lực đó là phát huy dân chủ. Bởi như Bác Hồ đã nói:”Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tư do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Trong cuộc chiến đấu khẩn trương và quyết liệt chống kẻ thù xâm lược, nhiều công việc cấp bách phải được giải quyết kịp thời và tập trung ở cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước. Khi chuyển sang hòa bình, xây dựng trong điều kiện khó khăn, phức tạp của tình hình đất nước hiện nay thì mở rộng dân chủ là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết để khai thác được sức mạnh vô tận của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, mở cửa , hội nhập với thế giới. Có thể thấy dân chủ là một nội dung lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Người, thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Mọi chủ trương, đường lối, thuộc tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… đều được Người xem xét và giải quyết từ địa vị người làm chủ và quyền làm chủ của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tạo điều kiện vật chất và văn hóa để người dân nâng cao năng lực làm chủ : nâng cao dân trí, bồi dưỡng văn hóa chính trị, phát triển tính tích cực công dân, mở mang kinh tế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, khuyến khích nhân dân tham gia giám sát công việc của các cơ quan nhà nước từ dưới lên trên. Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh. Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, pháp luật của Nhà nước tạo điều kiện tiên quyết, song nếu không có một nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính sách, luật pháp dù đúng cũng không thể đi vào cuộc sống. Hiện nay, nền hành chính của ta còn có nhiều yếu kém:quan liêu, xa dân, xa cơ sở; phân tán, thiếu trật tự kỉ cương; nạn tham nhũng và lãng phí của công; bộ máy cồng kềnh, nặng nề, kém hiệu lực; đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu về kiến thức, năng lực, một bộ phận không nhỏ kém phẩm chất thậm chí hư hỏng. Cải cách hành chính để có một nền hành chính dân chủ, trong sạch, phục vụ đắc lực nhân dân, giữ vững trật tự, kỉ cương xã hội theo pháp luật. Nó phải phục vụ tận tụy, công tâm, đáp ứng yêu cầu hằng ngày về quyền lợi hợp pháp của nhân dân, phải phấn đấu để xóa bỏ ấn tượng hiện nay trong nhân dân: hành chính là hành dân là chính! Cái cách và kiện toàn bộ máy hành chính là một quá trình phải tiến hành đồng bộ trên nhiều mặt. Căn bệnh này nặng nề, phức tạp, có căn nguyên xã hội-lịch sử, nên không thể chữa trị trong một thời gian ngắn. Những vấn đề bức xúc nổi lên hiện nay thường biểu hiện tập trung ở các cơ quan hành chính hàng ngày có quan hệ tiếp xúc trực tiếp với nhân dân. Để nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân, cần thiết phải: Cải cách thủ tục hành chính, ban hành và hoàn thiện chế độ công vụ. Đề cao trách nhiệm giải quyết khiếu kiện của nhân dân. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ , công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn, thực hiện tinh giản biên chế; xử lí nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm pháp luật. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước;gắn liền xây dựng, chỉnh đốn Đảng với cải cách bộ máy hành chính. Đảng ta là Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về củng cố và tăng cường bộ máy nhà nước, đấu tranh chống các tệ nạn làm suy giảm uy tín và hiệu lực của Nhà nước. Cuộc đấu tranh để khắc phục những khuyết tật của bộ máy nhà nước không thể tách rời cuộc vận động xây ựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng mạnh thì Nhà nước mạnh. Không thể có một Đảng mạnh mà Nhà nước và hệ thống hành chính của nó lại yếu kém. Để chỉnh đốn lại bộ máy nhà nước, khắc phục tệ quan liêu, tham nhũng, Đảng phải tự chỉnh đốn, phải nêu gương về mặt trong sạch, vũng mạnh. Đó là nhân tố cơ bản và then chốt. Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng trong sạch, vững mạnh mới đưa cải cách bộ máy nhà nước đi đến thành công. Câu 10: Trình bày tư tưởng yêu thương con người,yêu thương nhân dân của Hồ Chí Minh.Tại sao Hồ Chí Minh có lòng khoan dung độ lượng,lòng tin vào sức mạnh và tinh thần sáng tạo của con người? 1)Tư tưởng yêu thương con người, yêu thương nhân dân của Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc vừa bao la rộng lớn vừa gần gũi thân thương với từng số phận của con người. Người yêu thương đồng bào, đồng chí, không không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là già hay trẻ, là gái hay trai…không phân biệt một ai, không trừ một ai. Hồ Chí Minh yêu thương những người nô lệ mất nước, những người cùng khổ, giai cấp bị bóc lột, những người chết vô ích ở Việt Nam dù họ là người Mỹ hay Pháp, họ là da trắng hay da màu. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng đoàn kết nhân dân, trong xã hội không có gì vẻ vang tốt đẹp bằng phục vụ nhân dân. Tư tưởng yêu thương con người của Bác rất rộng lớn, chẳng những yêu thương nòi giống mà còn quan tâm đến giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, Bác nói "Quan san muôn dặm một nhà. Bốn phương vô sản đều là anh em". Quan điểm của Hồ Chí Minh là phải tất cả vì con người. Chúng ta không có mục đích nào khác là chăm lo cho con người, giải phóng con người, nhằm tạo điều kiện phát triển toàn diện cá nhân (Đức + Trí + Thể + Mỹ), nghĩa là xây dựng con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa. Hồ Chí Minh coi đây là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Do đó, Bác Hồ căn dặn: Phải luôn luôn làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân, từ đó nhân rộng gương tốt, việc tốt ra thành nhiều vườn hoa khác đẹp hơn, tốt hơn, toàn diện hơn. Hồ Chí Minh yêu thương những người sống thực ở trên đời. Tư tưởng yêu thương con người của Hồ Chí Minh rất rõ ràng, cụ thể, không trừu tượng chung chung. Đó là yêu người lao động, cần lao, cùng khổ, người bị bóc lột, những người bị đàn áp. Chống ai? Chống kẻ đàn áp người lao động, kẻ bóc lột người lao động, người độc ác, bọn xấu, kẻ sâu mọt dân, đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Người chỉ ra nguồn gốc của niềm đau, nỗi khổ của những con người nô lệ bị mất nước và của những con người lao động làm thuê đó là chủ nghĩa thực dân,đế quốc tàn bạo; là ách áp bức bóc lột mà giai cấp công nhân, nông dân phải chịu đựng. Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh xuất phát từ tình yêu thương của những người đồng cảnh ngộ, mất nước, bị nô lệ, cùng chung số phận bị áp bức bóc lột, đi tìm lối thoát cho dân tộc. Khi bôn ba nơi hải ngoại, chứng kiến cảnh bị áp bức bóc lột của công nhân, của nhân dân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, chứng kiến cảnh bị áp bức của nhân dân các thuộc địa khác, tình yêu thương con người ở Người mở rộng sang yêu thương những người cùng cảnh ngộ, những người lao động nghèo đói, những người thuộc các dân tộc Việt Nam. Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công. Từ đó Người chỉ ra con đường cách mạng, con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Vì lòng yêu thương con người, Hồ Chí Minh coi hòa bình tự do là nguyện vọng sâu xa còn chiến tranh là bắt buộc.Người luôn khát khao dân tộc được độc lập tự do. Trong kháng chiến người luôn có thái độ nghiêm túc, thận trọng đối với vấn đề khởi nghĩa, tranh thủ khả năng phát triển hòa bình để hạn chế đổ máu cho nhân dân ta. Theo Người “không có một trận đánh đổ máu nào là “đẹp” cả mặc dù thắng lớn. Người quý trọng sức dân, của dân,trọng người tài,đức, trân trọng người tốt việc tốt dù rất nhỏ. Người luôn tôn trọng ý kiến nhân dân, luôn lắng nghe học hỏi, bàn bạc tự phê bình trước dân, trả lời ý kiến nhân dân. Tình yêu con người cao đẹp đó được thể hiện rõ trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". lHồ Chí Minh gắn bó với dân tộc, với nhân dân và với con người từ con tim đến khối óc, trọn vẹn suốt cả cuộc đời. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh nói rõ: "Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế." 2)Hồ Chí Minh có lòng khoan dung, độ lượng, lòng tin vào sức mạnh và tinh thần sáng tạo của con người Lòng khoan dung của Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống “Người trong một nước phải thương nhau cùng”, tất cả đều là “Con rồng cháu tiên” Mỗi người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng, ta phải làm sao cho lòng tốt nảy nở. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện. Con người không phải là thần thánh, có cả cái tốt và cái xấu. Bởi vậy, theo Người phải "làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi". Người yêu cầu phải thức tỉnh, tái tạo lương tâm, đánh thức những gì tốt đẹp trong con người. Người khẳng định: “lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi”. Tình cảm đó thể hiện sâu sắc phong phú trong suốt cuộc đời của Người. Trong việc giải phóng con người, Người chú ý kết hợp hài hòa giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng. Người đặc biệt quan tâm và tôn trọng “tính cách riêng”, “sở trường riêng”, “quyền lợi riêng” của mỗi người, nhằm phát huy đến mức cao nhất vai trò, khả năng của từng người vì lợi ích riêng chính đáng của mỗi người và lợi ích của cả cộng đồng. Đối với những người lầm đường, lạc lối hay phạm sai lầm, lòng thương yêu của Người mở rộng thành lòng khoan dung. Người nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ...” Một cộng đồng dân tộc, một tư tưởng xã hội có muôn vàn mối quan hệ phức tạp về quá khứ lẫn hiện tại. Việc giải quyếr các mối quan hệ ấy, theo Hồ Chí Minh phải xuất phát từ mục đích tập hợp lực lượng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, ví sự tiến bộ xã hội, vì tình thương yêu, giúp đỡ nhau giữa con người với con người Ở Hồ Chí Minh, lòng yêu nước thương dân,thương nhân lọai bị áp bức chứa đựng ý nghĩa cách mạng thật sự sâu sắc. Đó không phải là tình thương của tôn giáo hay lòng thương của bề trên, hay của vị cứu tinh. Ngược lại Người sống giữa lòng dân hiểu rõ dân tình dân tâm,dân ý nên Người có lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh và tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân. Người có quan niệm: Người Việt Nam có trí tuệ tài năng tính sáng tạo có thể giải quyết khó khăn một cách đơn giản. Dân ta có thể dùng mọi thứ để đánh giặc, súng đạn tự chế, và đặc biệt là “ong”: Đó là bắt nguyên tổ ong vò vẽ hay ong thế đặt dưới đất cải trang bằng lá trên đường dự đoán bọn địch sẽ đi qua. Ngày xưa, dân trong vùng từng dùng cách này để đuổi địch và thu nhiều thắng lợi. Dân ta rất hăng hái tham gia vào công cuộc cách mạng má chúng ta nhất định sẽ thắng lợi. Chính sức mạnh cộng hưởng đó đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu và chiến thắng 30/4/1975 giành lại độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ.  Người luôn tin vào bản chất nhân văn trong mỗi con người và tình người. Dân ta có tinh thần đòan kết chống giặc ngọai xâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để chống Mỹ, toàn Đảng, toàn dân phải huy động sức người, sức của để cùng miền Nam thực hiện cuộc trường kỳ kháng chiến cho tới khi giành được thắng lợi. Mặc dù không ép buộc, nhưng khi lời hiệu triệu của Đảng phát đi, toàn dân tộc ta đã xung phong ra trận. “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” là khẩu hiệu tự dân đặt ra và được thực hiện một cách tự nguyện. þ Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một hình mẫu của con người nhân văn của thời đại mới. Trong con người Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lòng yêu thương con người với lòng tin vào sức mạnh và tinh thần sáng tạo của con người, sự tôn trọng và ý chí cùng hành động triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Câu 11: Trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế, văn hóa với chính trị. Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa : Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà nhân văn chân chính, nhà văn hóa kiệt xuất ngay từ rất sớm đã nắm bắt được quy luật hình thành, vận động và phát triển của một nền văn hóa. Trong nhận thức của Người, "Văn hóa Việt Nam chứa đựng sự kỳ diệu giữa cái ổn định và cái linh hoạt" bởi lẽ nền văn hóa này có sợi dây liên hệ bền chặt với cuộc sống. Tháng 8-1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạch lần đầu tiên Hồ Chí Minh có nêu ra định nghĩa về văn hóa. Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Với định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã khắc phục được những quan niệm phiến diện về văn hóa trong lịch sử và hiện tại. Và , một trong những nội dung cơ bản trong tư tưởng của Người về văn hóa đó là "Văn hóa phải gắn liền với cuộc sống". Tư tưởng cốt lõi này trở thành nội dung xuyên suốt được quán triệt sâu sắc góp phần mang lại nét độc đáo riêng có trong hầu hết các giá trị văn hóa mà Hồ Chí Minh để lại. Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra Năm điểm lớn định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc: Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường. Xây dựng luân lý: Biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng. Xây dựng xã hội: Mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội. Xây dựng chính trị: dân quyền Xây dựng kinh tế Người coi văn hóa là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa là một bộ phận hợp thành toàn bộ đời sống xã hội. Từ sự nhận thức đó, Hồ Chí Minh chỉ ra: kiến thiết xã hội phải có bốn lĩnh vực (kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội) cùng được coi trọng. Trong đó, văn hóa ở vào vị trí trung tâm, có vai trò điều tiết xã hội. Qua nghiên cứu nhận thức của Hồ Chí Minh về văn hóa, chúng ta nhận thấy Người đã xuất phát từ phạm trù "sinh tồn" để kiến giải phạm trù văn hóa. ØQuan điểm về tính chất của nền văn hóa : Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa mới ra đời đã gắn liền với nước Việt Nam mới . Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau song nền văn hóa mới mà chúng ta xây dựng theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn bao hàm ba tính chất: tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng. Tính dân tộc của nền văn hóa được Hồ Chí Minh biểu đạt bằng nhiều khái niệm, đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh đến chiều sâu bản chất rất đặc trưng của dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của dân tộc khác. Tính dân tộc của nền văn hóa thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế thừa, phát huy những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc ; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc ; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình ; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, biết hy sinh vì sự nghiệp dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Phát triển những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của đất nước . Tính khoa học của nền văn hóa mới thể hiện ở tính hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiến hóa của thời đại. Tính khoa học của văn hóa đòi hỏi phải đấu tranh chống lại những gì trái với khoa học, phản tiến bộ, phải truyền bá tư tưởng triết học mácxit, đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, thần bí, mê tín dị đoan, phải biết gạn đục, khơi trong, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tính đại chúng Theo Người mọi hoạt động văn hóa phải thực sự hòa quyện, thâm nhập vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của đông đảo quần chúng nhân dân với đầy đủ những mảng tối sáng đầy góc cạnh của nó làm đối tượng phản ánh và phục vụ. Quan trọng hơn, văn hóa phải "thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng cao đời sống vui tươi lành mạnh của quần chúng" (Hồ Chí Minh toàn tập, Tr. 10, Tr. 59) góp phần "soi đường cho quốc dân đi", tạo sức mạnh dời non lấp bể như gốc của cây, nguồn của sông. Quan điểm về chức năng của văn hóa: Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển là “nền văn hóa yêu nước và tiến bộ”, với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với mục tiêu tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện cho mỗi con người Việt Nam . Từ di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, chức năng của văn hóa mới có thể qui tụ vào ba chức năng chủ yếu sau : Một là, bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp Theo Hồ Chí Minh văn hóa có chức năng là phải bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho nhân dân loại bỏ những sai lầm và thấp hèn có thể có trong tư tưởng tình cảm ở mỗi người. Chức năng cao quý ấy phải được tiến hành thường xuyên, việc bồi dưỡng ấy lại phải đặc biệt quan tâm đến những tư tưởng và tình cảm lớn có ý nghĩa chi phối đời sống tinh thần của mỗi người và của cả dân tộc. Trong diễn văn khai mạc hội nghị văn hóa toàn quốc, Hồ Chí Minh nêu rõ: Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do Văn hóa phải làm thế nào cho quốc dân có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung quên lợi ích riêng. Vì vậy chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta thường xuyên quan tâm đến việc bồi dưỡng lý tưởng và những tư tưởng lớn cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân và cũng đặt ra chức năng cao quí đó vào văn hóa . Hai là, mở rộng hiểu biết, nâng cao dân trí Nói đến văn hóa là phải nói đến dân trí, đó là trình độ hiểu biết, trình độ kiến thức của người dân, của mỗi công dân. Những hiểu biết đó bao gồm nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa (trình độ học vấn) nghiệp vụ chuyên môn, khoa học kỹ thuật, thực tiễn Việt Nam và thế giới ... Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới hiện đại càng đòi hỏi nâng cao dân trí hơn nữa và không bao giờ có điểm tận cùng. Đó chính là chức năng của văn hóa. Đó cũng chính là quá trình thực hiện các chiến lược con người, xây dựng và phát huy nguồn lực con người; đồng thời, coi đây là “khâu trung tâm của sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta”. Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người tới chân, thiện, mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Muốn tham gia vào việc taọ ra những giá trị văn hóa, đồng thời biết hưởng thụ một cách đúng đắn những giá trị văn hóa của xã hội, mỗi người không những cần có những tư tưởng và tình cảm lớn, những hiểu biết ngày càng được nâng cao, những phẩm chất ngày càng tốt đẹp, những phong cách lành mạnh trong cuộc sống. Phẩm chất và phong cách được hình thành trong đạo đức, lối sống của con người và xã hội, trong thói quen của cá nhân và trong phong tục tập quán của cả cộng đồng dân tộc. Văn hóa giúp con người phân biệt cái tốt đẹp, lành mạnh với cái xấu xa hư hỏng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý quốc dân nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được những tham nhũng, lười biếng, phù hoa xa xỉ. Khái quát “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” ØMối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế , văn hóa với chính trị : Trong quan hệ với chính trị, xã hội: Hồ Chí Minh cho rằng chính trị xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng sẽ mở đường cho văn hóa phát triển. Để văn hóa phát triển tự do, phải làm cách mạng chính trị trước. Ở Việt Nam, tiến hành cách mạng chính trị thực chất là tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. Trong quan hệ với kinh tế , Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về cơ sở hạ tầng , là nền tảng của việc xây dựng văn hóa . Từ đó Người đưa ra luận điểm: phải chú trọng xây dựng kinh tế , xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa . Người viết: văn hóa là một kiến trúc thượng tầng , nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có kiến thiết rồi , văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được. Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là kinh tế phải đi trước một bước .Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa và giải quyết những vấn đề xã hội. Văn hóa không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế. Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị , có nghĩa là văn hóa phải tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị , thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Văn hóa phải ở trong kinh tế và chính trị , điều đó cũng có nghĩa là kinh tế và chính trị cũng phải có tính văn hóa, điều mà chủ nghĩa xã hội và thời đại đang đòi hỏi. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng ta chủ trương gắn văn hóa với phát triển, chủ trương đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào kinh tế và chính trị, làm cho văn hóa thực sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giải quyết đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong quá trình phát triển chính là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển lâu bền, sự phát triển không chỉ vì thế hệ chúng ta hôm nay, mà còn vì tương lai dân tộc ta mai sau, vì tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam. Câu 12 : Trình bày Tư tưởng Hồ Chí Minh về các lĩnh vực chính của văn hóa. Phân tích tác hại những hành vi “ thiếu văn hoá ” của sinh viên. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống các quan điểm lý luận mang tính khoa học và cách mạng về văn hóa và xây dựng nền văn hóa Việt Nam. Được kết tinh và chắt lọc những giá trị cả văn hóa phương Đông, phương Tây, của truyền thống và hiện đại, của dân tộc và quốc tế , tập trung ở các lĩnh vực chính sau :‎ 1.Văn hóa giáo dục Khi tìm thấy con đường cứu nước , Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu , phân tích sâu sắc nền giáo dục phong kiến và nền giáo dục thực dân để từ đó chuẩn bị cho những suy tư về việc xây dựng nền giáo dục nước nhà độc lập sau này . Đầu tiên là nền giáo dục phong kiến, đó là một nền giáo dục xa rời thực tiễn , lấy kinh sách thánh hiền là đỉnh cao tri thức . Trong nền giáo dục này phân biệt rõ ràng giữa mẫu người hướng tới: kẻ sĩ, người quân tử, bậc trượng phu với kẻ bình dân. Đặc biệt là người phụ nữ không có quyền được tham gia học vấn. Còn nền giáo dục thực dân, một nền giáo dục đồi bại , xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát . Với chính sách “ngu dân” áp dụng, không phải để mở mang trí thức mà chỉ làm chúng ta “đần độn hơn”. Nó dạy cho ta một lòng trung thành giả dối với những kẻ mạnh hơn mình, “nhận giặc làm cha”_ yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình, chỉ giáo dục ta thờ ơ với xã hội, xa rời lao động, học theo lối “nhồi sọ” để lấy bằng cấp .Và mục đích chính của nó là đào tạo ra những “hình nộm bù nhìn” phục vụ chính quyền thực dân. Sau khi chính quyền về tay nhân dân, lĩnh vực văn hóa giáo dục vừa là một trong những vấn đề cấp bách cần được giải quyết, vừa là nhiệm vụ chiến lược cơ bản lâu dài. Để xây dựng nền văn hóa giáo dục Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm quan trọng sau: + Mục tiêu là thực hiện đồng thời ba chức năng giáo dục , nghĩa là bằng dạy và học . Đó là đào tạo những con người toàn diện vừa có đức , vừa có tài, những công dân biết làm và đủ điều kiện làm chủ để xây dựng và bảo vệ đất nước . Đó là cải tạo tri thức cũ , đào tạo tri thức mới , thực hiện công – nông trí thức hoá , tri thức công – nông hoá , xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng đông đảo , trình độ ngày càng cao . + Chương trình , nội dung dạy và học thật khoa học , thật hợp lý , phù hợp với từng bước phát triển của nước ta , phản ánh được mục tiêu không chỉ dạy và học mà phải dạy và học làm người . + Học đi đôi với hành . Lý luận phải liên hệ với thực tiễn , học tập phải kết hợp với lao động để văn hoá giáo dục nuớc nhà có định hướng đúng đắn rõ ràng , thiết thực + Phải tạo môi trường giáo dục lành mạnh ,dân chủ ,trường phải ra trường ,lớp phải ra lớp , thầy ra thầy , trò ra trò . Đồng thời phải phối hợp nhịp nhàng, đồng thời cả ba khâu : nhà trường , gia đình và xã hội trong giáo dục . Về phương pháp giáo dục. Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận về phương pháp giáo dục, nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn, súc tích của Người đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nguyên tắc này được Người sử dụng trong việc giáo dục cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên, công nhân, nông dân, bộ đội, trí thức, học sinh, sinh viên… Nó được coi như "kim chỉ nam" để lồng dẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho tất cả mọi người. Hơn nữa, nguyên tắc này có tính chất quyết định trong việc chuyển hướng giáo dục và trở thành đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Người nhấn mạnh: "Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần có quan điểm dân chủ, thẳng thắn, không nhồi sọ và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhận thức. Người chỉ rõ: "Mọi người được hoàn toàn tự do phát biểu ý kiến, dù đúng hoặc không đúng cũng vậy. Song không được nói gàn, nói vòng quanh". "Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lý". Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi cán bộ, nhà giáo phải biết tôn trọng ý kiến người khác, không nên có thành kiến đối với các ý kiến trái với ý kiến của mình. Trong khi viết và nói, Hồ Chí Minh luôn dùng các khái niệm giản dị, dễ hiểu, nhưng văn phong vẫn trong sáng, ý tưởng phong phú. Phong cách đó làm cho mọi tầng lớp, mọi người ở trình độ khác nhau đều hiểu. Đối với Hồ Chí Minh, viết và nói là làm cho người khác hiểu, cho nên viết và nói phải biết cách. Viết và nói phải thiết thực, ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ và phải xuất phát từ người đọc, người nghe. Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào "trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng". Cần có phương pháp tổ chức giáo dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáo dục. Người viết: “công nhân, nông dân bận làm ăn, nếu dạy không hợp với người học, với làm ăn, bắt phải đến lớp có bàn có ghế là không ăn thua. Phải tuý theo hoàn cảnh làm ăn mà tổ chức học mới duy trì được lâu dài, mới có kết quả tốt". Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục, không tuyệt đối hoá bất cứ một hình thức giáo dục nào. Người viết: "Giáo dục dù trong nhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn". Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Trong cuộc sống, trong việc làm... Hồ Chí Minh luôn là người đi đầu. Phương pháp làm gương là một biện pháp hữu hiệu nhất trong việc thống nhất giữa lời nói và việc làm. Người dạy: "Mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hoá". Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đối thoại, phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làm gương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội... đều nhằm mục đích "nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng", nâng cao nhận thức, chất lượng và hiệu quả giáo dục. Các phương pháp này vừa mang tính truyền thống, lại vừa hiện đại, vừa hệ thống, khoa học, lại vừa cụ thể, thiết thực, luôn gắn với đời sống và thời đại. Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa - một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sáng tạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giới tính.. 2.Văn hóa văn nghệ Trong tư tưởng Hồ Chí Minh văn hóa là linh hồn, bản sắc dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa trước hết là văn hóa của một dân tộc, nó mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của văn hóa, và văn nghệ là biểu hiện tập trung nhất của nền văn hóa , là đỉnh cao của đời sống tinh thần , là hình ảnh của tâm hồn dân tộc . Trong chiều dài lịch sử , dân tộc Việt Nam là một dân tộc rất quý trọng văn nghệ . Văn nghệ đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhân dân ta. Từ một người đi tìm đường cứu nước trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi đến độc lập tự do , Người đã khai sinh ra một nền văn hóa cách mạng , và bản thân Người lại là chiến sĩ tiên phong trong sáng tạo văn nghệ tr6en rất nhiều bình diện . Những công hiến to lớn của Người về văn nghệ là một bộ phận rất đặc sắc trong toàn bộ sự nghiệp của Người để lại cho Đảng , cho dân tộc . Văn nghệ là mặt trận , nghệ sĩ là chiến sĩ , tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng , trong xây dựng xã hội mới , con người mới . + Quan điểm trên có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp ngày càng đông đảo văn nghệ sĩ vào một mặt trận thống nhất _mặt trận chiến đấu bằng vũ khí sắc bén trên tinh thần : nay ở trong thơ có thép , nhà thơ cũng phải biết xung phong . + Nhờ quan điểm trên , Hồ Chí Minh đã khai sinh ra một nền văn nghệ cách mạng , với vị trí tiên phong trong cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân của thế kỷ XX , mỗi văn nghệ sĩ tạo thành một đội ngũ chiến sĩ quan trọng trên mặt trận tinh thần. Văn nghệ phải gắn với thực tiễn đời sống nhân dân . + Thực tiễn đời sống nhân dân là lao động, chiến đấu sinh hoạt và xây dựng xã hội mới . Văn nghệ phản ánh và hướng thực tiễn ấy phát triển theo quy luật của cái đẹp. Cái đẹp của cuộc sống đang vận động và biến đổi , do con người tạo ra , đồng thời cũng tạo ra sự hoàn thiện của con người chứ không phải là vẻ đẹp siêu thực vĩnh hằng. Theo tinh thần đó , Hồ Chí Minh yêu cầu chiến sĩ văn nghệ phải thật hòa mình với quần chúng _nguồn nhựa sống sáng tác của nhà văn . + Quan điểm trên có ý nghĩa to lớn khi đã mang lại cho nền văn nghệ cách mạng ở ta tính dân tộc , tính nhân dân , tính hiện thực sâu sắc . Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước, của dân tộc . Phải phản ánh cho hay, cho chân thật , cho hùng hồn sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta . Hồ Chí Minh khẳng định văn nghệ không phải là những món ăn tinh thần được chế biến vội vàng mà phải là những tác phẩm hay có tính nghệ thuật cao , nội dung lẫn hình thức chân thật và phong phú , trong sáng vui tươi : “ Một áng văn chương không cứ dài mới hay, mà một tác phẩm được xem như một tác phẩm hay và biên soạn tốt khi nào nó chỉ diễn đạt vừa đủ những điều đáng nói , khi nó được trình bày sao cho mọi người ai cũng hiểu được và khi độc xong độc giả phải suy ngẫm .” “ Quần chúng đang chờ đợi những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại vẻ vang của chúng ta .” “ Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú , có hình thức trong sáng và vui tươi .Khi chưa xem thì mong xem , xem rồi thì có bổ ích” Tính chân thực không đối lập với sự hư cấu . Hư cấu từ hiện thực, hướng người đọc vươn tới cái cần có , cái lý tưởng . Đó là tính hướng đích của văn nghệ . Sự phong phú không chỉ đòi hỏi ở nội dung mà còn thể hiện ở thể loại của tác phẩm văn nghệ. Hồ Chí Minh nêu : “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú , không nên bắt mọi người chỉ ăn một món thôi . Cũng như vào vườn hoa , cần cho mọi người thấy được nhiều loại hoa đẹp.” Định hướng mục tiêu , lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là duy nhất và cũng là đề tài bao trùm nhất của Hồ Chí Minh . Người nói : “Về nội dung viết mà các cô chú gọi là đề tài , thì tất cả những gì Bác viết chỉ có một đề tài là : chống thực dân đế quốc , chống phong kiến địa chủ , tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đó cũng là đề tài bao trùm của giới văn nghệ sĩ nước nhà , thể hiện bằng nhiều thể loại , nhiều tác phẩm . Chính điều đó mở ra con đường sáng tạo không giới hạn của văn nghệ sĩ . 3. Văn hóa đời sống Việc xây dựng Đời sống mới đã được Hồ Chí Minh nêu ra từ rất sớm khi vấn đề về lối sống , nếp sống , phong cách sống , chất lượng sống …hầu như chưa được bàn đến một cách rộng rãi ở các nước . Tháng 1-1946 , chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào xây dựng Đời sống mới Tháng 4-1946 , Người ký sắc lệnh thành lập Uỷ ban trung ương vận động Đời sống mới Tháng 3-1947 , Người viết cuốn sách “Đời sống mới” để hướng dẫn việc xây dựng Đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân , trong toàn xã hội . Cuộc vận động này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chủ trương vừa kháng chiến , vừa kiến quốc , tạo nên những biến chuyển to lớn trong đời sống văn hóa của nhân dân ta và nó đã nhanh chóng trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi ngay từ khi cách mạng mới thành công ,ngay khi nhân dân ta đã phải đi vào cuộc kháng chiến chống ngọai xâm hết sức quyết liệt bên cạnh cuộc sống trăm bề thiếu thốn . Khái niệm “Đời sống mới” được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả “Đạo đức mới” , “Lối sống mới” và “Nếp sống mới” .Ba nội dung ấy có quan hệ mật thiết với nhau trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu : đạo đức gắn liền với lối sống, nếp sống và đạo đức lại được thể hiện bởi nếp sống , lối sống . Đạo đức mới Hồ Chí Minh đã viết : “ …… thực hiện đời sống mới là Cần , Kiệm , Liêm , Chính.” “Nếu không giữ đúng Cần , Kiệm , Liêm , Chính thì dễ trở nên hủ bại , biến thành sâu mọt của dân.” “Nêu cao thực hành Cần , Kiệm , Liêm , Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới.” Lối sống mới Lối sống là tiêu chí đầu tiên, tiêu chí tổng hợp nhất, thể hiện chất lượng văn hoá và trí tuệ của một con người Là lối sống văn minh , tiên tiến , kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân lọai . Xây dựng lối sống mới , Hồ Chí Minh đòi hỏi phải : “sửa đổi những việc rất cần thiết , rất phổ thông , trong đời sống của mọi người tức là sửa đổi cách ăn ,cách mặc , cách ở , cách đi lại , cách làm việc. ” Đó là 5 cách phải sửa đổi không chỉ với mỗi người mà còn cho cả tập thể , cộng động . Xây dựng lối sống mới không hòan tòan phụ thuộc vào phương tiện nhiều hay ít , giản đơn hay sang trọng , mức sống cao hay thấp mà là ở chất văn hóa của lối sống . Theo Hồ Chí Minh : phải xây dựng cách sống khiêm tốn , giản dị , chừng mực , điều độ , ngăn nắp , vệ sinh , yêu lao động , biết quý trọng thới gian , ít lòng ham muốn về vật chất , về chức quyền danh lợi . Trong quan hệ với nhân dân , bạn bè đồng chí thì cởi mở chân tình , ân cần tế nhị , giàu lòng yêu thương quí mến con người , trân trọng con người , đối với mình thì chặt chẽ , đối với người thì khoan dung , độ lượng . Làm việc thì quần chúng , dân chủ , khoa học . Nếp sống mới Quá trình làm cho lối sống mới dần dần trở thành nền nếp , thói quen ổn định ở mỗi người , thành phong tục tập quán của tập thể hay cả cộng động , trong khu vực hay cả nước , thường gọi là nếp sống mới hay nếp sống văn hóa . Hồ Chí Minh dạy chúng ta chẳng những phải biết kế thừa mà còn phải phát triển những thuần phong mỹ tục , đồng thời phải biết cải tạo những phong tục tập quán cũ , lạc hậu . Việc sửa đổi thói quen, phong tục tập quán không còn phù hợp , lọai bỏ những cái xấu , xây dựng những cái tốt là công việc rất khó khăn , phức tạp . Hồ Chí Minh đã khuyến cáo : “ Thói quen rất khó đổi . Cái tốt mà lạ , người ta có thể cho là xấu . Cái xấu mà quen , người ta cho là thường .” Vì vậy phải nâng cao nhận thức , phải phấn đấu kiên trì mới có thể xây dựng được những thói quen , phong tục tập quán mới , thực hiện đời sống mới . Hồ Chí Minh cho rằng : “ Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết , không phải cái gì cũng làm mới . Cái gì cũ mà xấu , thì phải bỏ . Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý . Cái gì cũ mà tốt , thì phải phát triển thêm . Cái gì mới mà hay thì ta phải làm .” Như vậy , phải xây dựng được những thuần phong mỹ tục mới , đồng thời đấu tranh khắc phục rất nhiều vấn đề thông qua việc rà soát , đánh giá để xây , để chống cho đúng , qua việc làm gương và nêu gương . Bắt đầu từ từng người , từng gia đình thì mới có thể xây dựng được đời sống mới ở tập thể , các đơn vị , ở làng xã , phố phường , cho đến cả nước . Có như thế mới xây dựng được nếp sống có văn hoá , xây dựng được đời sống mới thể hiện được bản chất của chủ nghĩa xã hội .Tác hại hành vi thiếu văn hóa của sinh viên Toàn cầu hóa không còn là hiện tượng mới mẽ , nó là một xu thế khách quan mà mọi dân tộc, dù muốn hay không cũng đều chịu sự tác động của nó. Toàn cầu hóa đang đưa lối sống Phương Tây vào nước ta. Lối sống ấy, một mặt tác động tích cực đến việc làm thay đổi lối sống khép kín, cam chịu, phụ thuộc, ỷ lại vốn có của người Việt Nam sang một lối sống cởi mở, năng động, tự lập, dám chịu trách nhiệm, phù hợp với xu thế thời đại. Tuy nhiên, cũng chính việc tiếp thu lối sống đó một cách thiếu định hướng mà dẫn đến việc xa rời lối sống theo chuẩn mực đạo đức dân tộc. Các công nghệ thông tin hiện đại đang truyền bá khắp thế giới lối sống sùng bái vật chất, cá nhân, vị kỷ, thực dụng, đua đòi, ăn chơi xa hoa, lãng phí, sống trụy lạc, thác loạn, ưa dùng bạo lực… Lối sống đó đang tác động mạnh mẽ đến một bộ phận nhân dân, thanh thiếu niên mà đặc biệt là sinh viên. Lối sống tiêu cực ích kỷ , quá thực dụng đang thịnh hành trong giới trẻ sinh viên . Họ chỉ biết đến lợi ích cá nhân , xa rời tập thể , không quan tâm đến cộng đồng . Tiêu biểu như : Thờ ơ trước nhưng khó khăn của người khác , từ những việc rất nhỏ như dẫn người già trẻ em qua đường , chỉ dẫn cho người hỏi đường đi , lên xe bus nhường ghế cho người già , trẻ em cho đến ý thức cao về vệ sinh không xã rác , giữ gìn không gian môi trường , giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn , chia sẽ về mặt vật chất , tình cảm với mọi người xung quanh. Lối sống vô kỷ luật, thiếu ý thức như vượt đèn đỏ ,đua xe lạn lách , ưa dung bạo lực đã trở thành nhữg vấn nạn hiện nay Lối sống sùng bái vật chất :đua đòi ,ăn chơi lãng phí thể hiện qua việc chạy theo những mốt thời trang quá mức ,ăn mặc “thiếu vải” ,”hớ hên” làm xấu nền văn hóa truyền thống phương Đông. Nhiều sinh viên bỏ học, ký nợ để “sống chung” với games . GAMES gần như là cuộc sống , nó ăn sâu vào máu thịt của sinh viên . Việc nghiện GAMES đã dẫn tới một chuỗi hệ ikhông thể kiềm nén được . Họ tiêu tốn tiền bạc , thời gian , sức khỏe vào những cuộc chơi trực tiếp “kiếm hiệp”, “bạo lực” một cách vô tội vạ nhằm thỏa mản sở thích thấp kém này . Họ đã không ý thức được đó chỉ là một hình thức giải trí nhỏ để giải tỏa stress thay vì đam mê cuồng tín để rồi mệt mỏi , không có nhiều thời gian chăm chút cho việc học ,thành tích học tập sa sút bên cạnh tiêu tốn tiền bạc của gia đình . Sự nghiệp học hành bỏ dở , họ có thể trở thành nạn nhân của tệ nạn xã hội bất cứ lúc nào . Ngoài chơi GAMES quá mức , một lớp sinh viên (30,9%) vào các trang websex nhằm thỏa mãn dục vọng bản thân . Từ đó hình thành nên trong đầu họ tư tưởng ‘thủ dâm” có thể dẫn tới hành vi xâm phạm đến người khác giới , tệ hơn nữa là có hành động “xâm hại tình dục” khi không thể kiềm chế . Hiện tượng “sống thử” cũng đang tồn tại khá phổ biến trong đời sống sinh viên. Đáng lo ngại hơn, nhiều sinh viên cho rằng đó là chuyện bình thường, họ tự nguyện đến với nhau như một kiểu “góp gạo thổi cơm chung”, trong khi hậu quả là nhiều sự việc đáng tiếc, thậm chí là những kết cục bi thảm đã xảy ra. Tệ nạn cờ bạc , đánh đề ,văn tục trở thành điểm tối nổi bật trong đời sống sinh viên Đó chính là biểu hiện của sự xuống cấp về lối sống của một bộ phận sinh viên, thanh niên Việt Nam, là biểu hiện của quan niệm “lệch chuẩn”, đối lập với quan niệm văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxTài liệu ôn thi môn tư tưởng hồ chí minh.docx
Luận văn liên quan