Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long

Ngân hàng nên tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh trong hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động huy động vốn và quản lý nguồn vốn để chi nhánh xây dựng được các chiến lược kinh doanh đúng đắn. Triển khai kịp thời và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp lý của Chính phủ, NHNN nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh hoạt động trong khuân khổ pháp luật và chất lượng các dịch vụ không ngừng được nâng cao.

pdf82 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1840 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ánh bởi loại vốn huy động này luôn được các ngân hàng cạnh tranh nhau gay gắt. Đến năm 2008 tiền gửi có thời hạn trên một năm là 897 tỷ đồng , tăng 55 tỷ đồng so với năm 2007 và chiếm 31,54 % trên tổng nguồn vốn huy động. Bước sang năm 2009 nguồn vốn huy động của loại kì hạn này là 1196 tỷ đồng tương ứng với 35,71 % và tăng 199 tỷ đồng so với năm 2008. Số liệu trên thể hiện các hình thức tiết kiệm của chi nhánh cũng là khá hấp dẫn với khách hàng. Nguồn vốn này càng lớn càng giúp ngân hàng chủ động hơn trong việc sử dụng vốn huy động được tuy nhiên thì nguồn vốn này có một nhược điểm lớn đó là nguồn vốn có chi phí về lãi suất khá cao. Như vậy chi nhánh cần quan tâm đến các khách hàng truyền thống có uy tín có doanh thu cao đồng thời tạo lập những mối quan hệ mới, thu hút được thêm nhiều khách hàng có quan hệ mật thiết với ngân hàng. Nhìn chung nguồn vốn huy động theo cơ cấu tiền gửi của chi nhánh là tương đối đều nhau, trong đó thì nguồn ngắn hạn( dưới 1 năm) thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và nguồn tiền gửi không kì hạn cũng chiếm tỷ trọng khá cao. Chi nhánh cũng đã rất nỗ lực trong việc huy động nguồn dài hạn để đáp ứng nhu cầu kinh doanh, tham gia dự án của chi nhánh ngân hàng. 2.2.2.2. Chi phí huy động vốn của NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long. Chi phí huy động vốn của chi nhánh cũng bao gồm chi phí lãi huy động và chi phí phi lãi suất. Chi phí phi lãi suất thuộc về chi phí quản lý do đó rất khó để tiết kiệm và giảm thiểu. Vì vậy chi phí lãi huy động luôn được quan tâm sao cho vừa mang tính cạnh tranh và đồng thời cũng mang lại lợi nhuận mang tính quy mô cho ngân hàng. Dưới đây là các bảng lãi suất huy động vốn của chi nhánh: Bảng 2.5: Lãi suất huy động vốn theo VNĐ và ngoại tệ cuối các năm. Đơn vị: %/năm Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tiền gửi bằng VNĐ 8,3 7,41 9,45 10,34 Tiền gửi bằng USD 3,5 4,71 3,2 3,3 Tiền gửi bằng EUR 1,89 2,03 2,52 1,5 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) Mức lãi suất của ngân hàng luôn mang tính thời điểm. Tùy từng thời điểm khác nhau mà mức lãi suất sẽ biến động khác nhau thích hợp với từng thời kì nhằm đảm bảo tính sinh lời trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mức lãi suất không có một quy luật nào cả, chỉ có sự biến động theo thị trường. Nhìn vào bảng lãi suất trên ta có thể thấy rằng mức lãi suất của ngân hàng ở cuối mỗi thời kì với nội tệ thì có xu hướng tăng dần còn đối với ngoại tệ lại có xu hướng giảm dần qua các năm. Chứng tỏ ngân hàng đã và đang dần chú trọng nguồn vốn nội tệ để đáp ứng nhu cầu tín dụng trong nước và cũng là đảm bảo theo quy định chung của NHNN. Bảng 2.6: Biểu lãi suất huy động vốn VNĐ. Đơn vị: %/năm Hình thức huy động Lãi suất 1. Tiền gửi không kì hạn 2,40 2. Tiền gửi có kì hạn(áp dụng với cá nhân và các tổ chứ kinh tế) Trả lãi cuối kì Trả lãi trước Trả lãi định kì hàng tháng Trả lãi định kì hàng quý 01 tháng 10,49 02 tháng 10,49 03 tháng 10,49 10,22 10,40 06 tháng 10,49 9,97 10,27 10,36 09 tháng 10,49 9,72 10,14 10,23 12 tháng 10,49 9,49 10,02 10,10 18 tháng 10,49 9,06 9,78 9,86 24 tháng 10,49 8,67 9,56 9,64 36 tháng 10,49 7,98 9,16 9,23 48 tháng 10,49 7,39 8,79 8,86 60 tháng 10,49 6,88 8,46 8,52 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) So với mặt bằng chung về lãi suất của chi nhánh hiện nay đã có phần mang tính cạnh tranh cao, do đó thu hút được khá nhiều sự quan tâm của khách hàng. Ví dụ như cùng một số kì hạn thì lãi suất của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt nam là 10,46%/năm, thấp hơn so với chi nhánh Nam Thăng Long là 10,49%/năm, tuy nhiên sự điều chỉnh lãi suất này của chi nhánh còn chậm chạp, đi sau khá lâu so với một số ngân hàng khác, người dân cũng đã phản ánh thắc mắc này với ngân hàng khi họ tới gửi tiền vào ngân hàng. Do đó ngân hàng mới điều chỉnh mức lãi suất. Việc tăng mức lãi suất huy động tiền gửi của ngân hàng có thể làm giảm đi phần nào lợi nhuận của ngân hàng tuy nhiên thì mức lãi suất thấp lại khó huy động được vốn và dễ bị mất khách hàng. Do đó chi nhánh cần phải có chính sách lãi suất hợp lý, kịp thời, đảm bảo hơn nữa tính cạnh tranh. Nhìn vào cột “Trả lãi cuối kì” có thể thấy được chính sách thu hút vốn của chi nhánh. Ở các thời hạn thì mức lãi suất vẫn là 10,49% mà thông thường thì lãi suất dài hạn thường lớn hơn lãi suất ngắn hạn do đó cho thấy chi nhánh đang tập trung vào nguồn huy động ngắn hạn để đối phó với tình hình kinh tế còn nhiều biến động. Hiện nay để khuyến khích khách hàng cũng như gia tăng thêm nguồn huy động hệ thống NHTMCPCTVN cũng như chi nhánh Nam Thăng Long cũng đang triển khai gói sản phẩm tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi, đây loại hình sản phẩm mà khi khách hàng gửi càng nhiều tiền sẽ có mức lãi suất càng cao theo hạn mức. Hạn mức được quy định như bảng dưới đây. Bảng 2.7: Biểu lãi suất tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi (VND) Đơn vị :%/năm Số tiền Kỳ hạn Dưới 40Tr Từ 40 Tr đến Dưới 100Tr Từ 100Tr đến Dưới 300Tr Từ 300Tr đến Dưới 500Tr Từ 500 Tr Trở lên 3 tháng 10,49 10,49 10,49 10,49 10,49 7 tháng 10,49 10,49 10,49 10,49 10,49 13 tháng 10,49 10,49 10,49 10,49 10,49 18 tháng 10,49 10,49 10,49 10,49 10,49 24 tháng 10,49 10,49 10,49 10,49 10,49 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) Bảng 2.8: Biểu lãi suất tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi (USD) Đơn vị :%/năm Số tiền Kỳ hạn Dưới 3000 USD Từ 3000 USD đến Dưới 7000USD Từ 7000USD đến Dưới 20000USD Từ 20000USD đến Dưới 30000USD Từ 30000 USD Trở lên 3 tháng 2,80 2,82 2,84 2,86 2,90 6 tháng 3,00 3,02 3,04 3,06 3,10 9 tháng 3,20 3,22 3,24 3,26 3,30 12 tháng 3,30 3,32 3,34 3,36 3,40 18 tháng 3,40 3,42 3,44 3,46 3,50 24 tháng 3,50 3,52 3,54 3,56 3,60 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) Biểu lãi suất bậc thang trong giai đoạn này không có biến động gì với tiền gửi nội tệ nhưng với tiền gửi bằng ngoại tệ USD có thể thấy là mức lãi suất tăng dần với cả khối lượng tiền gửi tăng dần và thời hạn gửi tăng dần. Điều này cho thấy chi nhánh đang khuyến khích nguồn tiền gửi ngoại tệ ổn định bởi đặc thù của nguồn gửi ngoại tệ hiện nay thường biến động khó lường khi chỉ tập trung vào một số ít khách hàng và thường gửi ở mức không kì hạn hoặc kì hạn ngắn gây ra những khó khăn cho việc sử dụng nguồn này. Từ mức lãi suất như trên có được kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong 3 năm gần đây như sau: Bảng 2.9: Kết quả tài chính giai đoạn 2007 – 2009. Đơn vị : Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tổng thu nhập 236 346 268 Tổng chi phí 186 228 183 Lãi 49 118 85 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) Nhìn vào bảng kết quả kinh doanh của chi nhánh có thể thấy được lãi của chi nhánh trong năm nay giảm sút đáng kể so với năm 2008 phản ánh phần nào chi phí cho huy động vốn lớn do phải cạnh tranh với các ngân hàng thương mại cổ phần khác. Ngoài ra lãi năm 2009 của chi nhánh cũng chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch được giao là 134,9 tỷ đồng tương ứng với đạt 63% kế hoạch lợi nhuận. Cho thấy năm 2009 chi nhánh chưa đạt được tốt về kế hoạch lợi nhuận cũng như chi phí huy động vốn. Tóm lại vấn đề chi phí huy động vốn của chi nhánh qua các năm có biến động tác động đến lợi nhuận của chi nhánh khiến lợi nhuận năm 2008 gia tăng một cách đột biến nhưng đến năm 2009 thì lợi nhuận đã giảm một cách đáng kể cho thấy chi nhánh đã chưa có chính sách về chi phí huy động vốn phù hợp dẫn đến lợi nhuận thu được chưa cao trong khi đó lượng vốn huy động được lại khá lớn. 2.2.2.3. Cơ cấu nguồn vốn huy động so với việc sử dụng vốn. Cũng giống như những ngân hàng thương mại khác NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long cũng nên huy động nguồn và sử dụng nguồn huy động một cách tương thích để nhằm đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh. Tuy nhiên CN Nam Thăng Long là chi nhánh cấp 1 của NHTMCPCTVN do đó chi nhánh cũng cần phải thực hiện những kế hoạch mà NHTMCPCTVN giao cho. Khối lượng vốn huy động của chi nhánh cũng phải nộp chuyển cho hội sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh. Do đó nguồn huy động của chi nhánh không phải được toàn quyền thực hiện kinh doanh. Chi nhánh cũng thực hiện cho vay nhưng tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động thường nhỏ hơn 100% rất nhiều. Bảng dưới đây phản ánh tình hình huy động vốn và cho vay cùng với tỷ lệ vốn cho vay trên vốn huy động của chi nhánh trong 3 năm gần đây. Bảng 2.9: Tình hình huy động và cho vay từ 2007 – 2009. Đơn vị : Tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Huy động Cho vay % cho vay trên huy động Huy động Cho vay % cho vay trên huy động Huy động Cho vay % cho vay trên huy động 1.Theo cơ cấu tiền gửi 2672 464.4 17.4 2844 708.7 24.9 3350 1250 37.31 VNĐ 1739 165.6 9.5 1631 440.4 27.0 2301 1014 44.07 Ngoại tệ 933 298.8 32.0 1213 268.3 22.1 1049 236 22.50 2.Theo kỳ hạn 2672 464.4 17.4 2844 708.7 24.9 3350 1250 37.31 Ngắn hạn 1830 169.8 9.3 1947 170.8 8.8 2154 501 23.26 Trung và dài hạn 842 294.6 35.0 897 537.9 60.0 1196 749 64.24 (Nguồn: NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long) Về cơ cấu tiền gửi: Nhìn vào bảng trên cho thấy rằng tỷ lệ cho vay của chi nhánh thấp hơn rất nhiều so với nguồn vốn huy động được. Cũng bởi vì nguồn huy động được chi nhánh nộp chuyển cho NHTMCPCTVN và thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác, đặc biệt là nguồn dự trữ để đảm bảo tính thanh khoản cho chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên trong những năm gần đây chi nhánh cũng luôn quan tâm nâng cao chất lượng cũng như quy mô tín dụng. Điển hình là nợ xấu đến thời điểm này là không có và tỷ trọng cho vay so với nguồn huy động cũng đang tăng dần lên. Nếu như ở năm 2007 tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy dộng được chỉ đạt 17,4% thì đến năm 2008 đã tăng lên đến 24,9% và đến năm 2009 dã đạt 37,31%. Cho thấy dư nợ cho vay đang tăng lên từng năm đều đặn. tỷ lệ huy động vốn và cho vay vốn theo cơ cấu tiền gửi còn chưa hợp lý. Nếu như tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn huy động là 17,4% vào năm 2007 thì tỷ lệ này ở đồng nội tệ chỉ là 9,5% và ở đồng ngoại tệ là 32% cho thấy sự mất cân đối trong việc cho vay, ngay cả năm 2008 và năm 2009 cũng tương tự với tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn huy động là 24,9% trong khi cho vay ngoại tệ 27 % và cho vay nội tệ là 22,1% những con số này có phần hợp lý hơn. Tuy nhiên đến năm 2009 khoảng cách của việc mất cân đối vốn lại lớn dần lên khi tổng cho vay trên huy động là 37,31% trong khi đó tỷ lên này ở cho vay nội tệ là 44,07% và ở ngoại tệ lại là 22,50%. Cho thấy chi nhánh chưa chú trọng đến việc cân đối vốn cho vay so với huy động các loại tiền gửi để đạt cơ cấu hợp lý, tránh những thiệt hại do việc chuyển đổi tiền cho vay dẫn đến thiệt hại do chênh lệch về tỷ giá. Về kì hạn: Dựa vào số liệu trên có thể thấy được rằng xu hướng cho vay của chi nhánh là “lấy ngắn nuôi dài” khi chi nhánh huy động nguồn ngắn hạn nhiều hơn nguồn dài hạn nhưng chủ yếu lại cho vay dài hạn. Nếu như tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn huy động năm 2007 là 17,4% thì tỷ lệ cho vay ngắn hạn trên nguồn ngắn hạn chỉ là 9,3% trong khi đó tỷ lệ cho vay dài hạn trên tổng nguồn huy động dài hạn là 35,0%. Đến năm 2009 sự mất cân đối này còn lớn hơn nữa khi tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy động là 37,31% trong khi đó cho vay ngắn hạn chỉ đạt tỷ lệ 23,26% và dài hạn là 64,24%. Không chỉ có chi nhánh mà đây là tình trạng chung của các NHTM trong giai đoạn hiện nay. Điều này ẩn chứa một rủi ro lớn về tính thanh khoản của ngân hàng. Nếu như những khoản huy động ngắn hạn đến thời gian đáo hạn mà ngân hàng không thanh toán được cho khách hàng do đã đầu tư và cho vay trung và dài hạn sẽ làm mất uy tín ngân hàng thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Đây là vấn đề chi nhánh nên thận trọng và phân tích kĩ lưỡng tình hình trước khi thực hiện việc cho vay theo thời hạn chưa cân đối này. Nhìn chung qua phân tích cơ cấu trên có thể thấy được tỷ lệ cho vay ngắn hạn và tỷ lệ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh chưa tương ứng và có xu hướng ngày càng gia tăng tỷ lệ cho vay dài hạn và thu hẹp tỷ lệ cho vay ngắn hạn. Đây là một vấn đề đáng lưu ý, cần được quan tâm bởi lẽ nguồn ngắn hạn đem cho vay dài hạn tạo ra lợi nhuận cao nhưng cũng đồng thời tiềm ẩn rủi ro lớn. Tuy nhiên nhiều ngân hàng hiện nay vẫn thường dùng nguồn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn vì mục tiêu lợi nhuận, thực ra có thể sử dụng nguồn ngắn hạn để cho vay dài hạn nhưng chỉ nên dừng ở một tỷ lệ nhất định và cần phải tính toán cẩn trọng đến vấn đền này. 2.3. Đánh giá hoạt động huy động vốn tại NHTMCPCTVN–CN Nam Thăng Long. 2.3.1. Những kết quả đã đạt được. Qua việc phân tích thực trạng hoạt động công tác huy động vốn tại chi nhánh Nam Thăng Long cho thấy trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009 chi nhánh đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Huy động vốn đã góp phần lớn vào việc giải quyết nhu cầu tín dụng của khối khách hàng đến với chi nhánh, thực hiện khá tốt các chỉ tiêu trong kế hoạch mà NHTMCPCTVN đã giao. Cụ thể: - Nguồn huy động của chi nhánh năm sau tiếp tục tăng trưởng với tốc độ khá so với năm trước và vượt kế hoạch được giao. Đây là nỗ lực rất lớn của ban lãnh đạo cũng như những cán bộ nhân viên của toàn bộ chi nhánh trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh “Kinh doanh tài sản nợ”, đã góp phần lớn vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giúp cho chi nhánh chủ động trong hoạt dộng đầu tư tín dụng. - Về cơ cấu nguồn vốn huy động: chi nhánh ngày càng huy động được nhiều nguồn vốn ngoại tệ có tính ổn định và tăng trưởng đều qua các năm góp phần không nhỏ vào việc tạo ra thu nhập điều chuyển vốn. Nguồn tiền gửi không kì hạn và ngắn hạn được tăng cao, tuy nguồn không kì hạn không mang tính ổn định nhưng chi phí cho nguồn này lại khá nhỏ do đó nguồn này mang lại lợi nhuận khá lớn cho chi nhánh. Nguồn tiền trung và dài hạn cũng có tăng trưởng so với những năm trước đem lại cho chi nhánh nguồn tiền ổn định để đầu tư vào các dự án mà hiện nay chi nhánh cũng như toàn hệ thống đang giải ngân và đồng tài trợ. - Đặc biệt trong quá trình quản trị điều hành hoạt động huy động vốn, với từng đối tượng khách hàng khác nhau, ban lãnh đạo đã chủ động kịp thời đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm huy động tối đa nguồn tiền gửi. Cụ thể đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế ngân hàng cũng đã chia ra các nhóm khách hàng là nhóm khách hàng doanh nghiệp lớn và nhóm khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ và đối với mỗi nhóm khách hàng thì ban lãnh đạo lại đưa ra những phương án huy động vốn phù hợp để đạt được mục tiêu huy động vốn. Đó là kết quả của nguồn vốn của các tổ chức kinh tế không ngừng tăng cao và luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quy mô vốn huy động của chi nhánh. Không phải chỉ tập trung vào khách hàng là các doanh nghiệp hay các tổ chức kinh tế mà chi nhánh cũng luôn quan tâm đến nguồn huy động từ các tổ chức dân cư. Bằng cách chi nhánh đã mở rộng thêm các điểm giao dịch mới tại khu tập trung đông dân cư đáp ứng yêu cầu đi lại của dân cư, những khu vực có tiềm năng kinh doanh dịch vụ ngân hàng để nâng cấp các quỹ tiết kiệm thành điểm giao dịch. Việc này còn củng cố thêm vị trí của chi nhánh ngân hàng trên địa bàn quận Cầu Giấy và các vùng lân cận, đáp ứng được ngày càng cao những yêu cầu của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Chính vì thế mà cùng với môi trường kinh tế xã hội phát triển và cạnh tranh chi nhánh vẫn luôn vượt chỉ tiêu được giao trong việc huy động vốn từ dân cư. - Việc truyền bá thương hiệu, hình ảnh của chi nhánh trên các phương tiện thông tin đại chúng luôn được chi nhánh quan tâm và thúc đẩy. Đặc biệt chi nhánh có tổ chức Hội nghị Gặp mặt thường niên cho khách hàng với chi nhánh thể hiện “Cam kết tận tụy phục vụ Khách hàng” để tạo được niềm tin cũng như để gia tăng thêm lượng khách hàng. Không những thế chi nhánh còn luôn luôn đổi mới phong cách phục vụ khách hàng, chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng chuyên nghiệp, luôn nâng cao chuyên môn cho các cán bộ nhân viên trong chi nhánh. - Ngoài ra, chi nhánh đã bước đầu chủ động nắm bắt thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, dự báo lãi suất thị trường để đưa ra những kế hoạch ứng phó kịp thời với môi trường biến động đảm bảo giữ chân được khách hàng và cũng mở rộng thêm nhiều khách hàng mới tiềm năng. - Bên cạnh đó chi nhánh cũng luôn hoàn thành các chỉ tiêu trong các đợt phát hàng kỳ phiếu, tiêt kiệm dự thưởng …. Với các mức lãi suát hấp dẫn, tính thanh khoản cao và tiện ích trong thanh toán…. 2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân. 2.3.2.1. Những mặt hạn chế trong hoạt động huy động vốn. Cùng với những kết quả đạt được của chi nhánh vẫn còn có những tồn tại trong chi nhánh của ngân hàng. - Nguồn tiền gửi không kì hạn còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động (năm 2006 chiếm 34,7%, năm 2007 chiếm 29%,năm 2008 chiếm 31,65%, năm 2009 chiếm 28,9 %) và tập trung chủ yếu vào một số khách hàng có tài khoản tiền gửi ngoại tệ do đó nếu nguồn vốn huy động này chuyển đi một lúc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến số dư nguồn vốn huy động của chi nhánh, chi nhánh sẽ phải nhận điều chuyển vốn ngoại tệ từ ngân hàng TMCPCTVN do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập từ điều chuyển vốn, cân đối vốn trong hoạt động kinh doanh và thực hiện kế hoạch huy động nguồn mà NHTMCPCTVN giao. - Lãi suất huy động tiền gửi VNĐ đối với một số khách hàng là doanh nghiệp còn cao, trong điều kiện hiện nay tại chi nhánh nguồn huy động này sẽ chỉ điều chuyển về NHTPCPCTVN hưởng lãi nộp vốn do đó chưa tối đa được hiệu quả do nguồn vốn mang lại. Ngoài ra mức lãi suất còn chưa linh hoạt, chưa nắm bắt kịp thời thông tin của các đối thủ cạnh tranh dẫn đến việc điều chỉnh lãi suất chưa kịp thời với thị trường khiến cho nhiều khách hàng quan tâm đặc biệt đến lãi suất đã chọn ngân hàng khác có lãi suất tiền gửi cao hơn để gửi tiền. Việc chậm chạp trong điều chỉnh lãi suất huy động vốn này đã vô tình khiến ngân hàng bị mất đi nguồn huy động tối đa. - Chất lượng dịch vụ trong huy động vốn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Sự phát triển của thị trường đòi hỏi các ngân hàng phải cung cấp một danh mục đa dạng các dịch vụ liên quan đến hoạt động huy động vốn đồng thời phải am hiểu sâu sắc các dịch vụ của mình để tư vấn cho khách hàng, tuy nhiên đây lại là một điểm còn hạn chế không chỉ riêng đối với chi nhánh Nam Thăng Long mà còn là hạn chế với các NHTMCP nói chung. - Mạng lưới của chi nhánh chưa nhiều mới chỉ dừng lại ở 10 phòng giao dịch, chưa đáp ứng được nhu cầu giao dịch của khách hàng trên khắp địa bàn mà chi nhánh phụ trách. - Còn một hạn chế nữa của chi nhánh là vấn đề maketing. Mặc dù chi nhánh là một trong số những chi nhánh lớn của NHTMCPCTVN một trong những ngân hàng có quy mô lớn và là ngân hàng của nhà nước mới cổ phần hóa cách đây không lâu nên có nhiều khách hàng truyền thống và những khách hàng lâu năm biết đến nhưng hiện nay có rất nhiều công ty mới mở và hoạt động của họ cũng hiệu quả nhưng họ cũng chưa biết đến ngân hàng như một đối tác hiệu quả trong việc kinh doanh của họ. Nhìn chung chủ yếu khách hàng của chi nhánh là những khách hàng truyền thống. 2.3.2.2. Nguyên nhân. Nguyên nhân khách quan: - Tình hình kinh tế xã hội: Đó là điều quan trọng mà hầu hết các ngân hàng nào cũng phải chịu không chỉ riêng chi nhánh Nam Thăng Long. Điển hình đó là nền kinh tế vẫn còn trong điều kiện ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, gây tâm lý lo sợ cho người dân không dám lựa chọn hình thức gửi tiền vào ngân hàng mà chọn hình thức đầu tư khác. Ngoài ra còn là do tâm lý, thói quen dùng tiền mặt của người dân cộng với sự phát triển cơ sở hạ tầng còn thấp kém làm cho việc triển khai công tác thanh toán không dùng tiền mặt cũng trở lên khó khăn hơn. Phần lớn người dân mở tài khoản tại ngân hàng chỉ là để gửi hoặc thậm chí không sử dụng để chuyển tiền. Những hiểu biết của người dân về hoạt động dịch vụ ngân hàng còn hạn chế, nhiều người còn dè dặt khi gửi tiền vào ngân hàng hoặc thanh toán qua ngân hang còn sợ sệt. Chính điều này đã làm ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của chi nhánh ngân hàng. - Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô: Môi trường pháp lý cho các ngân hàng vẫn chưa được hoàn thiện. Đặc biệt là chính sách pháp lý cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam còn nhiều khe hở dẫn đến thiệt thòi cho các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng trong nước. Ngoài ra tỷ giá ngoại tệ không ngừng tăng nhanh là điều kiện bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nhập khẩu đồng thời cũng là nhưng bất lợi cho ngân hàng trong việc khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn ngoại tệ. - Môi trường cạnh tranh: Ngoài ra còn là yếu tố cạnh tranh, vừa là nhân tố thúc đẩy cũng là yếu tố kìm hãm sự phát triển của ngân hàng. Hiện nay môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt đặc biệt là khu vực Hà Nội nơi chi nhánh đặt trụ sở. Tất cả các ngân hàng đang tham gia vào cuộc chạy đua lãi suất, tích cực đẩy mạnh các chương trình khuyến mại, cải tạo cơ sở vật chất, triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại,…. Điều đó cũng ảnh hưởng rất nhiều đến công tác huy động vốn của chi nhánh. Nguyên nhân chủ quan: Lãi suất: Chi nhánh chưa cập nhật đầy đủ thông tin về lãi suất huy động đối với khách hàng khiến khách hàng không nắm bắt được để lựa chọn hình thức gửi tiền thuận tiện. Việc nắm bắt thông tin và dựa trên thông tin thu thập để phân tích và đề ra chiến lược thực hiện còn chưa tốt dẫn đến sự chậm trễ trong việc nắm bắt lãi suất thị trường. Do đó lãi suất hiện tại của chi nhánh (tiền gửi có kì hạn dưới một năm là 10,49%) còn cao hơn một số ngân hàng khác như ngân hàng đầu tư Việt Nam (tiền gửi có kì hạn dưới 1 năm là 10,46%). Ngoài ra việc điều chỉnh lãi suất của chi nhánh ngân hàng còn chậm chạp so với một số ngân hàng khác dẫn đến khách hàng chuyển sang gửi tiền tại ngân hàng khác, mất đi mối quan hệ với khách hàng. Điển hình là vào một ngày đầu tháng 2 năm 2010 có một khách hàng đến gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng và họ thắc mắc lãi suất tiền gửi một năm của ngân hàng đầu tư đã là 10,46% trong khi tại chi nhánh vẫn còn ở mức lãi suất là 10,34%. Điều này đã làm cho khách hàng thiếu đi niềm tin vào ngân hàng. - Công nghệ ngân hàng: Chi nhánh đã sử dụng hệ thống BDS để thực hiện các nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng, và hiện nay chi nhánh cũng đang được NHTMCPCTVN đầu tư cho các thiết bị hiện đại khác nữa để hoàn thiện hệ thống ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên thì hệ thống do máy móc và phần mềm chưa được quản lý tốt dẫn đến những trục trặc nhỏ trong giờ làm việc dẫn đến việc đôi khi khách hàng phải chờ đợi lâu dẫn đến sự khó chịu cho khách hàng. Nhất là vào thời điểm quan trọng như vào các dịp lễ tết khi khách hàng đến giao dịch đông nhưng xảy ra một số lỗi hệ thống khiến một số hoặc toàn bộ mạng máy tính bị đơ, không giao dịch được khiến khách hàng phải đợi lâu và khó chịu. Công tác marketing: Chi nhánh chưa có phòng marketing hay cán bộ chuyên trách về marketing. Mọi công việc liên quan đến lĩnh vực này vẫn thuộc về tất cả các nhân viên trong toàn chi nhánh. Với nhân viên giao dịch thì giới thiệu đến khách hàng những sản phẩm về huy động vốn, với nhân viên tín dụng thì giới thiệu với khách hàng về sản phẩm tín dụng, nhìn chung là do khách hàng tìm đến ngân hàng và thể hiện yêu cầu thì nhân viên mới giới thiệu được cho khách hàng, chứ ngân hàng chưa chủ động đem lại thông tin cho khách hàng, do đó mà sản phẩm dịch vụ của chi nhánh chưa được khách hàng biết đến ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Trình độ nhân lực: Nhận thức của một số cán bộ ngân hàng chưa hoàn toàn đầy đủ về công tác huy động vốn cũng như việc bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng . Trình độ chuyên môn cũng như những kĩ năng mềm của nhân viên chưa thực sự được toàn diện ảnh hưởng đến công tác huy động vốn. Nhiều nhân viên còn chưa thực sự coi khách hàng là thượng đế, chưa thực sự nhiệt tình hết mình để tạo được uy tín sự hài lòng của khách hàng. - Mạng lưới chi nhánh: Mạng lưới chi nhánh mới chỉ dừng lại ở 10 phòng giao dịch, đó không phải là một con số lớn. Nhiều khách hàng mặc dù đã biết đến chi nhánh nhưng do ở những khu vực không được thuận tiện cho việc đi lại, vì điều kiện giao thông nên đã lựa chọn những ngân hàng ở gần họ khiến cho nguồn huy động của chi nhánh bị giảm đi rõ rệt. Ví dụ một số khách hàng ở xa trụ sở của chi nhánh như khu Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội đã đến chi nhánh mong muốn có một địa điểm giao dịch gần hơn để tiện giao dịch do điều kiện đoạn đường ra tới trụ sở thường hay bị tắc nghẽn, khó lưu thông. Chương 3: Một số biện pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn tại NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long. 3.1. Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn tại chi nhánh. 3.1.1. Định hướng kinh doanh của chi nhánh năm 2010. Trong năm 2010 tới này, với manh nha của sự phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng tài chính thế giới ảnh hưởng sâu sắc tới Việt Nam, do đó hệ thống ngân hàng nói chung và ngân hàng TMCPCTVN – CN Nam Thăng Long nói riêng cũng mong chờ một năm khởi sắc với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng cũng mong chờ một năm bội thu trong công tác huy động vốn, với những nguồn vốn có chất lượng, đảm bảo về cả tính quy mô và hiệu quả sử dụng. Cụ thể chi nhánh ngân hàng đã đưa ra kế hoạch hoạt động của năm 2010 như sau: 1. Áp dụng , duy trì và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008. 2. Hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 do NHTMCPCTVN giao trong các lĩnh vực áp dụng chất lượng sản phẩm dịch vụ: cho vay, thanh toán, nghiệp vụ thẻ, kinh doanh ngoại tệ, nhận tiền gửi. - Tổng nguồn vốn huy động. - Dư nợ cho vay nền kinh tế. - Tỷ lệ cho vay KCBĐ bằng TS + Nợ nhóm 2 đến 31/12/2010. + Nợ xấu đến 31/12/2010. - Thu phí dịch vụ. - Phát hành thẻ E-Partner. - Lắp đặt POS - Lợi nhuận năm 2010. 4500 tỷ 1700 tỷ 15%/Tổng dư nợ 1,2 tỷ 0 24 tỷ 1200 thẻ 60 120,565 tỷ đồng 3. Thành lập mới và nâng cấp 4 phòng giao dịch 4. Đảm bảo 100% các khoản vay của khách hàng được thực hiện đạt tiêu chuẩn chất lượng đã công bố. 5. Đảm bảo tuân thủ các quy chế, quy định, quy trình hướng dẫn nghiệp vụ, hạn chế tối đa các lỗi rủi ro tác nghiệp. 6. Đảm bảo yêu cầu hình ảnh thương hiệu Vietinbank - 100% biển hiệu, bảng thông tin, bảng chỉ dẫn,… được thự chiện đúng quy định. 7. Tổ chức ít nhất một lần điều tra đo lường sự hài lòng của khách hàng 8. Thực hiện văn hóa doanh nghiệp, văn minh giao tiếp, không để phát sinh ý kiến phàn nàn của khách hàng về tác phong giao dịch của nhân viên, cán bộ. 9. Tiếp tục duy trì đường dây nóng để tiếp nhận và giải quyết nhanh chóng các phát sinh, ý kiến phàn nàn của khách hàng. 3.1.2. Định hướng tăng cường vốn cho NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long. Hoạt động huy động vốn là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nó luôn hướng vào mục tiêu tăng doanh lợi và tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu các NHTM. Công tác này từ xưa tới nay luôn được coi trọng và là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt các năm hoạt động của ngân hàng. Nhu cầu tín dụng và tiến độ giải ngân các dự án luôn gây ra áp lực huy động vốn của ngân hàng. Để tài trợ cho danh mục tài sản không ngừng tăng trưởng đặc biệt hiện nay ngân hàng đang tập trung giải ngân cho hàng loạt các dự án lớn trong công tác đồng tài trợ nên ngân hàng cần thêm khối lượng vốn khổng lồ từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu kinh doanh này thì ngân hàng không chỉ có quan tâm đến quy mô của nguồn vốn mà còn phải xây dựng danh mục nguồn vốn với cơ cấu hợp lý, ổn định và chi phí thấp nhất có thể làm đích phấn đấu Căn cứ vào những điều kiện cụ thể của chi nhánh định hướng huy động vốn của NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long như sau: - Không ngừng củng cố và nâng cao hiệu quả hệ thống mạng lưới hoạt động kinh doanh nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thị trường để tăng cầu về tài sản ngân hàng của khách hàng tạo động lực cho hoạt động huy động vốn. - Từng bước hiện đại hóa công nghệ để cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao dần nâng cao uy tín đối với khách hàng góp phần tạo lập nguồn vốn ổn định với quy mô và cơ cấu phù hợp với tiềm năng sẵn có. - Cùng với việc đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phải tổ gắng nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút khách hàng giao dịch nói chung và cả những khách hàng gửi tiền nói riêng. - Đa dạng hóa các nguồn vốn kinh doanh, phát huy nội lực bằng việc khai thác triệt để các nguồn vốn huy động trên địa bàn mà chi nhánh hoạt động. - Điều chỉnh cơ cấu vốn huy động theo thời gian, tăng nguồn vốn trung và dài hạn đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng tài sản có thời hạn dài, ngăn ngừa các rủi ro có thể gặp phải. - Chiến lược huy động vốn phải phù hợp với điều kiện tổ chức mạng lưới điều kiện kinh tế xã hội, thu nhập và tiêu dùng của người dân cùng với mức độ cạnh tranh trên thị trường tại các ngân hàng cơ sở để nguồn vốn tăng trưởng đồng thời chi phí vốn hợp lý. - Thông qua phân tích tài chính hàng năm, điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo thời gian sao cho có khoảng cách với tài sản nhạy cảm có lợi khi lãi suất thị trường biến động. Đó là hàng loạt các mục tiêu trong định hướng mà chi nhánh đã nêu ra nhằm giúp cho ngân hàng luôn có hướng đi đúng đạt được mục tiêu chính trong kinh doanh, đem lại cho ngân hàng giá trị phát triển lâu dài và bền vững. 3.2. Một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại chi nhánh. Như chúng ta đã thấy được thực trạng huy động vốn tại NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long bên cạnh những kết quả đạt được thì chi nhánh cũng không ít những mặt còn hạn chế trong công tác kinh doanh cũng như công tác huy động vốn. Vậy để đảm bảo được công tác huy động vốn đạt được mục tiêu, phát huy hết được tiềm năng sẵn có của chi nhánh ngân hàng . Dưới đây là một số những giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường cho công tác huy động vốn của chi nhánh Nam Thăng Long. 3.2.1. Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý. Chính sách lãi suất hợp lý và linh hoạt luôn là một yếu tố rất quan trọng trong công tác huy động vốn. Bởi ngoại trừ tiền gửi thanh toán ít nhạy cảm với lãi suất còn các nguồn vốn có kì hạn đều rất nhạy cảm lãi suất đặc biệt những khoản tiền gửi lớn và có thời hạn dài thì chủ nhân của khoản tiền này thường rất quan tâm đến mức sinh lời của khoản tiền đó do vậy việc điều hành chính sách lãi suất có vai trò quan trọng với việc huy động vốn của ngân hàng. Vậy để điều hành lãi suất linh hoạt hơn nữa chi nhánh cần quan tâm đến những vấn đề liên quan đến lãi suất như : - Ngân hàng luôn phải thường xuyên cập nhật tình hình lãi suất trên từng địa bàn, từng vùng, miền trên toàn quốc để kịp thời thông tin trong điều hành lãi suất. - Bên cạnh đó phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt diễn biến của lãi suất trên thị trường vốn, chú ý đến tỷ lệ lạm phát để điều chỉnh lãi suất cho kịp thời và hợp lý. - Điều chỉnh lãi suất tiền gửi theo nguyên tắc kỳ hạn dài hơn có lãi suất cao hơn, lãi suất đẩu ra phải lớn hơn lãi suất đầu vào một cách hợp lý vừa đảm bảo được lợi nhuận cho ngân hàng, đồng thời đáp ứng được lợi ích của khách hàng. - Chi nhánh nên có những chính sách ưu đãi về lãi suất đối với những khách hàng có giao dịch thường xuyên qua chi nhánh và những khách hàng có tiền gửi quy mô lớn. - Khuyến khích khách hàng duy trì số dư tài khoản với thời hạn dài hơn hạn gửi ban đầu. Đối với các khoản tiền gửi trung và dài hạn ngân hàng nên tăng lãi suất để hấp dẫn người gửi tiền vì mục đích của nhóm khách hàng này là lãi suất. Còn đối với những tài khoản thanh toán thì mục đích của khách hàng là thanh toán do đó ngân hàng nên tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi đến gửi tiền, rút tiền, thanh toán. 3.2.2. Đa dạng hóa các hình thức dịch vụ huy động vốn. Để thu hút thêm khách hàng nhằm huy động được nhiều vốn hơn nữa đồng thời cũng là để thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng, chi nhánh cần đưa ra thêm những hình thức huy động vốn mới. Nguồn tiền gửi của dân cư là nguồn có tính ổn định và lâu dài, hiện nay hình thức huy động tiền gửi của dân cư rất đa dạng và phong phú: Không kì hạn, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng,…. .Nhưng bên cạnh đó chi nhánh cần chú ý đến tăng cường tài khoản cá nhân bởi lợi thế của hệ thống NHTMCPCTVN có mạng lưới rộng lớn với nhiều điểm giao dịch và nhiều máy ATM nên việc mở tài khoản cá nhân đem lại lợi ích không chỉ cho khách hàng mà cho cả ngân hàng. Khai thác tiềm năng khách hàng cá nhân đáp ứng được cho chi nhánh ngân hàng về nguồn vốn. Hiện nay vẫn còn nhiều người dân còn thói quen dùng tiền mặt, chưa biết đến dịch vụ của ngân hàng như thanh toán qua tài khoản. Vậy chi nhánh cần phải khuyến khích người dân mở tài khoản thẻ ví dụ như miễn phí mở thẻ, miễn phí gửi tiền qua thẻ ATM, hoặc chương trình bốc thăm trúng thưởng khi làm thẻ,…. . Ngoài ra chi nhánh cũng cần tác động đến từng nhân viên trong hệ thống. Mỗi nhân viêc sẽ là tuyên truyền viên tốt nhất cho các sản phẩm của chi nhánh. Phấn đấu gia tăng số lượng thẻ trong chi nhánh, từ các sản phẩm thẻ ATM thông thường đến thẻ tín dụng quốc tế, thẻ trả lương cho nhân viên các doanh nghiệp. Về dịch vụ ngân hàng điện tử, chi nhánh tiếp tục mở rộng hoạt động cung cấp một số tiện ích mới như tiết kiệm qua thẻ, nạp tiền điện thoại di động VNPay, thanh toán cước sử dụng điện cho Tập đoàn điện lực Việt Nam, liên kết thẻ với các NHTM khác qua hệ thống Banknet,…. Ngoài ra chi nhánh nên tạo sự linh hoạt, thuận tiện cho khách hàng khi sử dụng hình thức tiết kiệm truyền thống. Sự đa dạng của các mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm tạo ra nhiều cơ hội cho khách hàng. Đối với những khách hàng có thu nhập đều đặn và gửi tiền tiết kiệm với thời hạn xác định chi nhánh nên hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho họ chuyển đổi kì hạn tại các thời điểm thích hợp đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàng. Những khách hàng quan tâm đến lãi suất, sự an toàn,kỳ hạn dài,… chi nhánh nên chủ động cung cấp thông tin về kỳ hạn, mức thay đổi lãi suất cũng như những sản phẩm mới của hình thức huy động vốn để khách hàng lựa chọn và điều chỉnh lãi suất sao cho phù hợp. Với những khách hàng kinh doanh quan tâm đến tiện ích của các dịch vụ chi nhánh nên kịp thời chủ động thực hiện yêu cầu của khách hàng. Tiếp tục triển khai các dịch vụ như chuyển tiền, thu đổi ngoại tệ, thanh toán séc du lịch, chi trả kiều hối, Western Union,… đến các điểm giao dịch của chi nhánh, mở bàn thu đổi ngoại tệ. Bằng giải pháp đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, chi nhánh vừa tăng được khả năng huy động vốn vừa nắm bắt thêm nhu cầu dịch vụ đa dạng của khách hàng. 2.2.3. Hoàn thiện công nghệ ngân hàng. Hiện nay tại NHTMCPCTVN – CN Nam Thăng Long phụ trách khá nhiều máy ATM rút tiền trên địa bàn mà chi nhánh phụ trách. Mặc dù máy rút tiền của chi nhánh nhiều nhưng bên cạnh đó cũng cần phải hiện đại, đảm bảo được tính an toàn cho ngân hàng cũng như khách hàng. Ngân hàng cần nâng cấp máy rút tiền tự động và có đội ngũ chuyên trách trong việc xử lý các tình huống về máy móc đảm bảo được tiện ích tốt nhất cho khách hàng. Những trục trặc kĩ thuật tuy nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của khách hàng, ảnh hưởng đến nguồn huy động của ngân hàng đặc biệt là nguồn tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kì hạn. Thêm vào nữa chi nhánh cũng cần đề nghị lên NHTMCPCTVN hoàn thiện hơn nữa hệ thống giao dịch BDS đảm bảo được việc thông suốt trong quá trình giao dịch tại ngân hàng. Tránh hệ thống bị đơ máy dẫn đến khách hàng phải chờ đợi lâu làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào ngân hàng. Chi nhánh cũng cần quan tâm và hướng dẫn nhân viên cách sử dụng và bảo quản các tài sản cho ngân hàng, đảm bảo được việc thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng, thuận tiện cho cả cán bộ ngân hàng, cả khách hàng. Ngoài ra vấn đề công nghệ còn là vấn đề lâu dài và cần nhiều vốn do đó đòi hỏi chi nhánh phải có những kế hoạch trước, theo dõi sâu sát để nhìn nhận ra được vấn đề, đề ra được chiến lược cũng như kế hoạch trước để có thể được thực hiện kịp thời. 3.2.4. Nâng cao chất lượng marketing ngân hàng. Tầm quan trọng của hoạt động marketing ngân hàng luôn được biết đến, nó mang ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM. Đó là công cụ hữu hiệu, không thể thiếu nhằm giúp cho ngân hàng có thể cung cấp thông tin về bản thân ngân hàng cũng như những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu khách hàng. Thời gian vừa qua hoạt động marketing của chi nhánh đã được thực hiện nhưng vẫn chưa được đặc biệt chú trọng bởi tâm lý NHTMCPCTVN trước kia là ngân hàng của nhà nước là NHCTVN nên cũng đã nhiều người, hay các doanh nghiệp biết đến. Tuy nhiên thời gian gần đây có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập và họ cũng luôn hướng tới các dịch vụ ngân hàng do đó chi nhánh cần quan tâm tuyên truyền nhiều hơn nữa không chỉ về thương hiệu Vietinbank – CN Nam Thăng Long mà chủ yếu còn là các sản phẩm tiện ích gây được mối thiện cảm của khách hàng. Chi nhánh có thể sử dụng các hình thức quảng cáo thương hiệu như dán áp phích, băng rôn tại trụ sở hoặc phòng giao dịch để gây sự chú ý và biết đến nơi tọa vị của chi nhánh cũng như các phòng giao dịch sẽ giúp cho người dân biết đến chi nhánh. Đồng thời tuyên truyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình, báo chí …. Ngoài ra chi nhánh cũng cần có các chương trình giới thiệu tuyên truyền cho khách hàng hiểu rõ hơn các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh, và xác định mỗi nhân viên là một tuyên truyền viên tích cực vận động khách hàng tiếp cận với các sản phẩm dịch vụ của chi nhánh. Để quảng bá thương hiệu của mình chi nhánh cũng có thể tài trợ cho các chương trình, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể thao tham gia các hoạt động từ thiện như ủng hộ lũ lụt, hỗ trợ người nghèo, xây nhà tình nghĩa, trao học bổng cho sinh viên, …. . Bên cạnh đó chi nhánh cũng cần tích cực điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, thói quen, chu kì sinh hoạt của họ để đưa ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu nhằm thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức. Mở rộng các dịch vụ kết hợp giữa hình thức gia dịch truyền thống (giao dịch qua chi nhánh, phòng giao dịch) và giao dịch hiện đại (giao dịch qua mạng, qua ATM, các điểm bán hàng chấp nhận thanh toán qua thẻ….) để tăng khả năng tiếp cận khách hàng. Chi nhánh nên thành lập phòng marketing để chuyên môn hóa trong các công tác về thị trường, khách hàng và xúc tiến các hoạt động kinh doanh, có một bộ phận làm công tác nghiên cứu thị trường để tìm hiểu nhu cầu của từng nhóm khách hàng, tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh giúp ban lãnh đạo đưa có thể đưa ra các chiến lược kinh doanh hiệu quả. 3.2.5. Thường xuyên đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngân hàng. Cần hơn nữa việc hoàn thiện trình độ nghiệp vụ cũng như các kĩ năng mềm của cán bộ trong chi nhánh. Bởi ai cũng biết được rằng nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất. Do đó để có được một đội ngũ cán bộ tốt thì chi nhánh đặc biệt phải quan tâm nâng cao trình độ cho nhân viên để thích ứng với các dịch vụ hiện đại của ngân hàng, đáp ứng được mọi yêu cầu dịch vụ của khách hàng. Hình thức đào tạo có thể là liên kết với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ đào tạo có chất lượng kết hợp với việc đào tạo tại cơ quan do các nhân viên cao cấp hướng dẫn. Hình thức đào tạo tại cơ quan sẽ mang tính trực quan sinh động và dễ tiếp nhận hơn đối với nhân viên của ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng có thể thành lập Trung tâm đào tạo để đưa nhân viên đi đào tạo định kì những kiến thức cập nhật, những kĩ năng hiện đại giúp nhân viên nhận thức sâu và rộng hơn về lĩnh vực hoạt động của mình. Ngoài ra cũng nên phổ biến các khóa học về chủ trương, triển khai các gói sản phẩm mới, tiện ích và chất lượng cho nhân viên để nhân viên có cái nhìn toàn diện hơn, tổng quan hơn về ngân hàng, dễ dàng tư vấn cho khách hàng những sản phẩm phù hợp với từng hoàn cảnh đối tượng khách hàng. 3.2.6. Mở rộng mạng lưới chi nhánh. Đối với hoạt động huy động vốn của chi nhánh giải pháp này được coi là giải pháp trọng tâm và cấp bách hàng đầu. Thực tế khi mở rộng mạng lưới kinh doanh đã tạo điều kiện giúp công tác huy động vốn của chi nhánh đạt được những kết quả khả quan. Do đó trong những năm tiếp theo để giữ được những khách hàng cũ đồng thời thu hút thêm được nhiều khách hàng mới chi nhánh cần xây dựng kế hoạch đẩy mạnh công tác mở rộng mạng lưới kinh doanh. Cụ thể có thể thành lập thêm một số phòng giao dịch tại các khu dân cư tập trung nhất, đặc biệt là các khu đô thị mới và khu trung cư đồng thời nâng cấp những điểm giao dịch hoạt động có hiệu quả lên thành phòng giao dịch. Mở rộng thêm những chức năng của phòng giao dịch, thực hiện các dịch vụ chuyển tiền, thu đổi ngoại tệ và làm các đại lý cho các tổ chức và cá nhân khác. Đặc biệt nên tập trung nâng cấp toàn diện, thay đổi địa điểm giao dịch và phòng giao dịch thuận tiện và khang trang hơn nhằm thu hút và đáp ứng tốt công tác phục vụ khách hàng trong giao dịch và nâng cao vị thế của chi nhánh. 3.3. Một số kiến nghị nhằm tăng cường huy động vốn tại CN NTL. Vậy ngoài những cố gắng nỗ lực hoàn thiện của bản thân chi nhánh thì công tác huy động vốn cũng cần được quan tâm hơn nữa bởi các cơ quan chức năng cũng như các cấp nghành liên quan. 3.3.1. Đối với các cơ quan quản lý Nhà Nước và Chính phủ. Các cơ quản quản lý nhà nước đặc biệt là chính phủ có vai trò chủ yếu và quan trọng trong việc thực hiện mọi hoạt động quốc gia, điều hành mọi hoạt động kinh tế. Tình hình kinh tế - xã hội phát triển nhanh chóng, có nhiều biến động, thách thức đồng thời cũng có nhiều mối quan hệ phát sinh đòi hỏi phải được điều chỉnh và có sự quản lý của chính phủ, hệ thống pháp luật. Do đó Chính phủ cần có những biện pháp bảo đảm luật pháp phải được thực hiện nhất quán và triệt để nhất là trong lĩnh vực ngân hàng. Về mặt pháp lý Chính phủ cũng như các cơ quan chức năng của nhà nước có liên quan cần ổn đinh môi trường pháp lý. Môi trường hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đang từng bước hoàn thiện, tạo điều kiện hoạt động thuận lợi cho các ngân hàng. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số bất cập như nhiều văn bản pháp lý về hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ, còn gây khó khăn cho hoạt động của một số ngân hàng. Vì vậy, kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan ban nghành tiếp tục xây dựng và từng bước sửa đổi hoàn thiện khung pháp lý, chỉnh sửa và bổ sung luật NHNN, luật các tổ chức tín dụng theo hướng quy định rõ quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các NHTM, bảo đảm sự bình đẳng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư. Đồng thời, cần có chính sách thúc đẩy mở rộng phát triển hoạt động ngân hàng, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế. Về kinh tế: Chính phủ cần ổn định nền kinh tế vĩ mô vì môi trường kinh tế ổn định và tăng trưởng cao sẽ tạo điều kiện cho người dân có việc làm thu nhập ổn định, tăng tích lũy, các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh có hiệu quả đem lại thu nhập cao cho các cá nhân và tổ chức, nhờ đó tiền gửi của cá nhân và tổ chức tại các NHTM tăng lên, làm nâng cao khả năng thu hút vốn của các NHTM cũng như mở rộng và phát triển hoạt động huy động vốn. Để làm được điều đó, Chính phủ phải có các chính sách kinh tế đúng đắn tạo điều kiện cho tất cả các nghành nghề, lĩnh vực cùng cạnh tranh lành mạnh và cùng phát triển. Chính phủ cũng cần kiểm soát và điều chỉnh lạm phát, ổn định thị trường tài chính tiền tệ, chế độ tỷ giá, về lãi suất. Nhà nước cần can thiệp vào thị trường ở mức độ nhất định để kiểm soát thị trường, duy trì tốc độ tăng trưởng, quản lý tốt nền kinh tế, ổn định tỷ giá hối đoái nhằm nâng cao uy tín của các ngân hàng và niềm tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng, để hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng, thu hút tối đa nguồn vốn, phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Ngoài ra, cần thúc đây thị trường tài chính trong nước phát triển để tạo cơ hội cho các NHTM đa dạng hóa các phương thức huy động vốn, đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, đặc biệt thị trường chứng khoán sẽ là một thuận lợi cho công tác huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Hiện nay, các NHTM chỉ được phép phát hành các giấy tờ có giá trị như: kỳ phiếu, trái phiếu,…. Cho phép các ngân hàng năng động hơn trong tăng cường huy động vốn, đáp ứng nhu cầu tăng tài sản, thúc đẩy quá trình phát triển thị trường chứng khoán. Mặt khác, Chính phủ cần khuyến khích các cơ quan khi mua bán, chỉ tiêu nên thanh toán qua các ngân hàng nhằm phát triển hoạt động thanh toán hóa không dùng tiền mặt. Bắt buộc các đơn vị, tổ chức mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng để chuyển kinh phí hoạt động qua tài khoản của họ tại ngân hàng. 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam. NHNN là ngân hàng của các ngân hàng, mọi quyết định và hành động của NHNN đều ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam. Bởi vậy, NHNN cần có những chính sách hợp lý và cách thức điều hành đúng đắn để tác động tích cực đến các NHTM. Trong thời gian qua NHNN đã điều chỉnh và ban hành nhiều chính sách ngân hàng nhằm thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển. Trước những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới và trong nước, NHNN cần có nhiều điều chỉnh và hỗ trợ các NHTM hơn nữa. Cụ thể : - NHNN cần xây dựng và hoàn thiện chính sách tiền tệ đồng bộ và sử dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ để điều hòa lượng tiền lưu thông. Thực hiện chính sách lãi suất tự do theo thị trường để tạo điều kiện nâng cao khả năng huy động vốn của các NHTM. - NHNN cần tăng cường hoạt động tái phân bổ giữa các NHTM. NHNN cũng nên tạo điều kiện để các NHTM hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, nhất là giữa ngân hàng quốc doanh và ngân hàng cổ phần. Thị trường liên ngân hàng phát triển sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tiền gửi, điều hòa vốn trong hệ thống ngân hàng nhằm thúc đẩy hoạt động huy động vốn của các NHTM cũng như hạn chế được các rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. - NHNN cần theo dõi sát sao thị trường để thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt. Mặt khác, việc phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi để bảo vệ an toàn cho khách hàng cũng như các ngân hàng. - Kiềm chế làm phát, ổn đinh đồng nội tệ vì hiện tại nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng, tỷ giá hối đoái chưa thực sự ổn định, gây khó khăn cho các NHTM khi huy động vốn. Ngoài ra, NHNN cần có những ưu đãi, hỗ trợ tài chính cho các NHTM khi gặp khó khăn trong huy động vốn. 3.3.3 Kiến nghị đối với NHTMCPCTVN. NHTMCPCTVN ngày càng phát triển và khẳng định được vị thế trên thị trường cả nước và quốc tế. Để giữ vững và tiếp tục phát triển, ngân hàng cần có những chiến lược thích hợp mở rộng quan hệ quốc tế, thu hút nguồn vốn thông qua ủy thác dầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. - Ngân hàng nên tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh trong hoạt động kinh doanh, nhất là hoạt động huy động vốn và quản lý nguồn vốn để chi nhánh xây dựng được các chiến lược kinh doanh đúng đắn. Triển khai kịp thời và hướng dẫn thực hiện các văn bản pháp lý của Chính phủ, NHNN nhằm tạo điều kiện cho các chi nhánh hoạt động trong khuân khổ pháp luật và chất lượng các dịch vụ không ngừng được nâng cao. - Tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên hội sở chính, các chi nhánh để phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm và quản lý các rủi ro, Các khoản nợ xấu. Đồng thời mở rộng và phát triển các hình thức huy động mới, các sản phẩm, dịch vụ hiện đại, an toàn, chi phí hợp lý như bổ sung, nâng cấp các máy rút tiền tự động, các chương trình ứng dụng,… - Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, nhân viên ngân hàng. Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ, hiện đại phục vụ cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Mặt khác, hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin một cách đồng bộ, đưa công nghệ hiện đại vào các thao tác nghiệp vụ, đẩy mạnh công tác thanh toán điện tử,…nhằm tăng hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của chi nhánh. - Mở rộng hoạt động marketing ngân hàng, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng thông qua tất cả các hình thức quảng cáo. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu và tìm hiểu về hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của ngân hàng thương mại cụ thể là NHTMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long có thể thấy việc cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế là một yêu cầu cấp thiết trong sự nghiệp phát triển của đất nước bới nguồn vốn chính là đầu vào quan trọng mang tính quyết định đối với sự tăng trưởng kinh tế. Các NHTM luôn đặt mục tiêu này lên hàng đầu do đó không ngừng tìm kiếm đa dạng hóa các phương thức huy động vốn nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ để huy động tối đa nguồn vốn Là một chi nhánh cấp một của NHTMCP Công thương Việt Nam, Chi nhánh Nam Thăng Long luôn cố gắng nỗ lực hoàn thành mục tiêu mà NHTMCP Công thương Việt Nam giao cho. Qua thời gian thực tập và tìm hiểu em nhận thấy đây là một chi nhánh có uy tín và nỗ lực trong hoạt động huy động vốn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của quận Cầu Giấy cũng như sự phát triển của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng trong những năm qua. Do đó trước sự biến động của nền kinh tế, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tiền tệ, chi nhánh cần phải tiếp tục cố gắng hơn nữa trong công tác huy động vốn của mình để khẳng định vị thế trên thị trường.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBáo cáo tốt nghiệp- Tăng cường huy động vốn tại NHTMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Nam Thăng Long.pdf
Luận văn liên quan