Tăng cường huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

MỤC LỤC CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI HUY ĐỘNG VỐN ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ I.CÁC NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN ĐẦU TƯ 1.Vốn đầu tư 1.1 Khái niệm 3. Các nguồn hình thành vốn đầu tư 3.1 Tiết kiệm trong nước 3.2 Đầu tư nước ngoài II. NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Khái niệm vốn huy động trong ngân hàng thương mại 2.Tầm quan trọng của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 3. Các nguồn vốn huy động 3.1 Nguồn tiền gửi 3.2 Nguồn đi vay 3.3. Nguồn khác III. HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ CỦA NHTM 1. Khái quát hoạt động Huy động vốn từ dân cư của NHTM 1.1 Đặc điểm của tiền gửi dân cư tại NHTM 1.2 Vai trò của huy động vốn từ dân cư 1.3 Hình thức huy động vốn từ dân cư 2 Các chỉ tiêu phản ánh hoạt động huy động vốn từ dân cư của NHTM 2.1. Nhóm chỉ tiêu định lượng 2.2. Nhóm chỉ tiêu định tính 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn từ dân cư của NHTM 3.1 Nhân tố khách quan 3.2 Nhân tố chủ quan CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHU VỰC DÂN CƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH 3, NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1.Khái quát về Sơ giao dịch 3, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 1.1 Quá trình hình thành và phát triển 2.1 Thực trạng huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3,Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 2.1.1 Quy mô của lượng vốn huy động 2.1.2 Cơ cấu vốn huy động 2.1.3 Tỷ lệ tổng huy động vốn dân cư / tổng vốn huy động của toàn ngân hàng 2.1.4 Chi phí huy động / quy mô huy động 2.3 Đánh giá hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3 2.3.1Những thành tựu 2.3.2Những hạn chế CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH 3, NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM I .Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Sơ giao dịch 3, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam II. Giải pháp tăng cường huy động vốn từ dân cư tại Sơ giao dịch 3, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 1. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, tăng nhanh nguồn vốn kinh doanh 2. Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt 3. Nâng cao chất lượng sử dụng vốn 4.Mở rộng và cải tiến các dịch vụ 5. Nâng cao chất lượng phục vụ, củng cố uy tín của ngân hàng 6 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng III. Kiến nghị 1. Đối với chính phủ 2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 3 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc75 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 15/05/2013 | Lượt xem: 2059 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tăng cường huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
buôn đối với các Dự án TCNT, vai trò đầu mối quản lý hoạt động đại  lý ủy thác của toàn Ngành cũng như các hoạt động ngân hàng thương mại hiện đại để trở  thành một Sở giao dịch hiện đại của một Tập đoàn ngân hàng tài chính hiện đại - BIDV 2.1 Thực trạng huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3,Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam trong những năm vừa qua đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm.Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam hội nhập toàn diện vào nên kinh tế thế giới, bước đầu thực hiện các cam kết của WTO về thương mại.Các chỉ tiêu kinh tế đạt tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm qua, trong đó vốn ODA cam kết tài trợ cho năm tài khóa 2007 đạt mức kỷ lục với 4,4 tỷ USD. Về chính trị Việt Nam được bầu là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an Liên Hợp quốc chứng tỏ uy tín và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên thị trường quốc tế.Ngành ngân hàng cũng có nhiều thay đổi tích cực theo thông lệ quốc tế.Những yếu tố này là điều kiện thuận lợi để SDG3 triển khai hiệu quả những mục tiêu định hướng của năm, phát huy vai trò ngân hàng bán buôn Dự án TCNT và ngân hàng đầu mối phục vụ hoạt động ủy thác của toàn ngành, tạo điều kiện mở rộng hoạt động ngân hàng thương mại.Bên cạnh đó, các yếu tố giá cả, giá vàng, tỷ giá và lãi suất biến động mạnh cùng với thiên tai, lũ lụt có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các ngân hàng thương mại nói chung và hoạt động của SGD3 nói riêng.Ngay từ đầu, SGD3 đã tập trung mọi nguồn lực, nỗ lực phấn đấu bằng các giải pháp cụ thể, toàn diện, đồng bộ và quyết liệt trong triển khai nhằm đạt được các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh được Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam giao, lập thành tích chào mừng Sinh nhật vàng 50 năm thành lập Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam và 5 năm thành lập SGD3. Chính vì vậy các mặt hoạt động của SGD3 trong năm 2007 luôn đảm bảo an toàn, tăng trưởng và hiệu quả. Đến 31/12/2007, SGD3 đã đạt và vượt mức các chỉ tiêu kinh doanh được giao, đặc biệt hoành thành xuất sắc các chỉ tiêu hiệu quả: -Tổng tài sản đạt 16.856 tỷ VNĐ, hoàn thành 300% kế hoạch, tăng 4.245 tỷ VNĐ (34%) so với năm 2006. - Huy động vốn đạt 6.526 tỷ VNĐ, hoàn thành 181% kế hoạch, tăng 2.570 tỷ VNĐ (79%) so với năm 2006. - Dư nợ Dự án TCNT đạt 4.128 tỷ VNĐ, hoàn thành 131% kế hoạch năm , trong đó Dư nợ Dự án TCNT 2 - cấu phần tín dụng - đạt 2.816 tỷ VNĐ, tăng 23% so với năm 2006 và hoàn thành 119% kế hoạch năm. Với quá trình chuẩn bị tích cực cho Dự án TCNT 3, SGD 3 được WB và Chính phủ lựa chon là Ngân hàng bán buôn cho Dự án TCNT 3 với số vốn tài trợ 200 triệu USD. - Tiếp nhận ủy thác phục vụ 14 chương trình, dự án với tổng số vốn ủy thác đạt tương đương 1.450 triệu USD, đạt 145% kế hoạch năm. - Triển khai cho vay thương mại theo đúng định hướng với số vốn cam kết 760 tỷ VNĐ và dư nợ đến hết 31/12/2007 đạt 32 tỷ VNĐ. - Chênh lệch thu chi chưa trích DPRR đạt 171 tỷ VNĐ, hoàn thành 146% kế hoạch năm và chênh lệch thu chi trên bình quân đầu người đạt 2 tỷ VNĐ/người so với 1,27 tỷ VNĐ/người năm 2006. Lợi nhuận trước thuế đạt 141 tỷ VNĐ, tăng 47 tỷ VNĐ (50%) so với năm 2006.ROA đạt 1,07%. - Thu dịch vụ ròng đạt 15,3 tỷ VNĐ, đạt 153% kế hoạch năm, đưa thu dịch vụ ròng bình quân đầu người đạt 179 triệu VNĐ/người. STT CHỈ TIÊU TH NĂM 2006 NĂM 2007 KH TH đến 31/12/2007 % so KH So với năm 2006 Tuyệt đối (%) I Chỉ tiêu quy mô 1 Tổng tài sản 12,611 14,027 16,856 300% 4,245 34% 2 Dư nợ D/A TCNT 1 1,121 1,069 1,109 104% -12 -1% 3 Dư nợ D/A TCNT 2 2,465 2,932 3,019 119% 554 23% Cấu phần A 2,355 2,800 2,887 119% 532 23% Cấu phần B 110 132 132 100% 22 20% 4 Dư nợ ĐLUT 4,320 5,153 4,994 81% 674 16% 5 Số vốn mới (triệu USD) 742 1,000 1,450 145% 708 95% 6 Dư nợ thương mại 100 32 32% 7 Huy động vốn cuối kỳ 3,656 3,600 6,526 181% 2,870 79% 8 Huy động vốn bình quân 2,701 3,940 1,239 46% 9 Định biên lao động 82 100 106 24 29% II Chỉ tiêu hiệu quả 1 Nợ quá hạn (%) <1 <1 <1 2 Chênh lệch thu chi 104,2 116,8 171 146% 67 64% 3 Trích DPRR 10,4 29,8 4 Lợi nhuận trước thuế 93,8 141 47 50% 5 Thu dịch vụ ròng 6,4 10 15,3 153% 9 139% 6 Chênh lệch thu chi/Lao động bq 1,27 2 0,6 46% 7 Sử dụng HM D/A TCNT 2(%) 93 84 III Chỉ tiêu chính theo WB 1 Số định chế tham gia D/A 23 25 2 2 Tỉ trọng DN TDH RDF 2 (%) 90 <75 84 Năm 2008 lại là năm nên kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng gặp nhiều khó khăn. Cuộc khủng hoảng tài chính, ngân hàng toàn cầu đã khiến một loạt các ngân hàng lớn trên thế giới sụp đổ hoặc phải sáp nhập…Nền kinh tế Việt Nam vì thế chịu ảnh hưởng,tác động đến ngân hàng tài chính nói chung và hoạt động kinh doanh của SGD3 riêng.Sang năm 2008, Sở GD3 chuyển sang hoạt động tại trụ sở mới song song với nhiệm vụ ngân hàng bán buôn, Sở đã chính thức triển khai mô hình hoạt động mới với đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, Sở Giao dịch 3 đã chủ động, sáng tạo, tập trung mọi nguồn lực, thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp thiết thực, toàn diện, đồng bộ để tạo mức tăng trưởng đột phá, toàn diện cả về quy mô và chất lượng. Các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh đều được hoàn thành vượt trội. Sở Giao dịch 3 luôn được đánh giá là một trong những đơn vị dẫn đầu hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt nam trong hoạt động kinh doạnh.Kết quả cụ thể : Tổng tài sản tăng trưởng bình quân 35% qua các năm và đạt 19.485 tỷ VNĐ năm 2008. Số dư huy động vốn tăng trưởng bình quân 60% /năm, đạt 7.730 tỷ VNĐ năm 2008. Tổng dư nợ tăng trưởng bình quân 17%, đạt 10.105 tỷ VNĐ năm 2008 trong đó dư nợ Dự án TCNT 1 và 2 đạt 3.676 tỷ USD, dư nợ đại lý ủy thác đạt 6.222 tỷ VNĐ Thu dịch vụ ròng tăng trưởng bình quân 199% trong giai đoạn 2006-2008 và đạt 38,7 tỷ VNĐ năm 2008. Chênh lệch thu chi năm 2008 đạt mức tăng trưởng 35% so với năm 2007. Lợi nhuận trước thuế bình quân đầu người tăng trưởng năm 20% là một trong những chi nhánh có mức tăng trưởng cao trong hệ thống Năm 2009, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực trên diện rộng về mọi mặt đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù Chính phủ và Ngân hàn Nhà nước đã chỉ đạo và thực hiện quyết liệt các giải pháp ổn định thị trường tiền tệ, hỗ trợ hoạt động kinh doanh nhưng hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt nam nói riêng vẫn phải đối mặt với sự suy giảm nguồn vốn huy động, sự mất cân đối giữa cho vay và huy động vốn, đặc biệt là VNĐ, diễn biến tỷ giá… Mặc dù gặp phải nhiều thách thức từ sự khó khăn chung của nền kinh tế nhưng với quyết tâm nỗ lực vượt qua những thử thách khó khăn, bám sát chỉ đạo của Hội Sở chính, SGD3 đã tập trung mọi nguồn lực, đưa ra các giải pháp cụ thể, linh hoạt và toàn diện để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với chênh lệch thu chi lớn, hoạt động hiệu quả, an toàn, hoạt động ngân hàng thương mại được đẩy mạnh song song với việc tiếp tục mở rộng triển khai thành công hoạt động Dự án TCNT và ngân hàng đại lý ủy thác. Với những nố lực không ngừng đó, SGD3 đã hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu kinh doanh với những thành tích nổi bật sau: Chênh lệch thu chi đạt 436 tỷ VNĐ, tăng trưởng 28% so với năm 2008, và hoàn thành 131% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế bình quân đầu người tăng trưởng 67% so với năm 2008 (đạt 2,95 tỷ VNĐ/ người năm 2009 so với 1,77 tỷ VNĐ/người năm 2008). Thu dịch vụ ròng bình quân đầu người đạt 485 triệu VNĐ/người, tăng 42% so với năm 2008 và cao hơn gấp 2 lần so với mức bình quân trên địa bàn Hà nội trong đó lãi kinh doanh ngoại tệ cao nhất hệ thống với 44,7 tỷ VNĐ, tăng 55% so với năm 2008 Huy động vốn (bao gồm các khoản ghi nhận rút vốn Dự án TCNT và đại lý ủy thác) đạt 5.664 tỷ VNĐ, trong đó huy động vốn trên cân đối đạt 4.415 tỷ VNĐ trong bối cảnh năm 2009, SGD3 đã phải hoàn trả tổng số tiền 4.832 tỷ VNĐ theo yêu cầu của Bộ Tài chính để phục vụ nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước. Dư nợ thương mại đạt 400 tỷ VNĐ, hoàn thành 100% kế hoạch năm, đảm bảo chất lượng tín dụng tốt, không phát sinh nợ quá hạn. SGD3 luôn đảm bảo tuân thủ nghiêm chỉ đạo của Hội Sở chính về giới hạn tín dụng và Hệ số Q. Chênh lệch thu chi chưa trích DPRR đạt 436 tỷ VNĐ, hoàn thành 131% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế đạt 363 tỷ VNĐ, bình quân 2,95 tỷ VNĐ/người. Trích DPRR đạt 73 tỷ VNĐ , trong đó trích dự phòng chung cho hoạt động thương mại (2 tỷ VNĐ), còn lại là trích dự phòng cho Dự án TCNT (71 tỷ VNĐ) .Đến hết năm 2009, quỹ dự phòng rủi ro Dự án TCNT đạt 268 tỷ VNĐ. Thu dịch vụ ròng (bao gồm cả lãi kinh doanh ngoại tệ ghi nhận ) đạt 59,6 tỷ VNĐ, bình quân 485 triệu VNĐ/người, hoàn thành 101% kế hoạch năm. Các chỉ tiêu cơ bản về hoạt động kinh doanh của SGD3 năm 2009 STT CHỈ TIÊU 2008 2009 TH %HTKH KH TH %HTKH % TT so với 2008 1 Tổng dư nợ 10.106 11.825 13,410 32% 1.1 Dự nợ D/A TCNT 3.6850 4425 4,422 20% Dự nợ D/A TCNT 1 1.028 101% 1.000 1,058 3% Dự nợ D/A TCNT 2 1/2/1900 3,060 3,039 14% Cấu phần A 2.483 99% 2,850 2,823 14% Cấu phần B 173 102% 210 216 24% Dự nợ D/A TCNT 3 365 325 1.2 Hoạt động ĐLUT Dự nợ ĐLUT 6,222 111% 7,000 8,588 304% 38% Số vốn mới(triệu USD) 1,700 100% 1,500 1,637 109% -4% 1.3 Dự nợ tín dụng 1999 100% 400 400 100% 101% 2 Tỷ lệ dư nợ TM TDH/TDN 78,1% 80% 74% 3 Tỷ lệ dư nợ TM TSĐB/TDN 15,6% 34% 36% 4 Tỷ lệ dư nợ NQD/TDN 44% 45% 5 Tỷ lệ dư nợ TM bán lẻ 5,6% 2% 3% 6 Huy động vốn 7,300 5664 78% 6.1 Huy động vốn cuối kỳ(chưa bao gồm các khoản ghi nhận 7,730 239% 4,415 -43% Huy động vốn được ghi nhận 1249% 6.2 HĐV BQ 8,114 6,200 6,320 102% -22% 7 Nợ quá hạn (%) 0,5% 0% 8 CLTC chưa trích DPRR 340,3 137% 333 436,2 131% 28% 9 Trích DPRR 142,2 113% 43,5 73,6 169% 10 CLTC đã trích DPRR 198,1 289,5 362,6 125% 83% 11 Thu dịch vụ ròng 58,9 59,6 101% Thu DV ròng (trên cân đối) 38,7 138% 33,5 32,6 97% -16% Thu DV ròng (số ghi nhận ) 25,4 27 106% 12 Doanh thu khai thác phí BH 0,1 0,23 230% 2.1.1 Quy mô của lượng vốn huy động: Lượng vốn huy động của SGD3 liên tục tăng trưởng cao trong những năm gần đây 100% vào năm 2007, 96 % vào năm 2008 và chỉ chững lại vào năm 2009 do chịu ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế chung trên toàn câu.Cùng với sự gia tăng về lượng vốn huy động từ các nguồn khác và nhờ có những chính sách mới trong huy động vốn từ dân cư nên vốn huy động từ dân cư cũng không nhừng tăng đạt mức kỷ lục 1230 tỷ VNĐ năm 2008 Đây là con số đáng ghi nhận trong giai đoạn khung hoảng của nền kinh tế toàn cầu, và có sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong việc thu hút nguồn tiền gửi từ dân cư, đặc biệt là trong điều kiện sự tương đồng giữa các hình thức sản phẩm huy động vốn và “cuộc chạy đua lãi suất” giữa các NH vẫn còn rất khó dự báo trước. Biểu đồ 1 :Quy mô lượng vốn huy động giai đoạn 2006 - 2009 Biểu đồ trên cho ta thấy nguồn vốn huy động từ dân cư luôn có mức tăng trưởng khá cao qua các năm. Năm 2007, vốn huy động từ dân cư đạt 865 tỷ đồng, tăng trưởng 160% so với năm 2006. Năm 2008, lượng vốn huy động từ dân cư đã tăng lên 143% so với năm 2007, đạt mức 1230 tỷ đồng. Có được sự tăng trưởng như vậy là do vài năm trở lại đây, nền kinh tế trong nước đã và đang có những bước phát triển đáng khích lệ( gia nhập WTO,Chủ tịch ASEAN,được bầu là thành viên không thường trực của hội đồng bảo an Liên Hợp quốc) , làm cho mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhiều gia đình, nhiều người đã có điều kiện tích lũy, nguồn tiết kiệm đang ngày càng tăng lên. Mặc dù đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng ngân hàng cũng đưa ra những hình thức huy động vốn mới với các mức lãi suất hấp dẫn, hiện nay ngân hàng đang cung cấp những sản phẩm huy động dành cho cá nhân bao gồm: -Tiền gửi tiết kiệm thanh toán bằng Việt Nam Đồng -Tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ -Tiết kiệm tích lũy bảo an -Tiết kiệm có kỳ hạn -Tiết kiệm bậc thang -Tiết kiệm ổ trứng vàng -Tiết kiệm rút gốc linh hoạt -Tiền gửi kinh doanh chứng khoán -Tiền gửi tích lũy theo hoa hồng -Phát hành GTCG -Tiết kiệm siêu linh hoạt Trong những tháng đầu năm 2008, đã có một biến động lớn đối với công tác huy động vốn của các hệ thống NHTM, đó là việc cấc NHTM liên tục tung ra những biểu lãi suất huy động rất cao đối với những loại tiền gửi bằng VNĐ, lãi suất thay đổi từng ngày đã gây nên cuộc “cuộc chạy đua lãi suất” giữa các Ngân hàng và đã có lúc lãi suất bị đẩy vượt mức 21%. Trước những biến động như vậy, dưới sự chỉ đạo của NHNN, SGD3 cũng có những chính sách lãi suất huy động linh hoạt, phù hợp với điều kiện thị trường và thu hút được nhiều khách hàng đến gửi tiền. 2.1.2 Cơ cấu vốn huy động Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh, có thể phân loại đối tượng khách hàng của hoạt động huy động vốn gồm: khối khách hàng doanh nghiệp, khối khách hàng dân cư, khách hàng là các tổ chức tín dụng khác. Sự phân loại này giúp cho NHTM đưa ra các hình thức huy động và chính sách lãi suất cho phù hợp với từng đối tượng và quan trọng hơn là đánh giá hiệu quả huy động vốn + Cơ cấu vốn theo đối tượng khách hàng Bảng 4: Cơ cấu vốn theo đối tượng khách hàng Đơn vị: % Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 Tiền gửi doanh nghiệp 43,11 49,42 54,18 53,20 53,37 Tiền gửi dân cư 22,34 24,12 21,95 15,91 17,73 Tiền gửi khác 34,55 26,46 23,87 30,89 28,90 Nguồn: báo cáo thường niên của NH năm 2007,2008,2010 Biểu đồ 2: Cơ cấu vốn theo đối tượng khách hàng Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng khách hàng có sự thay đổi rõ nét trong giai đoạn 2005 – 2009. Tiền gửi doanh nghiệp vẫn giữ vị trí chủ yếu trong vốn huy động, tuy nhiên tiền gửi dân cư và tiền gửi khác đang có xu hướng tăng lên tương đối ổn định. + Cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn có xu hướng tăng dần, đặc biệt trong đầu năm 2008, mức tăng cao gần 3000 tỷ, nguồn tăng này từ tiền gửi không kỳ hạn từ các khách hàng tại Quân Hai Bà Trưng và Quận Đống Đa. Tiền gửi có kỳ hạn tiếp tục tăng nhẹ trong năm 2008, tăng 50%, chủ yếu là từ tiết kiệm của dân cư. Bảng 5: Tiền gửi khách hàng ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn băng VNĐ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn bằng VNĐ Tiền gửi không kỳ hạn bằng ngoại tệ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn bằng ngoại tệ 1.662.356 12.062 82.228 1.634 2.375.356 13.342 92.343 2.043 Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn bằng VNĐ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn bằng VNĐ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn băng ngoại tệ 2.682.312 656.292 128.005 3.134.556 913.167 190.738 Tiền ký quỹ Tiền gửi ký quỹ bằng VNĐ Tiền gửi ký quỹ bằng ngoại tệ 22.832 22.214 30.809 23.925 Tiền gửi chuyên dùng Tiền gửi chuyên dùng bằng VNĐ Tiền gửi chuyên dùng bằng ngoại tệ 646 2.792 1.512 3860 Tổng 6.551.159 9.776.279 Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2007,2008 + Cơ cấu theo loại tiền tệ Bảng 6: Cơ cấu theo loại tiền tệ Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu 2006 2007 2008 Lượng Tăng giảm % thay đổi Lượng Tăng giảm % thay đổi Tổng nguồn huy động từ dân cư 1.549 2.981 1.432 92% 4.145 1.164 39,04% Tỷ trọng 100% 100% 100% Nguồn vốn nội tệ 1.285 2.563 1.278 99,45% 3.771 1.208 47,13% Tỷ trọng 83% 86% 91% Nguồn vốn ngoại tệ 264 418 154 58,33% 374 - 44% - 5,2% Tỷ trọng 17% 14% 9% Năm 2008, nguồn vốn huy động bằng VNĐ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động từ dân cư. Cụ thể: năm 2007 nguồn vốn nội tệ là 2.563 tỷ đồng tăng 1.278 tỷ so với năm 2006, năm 2008 tỷ lệ này tiếp tục tăng cao và đạt mức 3.771 tỷ đồng làm cho tỷ trọng của nguồn huy động bằng nội tệ tăng lên đến 91%. Trong khi tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng nội tệ có chiều hướng tăng lên mạnh mẽ thì tỷ trọng huy động bằng ngoại tệ (chủ yếu bằng USD và EUR) đều có xu hướng giảm qua các năm. Sở dĩ như vậy là do năm 2008 nền kinh tế thế giới lầm vào khủng hoảng, đồng Đôla Mỹ mất giá liên tục, điều đó đã làm cho tâm lý người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Người dân không muốn nắm giữ đồng Đôla do sự sụt giảm giá trị của đồng tiền này. Mặt khác, cũng do lãi suất tiền gửi USD và EUR thấp hơn rất nhiều so với lãi suất huy động bằng VNĐ nên người dân cũng có xu hướng chuyển từ tiết kiệm ngoại tệ sang tiết kiệm bằng đồng nội tệ. Năm 2008, công tác huy động vốn luôn được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Giám đốc và các phòng ban, đặc biệt là huy động vốn từ dân cư là ưu thế nổi bật của NH. Đạt được những thành quả khích lệ đó là do ngân hàng đã có chính sách quảng bá tiếp thị các sản phẩm huy động mạng tính tiện ích cao, đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng. Và các chính sách này sẽ được ngân hàng tiếp tục áp dụng trong các năm tới để có thể đem đến chất lượng phục vụ tốt nhất cho khách hàng. 2.1.3 Tỷ lệ tổng huy động vốn dân cư / tổng vốn huy động của toàn ngân hàng Bảng 17: Tỷ lệ tổng huy động vốn dân cư / tổng vốn huy động của toàn ngân hàng Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2007 Tỷ trọng 2008 Tỷ trọng 2009 Tỷ trọng VHĐ từ dân cư 865 9,23% 1230 12,17% 1.105 8,24% Tổng 9.365 100% 10.106 100% 13.410 100% Nguồn: Báo cáo thường niên các năm 2007 - 2009 Không chỉ có sự tăng trưởng về quy mô lượng vốn huy động qua các năm, tỷ trọng vốn huy động từ dân cư trong tổng nguồn vốn huy động của NH cũng tăng lên đáng kể. Tuy tỷ trọng này trong năm 2009 không có biến động so với năm 2007 (thậm chí thấp hơn) về mặt tương đối nhưng lại đạt mức tăng cao trong con số tuyệt đối 1.105 tỷ đồng là một con số đáng khích lệ trong bối cảnh nên kinh tế toàn cầu đang suy thoái. Tỷ lệ này được dự báo là có xu hướng tăng lên trong năm 2010. Điều này cho thấy hoạt động huy động vốn từ dân cư tuy ít nhưng luôn chiếm một vị trí rất quan trọng trong hoạt động huy động vốn của Sở Giao dịch và là một nguồn vốn tiềm năng chưa khai thác hết trong tương lai.Trong giai đoạn 2007 – 2009 SDG luôn đạt được tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn ở mức lớn hơn 100%. Năm 2007 tỷ lệ này 132% và năm 2008 tỷ lệ này đã tăng lên mức 196%. Như vậy các chính sách huy động mà NH áp dụng đã và đang đạt được những thành công nhất định và cần được phát huy hơn nữa trong tương lai. Tuy nhiên ta cũng thấy rằng, mặc dù tỷ lệ này luôn cao hơn 100% nhưng NH đã biết cân bằng giữa chi phí mà NH phải trả cho những khoản tiền gửi và lãi thu được từ hoạt động sử dụng nguồn để vay. Nhờ vậy mà hiệu quả từ hoạt động huy động vốn của SGD vẫn được đảm bảo. 2.1.4 Chi phí huy động / quy mô huy động Bảng 8: Chi phí huy động / quy mô huy động Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2007 2008 2009 Chi phí trả lãi 540 680 770 Chi phí phi lãi 100 100 180 Chi phí trả lãi / Tổng nguồn VHĐ 40% 41% 36% Chi phí phi lãi / Tổng nguồn VHĐ 7% 6% 9% Nguồn: Báo cáo thường niên của NH năm 2007,2008,2009 + Xét tỷ lệ Chi phí lãi / Quy mô huy động vốn Ta thấy rằng chi phí trả lãi luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng chi phí của ngân hàng. Nhìn vào bảng biểu trên ta có thể thấy tỷ lệ chi phí trả lãi / Quy mô VHĐ đã giảm đi đáng kể trong năm 2008. Có được sự giảm sút như vậy là do trong năm 2008, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động từ dân cư đạt mức 27% trong khi tốc độ tăng trưởng chi phí trả lãi đạt 12%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng chi phí trả lãi thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn huy động, do đó có thể nói hoạt động huy động vốn từ dân cư của ngân hàng đã và đang đạt được những hiệu quả đáng khích lệ + Xét tỷ lệ Chi phí phi lãi / Quy mô vốn huy động Trong năm 2007 tuy tỷ lệ chi phí lãi có giảm đi nhưng mức giảm không đáng kể, và tỷ lệ này lại tiếp tục tăng lên trong năm 2008. Có rất nhiều lý do song có thể giải thích sự tăng lên này là do ngân hàng đã mở thêm nhiều chi nhánh ở các tỉnh thành trên cả nước, đồng thời trong năm nay, ngân hàng cũng đã đầu tư rất nhiều vào các hình thức quảng bá cho uy tín và các sản phẩm huy động mới của ngân hàng. Tuy nhiên, có thể thấy đây là một hình thức đầu tư ở hiện tại để có thể đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng trong tương lai. Do vậy, có thể nói mức tăng này vẫn trong tầm kiểm soát và đang ở mức có thể chấp nhận được Bảng 9: Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự (triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Trả lãi tiền gửi 71.169 757.879 Trả lãi tiền vay 1.905 16.728 Trả lãi phát hành giấy tờ có giá 2.787 Chi phí hoạt động tín dụng khác 1595 3383 Tổng 74.669 777.777 Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2008 Bảng 10: Phát hành giấy tờ có giá thông thường Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Chứng chỉ tiền gửi 184.785 198.484 Kỳ phiếu 6.458 16.465 Tổng 190.243 205.949 Chứng chỉ tiền gửi ngoại tệ có kỳ hạn từ 3 tháng tới 11 tháng và có lãi suất dao động từ 5,10% tới 5,60% / năm Đây là các kỳ phiếu bằng USD có kỳ hạn từ 6 đến 11 tháng và chịu lãi suất dao động từ 5% đến 5,2 %/ năm 2.3 Đánh giá hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3 2.3.1Những thành tựu: Những năm đổi mới vừa qua đất nước đang bước vào một thời kỳ tăng trưởng kinh tế mới, thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, bên cạnh sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới, do đó nền kinh tế Việt Nam đối mặt với những nhiệm vụ và thách thức mới. Mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trên địa bàn hoạt động , nhưng với sự nỗ lực trong thời gian qua công tác huy động vốn của NH đá đạt được những kết quả khích lệ Ngân Hàng đã đạt và vượt chỉ tiêu về huy động vốn từ dân cư, quy mô huy động vốn có mức tăng trưởng cao, ổn định và đạt được hiệu quả cao Phần lớn lượng vốn huy động được từ dân cư đều được sử dụng cho mục đích kinh doanh sinh lời Tỷ trọng vốn từ khu vực dân cư luôn đạt tăng trưởng qua các năm, đây là nguồn vốn có tính chất ổn định. Do đó, đảm bảo chất lượng vốn cần thiết cho hoạt động cho vay như các hoạt động đầu tư khác của Ngân hàng Cơ cấu vốn huy động từ dân cư ổn định, trong đó tỷ lệ vốn huy động VNĐ có xu hướng tăng dân qua các năm và luôn ở mức tương đối ổn định 2.3.2Những hạn chế: Thứ nhất, Công tác dự báo, các biện pháp đối phó khủng hoảng trong năm 2008 chưa sát với thực tế dẫn đến việc bị động trong kinh doanh vào những thời điểm khó khăn như cuối năm 2007 khi lãi suất tăng cao và cuối năm 2008 khi ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ. Thứ hai, Cơ cấu huy đông vốn theo loại tiền vẫn chưa thật sự phù hợp, nguồn vốn bằng ngoại tệ vẫn còn thấp nên chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay bằng ngoại tệ; bên cạnh đó, nguồn tiền có kỳ hạn trung – dài hạn cũng nên được điều chỉnh để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh tốt hơn nữa trong việc mở rộng hoạt động cho vay dài hạn với các dự án được triển khai trên cả nước Thứ ba, Chủng loại các sản phẩm huy động chưa thực sự đa dạng và tiện ích, ngân hàng vẫn chưa có chiến lược cụ thể đổi với các loại sản phẩm áp dụng đối với từng loại khách hàng. Do vậy, đối tượng khách hàng vẫn không thực sự đa dạng và chưa được khai thác hết tiềm năng Thứ tư, Hình thức huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá vẫn chưa được quan tâm nhiều, do vậy nên tỷ trọng của nguồn vốn này cũng không cao trong tổng nguồn vốn huy động được Thứ năm, Số dư huy động vốn phụ thuộc quá nhiều vào một vài khách hàng lớn nên nền vốn không ổn định. Nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan: Môi trường pháp lý chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế, những quy đinh mang tính pháp lý tỏ ra bất cập, không bao hàm được hết các nghiệp vụ, gây khó khăn cho SGD trong việc triển khai các dịch vụ mới Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt nam nói riêng đang phải đối mặt với sự khủng hoảng, lạm phát tăng cao, giá vàng liên tục phá kỷ lục, giá cả các loại lương thực cũng không ngừng tăng cao, với những sự biến động đó kéo theo sự tăng giá của hàng loạt các mặt hàng, đặc biệt là người tiêu dùng, điều này khiến cho người dân phải chi tiêu nhiều hơn dân đến lượng tiền gửi vào NH chưa thực sự phản ánh hết được tiềm năng của nó. Sự không ổn định về tình hình giá cả trong khi tỷ lệ lạm phát lại tăng cao cũng khiến cho người dân có xu hướng gửi tiền với kỳ hạn ngắn ngày ngày càng nhiều - Tác động của chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát dẫn đến việc lãi suất huy động thay đổi liên tục. Khi lãi suất thay đổi tạo cho tâm lý người dân không ổn định, từ đó họ sẽ rút ra gửi lại hoặc đem đến nơi có lãi suất cao vừa gây thiệt hại cho khách hàng vì chỉ được hưởng lãi suất thấp và đồng thời gây tăng chi phí cho ngân hàng (chi phí ấn chỉ, nhân lực) nhưng nguồn vốn ngân hàng lại không tăng. Thói quen tiêu dùng tiền mặt của người dân vẫn khá phổ biến việc thanh toán qua NH còn nhiều hạn chế, người dân chưa hiểu hết được những tiện ích mà các dịch vụ ngân hàng và những lợi ích khi thanh toán qua NH nên lượng tiền gửi không kỳ hạn tương đối khiêm tốn Nguyên nhân chủ quan về phía Ngân hàng - Công tác tiếp thị sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng còn hạn chế bởi vì đội ngũ cán bộ chưa nắm được toàn bộ những sản phẩm, dịch vụ hiện có của ngân hàng mà chỉ dừng ở việc công việc bộ phận nào chỉ bộ phận đó biết. - Một số cán bộ cũ có kinh nghiệm nhưng lại rất bảo thủ, rập khuôn mẫu, phong cách giao dịch theo cơ chế cấp phát trước đây, thiếu tính sáng tạo và năng động. Việc thu nhập thông tin về diễn biến lãi suất, nhu cầu người gửi tiền của cán bộ làm công tác huy động vốn dân cư cũng thụ động. Hầu hết khách hàng có nhu cầu mở sử dụng tài khoản tiền gửi đều tự tìm đến ngân hàng, cán bộ huy động vốn chưa thực sự tìm hiểu sâu sắc các nhu cầu của khách hàng cũng như chưa chủ động lôi vốn khách hàng về giao dịch tại ngân hàng. Công tác điều hành kế toán thanh toán còn nặng nề về giải quyết sự vụ, vẫn cùng một số sai sót, bộ phân kế toán tổng hợp chưa đáp ứng yêu cầu công việc CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TỪ DÂN CƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH 3, NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM I .Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn từ dân cư tại Sơ giao dịch 3, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Với tôn chỉ luôn coi con người Luôn coi con người là nhân tố quyết định mọi thành công theo phương châm “mỗi cán bộ BIDV phải là một lợi thế trong cạnh tranh” về cả năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Sở Giao dịch 3 nói riêng và Ngân hàng Đầu tư& Phát triển Việt Nam nói chung đã và đang phấn đấu trở thành một NHTM hàng đầu Việt Nam, hoạt động theo mô hình một tập đoàn Tài chính – Ngân Hàng, hoạt động chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với công nghệ hiện đại, đủ năng lực cạnh tranh với các Ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam.Trên cơ sở định hướng và chỉ đạo của Chủ tịch HĐQT và Ban Lãnh đạo Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam , với nhận thức là một trong những chi nhánh lớn của vùng kinh tế trọng điểm, Sở Giao dịch 3 xác định định hướng hoạt động như sau: -Tiếp tục khẳng định,phát huy tốt vai trò là ngân hàng bán buôn Dự án TCNT; củng cố mô hình tổ chứ quản lý Dự án TCNT theo hướn tăng cường kiểm soát,hạn chế các rủi ro phát sinh. -Xây dựng và phát triển nền tảng khách hàng thương mại; tạo dựng nền vốn dư nợ thương mại tăng trưởng bền vững, hiệu quả; triển khai đa dạng, đồng bộ các sản phẩm hiện có của BIDV đồng thời đề xuất áp dụng một số sản phẩm ngân hàng hiện đại, phù hợp với nhu cầu khách hàng -Tăng trưởng cùng với bước xây dựng và tạo lập các cơ cấu vững chắc trong tổng quy mô hoạt động của Sở. -Chủ động và tích cực trong quan hệ với các Bộ,nghành để thực hiện tốt vai trò đầu mối trong hoạt động ngân hàng đại lý ủy thác nhằm thu hút,giữ vững và tăng thị phần được giao làm đầu mối cho các dự án ODA II. Giải pháp tăng cường huy động vốn từ dân cư tại Sơ giao dịch 3, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 1. Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, tăng nhanh nguồn vốn kinh doanh Đối với hoạt động ngân hàng đa dạng hoá là một trong những biện pháp tăng cường hiệu quả hoạt động và phân tán rủi ro. Đối với hoạt động huy động vốn của Sở Giao dịch 3 đa dạng hoá hình thức huy động vốn sẽ giúp ngân hàng tăng cường hiệu quả huy động vốn vì mỗi công cụ tiền gửi mà ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của các tổ chức kinh tế và dân cư trong việc tiết kiệm và thanh toán. Khi có ít công cụ khách hàng có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận vì nó chưa đem lại thuận lợi hay tiện ích cho khách hàng. Những sản phẩm mới của SGD lại có những đặc điểm riêng phù hợp với một nhóm khách hàng nhất định, làm tăng khả năng lựa chọn của khách ra những sản phẩm mới hàng qua đó ngân hàng có thể tăng nguồn vốn huy động. Để có thể huy động được nguồn vốn có chất lượng cao và có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao ngân hàng nên xem xét đưa ra những sản phẩm mới phù hợp hơn với khách hàng trên địa bàn. 1.1 Đa dạng hoá hình thức huy dộng vốn Trong thời gian qua ngân hàng đã sử dụng các biện pháp huy động vốn như: Nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá... Tuy nhiên để có thể tăng nhanh hơn nữa nguồn vốn huy động ngân hàng có thể xem xét áp dụng thêm một số hình thức huy dộng vốn mới vừa có thể tăng nguồn vốn huy động vừa cải thiện được cơ cấu nguồn vốn bất hợp lý hiện nay như: 1- Ngân hàng có thể xem xét đưa ra hình thức nhận tiền gửi bằng vàng để huy động vốn. Biện pháp này có thể sẽ rất hiệu quả vì thói quen của người dân Việt Nam là thường giữ thu nhập dư thừa bằng vàng vì họ cho rằng vàng không bị mất giá và đây là hình thức tiết kiệm an toàn nhất. Hiện nay lượng vàng do dân chúng nắm giữ rát lớn . Đây là nguồn vốn lớn nhưng chưa được các ngân hàng khai thác. Người dân mua vàng chỉ để tích trữ và khi có nhu cầu tiêu dùng họ sẽ bán. Do đó ngân hàng có thể đưa ra một sản phẩm mới vừa đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng, vừa đem lại lợi ích cho dân chúng qua đó thu hút được lượng vốn nhàn rỗi cho sản xuất. Ngân hàng có thể nhận tiền gửi bằng vàng và trả gốc bằng vàng khi hết hạn. Hình thức tiét kiệm này giúp nhân dân an tâm hơn, không sợ tiền bị mất giá. 2- Chứng khoán hoá các khoản tiền gửi cho phép khách hàng có thể chuyển nhượng chúng. Đây là một biện pháp hữu hiệu giúp ngân hàng có thể nâng cao tỷ trọng nguồn vốn trung, dài hạn. Với hình thức này ngân hàng có thể phát hành các thẻ tiết kiệm vô danh có thời hạn từ 1 - 5 năm với lãi suất luỹ tiến theo thời hạn gửi tiền. Ngân hàng không phát hành đồng loạt như phát hành giấy tờ có giá mà sẽ phát hành thể khi khách hàng có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng. Công cụ này sẽ đem lại thuận lợi cho cả khách hàng và Sở Giao dịch 3 : * Đối với khách hàng: Hình thức này khắc phục các khuyết điểm của các khoản tiền gửi thông thường là có thể chuyển nhượng được. Khi đến hạn không cần đích thân người gửi tiền đến nhận mà có thể nhờ người khác lĩnh tiền hộ. * Đối với ngân hàng: Ngân hàng vẫn có thể quản lý như một khoản tiền gửi thông thường không phải thay đổi công nghệ, có thể thu hút được tiền gửi có kỳ hạn dài hơn... 3- Ngân hàng có thể áp dụng hình thức tiết kiệm bằng tài khoản mà khách hàng có thể gửi đều đặn đến khi rút. Lãi suất của hình thức này được tính theo lãi suất kép, mức lãi suất hợp lý sẽ kích thích người dân gửi tiền. Hình thức này phù hợp với công nhân viên, người có thu nhập đều đặn... 4 - Ngân hàng có thể sử dụng mức lãi suất luỹ tiến theo số lượng tiền gửi. Cùng một kỳ hạn nhưng nếu khách hàng nào gửi tiền với số lượng lớn hơn sẽ được hưởng mức lãi suất cao hơn. Hình thức này rất có lợi thế vì hiện nay ngân hàng chỉ áp dụng lãi suất luỹ tiến cho khách hàng gửi tiền cío kỳ hạn dài. Điều này sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với số lượng lớn hơn. 5 - Ngân hàng cũng có thể xem xét đưa ra hình thức gửi tiền một lần và được rút một phần trước hạn mà không phải rút toàn bộ số tiền đã gửi. Phần rút trước hạn sẽ được tính theo lãi suất không kỳ hạn, phần còn lại vẫn được tính theo lãi suất bình thường. Hình thức này rất có lợi thế vì hiện nay nếu muốn rút trước hạn khách hàng phải rút toàn bộ số tiền đã gửi và tính lãi không kỳ hạn khiến người gửi tiền chia nhỏ số tiền muốn gửi ra làm nhiều kỳ hạn để đề phòng phải rút trước hạn một phần, điều này gây khó khăn cho cả khách hàng và ngân hàng: tốn kém thủ tục, giấy tờ, lãi suất không cao, ngân hàng không huy động được khối lượng vốn lớn nhất... Vì thế hình thức này sẽ giúp ngân hàng tăng được lượng tiền gửi có kỳ hạn dài hơn. * Ngoài việc đưa ra các hình thức huy động mới ngân hàng cần làm tốt công tác huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá . Hiện nay nguồn vốn từ phát hành giấy tờ cớ giá chiếm tỷ trọng thấp trong tổng nguồn vốn. Vì vậy ngân hàng cần coi trọng hình thức huy động này và coi đây là một biện pháp hữu hiệu phát triển nguồn vốn trung, dài hạn. Để có thể tăng cường công tác huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá Ngân hàng An Bình cần làm tốt các việc sau: - Tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân biết, nhận thức đầy đủ và đúng đắn về hình thức huy động này. - Áp dụng linh hoạt phương thức trả lãi : trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi hàng tháng, đa dạng hoá về mệnh giá và kỳ hạn của giấy tờ có giá. 1.2 Đa dạng hoá khách hàng Bên cạnh việc đa dạng hoá hình thức huy động vốn ngân hàng An Bình cần mở rộng và đa dạng hoá khách hàng. Đa dạng hoá khách hàng có tác dụng: - Giúp ngân hàng có thể giảm rủi ro vì mỗi một nhóm khách hàng có một số đặc điểm chung về nguồn vốn do đó khi có những biến động nhóm khách hàng này có phản ứng như nhau do đó nếu duy trì một tỷ trọng quá cao nguồn vốn của một nhóm khách hàng sẽ dẫn đến rủi ro. - Giúp ngân hàng có cơ cấu vốn hợp lý hơn vì mỗi nhóm khách hàng có những đặc điểm riêng về vốn. Nếu ngân hàng chỉ tập trung vào một loại khách hàng thì cơ cấu nguồn vốn sẽ kém linh hoạt và bất hợp lý. Trong tất cả nguồn vốn mà ngân hàng huy động được, tiền gửi của dân cư là nguồn vốn có tính ổn định cao nhất. Nhưng việc huy động vốn từ dân cư gặp rất nhiều khó khăn mặc dù khách hàng chủ yếu của chi nhánh là cá nhân và hộ sản xuất. Để có thể huy động được tối đa nguồn vốn trong dân Ngân hàng cần sử dụng các biện pháp sau: - Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đảm bảo thanh toán nhanh, rút ngắn thời gian giao dịch, tạo lòng tin cho khách hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng. - Ngân hàng cần làm tốt công tác tuyên truyền, vân động trực tiếp trên địa bàn hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng. - Đơn giản hoá các thủ tục giao dịch giúp cho người dân dễ dàng thực hiện giao dịch với ngân hàng, rút ngắn thời gian giao dịch. 2. Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt Mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh riêng, trong đó chính sách lãi suất là một bộ phận quan trọng. Lãi suất là một bộ phận cấu thành trong phần lớn thu nhập và chi phí. Vì vậy mọi biến động về lãi suất có ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Do tầm quan trọng của lãi suất mà việc xây dựng chính sách lãi suất được đặt lên hàng đầu. Hiện nay các nhà quả lý đang phải đối mặt với cá khó khăn trong việc định giá các dịch vụ có liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng. Một mặt ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất đủ lớn để có thể thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng . Mặt khác phải cố gắng hết sức không trả lãi quá cao để đảm bảolợi nhuận cho ngân hàng. Ngày nay sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung cấp các dịc vụ tài chính càng làm cho vấn đề nêu trên phức tạp hơn vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi, trong khi làm giảm thu nhập dự kiến của ngân hàng. Thực tế trong một thị trường cạnh tranh như hiện nay không một ngân hàng nào có thể kiểm soát được lãi suất do đó giá cả do thị trường quyết định lãi suất. Các NHTM dựa vào những đặc điểm về nguồn vốn và khách hàng của mình để dưa ra mức lãi suất nhưng mức lãi suất này không chênh lệch với mức lãi suất của các ngân hàng khác là mấy. Trong trường hợp này các nhà quản lý cần xem xét có nên nâng cao mặt bằng lãi suất nhằm tăng khả năng huy động vốn hay nên chấp nhận tổn thất về quy mô tiền gửi do duy trì một mức lãi suất thấp hơn mức bình quân trên thị trường. Các nhà quản lý luôn phải lựa chọn giữa hai mục tiêu là tăng trưởng và sinh lời. Trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi và nguồn vốn giúp ngân hàng có thể tăng nguồn vốn nhưng lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Một chính sách lãi suất được coi là hợp lý khi nó thoả mãn các yêu cầu sau: - Có thể giúp ngân hàng huy động được đủ nguồn vốn cho hoạt động và đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý. - Đảm bảo tính cạnh tranh - Đảm bảo lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng - Phù hợp với chính sach lãi suất của NHTƯ và xu hướng thay đổi lãi suất trên thị trường. 3 Nâng cao chất lượng sử dụng vốn Để khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn huy động thì ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vì nó là yếu tố quyết định đến hoạt động huy động vốn. Sử dụng vốn có hiệu quả thì mới kích thích hoạt động huy động vốn, có tạo được vốn thì mới có thể sử dụng vốn và ngược lại. Vì vậy ngân hàng chỉ có thể hoạt động tốt trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Đẩy mạnh hoạt động tín dụng là một biện pháp để nuôi dưỡng nguồn vốn cho tương lai. Ngân hàng không chỉ quan tâm đến việc hiện nay thu hút được bao nhiêu nguồn vốn mà còn phải tìm cách nuôi dưỡng nguồn vốn cho tương lai. Để đảm bảo nuôi dưỡng nguồn vốn cho tương lai ngân hàng cần làm tốt công tác tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro, đảm bảo thu hồi vốn đúng thời hạn để tiếp tục cho vay. Những thông tin về nhu cầu mở rộng tín dụng cần chính xác để trên cơ sở đó ngân hàng luôn có đủ vốn cho kinh doanh, tránh tác động xấu của việc ứ đọng vốn hoặc thiếu vốn. Để thực hiện được yêu cầu đó chất lượng của công tác thẩm định cũng phải không ngừng được nâng cao . 4 Mở rộng và cải tiến các dịch vụ Ngày nay các ngân hàng luôn chú ý phát triển các dịch vụ và tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng trong tổng thu nhập của ngân hàng. Các dịch vụ của ngân hàng luôn được đổi mới do áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, thông qua hoạt động cung ứng các dịch vụ cho khách hàng ngân hàng sẽ nắm bắt được những thông tin về khách hàng, nguồn vốn của khách hàng, biết được lúc nào khách hàng thừa hay thiếu vốn để có biện pháp giúp đỡ. Trong thời gian tới Sở Giao dịch 3 có thể xem xét hoàn thiện và đưa ra các dịch vụ sau: - Phát triển và hoàn thiện dịch vụ thanh toán, chuyển tiền - Dịch vụ tư vấn - Dịch vụ bảo lãnh - Dịch vụ bảo quản giấy tờ, tài sản cho khách hàng.... 5 Nâng cao chất lượng phục vụ, củng cố uy tín của ngân hàng Đối với mỗi NHTM uy tín quyết định đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi ngân hàng thực sự có uy tín, tạo được lòng tin với khách hàng thì khách hàng mới biết đến và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng một cách thường xuyên và liên tục. Một trong những yếu tố để nâng cao uy tín của Sở Giao dịch 3 với khách hàng chính là chất lượng phục vụ của ngân hàng đối với khách hàng. Chất lượng dịch vụ của ngân hàng thể hiện ở nhiều yếu tố: Mức độ phong phú của các dịch vụ, thời gian phục vụ, thái độ phục vụ, trình độ nghiệp vụ, các tiện ích mà sản phẩm, dịch vụ ngân hàng mang lại cho khách hàng... Muốn có được uy tín cao trên thị trường ngân hàng nên làm các việc sau: - Luôn giữ chữ tín với khách hàng, đảm bảo đủ khả năng thanh toán khi khách hàng có yêu cầu. - Thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ, giảm thiểu sai sót, nếu có sai sót phải xử lý kịp thời và bồi thường thoả đáng nếu sai sót gây thiệt hại cho khách hàng. - Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ: Con người luôn là yếu tố trung tâm quyết định mọi sự thành bại của ngân hàng. Để có thể phát triển kinh doanh, phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn, thì ngân hàng phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có tinh thần trách nhiệm, có nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp… Để có được điều này ngân hàng cần phải xây dựng một chiến lược con người phù hợp bắt đầu từ khâu tuyển dụng, sắp xếp và bố trí công tác đến việc đào tạo cán bộ, cử cán bộ đi học, tập huấn. Thường xuyên mở các cuộc hội thảo, mời chuyên gia đến giảng dậy... - Mở rộng mạng lưới và tăng thời gian giao dịch với khách hàng. Trong điều kiện hiện nay Sở Giao dịch 3 nên mở rộng mạng lưới giao dịch để có thể huy động được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn của người dân, tạo cho người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng.... Mặt khác ngân hàng cần tăng thời gian giao dịch với khách hàng bằng cách làm việc ngoài giờ hành chính và vào ngày thứ bảy, chủ nhật vì hiện nay giờ giao dịch của ngân hàng trùng với giờ làm việc của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp nên gây khó khăn cho khách hàng khi giao dịch với ngân hàng vì thế tăng thời gian giao dịch sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho khách hàng đến giao dịch với ngân hàng.' - Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo: Để có được hình ảnh tốt trong tâm trí của khách hàng, trước hết ngân hàng phải được khách hàng biết đến. Một trong những giải pháp cần làm là tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo. Thông qua hoạt động tuyên truyền quảng cáo khách hàng có thể lựa chọn, so sánh, thấy được lợi ích khi giao dịch với ngân hàng. Khách hàng chỉ tin tưởng và đến với ngân hàng khi họ thực sự hiểu biết về ngân hàng. Do đó các NHTM cần tăng cường công tác tuyên truyền, quảng cáo dưới mọi hình thức giúp khách hàng hiểu biết được những lợi ích mà khách hàng có thể có khi giao dịch với ngân hàng. 6 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Trong thời đại ngày nay việc áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành vấn đề sống còn và đã làm cho bộ mặt các NHTM thay đổi. Đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán, nếu tốc độ thanh toán nhanh sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, làm tăng hiệu quả kinh doanh của khách hàng, qua đó nâng cao uy tín của ngân hàng. Công tác thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện tốt sẽ thu hút các tổ chức kinh tế, các thành phần dân cư mở tài khoản tiền gửi và thanh toán qua ngân hàng. Ngân hàng làm tốt công tác thanh toán sẽ tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng và mặt khác thu hút được ngày càng nhiều vốn để tiến hành cho vay phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế ngày càng có hiệu quả và tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Trong thời gian qua Sở Giao dịch 3 đã được đầu tư nhiều công nghệ mới khá hiện đại nhưng trong thời gian tới ngân hàng cần đầu tư hơn nữa các công nghệ mới hiện đại hơn để có thể thu hút được nhiều khách hàng sử dụng các dịch vụ của ngân hàng đặc biệt là dịch vụ thanh toán và chuyển tiền. Qua đó ngân hàng có thể thu hút được nhiều tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân, giúp ngân hàng tăng uy tín, củng cố vị trí của mình trong nền kinh tế. Như vậy hiện đại hoá một mặt có thể thu hút được nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế mặt khác nâng cao uy tín của ngân hàng với khách hàng. III. Kiến nghị 1. Đối với chính phủ Chính phủ cần quản lý tốt các nhân tố vĩ mô trong đó quan trọng nhất là kiềm chế lạm phát ở mức thấp để mọi tài sản dù thể hiện bất kỳ hình thức nào cũng đều được sử dụng vào mục tiêu kinh tế, đồng thời bảo đảm khả năng sinh lời hợp lý trong mọi hoạt động đầu tư. Giải toả vốn bị đóng băng trong các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn kém hiệu quả. Một mặt giúp chính phủ có thể trút bỏ gánh nặng, vừa giải phóng vốn ra khỏi những nơi hiệu quả kinh tế thấp để đầu tư vào nơi có hiệu quả cao như gửi tiền vào ngân hàng... Hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán cũng là vấn đề quan trọng. Với nhu cầu vốn cho nền kinh tế như hiện nay, thì các NHTM khó có thể đáp ứng theo nhu cầu của nền kinh tế đặt ra nhất là nguồn vốn trung và dài hạn. Thị trường chứng khoán được hoàn thiện và phát triển thực sự sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, thông qua phát hành chứng khoán, mặt khác đây là nơi tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của mình thành tiền mặt một cách dễ dàng và nhanh chóng. Thông qua thị trường chứng khoán sẽ tạo ra cá kênh làm cho mọi vốn nhàn rỗi trong xã hội chảy đến nơi có nhu cầu đầu tư và sử dụng có hiệu quả nhất và với giá rẻ nhất, nhằm thúc đẩy sự phát triển sản xuất cũng như các hoạt động dịch vụ khác, ngoài ra tạo ra một kênh tiềm năng để NHTM thu hút vốn trung dài hạn, có tính thanh khoản cao. 2 Đối với Ngân hàng Nhà nước - Xây dựng hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng đủ mạnh về nguồn vốn, vững về bộ máy tổ chức, hiện đại về công nghệ, mạng lưới hoạt động rộng khắp, tuyên truyền đến các thành phần kinh tế về bộ luật ngân hàng nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, từng bước thực hiện cải tiến và mở rộng các hình thức thanh toán, tuyên truyền vận động các tầng lớp dân cư thực hiện thanh toán chi trả hàng hoá dịch vụ qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, để nhân dân tin cậy và thành tập quán sử dụng các công cụ thanh toán qua ngân hàng, thường xuyên quan tâm, nâng cao hiệu quả của từng dịch vụ ngân hàng, củng cố sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái, nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tín dụng, tạo lập và củng cố uy tín của hệ thống ngân hàng . - Hoàn thiện thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán , thiết lập củng cố và mở rộng quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, đòi hỏi các ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng đổi mới hoạt động, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động, đưa ra các công cụ và phương tiện thanh toán thuận tiện phục vụ khách hàng, nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường liên ngân hàng, đảm bảo điều hoà kịp thời giữa nơi thừa và nơi thiếu vốn - Mở rộng quan hệ đối ngoại với các tổ chức tài chính nước ngoài, tranh thủ sự giúp đỡ và tài trợ các nguồn vốn với lãi suất thấp, mở rộng quan hệ tín dụng, đa dạng hoá các hoạt động về ngoại tệ, tham gia hoạt động thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, điều hành tỷ giá đồng Việt nam một cách lonh hoạt phù hợp với tình hình hoạt động thị trường - Ngân hàng nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, tăng cường các hoạt động thanh tra, chấn chỉnh xử lý kịp thời những hành vi, biểu hiện sai trái làm thất thoát vốn của nhà nước, của nhân dân, đưa hoạt động của các ngân hàng thương mại đi vào nề nếp , có hiệu quả, phục vụ tốt cho chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước và không ngừng nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế . 3 Đối với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Cần tạo điều kiện để ngân hàng được chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh theo hướng nâng cao quyền tự chủ, phân rõ trách nhiệm, phù hợp với quy mô và đặc điểm của ngân hàng, có cơ chế tổ chức, cơ chế điều hành vốn hoặc hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư… Sớm trang bị công nghệ hiện đại, các phần mềm ứng dụng tiên tiến như trang bị cổng SWIFT, phát triển mạng WAN – nền tảng cho sự đổi mới công nghệ tin học ngân hàng,. Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý – lãi suất luôn là một nhân tố tác động mạnh đến công tác huy động vốn của ngân hàng, đặc biệt là trong thời kỳ nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng nặng nề. Ngân hàng sẽ áp dụng một mức lãi suất đảm bảo tính cạnh tranh với các ngân hàng bạn,để sao cho có thể hấp dẫn người gửi không chỉ ở tính sinh lời mà còn ở tính đa dạng trong phương thức trả lãi Đa dạng hóa hình thức huy động vốn: Ngân hàng cần luôn đổi mới và đa dạng hóa hình thức huy động vốn, tạo ra nhiều sản phẩm thích hợp với mọi đối tượng khách hàng. Sớm thực hiện hình thức gửi tiền tiết kiệm ở một nơi lấy ra ở nhiều nơi, tiết kiệm hưởng lãi bậc thang, kỳ phiếu có thưởng…nghĩa là xen thêm vào giữa các kỳ hạn tiết kiệm truyền thống hiện nay, để thu hút khách hàng với những sản phẩm mới đa dạng tiện ích hơn. Mở các đợt vận động để các tổ chức kinh tế và dân cư mở tài khoản cá nhân ở ngân hàng, phát hành séc thanh toán và thẻ thanh toán, tạo thói quen mới, tiến bộ, hạn chế sử dụng tiền mặt. Có chiến lược dài hạn đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ đối với cán bộ nhân viên, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các huyện, phòng giao dịch ở các cụm đông dân cư cho tương xứng với nhiệm vụ được giao, để sớm hội nhập với ngân hàng khu vực và thế giới. Bởi thực tiễn đã chứng minh hiệu quả sức cạnh tranh của một ngân hàng luôn là bản chất tiềm tàng trong mỗi cán bộ nhân viên của ngân hàng đó, nên đi đôi với việc sắp xếp, bố trí lao động hợp lý, cần mạnh dạn giao việc cho cán bộ trẻ, có năng lực và có trình độ,có phẩm chất tốt để rèn luyện và thử thách. Trên cơ sở đó đề bạt vào cương vị nặng nề hơn. Vì vậy, ngân hàng cần phải hết sức quan tâm đến vấn đề cán bộ trong chiến lược kinh doanh của mình KẾT LUẬN Trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế nói chung, các hoạt động tài chính nói riêng thì các hoạt động của các ngân hàng có rất nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu và triển khai cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế. Việc nghiên cứu, áp dụng các giải pháp về huy động vốn nói chung và huy động vốn từ dân cư nói riêng là chủ đề rất quan trọng và cấp thiết nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo an toàn về vốn và tạo điều kiện để Sở Giao dịch 3 tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế thời kỳ mở cửa.. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan như tình hình lạm phát, giá vàng, xăng dầu tăng cao, sự điều hành chính sách vĩ mô của nhà nước và khả năng nội lực của NHTM nên trong hoạt động huy động vốn từ dân cư của các NHTM còn gặp những khó khăn nhất định. Vì vậy với những kiến thức tổng quan về hoạt động huy động vốn cũng như những giải pháp được nêu ra trong chuyên đề dựa trên thực trạng của các NHTM không hẳn là hoàn thiện, nhưng có thể góp phần ít nhiều cho việc gia tăng nguồn vốn huy động từ dân cư của Sở Giao dịch 3 nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu, bám sát mục tiêu, phạm vi nghiên cứu bài chuyên đề này đã hoàn thành được một số nhiệm vụ đặt ra: - Nêu lên một số luận chứng khoa học về huy động vốn. - Nghiên cứu tổng quát về tình hình huy động vốn từ dân cư tại Sở Giao dịch 3 trong thời gian gần đây, qua đó đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng và những định hướng trong tương lai để hoạt động huy động vốn hiệu quả hơn. - Nêu ra một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn đối với Sở Giao dịch 3 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Kinh tế phát triển GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng 2. Giáo trình Ngân hàng thương mại PGS.TS Phan Thị Thu Hà 3.Tạp chí Ngân hàng 4.Thới báo kinh tế 5. Báo cáo thường niên 2007-2008,2008-2009,2009-2010 Website : …

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTăng cường huy động vốn từ dân cư tại Sở giao dịch 3 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.doc
Luận văn liên quan