Thụ lý, trả lại đơn khởi kiện - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

MỤC LỤC Trang I. Một số vấn đề lý luận về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện. 1 II. Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện .2 1. Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, 2 1.1. Về thụ lý vụ án dân sự. 2 1.1.1. Về thẩm quyền. 2 1.1.2. Các điều kiện để thụ lý vụ án dân sự. 2 1.1.3. Thủ tục thụ lý vụ án dân sự. 4 1.2. Về trả lại đơn khởi kiện. 5 2. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, trả lại 6 2.1. Về cơ chế kiểm sát vi phạm pháp luật của tòa án trong trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện mà không ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trong vụ án. 8 2.2. Vướng mắc trong vấn đề được khởi kiện thẳng ra tòa án hay phải qua thủ tục khiếu nại, hòa giải ở cơ sở. 9 2.3. không đảm bảo thời gian xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án. 12 2.4. Chưa áp dụng đúng thủ tục khởi kiện. 12 2.5. Vấn đề xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện . 14 III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện .14 IV. Kết luận. 17

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/03/2013 | Lượt xem: 5981 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thụ lý, trả lại đơn khởi kiện - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án dân sự (gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 161). Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước: cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật Hôn nhân và Gia đình quy định; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định; cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách... Điều kiện về phạm vi khởi kiện: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể khởi kiện một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án; nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án; cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể khởi kiện đối với một hoặc nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án. Điều kiện về chủ thể khởi kiện Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự bao gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định. Cá nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự đồng thời phải có quyền lợi bị xâm phạm. Đối với những cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng mà có quyền lợi phải được bảo vệ thì họ không thể tự mình khởi kiện vụ án được mà phải do người đại diện thay mặt để thực hiện việc khởi kiện vụ án. Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp, ngoài ra các cơ quan tổ chức còn khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của pháp luật. Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền xét xử về dân sự của tòa án. Vụ án khởi kiện phải thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của tòa án quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 BLTTDS. Vụ án được khởi kiện phải đúng với cấp tòa án có thẩm quyền giải quyết quy định tại Điều 33, 34 BLTTDS. Vụ việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 35 BLTTDS. Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó (ví dụ như các tranh chấp về quyền sử dụng đất thì theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai 2003, các tranh chấp về quyền sử dụng đất phải tiến hành hòa giải tại ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn...) Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện: Để xác định thời hiệu khởi kiện đã hết hay chưa, thì Toà án phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ pháp luật cụ thể đó. Trường hợp pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện, thì việc xác định thời hiệu khởi kiện phải căn cứ vào quy định tại Điều 159, 160 của BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2 Phần IV của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2004. điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác Tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện: Theo điều 165 BLTTDS, người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền khởi kiện và yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Theo hướng dẫn tại Mục 5 Phần 1 Nghị quyết 02/2006 ngày 13/5/2006 của Hộ đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 02/2006), trong trường hợp vì lý do khách quan họ không thể nộp đầy đủ ngay các tài liệu, chứng cứ thì họ phải nộp các tài liệu chứng cứ ban đầu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Các tài liệu chứng cứ khác họ phải tự mình nộp trong quá trình giải quyết vụ án. Các tài liệu, chứng cứ người khởi kiện kèm theo đơn khởi kiện tùy từng loại tranh chấp cụ thể, chẳng hạn như đối với các tranh chấp về hôn nhân gia đình, là giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của các con; chứng cứ,giấy tờ chứng minh tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng hoặc tài sản thộc sở hữu riêng của từng người; các chứng cứ tài liệu chứng minh gây mâu thuẫn giữa vợ chồng và các tài liệu khác nếu xét thấy cần thiết.v.v...Những chứng cứ ban đầu có ý nghĩa rất quan trọng đố với việc thụ lý vụ án, nếu chứng cứ ban đầu cung cấp không đầy đủ có thể dẫn đến tòa án thụ lý không đúng, có thể gây nên những hậu quả khó lường. Thủ tục thụ lý vụ án dân sự Nhận đơn khởi kiện: người khởi kiện có thể nộp đơn trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua bưu điện, Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây: tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. - Yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện: Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Ðiều 164 của BLTTDS thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Tòa án ấn định, nhưng không quá ba mươi ngày; trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể gia hạn, nhưng không quá mười lăm ngày. Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 164 của BLTTDS thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện. - Xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện: sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. - Vào sổ thụ lý vụ án dân sự: Khi người khởi kiện nộp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì tòa án ra quyết định thị lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án dân sự. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo. Cũng như các quy định trước đây, Điều 171 BLTTDS quy định việc thụ lý vụ án được tòa án tiến hành sau khi xem xét đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và biên lại nộp tiền tạm ứng án phí của người khởi kiện thấy đã thỏa mãn những điều kiện để thụ lý vụ án. Để đảm bảo cho vụ án được giải quyết nhanh chóng, đúng thời hạn luật định, các điều 172, 173 BLTTDS đã quy định rõ nhiệm vụ của Tòa án ngay sau khi thụ lý vụ án. Điều 174 BLTTHS quy định trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho viện kiểm sát cùng cấp biết việc tòa án đã thụ lý vụ án. Nội dung thông báo phải thể hiện được những yêu cầu của người khởi kiện và danh sách tài liệu chứng cứ người khởi kiện nộp theo đơn khởi kiện. Đây là một trong những quy định mới của BLTTDS để hòa nhập chung với xu hướng của thế giới (() Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS. Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004 ). Tuy nhiên, BLTTDS mới dừng ở quy định chung về việc người được thông báo không nộp cho tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện thì phải chịu hậu quả pháp lý nhưng hậu quả pháp lý họ phải chịu cụ thể là gì, bất lợi ra sao thì chưa được quy định rõ (điểm g khoản 2 Điều 174). 1.2. Về trả lại đơn khởi kiện Sau khi nhận đơ khởi kiện, trong thời hạn 5 ngày làm việc nếu xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì tòa án trả lại đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ cho người khởi kiện hoặc chuyển đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền giải quyết. Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại Điều 168 BLTTDS và hướng dẫn tại Mục 7 Phần I Nghị quyết 02/2006. Theo đó,Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện trong các trường hợp sau: - Thời hiệu khởi kiện đã hết. Việc xác định thời hiệu khởi kiện tương tự như việc xác định thời hiệu khởi kiện để thỏa mãn về điều kiện thụ lý vụ án dân sự đã nêu ở trên. - Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là người không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 161 và Điều 162 của BLTTDS và hướng dẫn tại mục 1 và mục 2 Phần I của Nghị quyết 02/2006. - Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án đã bị Tòa án bác đơn mà đương sự có quyền khởi kiện lại; ví dụ như: ly hôn, thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điểu kiện khởi kiện. - Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không đến tòa làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng; - Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện đó, ví dụ như: người chồng nộp đơn ly hôn khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi... - Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; là trường hợp không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của BLTTDS, hoặc pháp luật không quy định giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, ví dụ: đương sự gửi đơn đến tòa án không tuân theo quy định của pháp luật. - Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTDS mà tòa án đã báo cho người khởi kiện biết mà họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án. Phần lớn các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định trong BLTTDS nêu trên đều đã được Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây quy định, chỉ có ba trường hợp mới cần lưu ý gồm: - Người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn theo pháp luật quy định. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự trước đây cũng ấn định thời hạn một tháng để người khởi kiện thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí nhưng lại không quy định hậu quả pháp lý của việc không nộp tiền tạm ứng án phí trọng hạn luật định. Quy định mới này nhằm mục đích buộc người khởi kiện phải cân nhắc kỹ hơn trước khi nộp đơn khởi kiện. - Người khởi kiện chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Có quan điểm cho rằng đây là trường hợp mà trước khi khởi kiện đến tòa án vụ việc phải được tiến hành hòa giải trước, tòa án chỉ thụ lý khi việc hòa giải không thành như: Tranh chấp quyền sử dụng đất; các tranh chấp lao động cá nhân hay tranh chấp lao động tập thể...Tuy nhiên có ý kiến cho rằng quy định này của BLTTDS có nội dung rộng hơn, bởi vì theo quy định của pháp luật thì có những trường hợp người khởi kiện nếu không đáp ứng các điều kiện khác thì cũng không được khởi kiện, Ví dụ, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hay trường hợp tòa án đã bác đơn xin ly hôn nhưng chưa đủ 1 năm người bị bác đơn đã nộp đơn khởi kiện lại,..(() Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS. Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004. )Quan điểm này là hợp lý và phù hợp với các nội dung quy định của pháp luât hiện hành. - Người khởi kiện không bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn theo quy định của pháp luật. Đây là quy định hoàn toàn mới có ý nghĩa buộc người khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh ngay từ những bước đầu tiên của quá trình tố tụng tại tòa án, bởi các quy định của BLTTDS hiện nay đề cao vai trò, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, việc thu thập chứng cứ của tòa án là hạn chế không phải trường hợp nào tòa án cũng thu thập chứng cứ. Khi trả đơn khởi kiện cho người khởi kiện, tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện để người khởi kiện có căn cứ khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện. Đây là quy định mới giúp cho các đương sự thực hiện quyền khiếu nại khi họ bị tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng. Theo Điều 170 BLTTDS thì người khởi kiện có quyền khiếu nại với chánh án tòa án đã trả lại đơn khởi kiện trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày họ nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do tòa án trả lại. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, chánh án phải ra một trong các quyết định sau: Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện; Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án. Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự Sau hơn 6 năm thi hành BLTTDS, số lượng các vụ kiện được khởi kiện và giải quyết tại các Tòa án trong cả nước đều tăng cao, trong đó các tranh chấp về thừa kế, đất đai, nhà ở, hợp đồng, hôn nhân & gia đình...chiếm tỷ lớn. Các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, kinh doanh thương mại, lao động hay các tranh chấp có yêu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng. Cụ thể là: Năm Số vụ việc đã thụ lý Số vụ việc đã giải quyết Đạt tỷ lệ 2005 152.819 132.125 86.5% 2006 164.888 146.823 89% 2007 188.992 171.681 91% 2008 192.336 174.768 91% 2009 214.174 194.358 90.7% 2010 215.714 194.372 90% (() Báo cáo số 09/BC-TANDTC ngày 9/8/2010 của TAND tối cao tổng kết 5 năm thi hành BLTTDS. Lấy từ: ) Trong đó, các vụ án dân sự, hôn nhân & gia đình thường chiếm phần lớn trong tổng số các vụ án được giải quyết. Năm 2005, Tòa án các cấp đã giải quyết được 129.926 vụ về dân sự, hôn nhân & gia đình trong tổng số 132.125 vụ việc dân sự đã giải quyết, chiếm tỷ lệ 98.3%. Năm 2006 số lượng này là 143.580 vụ trong tổng số 146.823 vụ đã giải quyết, chiếm tỷ lệ 97.8%. Số lượng các vụ án kinh doanh thương mại và lao động đã giải quyết được tuy chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng số lượng hàng năm đều có sự tăng lên rõ rệt. Về kinh doanh thương mại: Năm 2007 TAND các cấp đã giải quyết được 4206 vụ trong tổng số 4789 vụ, đạt tỷ lệ 87.7%. Năm 2008 giải quyết được 5343 vụ trong tổng số 6034 vụ án, đạt 88.5%. Năm 2009 giải quyết được 969 vụ án trong tổng số 1043 vụ, đạt 92.9%. Năm 2007 giải quyết được 1211 vụ án trong tổng số 1275 vụ, đạt 95%. Năm 2008 giải quyết được 1828 vụ trong tổng số 1907 vụ, đạt 96%. Như vậy, có thể thấy thấy số lượng các vụ án về dân sự nói chung đã có sự tăng lên về số lượng thụ lý và giải quyết, việc thực hiện quyền khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự ngày càng được đảm bảo. Bên cạnh việc tăng về số lượng vụ án được thụ lý và giải quyết tại các Tòa án thì kể từ khi có BLTTDS, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình khởi kiện cũng có bước chuyển biến tích cực. Nhìn chung các cấp Tòa án đã tuân thủ các quy định của BLTTDS trong việc khởi kiện, thụ lý và giải quyết vụ án dân sự, tạo điều kiện để người dân thực hiện được quyền khởi kiện của mình đúng theo quy định của pháp luật, đồng thời cố gắng trong việc thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, chính xác, hiệu quả. Sự ra đời của BLTTDS năm 2004 đã tạo ra những bước đột phá trong công tác thụ lý vụ án dân sự, góp phần vào cải cách nền tư pháp nói chung theo chủ trương của Đảng đề ra. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề thụ lý vụ án dân sự, trả lại đơn khởi kiện vào thực tiễn. Mặc dù số lượng vụ án được thụ lý và giải quyết tăng cao nhưng ở một số nơi tình trạng tồn đọng còn khá nhiều các đơn khởi kiện vẫn chưa được thụ lý, giải quyết. Do số lượng các vụ tranh chấp khởi kiện tại Tòa ngày càng tăng trong khi đó số lượng thẩm phán còn thiếu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ lại chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của Tòa án, không ít trường hợp cán bộ Tòa án nhận đơn khởi kiện đã trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện mà không có sự giải thích rõ ràng, hoặc kéo dài thời gian nhận đơn khiến người dân phải đi lại nhiều lần. Khi người khởi kiện khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện lại không giải quyết một cách thỏa đáng, minh bạch khiến người dân mất niềm tin vào các cơ quan bảo vệ pháp luật. Một ví dụ điển hình là tháng 12/2010, trên một số báo mạng như dantri.com.vn, tuoitre.vn, dphanoi.org.vn...đã đưa tin một người đàn ông đã tên là An Văn Châu (63 tuổi, ngụ đường Tôn Đản, quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh) bị cụt mất một chân phải bò theo cầu thang từ tầng hầm để xe lên lầu 1 - nơi có phòng thụ lý án tại TAND quận 4 thành phố Hồ Chí Minh để làm thủ tục khởi kiện, tuy nhiên đến lần thứ 3, cuối cùng ông đã nhận được câu trả lời từ cán bộ tòa án là vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Qua đó cho thấy có một số tòa án, thái độ cán bộ tòa án còn chưa tôn trọng người dân, mà các báo này ví von “hành là chính” của cán bộ tòa án đối với dân... Sau đây là một số vấn đề thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện thời gian qua ở nước ta: 2.1. Về cơ chế kiểm sát vi phạm pháp luật của tòa án trong trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện mà không ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trong văn bản: Như đã nêu ở trên, theo quy định của BLTTDS hiện hành thì khi đương sự nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự cho Tòa án, nếu thấy có một trong các căn cứ nêu tại khoản 1 Điều 168 BLTTDS, Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện cho đương sự và không thụ lý vụ án. Khi trả lại đơn khởi kiện cho đương sự, Tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Điều 170 BLTTDS hiện hành cũng quy định, trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án là quyết định cuối cùng. Thực tiễn thi hành các quy định nêu trên cho thấy, có thể xảy ra trường hợp Tòa án áp dụng các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 168 để trả đơn kiện cho đương sự không chính xác; có trường hợp khi trả lại đơn khởi kiện tòa án không có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện (() Xem phần “Thực tiễn thi hành các quy định của BLTTDS về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự” của bài làm. ). Nhiều vụ việc đương sự khiếu nại rất gay gắt đến TAND tối cao. Tòa lao động TANDTC đã phải gửi công văn yêu cầu tòa án địa phương thực hiện đúng quy định tại Khoản 2 Điều 168 BLTTDS (() Tòa lao động – TANDTC, báo cáo tham luận tại hội nghị tổng kết công tác ngành tòa án năm 2008. ). Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định cơ chế nào để kiểm sát những vi phạm thủ tục tố tụng này của tòa án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Để khắc phục vướng mắc này, Khoản 2 Điều 168 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung (theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTDS ngày 29/3/2011, sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2012) quy định rõ: “Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp”; đồng thời, Điều 170 BLTTDS cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng: bên cạnh việc tiếp tục ghi nhận quyền của đương sự được khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, điều luật còn quy định: trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát, Chánh án phải ra quyết định trả lời kiến nghị. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Chánh án Tòa án cấp trên phải ra quyết định giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng. 2.2. Vướng mắc trong vấn đề được khởi kiện thẳng ra tòa án hay phải qua thủ tục khiếu nại, hòa giải cơ sở : Hiện nay, các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Theo đó, một trong những trường hợp tòa án trả lại đơn khởi kiện đó là người khởi kiện khi chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Vấn đề này hiện nay đang còn có những vấn đề phát sinh từ các quy định của pháp luật liên quan và thực tiễn áp dụng. Một vấn đề có nhiều ý kiến xoay quanh đó là nhiều trường hợp luật cho phép người dân có thể lựa chọn giữa hai thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình song hiện nay nhiều tòa án vẫn buộc đương sự phải tiến hành thủ tục khiếu nại và chỉ khi có kết quả trả lời của các cơ quan chủ quản thì mới được khởi kiện ra tòa án. Sau đây là một số vụ án điển hình: Vụ án xoay quanh vấn đề kiện báo chí: Cuối tháng 8 năm 2009, TAND thị xã Buôn Hồ (Dăk Lăk) đã xử sơ thẩm vụ bốn hộ dân kiện đòi Báo Dăk Lăk cải chính, xin lỗi và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Vụ án đặt ra một tình tiết pháp lý gây tranh cãi xung quanh việc tòa thụ lý những vụ kiện liên quan đến báo chí: Người cho rằng đương sự phải khiếu nại báo trước, người lại nói cứ kiện thẳng ra tòa. Vụ việc xảy ra như sau: Giữa tháng 3, Báo Đăk Lăk đăng bài viết phản ánh rằng có bốn hộ dân được Binh đoàn 15 Quân khu 5 (nay là Công ty Cà phê 15) giao khoán vườn cà phê nhưng không giao nộp sản phẩm và “làm thủ tục” để được cấp giấy đỏ trái quy định, xây công trình trái phép trên đất quốc phòng…Bốn hộ dân cho rằng sau đó dư luận xầm xì, bàn tán là họ đã có hành vi gian dối, không trung thực, làm thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ. Do vậy, họ yêu cầu TAND huyện Krông Búk (cũ) buộc Báo Dăk Lăk bồi thường tổng cộng 20 triệu đồng thiệt hại về sức khỏe và tổn thất tinh thần, đồng thời đăng cải chính những nội dung sai sự thật, công khai xin lỗi theo Luật Báo chí. Suốt quá trình tòa giải quyết, Báo Dăk Lăk đều vắng mặt. Cách hành xử này của báo cũng có nguyên do. Đầu tiên, ngay từ khi TAND huyện Krông Búk thụ lý, Báo Dăk Lăk đã cho rằng các đương sự chưa khiếu nại đến báo theo quy định tại Điều 9 Luật Báo chí và Nghị định số 51 năm 2002 của Chính phủ (quy định về cải chính trên báo chí). Thứ nữa, báo có trụ sở tại TP Buôn Ma Thuột nhưng TAND huyện Krông Búk thụ lý là sai thẩm quyền…Dù vậy, TAND thị xã Buôn Hồ sau này vẫn đưa vụ án ra xử, tuyên buộc Báo Dăk Lăk phải đăng bài cải chính những nội dung sai sự thật và công khai xin lỗi theo đúng Luật Báo chí. Tòa không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc buộc Báo Dăk Lăk bồi thường thiệt hại...(() ) Về sau Viện kiểm sát tỉnh Dăk Lăk đã kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND thị xã Buôn Hồ, dựa trên những lập luận rằng: Khi nhận đơn kiện, lẽ ra tòa phải áp dụng quy định người khởi kiện chưa có quyền khởi kiện để trả lại đơn cho đương sự. Lý do đưa ra là tòa án phải áp dụng Điều 9 Luật Báo chí, khoản 3 Điều 4 Nghị định 51 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật báo chí (...sau ba lần đăng, phát ý kiến của tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không có sự thống nhất giữa hai bên thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có quyền yêu cầu ngừng đăng, phát thông tin của đương sự. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo chí đó, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại tòa…) (() Xem Điều 9 Luật báo chí năm 1989, sửa đổi, bổ sung năm 1999; khoản 3 Điều 4 Nghị định 51 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật báo chí. ). Do vậy, việc tòa thụ lý vụ án khi các đương sự chưa thực hiện việc khiếu nại đến cơ quan báo chí là vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Tuy nhiên, có một luồng quan điểm thứ hai đồng tình với TAND thị xã Buôn Hồ bởi BLTTDS không hề quy định trước khi khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, người khởi kiện phải thực hiện các quy định của Luật Báo chí. Những người theo quan điểm này phân tích thêm: Ngay Điều 9 Luật Báo chí đã quy định tổ chức, cá nhân có quyền phát biểu bằng văn bản về những nội dung đề cập trên báo chí khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến mình… Như vậy, đây là quyền của đương sự chứ không phải nghĩa vụ. Mà đã là quyền thì họ thực hiện hay không là việc của họ. Tương tự, nội dung khoản 3 Điều 4 Nghị định 51 cũng phải hiểu là nếu cơ quan báo chí tiếp tục đăng, phát ba lần mà các bên chưa thống nhất, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có quyền yêu cầu ngừng đăng, phát thông tin của đương sự. Lúc này đương sự có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện chứ không bắt buộc đương sự phải làm thủ tục khiếu nại sau khi báo đăng bài và trước khi khởi kiện. Cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự không quy định trường hợp khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì người khởi kiện phải tiến hành các thủ tục “tiền tố tụng” như trong án hành chính nên việc tòa nhận đơn, thụ lý là đúng. Ở đây, dưới góc độ thủ tục thụ lý vụ án dân sự, chúng ta chưa quan tâm nội dung tranh chấp của bốn hộ dân với Báo Dăk Lăk, cũng không bàn đến phán quyết của tòa đúng hay sai, điều đáng nói là khi một người cho rằng một tờ báo viết sai, xâm hại đến lợi ích của mình thì có được kiện thẳng ra tòa hay phải khiếu nại đến tờ báo đó trước? Hiện nay, TAND tối cao vẫn chưa có hướng dẫn thống nhất về vấn đề này, vì vậy đã gây ra không ít lúng túng trong quá trình giải quyết các vụ án của Tòa án các cấp. Theo quan điểm của em thì về nguyên tắc, những vụ án kiện báo chí để đòi bồi thường thiệt hại do uy tín, danh dự bị xâm phạm là những vụ kiện dân sự. Những tranh chấp liên quan đến vấn đề này sẽ áp dụng luật báo chí để giải quyết. Tuy nhiên Luật báo chí lại không có quy định rõ ràng trình tự, thủ tục giải quyết, do đó sẽ áp dụng BLTTTS, tức là tòa có thể thụ lý đơn khởi kiện trực tiếp của đương sự mà không bắt buộc họ phải thông qua thủ tục khiếu nại cơ quan báo chí. Vụ án xoay quanh vấn đề tranh chấp đất đai chưa qua hòa giải cơ sở: Những năm gần đây, trong thực tiễn xét xử của ngành tòa án đã xảy ra không ít vụ đương sự khởi kiện tranh chấp đất, tòa sơ thẩm thụ lý rồi mới phát hiện ra tranh chấp đó chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã. Một vụ án ở Gia lai được đăng trên công thông tin điện tử TAND tỉnh Gia Lai như sau: năm 2000, vợ chồng ông Trần Văn M ra tòa ly hôn, có đặt vấn đề phân chia 2.000 m2 đất trong tổng số 6.000 m2 do anh ông M. đứng tên sử dụng. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, tòa đã không xem xét yêu cầu này. Gần 10 năm sau, ngày 28-1-2010, vợ cũ của ông M. khởi kiện yêu cầu chia lại số đất trên. Dù tranh chấp của bà này với anh em người chồng cũ chưa qua khâu hòa giải tại địa phương nhưng TAND thành phố Pleiku (Gia Lai) vẫn thụ lý, giải quyết. Ngày 15-6-2010, tòa đưa vụ kiện trên ra xét xử. Sau khi luật sư của một bên đương sự nêu ra việc vi phạm tố tụng trên, Hội đồng xét xử đã phải nhìn nhận là bỏ sót thủ tục tố tụng và đình chỉ vụ án. (() ) Theo quy định của pháp luật đất đai, kể từ ngày 1-7-2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai nếu tranh chấp đó đã được hòa giải không thành tại Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã. Trường hợp đương sự nộp đơn khởi kiện mà tranh chấp đó chưa qua hòa giải tại UBND cấp xã thì tòa trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ thực hiện theo quy định tại Điều 135, 136 Luật Đất đai năm 2003. Với những vụ án tương tự như trên, có Tòa quan điểm rằng, áp dụng khoản 4 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ kiện và chuyển hồ sơ hoặc hướng dẫn đương sự tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Nếu UBND xã, phường, thị trấn hòa giải thành thì tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp UBND xã, phường, thị trấn hòa giải không thành, đương sự vẫn tranh chấp và yêu cầu tòa giải quyết thì căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Ngược lại, có tòa xác định việc tranh chấp đất đai chưa qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã thuộc trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Từ đó, tòa áp dụng khoản 2 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ kiện. Đến lúc này, đương sự muốn được tòa giải quyết thì phải chủ động về UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp yêu cầu tiến hành hòa giải tranh chấp. Sau khi có kết quả hòa giải không thành của UBND cấp xã, đương sự phải khởi kiện bằng một vụ án khác. Và một vấn đề đặt ra là không ít trường hợp vì thiếu hiểu biết pháp luật, khi thời hạn khởi kiện sắp hết, đương sự mới khởi kiện ra tòa. Lúc này, nếu tòa đình chỉ giải quyết vụ kiện, nói đương sự về UBND cấp xã làm thủ tục hòa giải thì họ sẽ hết thời hạn khởi kiện, tức tranh chấp của họ sẽ vĩnh viễn không được tòa phân xử. Và một câu chuyện trước đó là các đương sự thường chỉ dẫn nhau ra tòa khi tranh chấp đã rất gay gắt và họ không thỏa thuận với nhau được. Phần lớn vụ tranh chấp, việc hòa giải tại UBND cấp xã chỉ là thủ tục bắt buộc để nhờ tòa phân xử. Vì vậy, có thể thấy các quy định của pháp luật đang mập mờ, chưa thống nhất, do đó quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn có thể không được bảo vệ một cách thỏa đáng. Cũng chính vì sự mập mờ trong quy định của pháp luật mà nhiều tòa án đã lợi dụng đó để tiến hành không thụ lý, trả lại đơn khởi kiện của nhiều người dân, khi mà họ thiếu hiểu biết về pháp luật và cũng là đối tượng cần được pháp luật bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhất. Ở đây, em đồng ý với quan điểm là thay vì đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ kiện, tòa nên yêu cầu đương sự tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã, sau đó chờ kết quả hòa giải để tiếp tục giải quyết hay đình chỉ vụ kiện bởi vì việc này giảm rất nhiều sự phiền hà cho cả đương sự lẫn tòa án. Tuy nhiên, ở đây chỉ mới dừng lại ở quan điểm, còn pháp luật hiện hành thì vẫn chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này. 2.3. không đảm bảo thời gian xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án Trong thực tế nhiều vụ án, tòa án không đảm bảo thời gian xem xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án. Có những vụ án sau vài tháng kể từ ngày nhận đơn tòa án mới thụ lý. Sau khi nhận đơn khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo, tòa án thường mất khá nhiều thời gian để xem xét thụ lý vụ án. Việc xem xét đơn khởi kiện của Tòa án bị kéo thời gian đối khi do Tòa án không vận dụng đúng pháp luật trong giải quyết vụ án. Ví dụ, theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật lao động năm 2006 đã quy định thêm một số tranh chấp không bắt buộc phải thông qua hòa giải tại cơ sở như tranh chấp về việc người lao động kiện đòi bồi thường thiệt hại, tranh chấp về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động...nhưng đến nay vẫn có tòa án trả lại đơn cho đương sự yêu cầu phải tiến hành hòa giải ở cơ sở trước (() Phạm Công Bảy, tình hình giải quyết các vụ án lao động 2007 và một số vấn đề rút ra từ thực tiễn áp dụng BLTTDS”, tạp chí TAND tháng 3/2008 ). Tình trạng này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, những bức xúc không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến các vi phạm hình sự. Theo hướng dẫn tại Mục 6 phần I Nghị quyết 02/2006: “Đối với Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thì Chánh án hoặc Phó Chánh án được Chánh án uỷ nhiệm phân công cho một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện”. Theo quy định này thì mỗi khi có một đơn khởi kiện được gửi đến, Tòa án mới thực hiện việc phân công xem xét đơn khởi kiện. Cách làm này phải trải qua nhiều khâu mất nhiều thời gian, đơn khởi kiện sẽ không được xem xét đảm bảo thời gian theo quy định và chưa thực sự đề cao trách nhiệm bảo đảm tính khách quan của thẩm phán được phân công giải quyết. Và trong thực tiễn hiện nay hầu như các tòa án cũng chưa có thẩm phán làm công tác chuyên trách việc giải quyết đơn mà do văn thư nhận đơn (cùng tất cả các chứng cứ, tài liệu) từ các đương sự, vào sổ nhận đơn sau đó chuyển cho tòa chuyên trách hoặc bộ phận chuyên trách. Các bộ phận này sẽ nhận đơn về vào sổ thụ lý đơn chuyển lãnh đạo tòa hoặc bộ phận chuyên trách phân công người xem xét giải quyết đơn. Các bố trí trình tự giải quyết đơn như vậy rất rườm ra khi đơn được chuyển đến cán bộ được phân công giải quyết đơn thường mất từ ba đến năm ngày. Nếu cộng với thời gian thẩm phán được phân công xem xét đơn thì không đảm bảo thời gian quy định tại điều 167 BLTTDS (() Luận văn thạc sỹ luật học “Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Liễu Thị Hạnh, Hà Nội – 2009 ). 2.4. Chưa áp dụng đúng thủ tục khởi kiện Khởi kiện là quyền của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Việc khởi kiện phải theo trình tự thủ tục tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế có tình trạng đơn khởi kiện nội dung đầy đủ nhưng không ghi năm sinh của người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan hay chính người khởi kiện thì tòa trả lại đơn khởi kiện. Theo quy định tại Điều 164 BLTTDS thì khi khi cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện thì phải làm đơn khởi kiện với đầy đủ các nội dung chính được quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTDS; đơn khởi kiện phải theo mẫu được ban hành kèm theo nghị quyết 02/2006 – Hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS. Pháp luật không quy định đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của người khởi kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, của chính người khởi kiện; tuy nhiên trong thực tiễn tố tụng lại có tòa án trả lợi đơn khởi kiện vì lý do đơn khởi kiện thiếu nội dung này. Điển hình: Cuối tháng 12.2008, bà Nguyễn Thị Tuyết gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp kiện bà Nguyễn Thị Thanh Mộng về tranh chấp ranh giới đất. Do không biết năm sinh của bà Mộng nên trong đơn khởi kiện bà Tuyết không ghi năm sinh. Sau khi nhận hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung yêu cầu bà Tuyết phải bổ sung năm sinh của bà Mộng. Bà Tuyết phải làm đơn gửi đến Công an thị trấn Lai Vung, xin cho biết năm sinh của bà Mộng để hoàn tất đơn khởi kiện. Lúc này Tòa án mới bắt đầu thụ lý giải quyết vụ án. Một vụ án khác: Đầu tháng 7.2009, ông Trần Long Bảo làm đơn khởi kiện ông Nguyễn Long Sơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi đốn cây trồng của ông Nguyễn Long Sơn gây ra. Trong nội dung đơn khởi kiện, ông Bảo có đề cập đến hai người con ông Sơn là Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Phú Tâm đã tự ý qua đất ông đốn hạ cây trồng. Sau khi nhận đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, Đồng Tháp yêu cầu ông Bảo phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện: ghi năm sinh của hai người con ông Sơn là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án- nếu không sẽ trả hồ sơ khởi kiện. Ông Bảo tất nhiên không thể tự mình tìm năm sinh hai người có quyền và nghĩa vụ liên quan nêu trên, nên phải làm đơn đề nghị Công an thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung xác định năm sinh của họ để được khởi kiện (() Thực tiễn tố tụng: chưa áp dụng đúng thủ tục khởi kiện, Thanh Xuân, báo Người đại biểu nhân dân. Thư viện trường Đại học luật Hà Nội. ). Việc Tòa án yêu cầu đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định, gây khó khăn cho công dân khi thực hiện quyền khởi kiện đúng pháp luật. Pháp luật tố tụng dân sự không quy định người khởi kiện phải biết năm sinh của người bị kiện và nội dung đơn khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn có trường hợp nếu không có năm sinh của người bị kiện thì người khởi kiện khó có thể khởi kiện vì Tòa án sẽ trả đơn khởi kiện, không thụ lý vụ việc. Tòa án không chỉ yêu cầu người khởi kiện phải ghi năm sinh của người bị kiện mà còn yêu cầu người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng phải có năm sinh. Ở đây, một câu hỏi đặt ra, đó là tòa án sai do trình độ, kỹ năng hạn chế hay là sự né tránh của một số tòa án trong việc nhận hồ sơ khởi kiện, thụ lý giải quyết đối với một số vụ việc mà tòa án “ngại” giải quyết. Chưa kể trên thực tế còn có những tòa án viện vào lý do tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện chưa đủ nên không ít đơn khởi kiện bị tòa án trả lại...Và pháp luật tố tụng dân sự hiện hành cũng chưa có quy định nào ràng buộc trách nhiệm của tòa án trong việc trả lại đơn khởi kiện, không thụ lý giải quyết vụ việc một cách trái pháp luật, lý do đưa ra không thuyết phục, với mục đích né tránh hoặc gây khó dễ cho người khởi kiện...( () Tuy nhiên, như đã nêu ở phần trên, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS 2011 sẽ có hiệu lực sắp tới đã phần nào khắc phục được thực trạng này. ) 2.5. Vấn đề xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện Theo quy định tại điều 171 BLTTDS, sau khi đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án và đương sự thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí thì tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp án phí. Thực tiễn áp dụng các quy định về thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí các tòa án có nhiều cách vận dụng khác nhau. Thông thường các tòa án viết giấy báo yêu cầu người khởi kiện đến tòa án nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí rồi đi nộp, cách làm này gây khó khăn cho người khởi kiện nếu họ ở xa sẽ phải đi lại nhiều lần, các đương sự khi đọc thông báo thường hiểu lầm là nộp tạm ứng án phí tại Tòa án...Một số tòa án ghi ngay số tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện phải nộp và ghi rõ nơi nộp tiền tạm ứng án phí và thông báo gửi cho người khởi kiện phải nộp và ghi rõ nơi nộp tiền tạm ứng án phí và thông báo gửi cho người khởi kiện để họ có thể chuẩn bị tiền đi nộp sau đó nộp lại biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho tòa án. Cách làm này nhằm giảm bớt khó khăn trong việc đi lại cho người khởi kiện và tiết kiệm được thời gian. Có những trường hợp khó khăn do không có tiền để nộp tạm ứng án phí nhưng họ lại không thuộc trường hợp được miễn, phải đi vay, mượn nên việc nộp tiền tạm ứng án phí muộn theo thởi gian luật định. Về nguyên tắc, Tòa án thụ lý vụ án sau khi đương sự nộp tiền tạm ứng án phí, nhưng trong thực tế có trường hợp tòa án vào sổ thụ lý trước. Ví dụ: Ngày 28/12/2005 Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I làm đơn khởi kiện, ngày 14/12/2005 TAND tỉnh Bình Định nhận đơn khởi kiện, ngày 19/12/2005 nộp tiền tạm ứng án phí nhưng ngày 14/12/2005 TAND tỉnh Bình Định đã thụ lý vụ án trong khi đương sự chưa nộp tiền tạm ứng án phí và không thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí (() Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao – 2007, “Quyết định giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/8/2007 về việc tranh chấp về việc hợp đồng mua bán hàng hóa”, Tạp chí TAND kỳ II tháng 4/2008. ). III. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện Ngày 29/3/2011, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS 2004 đã được Quốc hội thông qua, theo đó đã giải quyết được nhiều vấn đề mà BLTTDS 2004 đang vướng mắc, bất cập (một số vấn đề đã được đề cập ở phần trên đây), tuy nhiên, cũng xuất phát từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện trên đây, đồng thời là những góp ý để hoàn thiện các quy định của BLTTDS xoay quanh vấn đề thụ lý vụ án dân sự thời gian qua của các chuyên gia pháp luật ở nước ta (mà trong bài làm do hạn chế về dung lượng nên không thể trình bày hết được), trong thời gian tới, pháp luật tố tụng dân sự về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện vẫn cần được hoàn thiện một số vấn đề như sau: Cần hướng dẫn cụ thể hơn nữa điểm đ Khoản 1 Điều 168 BLTTDS: Với hướng dẫn của Nghị quyết 02/2006 hiện nay thì vẫn chưa đưa ra một cách hiểu và giải quyết thống nhất trong áp dụng pháp luật. Theo đó thì cần đưa vào bổ sung hướng dẫn hai vấn đề, đó là: - Vấn đề được khởi kiện thẳng ra tòa án hay phải qua thủ tục khiếu nại trong lĩnh vực báo chí; theo đó thì cần hướng dẫn theo hướng tòa có thể thụ lý đơn khởi kiện trực tiếp của đương sự mà không bắt buộc họ phải thông qua thủ tục khiếu nại cơ quan báo chí. - Vấn đề hòa giải cơ sở trong lĩnh vực đất đai; theo đó khi có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai mà đương sự chưa thực hiện quy định của pháp luật đất đai về hòa giải cơ sở thì tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ kiện và chuyển hồ sơ hoặc hướng dẫn đương sự tiến hành hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Nếu UBND xã, phường, thị trấn hòa giải thành thì tòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp UBND xã, phường, thị trấn hòa giải không thành, đương sự vẫn tranh chấp và yêu cầu tòa giải quyết thì căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Ngoài hai vấn đề nêu trên, hiện nay cũng có còn có vấn đề mà nhiều ý kiến bàn luận, đó là trường hợp đương sự không biết địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và trường hợp đương sự không nộp đủ các tài liệu chứng cứ, kèm theo để chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp diễn ra rất phổ biến. Có Tòa án cho rằng trường hợp này thuộc trường hợp chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS. Tuy nhiên, nhiều ý kiến khác lại cho rằng cần phải bổ sung những trường hợp khác để có cơ sở pháp lý rõ ràng để trả lại đơn kiện trong trường hợp này. Do có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau về quy định này nên đề nghị cần có quy định bổ sung thêm trường hợp không tìm được địa chỉ của bị đơn (() Báo cáo số 09/BC-TANDTC ngày 9/8/2010 của TANDTC tổng kết 5 năm thi hành BLTTDS. ). Về trình tự giải quyết đơn, nên quy định mỗi tòa án có một bộ phận chuyên trách giải quyết đơn. Bộ phận này sẽ làm nhiệm vụ trực tiếp nhận đơn do đương sự nộp và giải quyết đơn như xem xét thụ lý, chuyển đơn đến tòa án có thẩm quyền hoặc trả lại đơn khởi kiện. Quy định như vậy sẽ giảm bớt thời gian thụ lý, đảm bảo tính chuyên môn, nâng cao trách nhiệm của cán bộ được phân công thụ lý vụ án. Tham khảo pháp luật một số nước về vấn đề này thấy rằng mỗi tòa án đều tổ chức một bộ phận thụ lý xem xét đơn khởi kiện. Bộ phận này sẽ trực tiếp nhận đơn, xem xét đơn khởi kiện nếu đủ điều kiện sẽ vào sổ thụ lý ((): Luận văn thạc sỹ luật học “Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Liễu Thị Hạnh, Hà Nội – 2009. ). Về hình thức văn bản trả lại đơn khởi kiện và giải quyết khiếu nại: Như đã đề cập ở phần II.1, một vấn đề đặt ra khi thực hiện các quy định trong việc trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện bằng văn bản đó là cần áp dụng loại hình thức văn bản nào? Có quan điểm cho rằng nhất thiết phải ra quyết định trả lại đơn cho phù hợp với các quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quan điểm ngược lại cho rằng giai đoạn nhận đơn không phải do thẩm phán hay do chánh án trực tiếp làm nên chỉ cần cán bộ nhận đơn trả lại đơn bằng văn bản là đủ. Ở đây, cần phải thấy rằng cho dù là ai thực hiện hành vi trả lại đơn cho đương sự thì văn bản do tòa án phát ra đều phải có chữ ký và con dấu của tòa án đó, thực tế chỉ có những người có chức danh trong tòa án mới có quyền ký tên, đóng dấu (() Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS. Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004. ). Do đó, quan điểm thứ nhất, là áp dụng hình thức ra quyết định khi trả lại đơn khởi kiện là phù hợp với các quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết của tòa án. Do đó, nên sửa đổi điều 168 và điều 170 BLTTDS quy định rõ hình thức văn bản là quyết định, như vậy mới phù hợp với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tham khảo pháp luật của một số nước như Nga, Pháp...về hình thức văn bản thấy hầu hết các hành vi tố tụng do thẩm phán tiến hành đểu thể hiện dưới hình thức văn bản là quyết định và đều có thể bị khiếu nại (() Điểu 134, 136, 135 BLTTDS cộng hòa Liên bang Nga BLTTDS Liên bang Nga năm 2003, (Bản dịch tiếng Việt), Nxb Tư Pháp năm 2005. ). Và đây là vấn đề khá phức tạp cả về lý luận và thực tiễn nên để áp dụng thống nhất rất cần có sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Về hậu quả pháp lý của việc không gửi cho tòa án ý kiến bằng văn bản, cần bổ sung điểm g Khoản 2 Điều 174 BLTTDS, theo đó quy định rõ hậu quả pháp lý là đương sự sẽ bất lợi vì tòa án sẽ giải quyết vụ án dựa trên căn cứ do nguyên đơn cung cấp; tòa án có quyền giải quyết vụ án vắng mặt một bên theo những tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện đưa ra vì không có sự phản đối từ phía bên kia (() Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS. Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004. ). Đồng thời quy định trong thông báo việc thụ lý vụ án phải nêu rõ quyền được xem, sao chụp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp của những người được thông báo. Quy định như vậy sẽ đề cao được trách nhiệm của người được thông báo trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Điều này pháp luật của một số nước cũng quy định (() Điều 56, 789 BLTTDS Cộng hòa Pháp (bản dịch tiếng Việt), Nhà Pháp luật Việt Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. ). Về thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, để áp dụng thống nhất và chính xác nên sửa đổi điều 171 BLTTDS quy định trong trường hợp người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tòa án gửi ngay thông báo cho người khởi kiện biết phải nộp tiền tạm ứng án phí để họ đi nộp. Trong thông báo phải bao gồm các nội dung: số tiền tạm ứng án phí, thời hạn, địa điểm nộp tiền tạm ứng án phí và thời hạn nộp lại biên lai cho tòa án. Việc bổ sung quy định này bảo đảm tính rõ ràng của thông báo, vừa đỡ rườm rà vừa đỡ gây tốn kém cho đương sự. Ngoài ra, cần quy định thành lập một quỹ về án phí để hỗ trợ bảo đảm cho người dân thực hiện quyền khởi kiện. Để khắc phục những trường hợp do không có tiền nộp tạm ứng án phí thì tòa án sẽ không thụ lý vụ án và quyền, lợi ích hợp phaspv bị xâm phạm sẽ không được bảo vệ. Thực tiễn áp dụng Điều này cho thấy, ở khoản 1 Điều 171 BLTTDS không quy định về thời hạn cụ thể Tòa án thông báo cho người khởi kiện đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tạm ứng án phí. Trường hợp người khởi kiện không đến Tòa án thì giải quyết thế nào? Trường hợp này theo em, nên quy định theo hướng: “…nếu người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện”, và quy định rõ trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí. Bởi vì quy định như vậy sẽ ràng buộc trách nhiệm đối với người khởi kiện, rút ngắn thời gian giải quyết vụ án. IV. Kết luận Như vậy, có thể thấy pháp luật thực định hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện ở nước ta đã có những bước phát triển so với những quy định trước đây, do sự ra đời của BLTTDS đã kế thừa và khắc phục được những hạn chế đó. Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động không ngừng, đòi hỏi sự tương thích của pháp luật thực định để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, và pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện cũng không ngoại lệ. Tầm quan trọng của chế định “Khởi kiện và thụ lý vụ án” trong pháp luật tố tụng dân sự luôn được thể hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ta. Đây là là một trong những vấn đề mấu chốt nhất của luật thực định mang tính quyết định đến thành tựu của ngành tư pháp không chỉ ở nước ta mà của cả các quốc gia trên thế giới. Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện góp phần hoàn thiện chế định này của pháp luật tố tụn dân sự. Nước ta đang trong tiến trình đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường đang phát triển, vấn đề các quy định của pháp luật trở nên không tương thích với thực tiễn là điều dễ xảy ra, đặc biệt là vấn đề về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự. Do đó, cần không ngừng việc nghiên cứu để hoàn thiện dần các quy định của pháp luật về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự để phù hợp với thực tiễn trong mỗi giai đoạn kinh tế - xã hội của đất nước.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThụ lý, trả lại đơn khởi kiện - một số vấn đề lý luận và thực tiễn.doc