Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự

MỤC LỤC Trang Đặt vấn đềGiải quyết vấn đề I, khái niệm và ý nghĩa phúc thẩm dân sự 1, Khái niệm 2. Ý nghĩa II,Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự 1, Thủ tục chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa . 2,Thủ tục hỏi tại phiên tòa 3, Thủ tục tranh luận . 4, Nghị án 5,Tuyên án . III, Kiến nghị hoàn thiện . 1, Kiến nghị về xây dựng pháp luật 2, Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật . Kết thúc vấn đềDanh mục tài liệu tham khảo

doc14 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 27/02/2013 | Lượt xem: 3926 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Chế định phúc thẩm dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự được quy định tại phần thứ ba từ chương XV tới hết chương XVII (từ điều 242 tới điều 281). Các quy định về phúc thẩm dân sự đã được kế thừa từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án về kinh tế, pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. các quy định phúc thẩm dân sự cũng đã được điều chỉnh thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, đất nước cũng như phù hợp với cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự là một thủ tục rất quan trọng trong quá trình làm sáng tỏ vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Trong bài viết này tôi sẽ đi tìm hiểu thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự. Bài viết của tôi có nội dung chính sau: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA PHÚC THẨM DÂN SỰ 1, Khái niệm Phúc thẩm dân sự là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Thủ tục phúc thẩm là một trong những thủ tục tố tụng được quy định ngay từ những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về tố tụng dân sự. Đến các luật tổ chức Tòa án nhân dân sau này, phúc thẩm được ghi nhận như một nội dung không thể thiếu được của Tòa án. Về bản chất, phúc thẩm không phải là lần xét xử đầu tiên đối với một vụ án mà là lần xét xử thứ hai. Thủ tục phúc thẩm được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm theo nguyên tắc xét xử hai cấp, đảm bảo tính thận trọng cho các phán quyết nhân danh Nhà nước. 2, ý nghĩa của phúc thẩm dân sự. Qua phúc thẩm có thể khắc phục được những sai lầm trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đảm bảo cho quyền lợi ích của cá nhân, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới, có thể chỉ đạo một cách thống nhất, kịp thời việc áp dụng pháp luật trong các hoạt động xét xử tại các tòa án ở địa phương. II. THỦ TỤC TIẾN HÀNH PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ Thủ tục tố tụng phúc thẩm cơ bản giống như thủ tục sơ thẩm và nội dung các hoạt động tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự cũng gần như tương tự tại phiên tòa sơ thẩm. Ở các nước theo truyền thống án lệ như Hoa Kì, Anh thì: trình tự tiến hành phiên tòa phúc thẩm cũng tương tự như ở phiên tòa sơ thẩm, bao gồm: bắt đầu phiên tòa, trình bày của các bên đương sự, tranh tụng, nghị án và tuyên án; ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự như Trung Quốc thì “phiên tòa phúc thẩm được tiến hành theo trình tự, thủ tục giống như ở sơ thẩm” gồm có: thủ tục bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án; theo pháp luật Việt Nam, thông thường trình tự phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự bao gồm các bước như bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án. Qua việc xem xét pháp luật của một số nước về phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự (PTPTVADS) có thể thấy nội dụng các hoạt động tố tụng tại PTPTVADS ở mỗi truyền thống tố tụng, nội dung tố tụng ở phiên tòa phúc thẩm so với phiên tòa sơ thẩm có một số điểm khác biệt. Thủ tục chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa.(Điều 267) Bắt đầu phiên tòa là hoạt động đầu tiên của PTPTVADS nhằm thực hiện các thủ tục cần thiết để đảm bảo cho việc tiến hành xét xử nội dung vụ án được tiến hành chính xác, khách quan và thuận lợi. ở thủ tục bắt đầu phiên tòa, chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa; đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; kiểm tra sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự; phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác; giới thiệu họ tên của những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không. Khác với phiên tòa sơ thẩm thì tại phiên tòa phúc thẩm chủ tọa phiên tòa cần phải tuyên bố Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo kháng cáo, kháng nghị đói với bản án, quyết định nào. Trong trường hợp vắng mặt người tham gia tố tụng có lí do chính đáng; có sự thay đổi về người tiến hành tố tụng mà chưa có người thay thế hoặc có người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tham gia xét xử thì PTPTVADS theo kế hoạch phải hoãn sang thời điểm khác, có nghĩa là phiên tòa bị hoãn. Thời điểm hoãn phiên tòa chỉ xảy ra ở thủ tục bắt đầu phiên tòa. Quyền hoãn phiên tòa và ra quyết định hoãn thuộc về Hội đồng xét xử. khi hoãn phiên tòa, PTPTVADS sẽ được tiến hành lại từ đầu. Thủ tục hỏi tại phiên tòa. Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung của vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tiếp theo chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi các đương sự về các vấn đề sau: + Hỏi nguyên đơn có rút đơn kiện hay không? (Điểm a khoản 2 Điều 268 BLTTDS). Nếu nguyên đơn rút đơn kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì Hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên tòa phúc thẩm vẫn được tiến hành bình thường. nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp thuận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và ra quyết định hủy bỏ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án. Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của bản án sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn. + Hỏi người kháng cáo, kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không? (Điểm b khoản 2 Điều 268 BLTTDS) Nếu có việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét xử giải quyêt theo quy định tại Điều 256 BLTTDS. + Hỏi các đương sự có thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? ( Điểm c khoản 2 điều 268 BLTTDS). Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thỏa thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự. các đương sự được thỏa thuận với nhau về án phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì hội đồng xét xử sẽ quyết định theo quy định của pháp luật. Sau khi chủ tọa đã hỏi các đương sự mà nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị và các đương sự không thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án thì Hội đồng xét xử bắt đầu xét xử bằng cách nghe trình bày của các đương sự theo các thứ tự sau đây: + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. trong trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo là nguyên đơn và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự kháng cáo là bị đơn và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp chỉ có viện kiểm sát kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến. + Trong trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình. +Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, kiểm sát viên có quyền đề xuất trình bổ sung chứng cứ. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu, xem xét vật chứng + sau khi nghe đương sự, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày, việc hỏi, công bố tài liệu, xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm. Việc hỏi phải được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm ( Điều 273 BLTTDS) Phạm vi tranh luận, tại PTPTVADS, phạm vi tranh luận chỉ giới hạn ở những vấn đề thuộc phạm vi phúc thẩm, nghĩa là những vấn đề có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến vấn đề giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Về trình tự tranh luận tại PTPTVADS được thực hiện như sau: +Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. trường hợp chỉ có VKS kháng nghị thì kiểm sát viên trình bày về nội dung của kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị; trong trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của kháng nghị. +Tiếp đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đương sự có quyền bổ sung ý kiến. + Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, trong trường hợp VKS tham gia phiên tòa, chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về hướng giải quyết vụ án (Điều 234BLTTDS). Tuy nhiên, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên chỉ là một trong các căn cứ để HĐXX xem xét khi nghị án Vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đối với tranh luận của các bên là rất lớn. chủ tọa phiên tòa là người điều khiển quá trình tranh luận nhằm bảo đảm cho việc tranh luận khách quan, toàn diện và đúng trọng tâm. Nghị án (Điều 274BLTTDS) Theo Điều 274BLTTDS thì việc nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm. theo điều 236 BLTTDS thì “ sau khi kết thúc phần tranh luận, HĐXX vào phòng nghị án và tuyên án”. So với các quy định của pháp luật TTDS trước đây về thủ tục nghị án, điều 236 quy định khá đầy đủ và chi tiết về nguyên tắc, trình tự, căn cứ và nội dung nghị án. Khi nghị án có thể xảy ra hai trường hợp: + Một là, qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ, HĐXX quyêt định quay lại việc hỏi và tranh luận. (điều 237 BLTTDS). +Hai là: HĐXX ra bản án, quyết định về giải quyết VADS. Tuyên án Theo điều 274BLTTDS thủ tục tuyên án tại PTPTVADS được thực hiện như phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 239 BLTTDS. Sau khi bản án được thông qua, HĐXX trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo điều 239 BLTTDS: “khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy trừ trường hợp đặc biệt được phép của Chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án hoặc quyền kháng cáo. Trong trường hợp đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết”. II. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Kiến nghị về xây dựng pháp luật Thứ nhất: cần bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào Chương hai của BLTTDS. Vấn đề mở rộng tranh tụng trong TTDS là một trong những yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Hiện nay theo pháp luật nước ta tranh tụng không chính thức được ghi nhận là nguyên tắc trong TTDS nhưng BLTTDS đã có nhiều quy định thể hiện tinh thần nội dung của nguyên tắc tranh tụng. bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào BLTTDS sẽ tạo cơ sở pháp lí cho việc mở rộng tranh tụng trong TTDS, đảm bảo cho việc ra bản án, quyết định của Tòa án được công khai, dân chủ và khách quan. Thứ hai: vấn đề đình chỉ tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự Căn cứ của việc đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 192, 260 BLTTDS bao gồm: (i) nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; (iv) những trường hợp khác do pháp luật có quy định. Như vậy, theo quy định của BLTTDS thì hai căn cứ (i) và (ii) vừa là căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại thủ tục phúc thẩm vừa là căn cứ đình chỉ xét xử phúc thẩm. quy định này đã gây ra một khó khăn trong thực tiễn áp dụng đó là khi nào Tòa án cấp phúc thẩm sẽ đình chỉ giải quyết vụ án và khi nào sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm. nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP cũng không có hướng dẫn về vấn đề này, thiết nghĩ BLTTDS cần quy định cụ thể trường hợp này Thứ ba: về việc hoãn phiên tòa đối với trường hợp vụ án nhiều đương sự phải tham gia phiên tòa phúc thẩm có thể xảy ra trường hợp phải hoãn phiên tòa nhiều lần do họ lần lượt vắng mặt tại phiên tòa với nhiều lí do. Đây là khe hở để cho các đương sự khong có thiện chí cố ý kéo dài thời gian giải quyết vụ án. BLTTDS hiện hành chưa có quy định nào nhằm chi phối vấn đề này. Để vụ án dân sự được giải quyết một cách nhanh chóng, bảo vệ được quyền lợi ích của các đương sự thiết nghĩ các nhà làm luật cần bổ sung điều luật nhằm hạn chế số lần hoãn phiên tòa. Thứ tư: sự tham gia của viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 03/2005/TTLT –VKSNDTC- TANDTC, phần II.2 thì: kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm với những vụ án do VKS kháng nghị; những vụ án mà VKS cùng cấp với tòa án sơ thẩm đã tham gia phiên tòa sơ thẩm; trường hợp đương sự có sự khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án cấp phúc thẩm mà VKS thấy cần thiết phải tham gia phiên tòa phúc thẩm thì VKS thông báo bằng văn bản cho Tòa án cấp phúc thẩm biết. đối với trường hợp này, nếu Viện kiểm sát vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX vẫn tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung thì VKS thông báo bằng văn bản cho Tòa án cấp phúc thẩm biết. Đối với trường hợp này, nếu Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì HĐXX vẫn tiến hành phiên tòa theo thủ tục chung. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 264 BLTTDS chỉ quy định VKS cùng cấp phải tham gia phiên tào phúc thẩm trong trường hợp VKS kháng nghị hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm. trong đó để phù hợp với thực tế, đảm bảo nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thì khoản 2 Điều 264 cần bổ xung như sau: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp VKS kháng nghị hoặc đã tham gia phiên tòa sơ thẩm hoặc trường hợp đương sự có khiếu nại về việc thu thập chứng cứ của Tòa án. Thứ năm về thủ tục hỏi tại phiên tòa phúc thẩm. Theo BLTTDS hiện nay thì vẫn đề cao vai trò của Thẩm phán và xem nhẹ vai trò của các bên đương sự. HĐXX giữ vai trò chủ động và tích cực khi tham gia các hoạt động hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định…còn vai trò của luật sư , của các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự, người đại diện của đương sự, người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế. Theo ý kiến của tôi thì cần thu hẹp việc hỏi tại phiên tòa, các vấn đề còn mâu thuẫn thì được giải quyết tại phần tranh luận tại phiên tòa. HĐXX có quyền tham gia phiên tào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết, chứng cứ mà các bên chưa làm rõ. Như vậy thì thủ tục tiến hành phiên tòa cần xác định như sau: sau thủ tục bắt đầu phiên tòa thì HĐXX cho đương sự trình bày yêu cầu, xuất trình chứng cứ và tranh luận. Thứ sáu: vấn đề tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm Quy định của BLTTDS mới chỉ đề cập đến trình tự phát biểu khi tranh luận, phát biểu khi tranh luận và đối đáp, phát biểu của VKS và trở lại việc xét hỏi mà chưa đề cập đến cụ thể những người có quyền tham gia tranh luận, phạm vi, căn cứ của việc tranh luận Về những người tham gia tranh luận cần bổ sung thêm điều luật quy định về những người có quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm: đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tham gia tranh luận. trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên có quyền tranh luận. Thứ bảy: về nghị án. Điều 274 BLTTDS quy định: việc nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm. quy định như vậy làm làm lúng túng cho các Tòa án cấp phúc thẩm không biết phải áp dụng quy định nào, áp dụng như thế nào trong phiên tòa phúc thẩm. vì vậy cần hoàn thiện quy định về nghị án rõ ràng hơn. Ngoài ra, BLTTDS có nhiều quy định bất cập khác như vấn đề xuất trình chứng cứ mới tại phiên tòa phúc thẩm, thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm, tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm…Thiết nghĩ cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn nữa các vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng xét xử của tòa án. 2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật. Để nâng cao tính hiệu quả trong quản lí đối với TTDS nói chung và PTPTVADS nói riêng, bên cạnh việc nâng cao chất lượng, xây dựng hoàn thiện các quy định của pháp luật thì cần phải có những biện pháp nhằm triển khai tốt hơn việc thực hiện pháp luật. Thứ nhất: xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ Tòa án nói riêng nhất là đội ngũ Thẩm phán có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức chính trị, trách nhiệm nghề nghiệp, thực hiện tốt chức năng xét xử. Thẩm phán tòa án cấp Phúc thẩm và ngành tòa án cần phải quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, am hiểu pháp luật, chí công vô tư, biết nâng cao chuyên môn, trau dồi phẩm chất đạo đức. Thứ hai: các hoạt động giám đốc, kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử cần thường xuyên hơn nữa. qua các hoạt động kiểm tra cần tìm ra những điểm tích cực cũng như hạn chế để từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục, hoàn thiện. C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự, tôi đã hiểu hơn bản chất của phúc thẩm cũng như hiểu thêm các thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm. trong bài viết có đưa ra một số kiến nghị của bản thân về việc hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm, vì là ý kiến cá nhân nên không tránh khỏi những sai xót, mong được thầy cô giáo góp ý để tôi có cái nhìn hoàn thiện hơn. D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng dân sự, NXB CAND, Hà nội, 2009. Học viện tư pháp, Giáo trình luật tố tụng dân sự, Nxb. CAND, Hà nội, 2007. Bộ luật tố tụng dân sự 2004. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 05/2006/ NQ-HĐTP ngày 4/8/2006 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về “thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” Trường Đại học Luật Hà Nội, câu hỏi và bài tập về luật tố tụng dân sự, Nxb, CAND, Hà Nội 2003. Nguyễn Thị Thu Hà, chế định phúc thẩm vụ án dân sự, tạp chí Luật học, Đặc san về BLTTDS, 2005 Vương Thanh Thúy, một số vấn đề về thủ tục phúc thẩm dân sự, tạp chí Luật học, đặc san góp ý dự thảo BLTTDS, 2004 MỤC LỤC Trang Đặt vấn đề…………………………………………………………………… Giải quyết vấn đề…………………………………………………………… I, khái niệm và ý nghĩa phúc thẩm dân sự………………………………… 1, Khái niệm………………………………………………………………… 2. Ý nghĩa…………………………………………………………………… II,Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự………………………….. 1, Thủ tục chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa…………………………………………………………………………………. 2,Thủ tục hỏi tại phiên tòa………………………………………………….. 3, Thủ tục tranh luận………………………………………………………. 4, Nghị án…………………………………………………………………… 5,Tuyên án……………………………………………………………………. III, Kiến nghị hoàn thiện………………………………………………………. 1, Kiến nghị về xây dựng pháp luật………………………………………….. 2, Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật………………………………………. Kết thúc vấn đề…………………………………………………………….. Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………..

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự.doc
Luận văn liên quan