Thực tập địa chất Lạng Sơn

CHƯƠNG I Lời mở đầu Địa chất là môn khoa học chuyên nghiên cứu về trái đất, các vật liệu hình thành trái đất, cấu trúc của những vật liệu đó và các quá trình hoạt động của chúng, nó bao gồm các nghiên cứu về nguồn gốc sinh vật trên trái đất, địa chất học là môn nghiên cứu về thành phần, nguồn gốc của quá trình, cấu trúc của trái đất thay đổi theo thời gian. Để không ngừng củng cố thêm kiến thức đá được học là làm quen với công việc địa chất sau này. Nhằm mục đích đào tạo chuyên môn Địa chất cho sinh viên. Theo quyết định số: 3968/QD.MĐC - ĐH. SDH của Bộ GD&ĐT Trường Đại học Mỏ Địa chất: ngày 14/11/2007 đã cho phép sinh viên lớp Địa Chất B - K50 đi thực tập môn học Địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ Địa chất tại khu vực thành phố Lạng Sơn từ ngày 31/12/2007 đến ngày 16/02/2008. Thị xã Lạng Sơn là một vùng thực tập rất điển hình và đa dạng cho sinh viên địa chất, đặc biệt là sv ngành địa chất TKTDKS đi thực tập. Với cấu trúc địa chất phong phú, các hiện tượng địa chất nội ngoại sinh rất rõ ràng, nên đi Lạng Sơn là rất phù hợp với mục đích của nhà trường và khoa địa chất đề ra. Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức đã học từ giáo trình môn học; Địa chất Đại cương, Địa chất cấu tạo, Thạch Học, Lịch sử địa chất Qua việc vận dụng lý luận thực tế, tìm tòi sáng tạo trong thực tập và làm tổng kết lý luận. Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc sau này, giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong tương lai. Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập, phải đảm bảo thực tập đúng nội dung, đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như: Đảm bảo lộ trình, tuân thủ quy định lao động, đảm bảo việc thu thập mẫu, ghi chép đầy đủ cá nhân, bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt. Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn: + Phải nhận biết, nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến lộ trình cũng như trong vùng nghiên cứu. + Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất. + Tăng khả năng nhận biết đất đá, sử dụng bản đồ địa hình, địa bàn địa chất, búa và các dụng cụ khác trong khi thực tập. Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địa chất như; các phương pháp địa mạo, viễn thám, môi trường Nhằm phát hiện và làm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích Đệ Tứ. Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng, diễn ra trong 6 tuần từ tuần 21 đến tuần 27 tức là từ 31/12/2007 đến 16/02/2008 và được chia làm 3 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Từ ngày 30/12/2007 đến ngày 03/01/2008. Đây là thời gian chuẩn bị dụng cụ học tập, tư trang, tài liệu địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất và các điều kiện về vật chất để tiến hành thực tập. Giai đoạn này được thực hiện ở nhà và một phần ở Lạng Sơn. - Giai đoạn 2: Sau giai đoạn chuẩn bị đó là giai đoạn thực địa. Giai đoạn này chúng tôI thực hiện tại khu vực TP Lạng Sơn gồm những lộ trình có sự hướng dẫn của thầy giáo và những lộ trình độc lập. Lộ trình 1: Đông Kinh – Nà Pàn Lộ trình 2: Đông Kinh –Lộc Bình Lộ trình 3: Đông Kinh – Bản Lỏng Lộ trình 4: Đông Kinh – Cao Lộc Lộ trình 5: Đông Kinh – Hữu Nghị - Tân Thanh Hai lộ trình do các nhóm độc lập tiến hành là: Lộ trình 6: Đông Kinh – Pò Lèo Lộ trình 7: Pò Tàng – Khôn Cuông - Giai đoạn 3: Giai đọan trong phòng, giai đọan này chúng tôI làm một phần ở Lạng Sơn và phần lớn tại Hà Nội. Đâyy là giai đọan làm báo cáo tổng kết, sơ đồ địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ kết quả thực tập. Lớp Địa Chất Thuỷ Văn K54 gồm 55 thành viên được chia ra làm 7 nhóm, mỗi nhóm có 7 thành viên, trong đó chúng tôI thuộc nhóm 2 đội II và bao gồm các thành viên sau:

docx50 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/02/2013 | Lượt xem: 5071 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực tập địa chất Lạng Sơn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c b loại sau: - Đới thứ nhất là biến dạng phá huỷ liên quan đến phá huỷ ở móng thuộc hệ tầng Bắc Sơn. - Đới thứ hai là biến dạng phá huỷ liên quan với các hoạt động phun trào dồn ép. - Đới thứ ba là đới biến dạng phá huỷ liên quan với quá trình dồn ép bồn trầm tích. Ở các vị trí giao tuyến giữa magma và biến dạng đã xuất hiện các đứt gẫy nghịch như ở phía Nam nhà hàng Hoàng Di, Tây Bắc Bệnh viện Lạng Sơn, Mai Pha… Ở dạng thứ hai có thể gặp các đới trượt chờm và các nếp uốn đảo, chúc đầu như ở phía Nam và phía Tây Bắc Nà Pàn, bờ trái sông Kỳ Cùng, ở phía Nam Nà Sen, phía Đông Mai Pha… Ở dạng thứ ba hình thành các nếp uốn có góc dốc nhỏ như ở quãng đền thờ Trần Hưng Đạo, Thác Trà, phía Bắc Nà Chuông…nhưng ở phía trên xuất hiện các nếp uốn đảo, chúc đầu, dạng mào gà như ở Đông Bắc Bản Lóng, phía Đông Pò Mơ… Trên cơ sở phân tích như đã trình bày thấy rằng vào cuối Trias sớm một số nơi trong vùng đã trở thành lục địa có mặt các phun trào magma axit dạng đảo và cung đảo. Đới magma phun trào Trias trung ven nhánh đứt gãy sâu. Trong khu vực nghiên cứu chúng tôi thấy các đới này phân bố các dải ở phía Tây, phía Đông bắc và Đông Nam. Dải phía Tây nó các phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Dải phía Đông Bắc có các phương Tây Bắc - Đông Nam chuyển thành Đông Bắc - Tây Nam rồi thu hẹp dần và mất hẳn. Những điều trình bày đã xác định rằng phần phía tây có hoạt động magma khá mạnh, trong khi đó ở phần phía Đông và Đông Bắc hoạt động magma cũng tương đối, còn lại phần Đông Nam thì hoạt động trên yếu hẳn, chứng tỏ hoạt động đứt gãy ở hai khu vực nói trên, nhất là đứt gãy thuận - toác là khá mạnh. Đồng thời điều kiện môi trường lục địa và biển đã cho khả năng khác nhau với thành tạo magma phun trào axit. Magma phun trào axit chủ yếu là ryolit, thể hiện là loại magma có lò tương đối nông, liên quan đến hiện tương tách vỏ ở mức đột thật không mạnh mẽ, dung dịch magma xuyên chậm lên vỏ và đồng hoá phần đá già silic và tạo magma phun trào axit. Điều nữa cho thấy, ngoài việc magma nói trên xuyên quan các đá cổ hơn chúng còn phủ chính hợp lên trên cá đá trầm tích ở đây chứng tỏ chúng được lắng đọng ở các trũng sâu cung hoặc giữa cung khi trầm tích biển nông đang được hình thành như ở phía Tây Nam Nà Pàn. Như vậy sự có mặt của đới magma phun trào đã thể hiện hoạt động kiến tạo magma khá mạnh ở đây nhưng liên quan chủ yếu với các đứt gãy sâu (phần nào giống dạng Bâicn), và một số nơi khác với magma thuộc đới tách giữa sông Đà. Các biến dạng phá huỷ tương đối hình thành vào các giai đoạn khác nhau nhưng liên quan nhiều đến giai đoạn cuối Trias và giai đoạn Jura - Neogen. Chúng chia cắt các đá trong đới, hình thành các dải dập vỡ và bị phong hoá mạnh, phong hó dạng đường. Đới hạ võng trầm tích Trias trung -Trias muộn ven các đứt gãy sâu Vào giữa Trias hoạt động đứt gãy mạnh lên ở dạng đứt gãy sâu - địa hào hình thành các dải biển phương Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam ở phía Đông Bắc và Đông Nam vùng nghiên cứu. Giới hạn của phạm vi này về phía Đông Bắc có thể là đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên, phía Đông Nam là đứt gãy Na Sa - Nà Chuông - Đồng Mỏ - Chi Lăng - Sông Thương, trong đới đứt gãy theo phương này. Quá trình hạ võng hình thành đới biển nông với các trầm tích các - bột kết, sét kết và sét vôi. Tuy nhiên, do quá trình phun trào magma với thời tiết nóng và khô, do hiện tượng chuyển dịch về phía Đông Bắc và Đông Nam nên đã xuất hiện các biển nông dạng vũng vịnh và sau đó là các vũng biên có khí hậu khô nóng. Trong các điều kiện ở trên đã hình thành trầm tích thuộc môi trường oxy hoá với các lớp trầm tích có màu sắc sặc sỡ như tím gan gàn, nâu, nâu đỏ. Trong điều kiệnnhw thế đã hình thành cấu trúc dạng võng địa hoà hệ thống Mẫu Sơn lên hệ tầng Nà Khuất. Trong điều kiện võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khối mang tính chất cục bộ rõ rệt. Cấu trúc nếp uốn đặc trưng là phức hệ nếp võng sâu phân dị đã hình thành các cấu trúc dạng khối mang tính chất cục bộ rõ rệt. Cấu trúc nếp uốn đặc trưng là phức hệ nếp lõm có biên độ rộng, thuộc loại nếp uốn ngắn ít thấy các biến dạng phức tạp và cường độ cao. Các biến dạng phá huỷ mạnh thuộc vào giai đoạn sau uốn nếp, khép kín bồn trầm tích. Các đứt gãy này phần nhiều là đứt gãy nghịch và trượt ngang, khả năng liên quan đến biến dạng ở khu vực giao nhau của đứt gãy dạng chạc ba mà một trong các tác động là khối nâng Mẫu Sơn. Hoạt động kiến tạo cảu khu vực, hoạt động của khối này và sự hình thành magma dưới khối là một trong những nguyên nhân chính hình thành các đứt gãy nghịch đã nêu. Đới hạ võng trầm tích kế thừa ven các đứt gãy sâu và phun trào magma dạng vòm nhiệt Jura muộn - Paleogen. Sau quá trình khép kín bồn trầm tích vào giai đoạn cuối Trias, trong vùng còn tàn dư lại một số võng dạng bồn địa ở phía Tây Bắc thuộc Hoàng Đồng và Hợp Thành. Các dòng magma ở dưới sâu có thành phần mafic vễn tiếp tục di chuyển. Vào cuối Jura đầu Kreta hoạt động kiến tạo mạnh lên, dẫn đến chảy vỏ, sụt võng, trầm tích thành tạo lục địa dạng vũng vịnh như cuội, sạn, cát và phun trào ryolit. Đặc tính thành tạo như trên phần nào giống dạng hố võng chồng ở Tú Lệ. Dòng magma sâu tiếp tục đi vào phía Tây Bắc vùng nghiên cứu, gặp các đứt gãy mở thuận lợi nhất là giao nhau giữa chúng, bazan được đưa lên vòm nhịêt gồm chủ yếu các dung nham magma sâu, mafic và phá vỡ vỏ trào ra phủ trên một diện tích khá rộng ở phía Tây Bắc Nông Đồng. Những điều nói trên chứng tỏ phần Tây Bắc của vùng có hiện tượng kế thừa mạnh mẽ sụt vòm trầm tích và phun trào magma dạng vòm nhiệt. Cấu trúc đặc trưng trong đới là cấu trúc xuyên cắt cảu các thân magma có tuổi muộn hơn có trầm tích magma có trước. Cùng vào đó là các đứt gãy mà một pha là tách giãn, căng đứt, góp phần mở đường cho dung nham mafic lên nhanh vào trào ra dưới dạng núi lửa bazan. Đới tách kiến tạo và hạ võng trầm tích Kainozoi giữa - muộn Sau Paleogen vỏ Trái Đất khu vực nghiên cứu ở giai đoạn bình ổn bóc mòn san bằng cho đến đầu Neogen. Vào đầu Mioxen, do hoạt động dồn ép, trượt toác của đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên, do tác dụng các lực kiến tạo từ phía Hymalaya - Vân Nam - Trung Quốc và các lực khác ở đây cấu trúc trượt toác tạo nên các địa hào dọc thung lũng NaSa. Trong các địa hào bắt đầu quá trình trầm tích dạng vũng vịnh của sông với độ chênh cao khá lớn. Trầm tích gồm các các lớp khấu kính cuội, sạn, cát, bột, sét và sét than. Nguồn vật liệu chủ yếu từ bên hồ địa hoà nên rất giày felspat thuộc các hệ tầng Khôn Làng, Tam Danh, Tam Lung. Cuối Mioxen ngừng quá trình tách giãn, sụt võng giảm hẳn thay vào đó là quá trình dồn ép theo các hướng từ Đông Nam xuống Tây Bắc, từ Tây Nam về Đông Nam. Tuy nhiên hướng của lực có những giai đoạn thay đổi và trượt ngược lại. Quá trình nói trên đã hình thành các nếp uốn, đứt gãy nghịch có mặt trượt nghiêng về phía Tây Bắc. Hiện tượng như thế thấy rõ trong trầm tích Neogen khu vực Hợp Thành và khu vực Đông Bắc Nà Nùng. Từ cuối Mioxen đến đầu Đệ Tứ vùng nghiên cứu chịu quá trình san bằng trong hoạt động kiến tạo khá bình ổn. Sang nửa đầu Đệ Tứ hoạt động kiến tạo trẻ tăng lên làm xuất hiện một số đứt gãy phương á kinh tuyến Tây Bắc - Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam. Hiện tượng nói trên hình thành các dạng elip hoặc dạng vòng ở phía Nam và Đông Nam vùng nghiên cứu. Tại đây đã tích đọng các lớp cuội, sạn, cát, cát pha, sét pha và các vật liệu hữu cơ có liên quan qua tới hoạt động tích tụ của sông Kỳ Cùng. Trong thời gian gần đây dọc đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên vẫn xảy ra hiện tượng hạ tương đối với tốc độ 0.7 - 1.0mm trên năm. Đặc diểm các khe nứt, đứt gãy và nếp uốn. Khe nứt Các khe nứt trong vùng nghiên cứu có nguòn gốc nội sinh và ngoại sinh. Các khe nứt nội sinh do hoạt động kiến tạo, hoạt động magma, hoạt động biến chất gây ra. Trong đó các khe nứt kiến tạo có vai trò cơ bản, Các khe nứt ngoại sinh chủ yếu do phong hóa, đổ lở và một số tác nhân khác chúng phân bố trong vùng nghiên cứu . a, Khe nứt nội sinh. Chủ yếu là khe nứt do kiến tạo, phát triển có quy luật rõ ràng các khe nứt này liên quan chặt chẽ với đứt gãy, nếp uốn. Khe nứt liên quan đến đứt gãy phát triển ngay trong đới đứt gãy và bên cạnh. Khe nứt liên quan đến nếp uốn thì các uốn nếp làm cho đá bị nứt nẻ mạnh tạo điều kiện tốt cho quá trình phong hóa, bóc mòn, xâm thực ,hòa tan tạo nên địa hình đảo ngược ở nhiều nơI thuộc vùng thành phó Lạng Sơn. b, Khe nứt ngoại sinh. Đây là khe nứt do quá trình phong hóa tạo nên và một sồ nguồn gốc khác. Khe nứt do phong hoa phát triển trên các đá cát kết, bột kết, sét két, đá voi và trong các đá phun trào Ryolit… Trong đó các đá cát – bột – sét kết phổ biến là khe nứt vòng do hiện tượng phong hóa hình cầu như ở khu vực thác Trà, phía Tây bệnh viện lao phổi LS… khe nứt phát triển trong đá vôI lam cho các đá bị nứt nẻ phong hóa ạo bề mặt dạng dăm nên đôI khi có thể nhầm với dăm kết kiến tạo. Đứt gãy Vùng TP Lạng Sơn có hoạt động đứt gãy khá mạnh với các hệ thống đứt gãy: - Hệ thống đứt gãy theo phương Tây Bắc- Đông Nam -Hệ thống đứt gãy theo phương á kinh tuyến -Hệ thống đứt gãy theo phương á vĩ tuyến - Hệ thống đứt gãy theo phương Đông Bắc – Tây Nam Theo tài liệu khảo sát thực tế, tài liệu tham khảo, tài liệu phân tích kết hợp với quá trình đi lộ trình chúng tôi trình bày đặc điểm chính của một số đứt gãy trong vùng TP Lạng Sơn a, Đứt gãy theo phương TB-ĐN Đứt gãy F1: Đứt gãy Cao Bằng- Lộc Bình- Tiên Yên là đứt gãy sâu lớn nhất ở khu vực Đông Bắc VN. Trên bình đồ cấu trúc đứt gãy gần vuông góc với hướng cấu tạo của đá Paleozoi muộn-Mezozoi. Dọc theo đứt gãy đã phát triển các thành tạo địa hào Neogen hẹp kéo dài theo phương TB-ĐN. Dờu hiệu nhận biết các đứt gãy trực tiếp là: hiện tượng khe nứt, mặt trượt, nếp uốn, vò nhàu trong các đá trầm tích và phun trào của các hệ tầng Khôn Làng, Tam Danh, Tam Lung, Nà Khuất, Mẫu Sơn. Dờu hiệu nhận biết gián tiếp là sự định hướng của thung lũng kéo dài suốt từ CBằng qua Lạng Sơn đến Tiên Yên( QN), linement trên ảnh vệ tinh. Theo các tài liệu địa chất dứt gãy F1 cắt qua vỏ TĐ sâu 20-30km thậm chí 40-60km, dọc theo đứt gãy có hiện tượng hạ võng 0.7mm/năm và trượt ngang, cánh ĐB trượt về phía Tây Bắc, cánh TN trượt về phía Đông Nam. Hiện tại ở khu vực nghiên cứu do hoạt động đứt gãy này và dồn ép của khối Mẫu Sơn về phía Tây- Tây Bắc đã hình thành các đứt gãy ngang tạo dịch chuyển rõ nét, tác động không nhỏ đến sự ổn định của các công trình ở phần phía Nam cầu bê tông qua sông Kỳ Cùng và khu vực vườn hoa Hoàng Văn Thụ. Đứt gãy F2: Nằm ở phía Đông Bắc vùng nghiên cứu kéo dài theo phương ĐB-TN và đi qua khu vực Kéo Tàu. Đứt gãy này chúng tôI gặp ở điểm lộ 1515 lộ trình từ Phai Vệ đi Khón Lênh. Dấu hiệu nhận biết đứt gãy này là tại điểm lộ có đới dăm kết rộng 1-1.5m, cao 5m, bên tráI là các trầm tích lục nguyên gồm cát, bột và sét kết thuọc hệ tâng Lạng Sơn, bên phải là khối núi đá vôi chứa hóa đá trung lỗ thuộc hệ tần Đồng Đăng. Chúng ta cũng xác định được đây là đứt gãy thuận có cánh treo tụt xuống và cánh trụ dịch chuyển lên, thế nằm của mặt đứt gãy đo dược là 45/60. Đứt gãy F3 : nằm ở vùng Đông Bắc vùng nghiên cứu cách diểm lộ 1515 khoảng 300m, đứt gãy mà chúng ta nghiên cứu là một đứt gãy nghịch có cánh treo dịch chuyển lên trên, cánh trụ xuống dưới, bề rộng đới đứt gãy này khoảng 1-1.5m, trước đó ở đây đã có một đứt gãy F3 trượt dọc sông song với mặt lớp, 2 hệ thống đứt gãy này giao nhau và làm mất đI tính liên tục của thân đá. Đứt gãy này tác dụng lên các lớp đá của hệ tầng LS làm cho đôI chỗ ta nhìn thấy có hình dạng khúc dồi. Đứt gãy trẻ F3 có thế nằm 68/58. Đứt gãy F4 : Chúng ta bắt gặp đứt gãy này ở điểm lộ 1517 trên lộ trình từ Phai Vệ đI Khón Lênh. Dọc theo đới đứt gãy này ta thấy đá bị dập vỡ và cà nát mạnh. Chúng ta cũng đang đứng ở mức địa hình tương đói cao nhưng lại quan sát thấy một giếng nước ở ben cánh và đó là cánh treo. Ta cũng biết rằng các đá phun trao ryolit huộc hệ tàng Khôn Làng có mức độ lỗ hổng thấp, khả năng chứa nước kem do đó ta kết luận đây là một đứt gãy và là đứtgãy thuận. Nước thường tìm thấy ở các khe nứt, đứt gãy hay là dấu hiệu thủy văn. Đứt gãy F5 : Nằm ở phía Tây Bắc của vùng nghiên cứu tại điểm lộ 1521 bên cạnh đền thờ Trần Hưng Đạo chúng ta bắt đới đứt gãy chạy dọc theo hướng TB-ĐN. Đứt gãy này cắt qua các đá cát, bột và sét kết thuộc hệ tầng LS, dấu hiệu nhận biết đứt gãy này chíng là đới dăm kết ở đây nà sự vỡ vụn của các đá. Đứt gãy có thế nằm 68/58 và là đứt gãy thuận. Đứt gãy F6: Nằm ở bên trái quốc lộ 1A cũ trên lộ trình từ Phai Vệ đI Bản Lỏng, đứt gãy này cắt qua khối đá vôI của hệ tầng Đồng Đăng làm mất đI tính liên tục của thân đá , một dấu hiệu nữa đố là trong đá vôI có chứa hóa đá trùng lỗ làm cho độ lỗ hổng của đá tăng lênkhi sv này chết đi , phân hủy hoặc hóa thạch. Và khi chịu sự nen ép thì đá bị cà nát vỡ vụn tạo thành sản phẩm dăm kết dọc theo đới đứt gãy. Ta xác định được thế nằm của đứt gãy là 75/40 và là đứt gãy nghịch. Dựa vào thế nằm ta có thể kết luận tthêm đây là một đứt gãy chờm nghịch. Đứt gãy F7: Đứt gãy này chúng ta gặp ở điểm lộ 1532 cách cầu Phong Vài khoảng 250m về phía Tây Nam. Đứt gãy có phương TB-ĐN này cắt qua các đá phun trào Ryolit của hệ tầng Khôn Làng. dấu hiệu để nhận biét đứt gãy là sự xuất hiện đới sụt lún làm cho các đá mất đI tính liên tục, bị cà nát vỡ vụn có bề rộng 1-1.5m. Thế nằm của đứt gãy đo được là 225/75 và ta cũng xác định được đây là một đứt gãy nghịch. Đứt gãy F8: Đứt gãy chạy dọc theo phương TB-ĐN ở điểm lộ 1541 bên phảI đường đI cầu Bình Cầm. Dấu hiệu nhận biết đứt gãy là sự mất đI tính lien tục của các lớp cát – bọt và sét kết tuọc hệ tầng Lạng Sơn, ở gần và trong đới đứt gãy thì các đá bị vỡ vụn , cà nát tạo thành các mảnh dăm. Chúng ta cũng xác định được đây là một đứt gãy nhịch có cánh treo dịch chuyển lên tren tương đối so với cánh trụ. Đứt gãy F9 : Đây là mồt đứt gãy lớn kéo dài từ Còn Lượt tới Pò Lỡo.Đứt gãy cắt qua các đá của hệ tầng Mẫu Sơn và Nà Khuất. Dấu hiệu nhận biết là sự vỡ vun của các đá dọc theo đứt gãy cùng với đó là dăm kết kiên tạo hình thành trong đới đứt gãy. Đứt gãy F10, F10 là hai trong khá nhiều đứt gãy lớn có phương TB-ĐN, cắt qua rất nhiều các loại dá của các hệ tầng khác nhau. Dấu hiệu để nhận biết các đứt gãy này vần là tính liên tục và sự dập vỡ của các đá dọc theo đới đứt gãy. b, Đứt gãy theo phương á kinh tuyến. Đứt gãy F11: Đứt gãy này chúng ta gặp ở điểm lộ 1511 cách điểm lộ 1510 tức động Nhị Thanh khoảng 1km trên đường đI Nà Pàn. Dấu hiệu nhận biết đứt gãy là sự gián đoạn tính liên tục của thân đá, thế nằm thay đổi và đới dăm kết hình thành dọc theo đứt gãy. Thế nằm của mặt đứt gãy đo được là 80/35 và đây là một đứt gãy chờm nghịch. Đứt gãy F12, F13, F14: Đây là nhữg đứt gãy mà chúng ta đã gặp hoặc đẫ được nghe các thầy giới thiệu sơ bộ về các đứt gãy có phương kéo dài á kinh tuyến này. Đứt gãy F12 trong vùng nghiên cứu cắt qua sông Kỳ Cùng và chạy song song với 1phần quốc lộ 1A mới. Đứt gãy F13 đi qua khu vực Nà Bò – Nà Ngọt, dứt gãy F14 ở trên đường đi cửa khẩu Hữu Nghị. Dấu hiệu nhận biết các đứt gãy này có thể là tính liên tục của thân đá sự thay đổi thế nằm, đới dăm kết kiên tạo, gờ trượt, vết xước và sự dịch chuyển của các khối đá. c, Đứt gãy theo phương á vĩ tuyến. Đứt gãy F15 : Đứt gãy chúng ta gặp ở điểm lộ 1545 ở khu vực Nà Bang. Đây là đứt gãy chạy dọc theo phương Đông Tây trên lộ trình độc lập từ Phai Vệ đI Khuôn Sác. Đới đứt gãy này cắt qua các đá cát-bột và sét kết thuộc hệ tầng Lạng Sơn. Chúng ta cũng xác định được đây là đứt gãy thuận vì có cánh treo dịch chuyển xuống dưới và cánh trụ lên trên. d, Đứt gãy theo phương Đông Bắc- Tây Nam. Đứt gãy F16, F17: Đây là hai trong số rất nhiều các đứt gãy có phương kéo dài ĐB-TN các đứt gãy này nằm ở phía Đông Nam tp LS, các đứt gãy này cắt qua các đá của các hệ tầng Khôn Làng, Nà Khuất và các trầm tích Đệ Tứ. Đứt gãy F18: Dứt gãy này cúng ta bắt gặp ở điểm lộ 1514 trên lộ trình từ Phai Vệ đI bệnh viên Lao Phổi LS, cách bệnh viện lao phổi và trăm mét bên dònh sông Kỳ Cùng. Đây là đứt gãy dịch chuyển ngang và là đứt gãy trượt bằng phải. Dấu hiệu nhận biết đứ gãy là các đá phun trào Ryolit xen kẽ với các đá trầm tích của hệ tầng Khôn Làng, ở đới đứt gãy xuất hiện các đá dăm kết kiến tạo. Như vậy có thể là thông qua các khe nứt, đứt gãy này mà các dung thể magma xuyên lên tạo thành các đá ryolit hệ tầng Khôn làng xuyên cắt qua các đá trầm tích của hệ tầng Kỳ Cùng. Đứt gãy F19: Đứt gãy này chúng ta gặp ở điểm lộ 1527 tại khu di tích lịch sử Vạn Hoa . Đứt gãy này cắt qua khối đá vôI của hệ tầng Đồng Đăng làm cho các đá bị cà nát, ép nén tạo thành các sản phẩm giống như Milonit, hiên tượng Karst ở đây diễn ra khá mạnh, khi cịu tác dụng của đứt gãy này xảy ra sự trượt lở. Đó là những dấu hiệu cơ bản để nhận biết đứt gãy này. Nếp uốn Vùng nghiên cứu là nơi có cấu trúc mảng lục địa vào cuối Paleozoi bị dập vỡ hình thành các đứt gãy sâu vào cuối Pecmi đầu Trias hoạt động cho đến cuối Mioxen. Với đặc điểm kiến tạo như trên trong vùng đã phát triển một số sếp uốn ngắn, vòm rộng, thoải có góc ở các cánh không lớn. Về thời gian và quá trình thành tạo có thể chia các lớp uốn ở đây thành ba thời kỳ (pha) chính như sau: Vào cuối Pecmi trung; vào cuối Anizi; vào cuối Trias. Vào cuối Pecmi trung các thành tạo cacbonat hệ tầng Bắc Sơn bị dồn ép dâng cao, uốn nếp trở thành lục địa, địa hình là các nếp uốn thoải, ngắn Sau đay chúng tôI xin giới thiệu một số uốn nếp trong vùng: Nếp uốn U1 : Cách động Nhị Thanh khoảng 1km, ở điiểm lộ 1515 trên lộ trình Phai Vệ – Bến nước ngầm – bệnh viên Lao phổi LS. Nếp uốn được cấu tạo từ các đá cát kết, bột kết và sét kết của hệ tầng Lạng Sơn. Đây là nếp uốn khá cân xứng, bề dày các lớp ổn định, vòm nhọn vì thế đây là nếp uốn song song vòm nhọn. Ta đo được thế nằm của cánh tráI là 325/40, cánh phảI là 95/40 và thế nằm của mặt trục có phương kéo dài 225-45o , nếp uốn ta khảo sát là nếp lồi. Nếp uốn U2, U3 : Chúng ta bắt gặp những nếp uốn này ở điểm lộ 1521 bên bờ sông Kỳ Cùng, cạnh đền thờ Trần Hưng Đạo. Đây là các nếp uốn lồi lõm xen kẽ nhau, hình thành cùng các nếp uốn này là các thớ chẻ. Thế nằm của nếp uốn trục Bắc Nam có cánh Tây là270/60 và cánh Đông là 70/62. Theo một số tài liệu thì có thể đây là một phần của các nếp uốn kéo dài từ Thác Trà đến đền thờ Trần Hưng Đạo nhưng nếp uốn này nhỏ và có trục theo phương á kinh tuyến. Nếp uón U4 : Nếp uốn này nằm đối diện với bờ sông, ở trước cửa hàng xăng dầu số 2 trên đường Trần Quang Khải. Khi khảo sát điểm lộ 1522 chúng tôI phát hiẹn ra ở đây có hiện tượng uốn nếp, các nếp uốn lộ ra là các nếp lồi có thế nằm cánh Đông là 65/25 và cánh Tây là 245/25, các đá bị uốn nếp là cát, bột và sét kết thuộc hệ tầng Lạng Sơn. Nếp uốn U5, U6, U7 : ở lộ trình độc lập đầu tiên Phai Vệ – Giếng Tiên - Đèo Giang chúng tôI đã gặp khá nhiều các nếp uốn khác nhau ở khu vực này. Các nếp uốn lồi lõm liên tiếp nhau, đôI chỗ bị ngắt quãng bởi các đứt gãy thuận. Thế nằm của nếp uốn U5 và U6 lần lượt là 230/48, 75/55 và 75/55, 265/55. Nếp uốn U7 là một nếp uốn nghiêng trong đó một cánh có thế nằm 60/37 và cánh còn lại là 273/77. ở đây chúng ta còn bắt gặp rất nhiều các nếp uốn có thế nằm và mức độ uốn nếp khác nhau trong đó có rất nhiều nếp uốn thoảI và một số it nếp uốn đổ. Các đá bị uốn nếp là cát kết, bột kết và sét kết của hệ tầng LS. Nếp uốn U8, U9, U10… nằm ở điểm lộ 1545 cũng tương tự các nếp uốn chúng tôI đã gặp trên đèo Giang. Rất nhiều các nếp lồi, lõm và các nếp uốn nghiêng làm biến dạng các đá cát, bột cà sét kết thuộc hệ tầng Lạng Sơn. CHƯƠNG VII ĐỊA MẠO Vùng TP Lạng Sơn thuộc vùng đồi núi thấp ở Đông Bắc nước ta, nơi đây có địa hình đồi núi, núi đá vôi, thung lũng và đồng bằng được cấu thành bởi các trầm tích lục nguyên carbonat, đá phun trào, phát triẻn trên cấu trúc dạng phức nếp lồi thành tạo từ kỷ cacbon đến nay. Vùng ghiên cứu trải qua chế độ lục địa lâu dài trong dới khí hậu nóng ẩm mư nhiều thuận lợi cho quá trình xói mòn, hòa tan, xâm thực thành tạo các kiểu địa hình có nguồn gốc khác nhau. Do các thnàh tạo carbonat hệ tầng Bắc Sơn có tuổi cổ nhất có vai trò nhận dạng các nếp uốn và nằm trong các điều kiện không gian thời gian đã nêu. Mà đây là nơi các đá bị hòa tan, xâm thực bóc mòn mạnh nhất tạo nên dải thung lũng thấp nhất trong vùng nghiên cứu, càng xa trung tâm các đá càng trẻ hơn tạo thành địa hình đảo ngược rất đặc trưng. Trên cơ sở đã trình bày thấy rõ địa hình ở đây có mối quan hệ chặt chẽ với thành phần đất đá với cấu trúc địa chát kiêns tạo trẻ. Và với điều kiện trong điều kiện tổng hòa các mối quan hệ ở trên đá hình thành tại đây là kiểu địa hình nguồn gốc hình thái đặc trưng đó là : - Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn - Kiểu địa hình Karst - Kiểu địa hình tích tụ 1. Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn Kiểu địa hình này phân bố chủ yếu trên các đồi núi tháp xung quanh thành phố Lạng Sơn. Đây là kiểu địa hình có diện tích lớn nhất trong toàn vùng nghiên cứu nh. Phần lớn kiểu địa hình này là đồi, núi thấp xen các thung lũng nhỏ kéo dài hoặc dạng phức tạp. Mức độ phân cắt và cường độ phân cắt ngang ở mức độ trung bình do mật dộ sông ở đây khá lớn. Trên cơ sở nghiên cứu mức độ và đặc điểm bóc mòn, vận động kiến tạo, chúng tôi chia kiểu địa hình này làm hao phụ kiểu sau: - Phụ kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh - Phụ kiểu dịa hình xâm thực bóc mòn yếu. a, Phụ kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh Phụ kiểu địa hình này phân bố chủ yếu ở các đồi cao và các núi thấp thuộc các dải nâng tương đối mạnh. Chúng được phân bố ở phía Bắc Nà Chuông và phía Tây Chùa Tiên. Các đá cấu thành nên phụ kiểu địa hình này là các đá phụn trào ryolit, đá trần tích cát kết, bột kết, cuội kết của hệ tầng Khôn Làng, Lạng Sơn, Mẫu Sơn. Cấu trúc địa chất phần lớn là cấu trúc đơn nghiêng, nếp uốn và nếp lõm nhỏ. Độ nứt nẻ của đá không lớn tạo điều kiện cho độ vững cho độ cao của địa hình có dạng dốc. Đặc điểm chính của phụ kiểu địa hình này là: độ dốc địa hình không lớn khoảng từ 20-30, vó phong hoá mỏng có chỗ lộ ra đá gốc, sườn địa hình phần lớn là dạng lồi. Quá trình xâm thực bóc mòn này phát triển manh dạng chữ V ở phía Đông Bắc và Tây bắc của vùng nghiên cứu, vì vậy mà phụ kiểu địa hình này có nhiều đặc điểm để phân biệt với các kiểu mà phụ kiểu khác của nó. b, Phụ Kiểu xâm thực bóc mòn yếu Phụ kiểu địa hình này phát triển trên các dải đồi, đồi thấp xung quanh thành phố Lạng Sơn, nằm gần trung tâm hơn kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh. Các đá cấu thành nên phụ kiểu địa hình này là cát kết, bột kết, sét kết, sạn kết và đá phun trào ryolit thuộc hệ tàng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ Cùng, Khôn Làng, Nà Khuất, Mẫu Sơn. Cấu trúc chủ yếu là các nếp uốn nhỏ, thoải, đơn nghiêng. Địa hình của phụ kiểu này là cấc đồi thoải có góc dốc nhỏ vừa từ 15-300. Đỉnh đồi thường tròn hoặc vuông, vỏ phong hoá phát triển mạnh. Do địa hình đồi thoải và khí hậu nóng ẩm nên vỏ phong hoá dầy, từ vài mét đến vài chục mét. Đây cũng là điều kiện thuận cho thực vật phát triển trên kiểu địa hình này. 2. Kiểu địa hình Karst Kiểu địa hình này được hình thành do quá trình hoà tan đá vôi dưới tác dụng của nước, cácbonic và các yếu tố khác. Kiểu địa hình này được phân bố ở thung lũng Lạng Sơn ứng với dạng nhân phức nếp lồi, nó còn phân bố ở một số nơI khác. Do đặc điểm cấu trúc các lớp đá vôi nhất là các khe nứt, đứt gãy nên điều kiện hòa tan phát triển không đồng đều, một số phát triển khá mạnh nên địa hình thấp dạng thung lũng, một số khác chuă bị hòa tan còn sót lại dưới dạng các núi , dảI núi , khối núi đá vôI như ở Tam Thanh, Nhị Thanh, Phai Vệ… Dựa vào các đặc điểm riêng của địa hình chúng ta có thể chia kiểu địa hình này thành hai phụ kiểu khác nhau: - Phụ kiểu địa hình núi sót - Phụ kiểu địa hình bồn địa Karst a, Phụ kiểu địa hình bồn địa Karst Phụ kiểu địa hình bày có diện tích lớn hơn phụ kiểu địa hình núi sót Karst. ứng với bề mặt đồng bằng - thung lũng Lạng Sơn, bề mặt phát triển một số gò đồi, một số dải thấp ở sông suối. Các gò đối rộng hàng chục hecta, thoảI và cao hơn địa hình xung quanh, trên bề mặt gò đồi phần lớn là các lớp tàn tích do phong hóa đá vôi thành sét màu vàng, nâu vàng. Lớp phủ này dày khoảng vài chục cm có chỗ đến vài mét. Trên các dảI thấp xuất hiện ở Đồng Bằng lớp sét và có dạng phễu Kasrt hoặc lòng bồn địa Kart có diện tích vài trăm mét vuông đến vài nghìn mét vuông, địa hình ở những nơi này thấp và trũng. Một số nơi là ao, hồ nhỏ phát triển có quy mô rõ rệt. Các dải thấp thường là dảI sụt võng Karst phát triển dọc theo đứt gãy phần lớn có phương TB-ĐN. Bồn địa ở đây là nơI trung tâm thành phố do đó vấn đề nước ngầm , biến dạng kiến tạo , các quá trình ngoại sinh cần được nghiên cứu, đánh giá đúng mức. b,. Phụ kiểu địa hình núi sót Karst Phụ kiểu địa hình này phân bố chủ yếu ở rìa phía Tây thành phố Lạng Sơn, tập trung ở khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh sau đó là khu vực chùa tiên . Phần lớn là các núi hoặc khối đá vôi có độ cao tương đối trên dưới 100m. Bề mặt các núi có dạng lởm chởm tai mèo sắc nhọn , sườn, vách đá vôI khá dốc, dốc đứng ở nhiều chỗ như phía Tây động Nhị Thanh, vách đá vôI định hướng hoàn toàn theo khe nứt lớn dóc đứng kéo dài ở chân núi thường có dạng các hang bậc và dấu vết ăn mòn của nước suối, hồ. Trong các núi đá vôI thường gặp các hang hốc lớn, tiêu biểu là hệ thống hang Tam Thanh, Nhị Thanh, ở đây có 4 bậc hang: - Hang bậc một thường có quy mô dạng đường ống lưu thông tốt nằm sát mặt đất. - Hang bậc hai nằm cao hơn hang bậc một từ 5-12m. Bậc hang này thường có các chuông đá, nhũ đá vôi tạo ra những hình tượng và cảnh đẹp, một số nơi trở thành các danh lam thắng cảnh lý tưởng như hang Tam Thanh, Nhị Thanh. - Hang bậc ba cao hơn hang bậc hai khoảng 10-15m, có thấy được ở khu vưc Tam Thanh- Nhị Thanh. - Hang bậc 4 cao hơn hang bậc 3 từ 15-20m , sự bảo tồn kém. Sự có mặt của các bậc hang phản ánh vận động thăng trầm ở đây.Núi Pha Vệ có cấu trúc đơn nghiêng dạng tháp nón biểu thị cho vận động nâng mới yếu hoặc tĩnh tương đối. Ở Nhị Thanh núi Karst có dạng tháp biểu hiện cho sự vận động hạ mới tương đói. Từ hình dạng núi Kast ở mức độ nhất định cho phép chúng ta dự đoán hướng của các dòng ngầm Karst dưới sâu. 3. Kiểu địa hình tích tụ Đây là kiểu địa hình được thành tạo do quá trình tích tụ các vật liệu trầm tích trẻ Đệ Tứ trong khu vực. Chúng phân bố dọc sông Kỳ Cùng và các suối trong vùng nghiên cứu. Dựa vào nguồn gốc loại hình vật liệu tích tụ chúng ta chia thành hai phụ kiểu địa hình sau: - Phụ kiểu tích tụ thường xuyên - Phụ kiểu tích tụ hỗn hợp a, Phụ kiểu tích tụ thường xuyên Kiểu địa hình này được thành tạo do tích tụ các vật liệu bồi tích của sông Kỳ Cùng và các suối trong vùng. Phụ kiểu địa hình có diện tích phân bố rộng ở phía Nam thành phố. Bề mặt kiểu địa hình này là đá tích tụ sét pha, cát pha, cát, sỏi, cuội thành tạo ở kỷ Đệ Tứ. Do vận động kiến tạo nâng, hạ mà hình thành bốn dạng địa hình đặc trưng của phụ kiểu địa hình này: - Thềm bậc một - Thềm bậc hai - Thềm bậc ba - Bãi bồi Thềm bậc một Thềm này có diện tích lớn nhất trong phụ kiểu địa hình tích tụ thường xuyên, phần lớn là xã Mai Pha. Bề mặt thềm khá bằng phẳng, ít thay đổi, phủ lớp sét pha, cát pha, màu hồng, nâu sẫm, chiều dày từ vài mét đến hơn chục mét. Mặt thềm cao hơn mực nước sông từ 6-12m. Đây là diện tính canh tác lớn nhất của dân địa phương còn số khác là khu nhà ở dân cư. Thềm bậc hai Thềm này có diện tích không đáng kể, phân bố chủ yếu ở Nà Chuông và một số các nơi như ven đền thờ Trần Hưng Đạo, liền kề với thềm bậc một. Độ cao của thềm bậc hai so với thềm bậc một khoàng 5-7m, bề mặt không bằng phẳng, đôi chỗ lồi lõm hoặc bị phân cắt. Trên bề mặt là lớp cuội lẫn sét, cuộn có kích thước từ 4-6cm tròn cạnh, thành phần chủ yếu là thạch anh. Sét thường có màu vàng nhạt, phớt xám lẫn cát bột kết. Thềm bậc hai là thềm hỗn hợp có tuổi Pleistoxen. Thềm bậc ba Thềm bậc ba phân bố ở khu vực Nà Chuông, phía Thác Trà. Bề mặt thềm bị thay đổi do bóc mòn, trên bề mặt thềm bậc ba ở khu vực Nà Chuông phủ lớp đá cuội khá cuội khá lớn, cuội tảng khá tròn cạnh, thành phần chủ yếu là thạch anh. Bài bồi Phân bố dọc hai bên bờ sông Kỳ Cùng, bãi bồi rộng từ 50m đến hàng trăm met, dài từ 200-500m, độ cao so với mực nước sông hiện tại từ 0.5-1.0m. Bề mặt bãi bồi có dạng lượn sóng, thoải, hơi nghiêng về phía lòng sông. Cấu tạo nên các bãi bồi chủ yếu là trầm tích bởi rời, cuội, sỏi, cát, sét, kích thước từ 5-10cm, độ mài mòn kém trung bình. Bãi bồi dễ bị ngập nước vào mùa mưa,dễ bị thay đổi về đặc điểm bề mặt. Bãi bồi có thể được thành tạo vào Holoxen muộn. b, Phụ kiểu địa hình tích tụ hỗn hợp Đây là kiểu địa hình phân bố ở cấc thung lũng lớn có suối chảy qua. Trong vùng nghiên cứu thì kiểu địa hình phân bố ở thung lũng Na Sa, Nà Chuông và phía Tây Bản Cằm. Thành tạo nên phụ kiểu địa hình này là các vật liệu trầm tích do dòng tạm thời, dòng thường xuyên, dòng suối. Các vật liệu chủ yếu là sét pha, cát pha, mảnh vụn, cuội, sỏi, sạn. Nhìn chung các vật liệu này có độ chọn lọc, mài mòn ở mức độ trung bình hoặc yếu. Bề mặt ở đây tương ứng thềm bậc một sông Kỳ Cùng dự kiến tuổi Holoxen sớm có chỗ bề mặt không đều, dạng lõm ở giữa đã được dân địa phương canh tác ở dạng ruộng bậc thang. Vật liệu trầm tích ở đây chủ yếu là sét pha, cát pha và một ít mảnh vụn. Bề mặt thung lũng này có tuổi đầu Holoxen. CHƯƠNGVIII ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN VÀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH Vấn đề địa chất thuỷ văn vùng thành phố Lạng Sơn đã được tiến hành nghiên cứu từ nhiều năm nay, qua các cơ quan chuyên môn, qua các công việc khai thác nước ngầm và qua các việc giảng dạy thực tập, nghiên cứu ở trường đại học Mỏ địa chất. Chúng tôi xin trình bày ba vấn đề cơ bản về đặc điểm địa chất thuỷ văn của vùn nghiên cứu đó là: Đặc điểm nước mặt Phân chia các tầng và các phức hệ chứa nước dưới đất. Khả năng lưu thông nước ngầm và cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất tại khu vực thành phố Lạng Sơn. Đặc điểm nước mặt Lượng nước mặt trong vùng nghiên cứu bao gồm nước mưa, nước ngưng tụ, nước sông Kỳ Cùng. Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố Lạng Sơn từ Đông sang Tây với chiều dày khaongr 20km qua đá vôi, hệ tầng Bắc Sơn, qua các trầm tích và phun trào của hệ tầng trong vùng. Sông có nước chảy quanh năm, lượng nước sông từ vài chục mét khối đến vài nghìn mét khối nước trong một giây. Lượng nước mặt chảy vào thành phố Lạng Sơn gồm nước sông Kỳ Cùng và các suối trong vùng diện tích 80km2. Nếu lấy lượng mưa mức trung bình là 1700mm/ năm, thì chỉ tính riêng lượng mưa đã có trên 200m3 nước đổ vào sông Kỳ Cùng. Một lượng nước lớn nước này thấm sâu, bổ cập cho nước trong các hang động karst, các khe nứt và lỗ hổng của đất đá trong vùng. Vùng nghiên cứu có ba con suối lớn: suối Ki Két, suối Na Sa và suối Lauti. Phần lớn lượng nước của suối Na Sa được dồn vào thành phố Lạng Sơn qua suối Lauti. Một lượng không nhỏ của suối Lauti đá thấm xuông sâu. Vì vậy việc đảm bào vệ sinh môi trường rất cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng. Phân chia các tầng và phức hệ chứa nước dưới đất. a, Phức hệ chứa nước trong các thành tạo Đệ Tứ. Các thành tạo đệ tứ phân bố rộng rãi trong vùng nghiên cứu gồm trầm tích, sườn tích, bồi tích ven sông Kỳ Cùng. Các thành tạo này bao gồm cát pha, cuội sỏi, dăm, sạn là vật liệu bở rời chưa gắn kết. Chiều dày của các thành tạo này từ vài chục cm đến 10cm. Trong vùng nghiên cứu chưa phát triển tầng cát, cuội, sỏi thuần khiết, sạn có tuổi Đệ Tứ có khả năng cấp nước ngầm tốt. Nước mưa với hàm lượng nhỏ trong tầng chủ yếu là nước thấm, nước không màu, không mùi cùng nhiều nước trong tầng dễ bị nhiễm khuẩn. b, Tầng chưa nước trong hệ tần Na Dương Các trầm tích hệ tầng Na Dương ohaan bố dọc theo thung lũng Na Sa với chiều rộng từ 100 đến 300m, kéo dài hơn 4km. Các đá gồm sạn kết, cát kết, sạn cát kệt, bột kết có lẫn vật chất thải ở dạng thấu kính, dạng tuồi Neogen. Trong thành phần trầm tích trên rất dày sét cao lanh do phong hoá từ felpat, nên chúng lấp đầy các lỗ hổng nên làm nước ngầm rất khó lưu thông lượng nước trong tầng này nhỏ. Nước thuộc dạng khe nứt, nước thấm rỉ lưu lượng từ 0,01 – 0,07l/s. Nước không màu, không mùi, không vị thuộc dạng loại clorua natri, clorua canxi. c, Tầng chưa nước trong các thành tạo hệ tầng Tam Danh và Tam Lung. Các thành tạo của hệ tầng Tam Danh và Tam Lung phân bố ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu chủ yếu thộc xã Hoàng Đồng. Các đá cuội, sạn kết, cuội kết, bột kết, ryolit, anđezit, varyolit, bazan. Địa hình bao gồm các đá nói trên có độ cao tương đối lớn so với vùng. Nước dưới đất là nước khe nứt, nước trong đứt gãy, nước trong lỗ hổng của các đá cát kết, sạn kết, cuội kết, nước trong tầng phong hoá cũng có giá trị nhất định. Trong nước dưới đất thuộc hai phân vị nói trên có chưa nhiều sắt, canxi, silic tuỳ thuộc vào môi trường khu vực tàng trữ và lưu thông nước dưới đất. Lượng nước dưới đất trong các tầng nói trên thay đổi từ vài phần một trên giây đến một trên giây cung cấp cho sinh hoạt với quy mô nhỏ. d, Phức hệ chứa nước trong hệ tầng Mẫu Sơn và hệ tầng Nà Khuất. Phức hệ chứa nước này nằm ở phía Đông Bắc và Đông Nam của vùng nghiên cứu. Do đặc điêm thuỷ văn của các đá trong hệ tầng nói trên mà có thể phân chia ra 2 hệ tầng chứa nước như sau: Tầng chưa nước trong các trầm tích vụn thô trong hệ tầng Mẫu Sơn. Trong vùng nghiên cứu tầng chứa nước chủ yếu phân bố ở phía ĐB. Thành phần chủ yếu của hệ tầng gồm dăm kết, sạn kết, cát kệt, bột kết, sét kết có màu sặc sỡ. Chiều dày của hệ tầng có màu sặc sỡ chiều dày từ 300-400m, trong các cấu tạo đơn nghiêng. Mức nếp lõm hoặc như ở Bảo Cẳm và ĐN Bản Đông. Trong tầng đá phát triển một số đứt gãy, khe nứt phương TB-ĐN, ĐN-TN, các đá ở đây có lỗ hổng khá lớn chiều dày trung bình nên có khả năng thấm và dữ nước tốt. Cố độ Ph từ 5,5- 6,0 nước có chất lượng tốt dùng cho sinh hoạt. Tuy nhiên do trầm tích nằm tương đối cao nên khả năng cấp nước bị hạn chế. Tầng chứa nước trong các hệ tầng Nà Khuất. Các thành tạo của hệ tầng này phân bố ở hai dải phía ĐB từ Phai Luông tới Na Sa và ở phía nam thung lũng Nà Chương. Các đá chủ yếu là bột kết, sét kết, cát kết hạt mịn có cấu tạo phân lớp từ 10-60cm. Trong các đá phát triển một số đứt gãy phương TB-ĐN, ĐB-TN quy mô nhỏ và trung bình. Đá chiếm nhiều lớp nhét felpat đá phong hoá thành cao lanh do các lỗ hổng và khe nứt do đó hạn chế khả năng lưu thông nước ngầm. Nước thuộc loại khe nứt, nước thấm rỉ lưu lượng nhỏ từ 0,01-0,03 l/s. e, Phức hệ chứa nước trong hệ tầng Khôn Làng. Các đá chủ yếu phân bố ở phía TB, TN, phía Đông vùng nghiên cứu gồm đá phun trào axit, ryolit, pofphia và tính của chúng. Đá có màu xanh lục, xanh phớt vàng, màu tím dạng khối phân lớp dày. Về cơ bản đá này khá đặc xít, đông cứng từ các dung dịch magma axit nóng chảy do đó độ xốp và lỗ hổng thấp. Tuy nhiên ở các lớp cát kết và tuf có độ lỗ hổng lớn hơn. Phần trên của chúng lại bị phong hoá nên có khả năng cấp nước cục bộ. Nước trong hệ tầng chủ yếu là nước khe nứt, nước vỏ phong hoá. Nước thuộc loại cacbonat natri, độ Ph từ 5 đến 7 dùng trong sinh hoạt. f, Phức hệ chưa nước trong hệ tần Lạng Sơn và hệ tần Kỳ Cùng. Phức hệ chưa nước trong hệ tầng Lạng Sơn và hệ tầng Kỳ Cùng phân bố theo ba dải chính: Dải thứ 1 từ phía TB kéo dài đến TN Dải thứ 2 từ phía ĐB kéo dài đến ĐN Dải thứ 3 phân bố ở phía Nam vung nghiên cứu. Phần lớn các đá thuộc hệ tầng Lạng Sơn gồm cát kết, bột kết, sét kết có cấu tạo phân nhip với chiều dai khoảng hơn 50m và các lớp cát bột kết, sét kết, sét vôi chiều dày 150m. Nước trong tầng này cơ bản là nước khe nứt, ở một số nơi đá bị nứt nẻ mạnh và cắt khá sâu, tạo điều kiện tập trung nước ngầm. Nước có độ Ph 6-7 thuộc loại cacbonat canxi lưu lượng từ 0,01- 0,7 hoặc 0,8 l/s. Nước có độ Ph từ 6,5 đến 7,5. Các đá pử phần trên phần phức hệ này là cát kết hạt trung, hạt mịn bột kết, sét kết có cấu tạo phân nhịp đá sét vôi phân lớp mỏng từ vài cm đến 1-2m tập lớp dày khaongr 15-80m có thể hình thành các hang karst lưu lượng 0,3- 3 l/s. g, Phức hệ chứa nước các thành tạo lục nguyên cacbonat hệ tầng Đông Đăng. Phần dưới chủ yếu là cát kệt, bột kết, sét kết, đá silic và bauxit có chiều dày vài chục mét. Phần dưới chủ yếu là đá vôi có chiều dày từ vài chục mét đến vài chăm mét. Nước tron tầng này gồm nước khe nút và nước karst. Nước thuộc cacbonat natri-canxi, nước không màu, không màu , không vị, lưu lượng 0,1- 0,3 l/s, nước dung trong sinh hoạt quy mô vừa và nhỏ. h, Phức hệ chứa nước trong hệ tâng Bắc Sơn Đá cuae hệ tầng phân bố ở vùng trung tâm khu vực nghiên cứu chủ yếu là đá vôi màu xám giàu cacbonat canxi, có khả năng hoà tan tốt, các đá ở đây có chiều dày khá trên dưới 1000m trong các cấu tạo nếp lồi, nếp lõm thoải, nếp uốn ngoằn hoặc đơn nghiêng. Trong các đá này phát triến nhiều khe nứt, đứt gãy tạo điều kiện hoà tan đá vôi mạnh mẽ. Nước ở đất là nước karst, không màu, mùi, vị, lưu lượng 0,5- 30 l/s. Khả năng lưu thông nước ngầm và cấp nước phục vụ thành phố Lạng Sơn. Vùng thành phố Lạng Sơn cấu tạo khá đặc biệt, là nơi trải qua khá nhiều hoạt động trầm tích magma, đứt gãy. Sự liên hệ phát triển tái tạo các hệ tầng đứt gãy ở khu vực thành phố Lạng Sơn góp phần hình thành mạng lưới nước ngầm ở các địa tầng có 3 dạng số. Trong đá vôi đặc biệt là trong hệ tầng Bắc Sơn chủ yếu là hang karst ngầm. Trong các kỷ lục nguyên đặc biệt là các đá bột kết, sét kết, đá phung trào ryolit chúng ở đạng đới, kênh dẫn nước ngầm gồm các khe của đứt gãy kiến tạo được bọc tương đối ở các phức hệ nói trên, hai bên cấu thành dạng ống phức hợp. Dạng thứ ba là các cấu tạo trong các đá trầm tích với nhau và các đá khác khoảng trống giữa các thành tạo là điều kiện để nước ngầm lưu thông. Qua thời gian hàng trăm triệu năm qua các đứt gãy, khe nứt có nước lưu thông hoà tan đá hình thành dường nước ngầm liên thông với nhau chảy về nơi có áp lực cao đến nơi có áp lực thấp hình thành các đường nước ngầm khá ổn định. Trong khu vực thành phố Lạng Sơn nước dạng ống kênh, ống ngầm phát triển mạnh trong hệ tầng Bắc Sơn và dọc thung lũng Na Sa. Tại các khu vực thành phố Lạng Sơn qua khảo sát nghiên cứu thăm dò bằng các phương pháp địa chất, viễn thám địa chất thuỷ văn, địa vật lý đá xác định kênh dẫn nước ngầm đặt nhiều giếng khoan khai thác nước ngầm tổng lưu lượng khai thác khoảng 12,000m3/24h trên cơ sở phát hiện thêm kênh rạch nước ngầm có khả năng tốt và hoàn thiện cấp nước ở đây là vấn đề cấp thiết do sự ảnh hưởng đến chất lượn nước ngầm nguyên nhân cơ bản của sự ôi nhiễm này là do các chất thải sinh hoạt và sản xuất không được xử lý. Vì vậy thành phố cần có phương án phù hợp để giải quyết vấn đề này nhằm phục vụ nước sinh hoạt cho người dân ở thành phố Lạng Sơn. Vấn đề địa chất công trình vung thực tập thấy rõ: Vùng khá ổn định là các khu vực xa các đới đứ gãy trẻ như đứt gãy Cao Bằng- Lộc Bình- Tuyên Yên. Vùng tương đối ổn định các khu vực gồm các đứt gãy trẻ nói trên. Vùng ổn đinh trung bình: các khu vực dọc theo đới đứt gãy trẻ. Dựa vào cấu tạo dưới móng có thể thấy rõ khu vực cần chú ý là diện tích phân bộ hệ tầng Bắc Sơn. Ở khu vực này có các dải sụt karst, thềm karst, các hang ngầm lớn là điều kiện hết sức cận trọng khi khảo sát nến móng công trình xây dựng. Một số nơi khác như ven sông, ven đồi, nền đường cần chú ý hiện tượng trượt lở, sụt lở do các nguyên nhân ngoại sinh và nội sinh. CHƯƠNG IX LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT VÙNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN Trên cở sở phân tích nội dung cột địa tầng tổng hợp, sự phân bố trầm tích, các đặc điểm cấu trúc của khu vực nghiên cứu, chúng tôi nêu lên những nhận định khái quát nhất về chế độ trầm tích, hoạt động kiến tạo, điều kiện địa lý của trong vùng Cacbon tới nay. Trong vùng hoạt động nghiên cứu các thành tạo trầm tích Cacbon tuổi Cacbon- Pecmi là các đá tuổi già. Các thành tạo già hơn có thể đá bị nhấn chìm sâu bị biến chất mạnh mẽ hoặc đã bị tan vào trong các dung thể cá tuổi Trias đến Paleogen. Như các vùng khác trên trái đất và ở nước ta, vùng thành phố Lạng Sơn cũng đã trải qua lịch sử địa chất từ Arkeozoi đến nay. Tuy nhiên các vấn đề địa chất nêu trên xảy ra lúc nào và biểu diễn ra sao đồi hỏi các nghiên cứu tiếp sau. Trong báo cáo này chúng tôi chỉ đề cấp đến lịch sử địa chất của vùng nghiên cứu tiếp sau. Trong báo cáo này chúng tôi chỉ đề cập đến lịch sử địa chất của vùng từ kỷ Cacbon đến nay. Vào kỷ Cacbon cho đến đầu kỷ Pecmi sớm có lẽ phần lớn diện tích miền Bắc nước ta ở khí hậu biển ẩm nóng, sâu vừa thuận lợi cho việc thành tạo các trầm tích Cacbon. Trong môi trường thuận lợi như thế phát triển các sinh vật như san hô, tay cuộn, trùng lỗ. Trong giai đoạn này ở vùng thành phố Lạng Sơn các hoặt động kiến tạo tương đối ổn, trong đó vận động hạ tương đối và dao động có vai trò cơ bản, còn vận động uốn nếp, magma chưa thấy xuất hiện. Sang đến giữa Pecmi sớm, điều kiện gần bờ tạo ra các trầm tích ven bờ và bauxit sau đố nhiệt độ không khí trở nên ấm hơn, nước biển dâng cao hơn một phần do băng tan và trái đất ấm lên tạo điều kiện tích tự cacbonat và silic có chiều dày khá. Điều này diễn ra cho đến Pecmi trung. Sau đó do lực dồn ép đá làm cho các trầm tích nói trên bị uốn nếp, dâng cao hình thành các nếp uốn thoải đưa khu vực nghiên cứu thành lục địa chịu tác động phong hoá, hoà tan, bóc mòn cho đến Pecmi muộn. Cuối Pecmi hoạt động kiến tạo mảng ở khu vực nghiên cứu tăng lên rõ rệt. Lúc này các đứt gãy phương TB-ĐN và ĐB-TN hoạt động mạnh mẽ dạng cấu trúc chứ nhân hoặc chữ Y. Đây là thời kỳ bắt đầu của hiện tượng hạ võng, đứt gãy liên quan đến hoạt động magma toàn cầu, chịu ảnh hưởng của vụ va chạm giữa tiểu hành tinh với Trái Đất vào cuối Pecmi cách đây khoảng 250 triệu năm. Các hoạt động kiến tạo, magma, thời tiết khí hậu đã dẫn đến quá trình biển tiến trầm tích các vật liệu lục nguyên, silic, bauxit, tiếp đó thành tạo đá vôi phân lớp dày…. Cho đến cuối Trias sớm, biển tiếp tục hạ võng, trầm tích các lớp sét vôi lục nguyên của hệ tầng Kỳ Cùng. Hiện tượng căng võng do kiến tạo, do đứt gãy như đá nêu trên đã đạt đến cực điểm của đầu anizi thuộc Trias trung dẫn đến hiện tượng đứt gãy động đất sâu vào vỏ trái đất, mở đường cho magma đi dần lên. Trong quá trình đi dần lên, từ lo magma sâu giàu Fe, Mg thuộc mafic dung thể magma đã đồng hoá các đá trầm tích, magma, biến chất giàu silic và nhôm chuyển dần thành magma trung tính, axit, đặc biệt là phun trào ryolit. Các dung thể phun lên tạo thành các tầng khá dày, ở các bồn trầm tích ở dạng giữa cung và sau cung và xuyên cắt các trầm tichsgiaf hơn thành tạo các đới magma phun trào lớn ở Cung Đảo. Giữa Trias trung các tầng phun trào xen lục nguyên đá phủ trên một diện tích lớn, nguội lạnh, đông cứng chặn đứng các đường dẫn magma làm cho các thể phun trào đang dâng lên không thể chạy ra ngoài mặt đất bị chặn ở dưới sâu tạo thành các thể á phun trào, xâm nhậm nông, xâm nhập sâu. Một số thể phun trào ven đứt gãy lớn do giàu chất bốc đá kết tinh với các ban tinh felspat, thạch anh như đá xâm nhật granit. Do lực đẩy magma từ dưới sâu khi chúng bị chặn trên tạo lên lực dâng khá mạng, làm đáy trầm tích nâng dần, nhất là vùng trung tâm thành phố và phía Tây- Tây Bắc làm cho vùng nâng cao chuyển thành vùng lục địa. Dịch chuyển bồn trầm tích về phía Đông- Đông Bắc. Điều này dẫn tới thay dổi môi trường trầm tích từ biển khá sâu, môi trường khử với việc tạo thành đá ryolit trầm tích màu xanh lục chuyển sang chế độ trầm tích ven bờ, môi trường oxy hoá trong khí hậu khô nóng làm cho các đá ở đây trong đó có đá ryolit màu nâu, nâu tím, các trầm tích tuf, tufolen, tufit có màu tím gan gà đặc trưng. Trong chế độ trầm tích phân dị chế độ kiến tạo chuyển hoá, từ đứt gãy sâu – rift sang địa hào, võng trũng ở phía Đ-ĐB, ĐN đã hình thành các đai võng địa hào trầm tích với quy mô tương đối lớn tạo thành trầm tích hệ tầng Nà Khuất và phần dưới hệ tầng Mẫu Sơn. Cuối Trias muộn hoạt động kiến tạo chủ yếu là dồn ép khép kín bồn trầm tích theo hướng lực từ ĐB- TN, hình thành các nếp uốn trong trầm tích hẹ tầng Mẫu Sơn, Nà Khuất, Khôn Làng, Kỳ Cùng, Lạng Sơn, Đồng Đăng đồng thời kế tạo các nếp uốn đã có trong hệ tầng Bắc Sơn. Quá trình dồn ép này cũng dẫn đến việc hình thành các cấu tạp phá huỷ đứt gãy trong đó chủ yếu là đứt gãy phương TB- ĐN và ĐB – TN với nhiều đứt gãy nghịch và đứt gãy nghịch ngang và các đứt gãy khác. Các đứt gãy Na Sa- Nà Chuông – Chi Lăng và đứt gãy Thác Trà – Quán Lóng thể hiện như đứt gãy nghịch ngang. Các hoạt động uốn nếp và đứt gãy đã biến vùng trầm tích thành cùng dâng cao lục địa, kết thúc hoạt động trầm tích biển ở vùng này. Sang Jura, phần ĐB của đứt gãy ngang lớn ở phía Nam Đồng Đăng có hoạt động căng, tách mạnh hình thành các hố sụt và phun trào ryolit. Từ Krata đến Pleogen hoạt động kiến tạo chủ yếu là hoạt động của các đứt gãy, các hố sụt già lục địa và hoạt động magma dạng sâu vòm nhiệt. Các hoạt động nói trên thể hiện rõ ở TB vùng nghiên cứu dẫn đến sự thành tạo hệ tầng Tam Lung, Tam Giang đặc biệt là phun trào mafic với các đá đặc trung bazzan và ryolit, phun trào trung tính adezit. Từ cuối paleogen đến đâu neogen hoạt động kiến tạo khu vực và trên thế giới có dạng bình ổn, phát triển quá trình san bằng. Đến Neogen thể Myoxen, vùng nghiên cứu chịu hoạt động căng tách khá mạnh do hoạt động của đứt gãy sâu Cao Bằng - Lộc Bình- Tuyên Yên theo phương TB- ĐN hình thành các dải vũng và các trũng kéo toạc như ở Na Dương, Huyện Lộc Bình, Hợp Thành, Đông Bắc Lạng Sơn. Tại khu vực này hình thành dải vũng các hồ lục địa trầm tích cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết và các trầm tích sinh vật cháy là than của hệ tầng Na Dương. CHƯƠNG X KHOÁNG SẢN CÓ ÍCH Trong quá trình nghiên cứu cấu trúc và đo vẽ bản độ địa chất chúng tôi đá tiến hành thu nhập thông tin tài liệu về khoáng sản và nghiên cứu về vấn đề này. Dựa vào các tài liệu thu thập, dựa vào nguồn gốc và công cụ khoáng sản chúng tôi đã chia khoáng sản trong vùng thành các loại: khoáng sản kim loai, phi kim loại và nhiên liệu cháy. Kim loại màu. Khoáng sản kim loại màu nổi bật trong vùng là nhôm, nhôm trong thành phần quạng bauxit Al2O3 và Al(OH)3 . Bauxit trong vùng thuộc dạng vỉa và có dạng tảng lăn có quy mô trung bình và chất lượng tốt. Khoáng sản kim loại màu thứ hai là vàng, vàng trong vùng ở dạng sa khoáng. Bauxit Bauxit dạng vỉa : có ở Quán Lóng, bauxit có màu xám ghi trong phần chủ yếu là oxit và hydroxit nhôm hàm lường Al2O3 khá lớn, có cấu trúc hạt mịn, cấu tạo phân lớp, hát đều, thành phần cơ bản là gipxit, bowmit, diaspo. Phân tích thành Phần ( % ) hoá học có SiO2: 4,45 ; Fe2O3: 27,6 ; Al2O3. Bauxit dạng vỉa có chiều dày từ 20-30cm nằm dốc về phía TN 220/35 tuy nhiên trữ lượng quặng ở đây không lớn. Về địa tầng bauxit nằm dưới hệ tầng Đồng Đăng tuổi Pecmi muộn ( P3). Bauxit dạng tảng lăn: phân bố ở Tam Lung, ở đây Bauxit thuộc loiaj deluvi, eluvi, với các tẩng từ nhỏ tới lớn kích thước vài mét. Bauxit có màu đỏ, đỏ máu, đỏ nâu, tím, phớt vàng. Quạng có kiến trúc hạt mịn có cấu tạo khối. Trữ lượng hàng vạn tấn nhưng phân bố rải rác, bauxit đang được sử dụng để làm phụ gia ximang. Về nguồn gốc bauxit tảng lăn được pha ra từ các vỉa, các khối trong hang động karst của hệ tầng Bắc Sơn. Khi có vận động nâng lên, vỉa nâng lên bị phá, bị lôi cuốn sang hai bên địa hình thấp hơn và hiện tại là khu vực Tam Lung. Sau đó đến lượt đá vôi bị hoà tan, xâm thực bóc mòn tạo địa hình thấp dần thung lũng như hiện nay, bauxit tiếp xúc với nước, không khí, ánh sáng nó bị tạo phong hoá có màu đỏ sặc sỡ. Vàng và sa khoáng Vàng và sa khoáng trong vùng phân bố dọc theo sông và một số bồi của sông Kỳ Cùng. Vàng dạng vảy hạt nhỏ lẫn trong đất cát, cuội sỏi. Vàng ở đây thuộc dạng tự sinh cơ bản đơn chất. Tuy nhiên hàm lượng và trữ lượng không đán kể. Kim loại đen Quặng mangan phân bố ở một số vùng một số nơi như Bắc suối Lauti, Quán Lóng, quặng ở dạng kết, kết vón có kích thước từ vài mm đến 10 mm màu nâu đen hơi nhẹ trong tầng sét quặng có nguồn gốc phong hoá đá vôi giàu mangan có chiều dày từ 2- 10cm có nơi dày hơn. Các kết hạch này thường lẫn sét màu vàng thường có nguồn gốc từ sét phong hoá terarossa. Tuy nhiên do quặng phân tán lên hiệu quả khai thác và sử dụng không cao. Khoáng sản phi kim loại Khoáng sản phi kim loại gồm đá vôi, sét cao lanh, sét phong hoá, đá xẻ, cuội, sỏi,…. Đá vôi Là khoáng sản phi kim loại nổi bật có vai trò to lớn trong vùng, đá vôi đã và đang được khai thác sử dụng, đá vôi chủ yếu thuộc hệ tầng Bắc Sơn sau đó là hệ tầng Đồng Đăng và hệ tầng Kỳ Cùng. Đá vôi hệ tầng Bắc Sơn: đây là đá vôi chất lượng tốt hàm lượng CaO trên dưới 40%, trữ lượng lớn, phần lộ cơ bản nàm ở Tam Thanh, Nhị Thanh, là danh lam không được phép khai tahcs tuy nhiên trữ lượng ở một số nơi cũng đáp ứng được nhu cầu sản xuất xi măng với sản lượng 60,000 tấn trên năm. Đá vôi hệ tầng Kỳ Cùng: phân bố chủ yếu ở phía Tây vùng nghiên cứu và ở Nà Chuông, đá vôi lần nhiều sét chất lượng không cao, phân lớp mỏng, ít có giá trị công nghiệp. Sét: sét trong vùng có hai nguồn gốc chính là sét phong hoá và sét trầm tích. Sét phong hoá: có giá trị nhất là sét kết, bột kết cảu hệ tầng Nà Khuất. Các khu khai thác sét này gặp nhiều ở phía Đông công ty Hợp Thành gồm cầu Nất trên đường đi Lộc Bình, sét dẹo mịn đáp ứng như cầu làm gạch ngói bên canh đó sét còn có sét phong hoá từ Ryolit tuy nhiên loại này có chất lượng kém hơn. Sét trầm tích: có giá trị kinh tế lớn nhất nằm trong hệ tâng Na Dương phân bô xung quanh nhà mày Hợp Thành. Sét ở đây có màu tráng phớt vàng, loang nổ, dẹo mịn, làm gạch ngói khá tốt. Đá ca cắt: là đá ryolit ở hệ tầng Khôn Làng phân bố ở phía Tây, Tây Bắc. Đá có màu xanh, rắn chắc, ít nứt nẻ, đáp ứng nhu cầu làm đá ốp lát. Sỏi cuội, cát: đây là vật liệu vụn phân bố dọc song Kỳ Cùng, suối KiKét và suối Na Sa thành phần cơ bản của chúng là thạch anh có chất lượng khá, đáp ưng nhu cầu làm vật liệu xây dưng. Khoáng sản nhiên liệu Than Pecmi muội: có ở khu vực Chùa Tiên, than có dạng lớp kongr màu đen nâu, than ở dây thuộc dạng antxit và ban antraxit trữ lượng không đáng kể. Than Neogen:trong vùng than neogen nằm ở hệ tầng Na Dương,than ở đây thuộc dạng vỉa,dài mỏng trữ lượng không đáng kể một khoáng sản khác cũng có vai trò to lớn trong vùng nghiên cứu đó là nước ngầm. Nguồn nước chủ yếu trong hang karst trữ lượng nghiên cứu đó là nước ngầm. Nguồn nước chủ yếu trong hang karst trữ lượng động 15,000 – 20,000 m3/ngày hiện đang khai thác 12,000 m3/ngày. Đây là nguồn tài nguyên cần bảo vệ và khai thác phục vụ nền kinh tế quốc dân. CHƯƠNG XI KẾT LUẬN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThực tập địa chất Lạng Sơn.docx
Luận văn liên quan