Thực trạng và giải pháp của vấn đề Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và của các nước khác trên thế giới

Tiểu luận dài 24 trang, góp một phần nhỏ vào việc sửa đổi Bộ luật TTHS và tăng cường pháp chế XHCN của nước ta hiện nay. Tài liệu dạng WORD nên các bạn dễ chỉnh sửa. Chúc các bạn học tốt. 1. Người làm chứng và ý nghĩa của lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự Thực tiễn xét xử ở nước ta cũng cho thấy trong nhiều vụ án lớn liên quan đến băng nhóm xã hội đen như vụ án Phúc bồ, Khánh trắng (Hà Nội), Năm Cam ( TP. Hồ Chí Minh) thì gần như những NLC được tòa án triệu tập đã không có mặt. Gần đây trong một vụ án về tội cố ý gây thương tích Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã phải hoãn phiên tòa vì vắng mặt nhiều NLC quan trọng. Sau đó Tòa xuống địa phương xác minh và làm việc với từng NLC. Họ đều khẳng định đã nhiều lần khai với cơ quan điều tra về các tình tiết của vụ án, cam đoan lời khai của mình là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình nhưng kiên quyết từ chối ra tòa. Họ giải thích trong vụ án còn có một người đi theo “bảo kê” cho bị cáo nhưng cơ quan điều tra không làm rõ lai lịch và vai trò của người này trong vụ án. Vì ngại “người chưa lộ mặt ” này nên họ không dám ra tòa làm chứng. Tòa tiếp tục xử và chấp nhận cho những NLC vắng mặt. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho rằng áp dụng dẫn giải NLC trong trường hợp này là “ làm khó” cho họ.[3] Bên cạnh lý do lo sợ cho sự an toàn của bản thân và người thân của mình thì sự vắng mặt của NLC còn có lý do khác nữa: đối xử không thiện chí, không khách quan từ phía những người tiến hành tố tụng đối với họ. Trong vụ án bị cáo Nguyễn Minh Hùng hai lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh kết án tử hình và cả hai lần đều bị Tòa phúc thẩm TANDTC hủy án để điều tra lại, xung quanh lời kêu oan của bị cáo còn có nỗi đau và nước mắt của những công dân lương thiện bị đối xử thậm tệ khi họ tham gia tố tụng với tư cách NLC. Báo chí đã phải dùng cụm từ là “hành hạ nhân chứng”. Bị cáo Hùng và vợ đã đưa ra trước tòa chứng cứ chứng minh sự vô tội của Hùng là sự kiện họ đã tham dự sinh nhật của chị Thuyết - người bạn của hai vợ chồng – vào thời điểm xảy ra vụ án. Chị Thuyết đã được cơ quan điều tra và Tòa án triệu tập tham gia vào vụ án với tư cách là NLC. Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời chị đến làm việc trong hai ngày liên tục cả sáng và chiều. Tại phiên tòa NLC đã phải bật khóc khi bị tòa xét hỏi theo kiểu áp đặt “Chị là một giáo viên đào tạo cả một thế hệ mà khai báo như vậy à?” NLC khác trong vụ án này là Nguyễn Tuấn Bình cũng bất bình không kém: “Tôi gặp Hùng thì nói là gặp Hùng nhưng không hiểu sao cơ quan điều tra làm tôi mất thời gian nhiều quá. Lúc đầu thì điều tra viên nói chuyện thấy được, nhưng sau đó gắt gỏng quá. Tôi thấy vậy phản ứng lại rằng tôi là nhân chứng mà sao mấy anh đối xử như vậy? Nhưng các điều tra viên cứ ép tôi nói theo hướng phản lại những lời khai ban đầu của tôi. Rồi các anh công an mặc sắc phục vào tận cơ quan tôi gửi giấy mời . nhiều người trong cơ quan cứ nghĩ tôi là tội phạm gì hay sao mà công an cứ mời tôi hoài”.[4]

docx24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 3109 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng và giải pháp của vấn đề Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và của các nước khác trên thế giới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng 1. Người làm chứng và ý nghĩa của lời khai người làm chứng trong tố tụng hình sự Người làm chứng (NLC) là người biết về một tình tiết nào đó có ý nghĩa cho việc điều tra, xét xử vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập tham gia vào vụ án để trình bày lời khai của mình (Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự [BLTTHS]). NLC tham gia vào vụ án trên cơ sở quyết định triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 133 BLTTHS). Bên cạnh những thuộc tính chung như bất kỳ chứng cứ nào thì lời khai NLC có những đặc điểm riêng. Đó là tính không thể thay thế của nó. Một người không thể đồng thời vừa là NLC vừa là bị can, vừa là NLC vừa là người giám định. Lời khai NLC là loại chứng cứ mà nguồn của nó là những con người cụ thể - tính cá biệt cao. Những thông tin về vụ án được phản ánh và tái hiện lại qua lời khai của những con người cụ thể hoàn toàn khác nhau về tâm lý, về kinh nghiệm xã hội, về tính cách và nhân cách... Lời khai NLC, thủ tục tuyên thệ (cam đoan) chỉ nói sự thật của NLC trước tòa có cội nguồn xa xưa. So với nhiều chế định khác thì chế định NLC là một trong những chế định cổ xưa nhất của tố tụng hình sự (TTHS). Từ bao đời nay lời khai của NLC luôn được nhìn nhận là nguồn chứng cứ để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án. Trong lịch sử phát triển của khoa học TTHS, chế định NLC đã trải qua những thăng trầm nhất định và ngày nay lời khai của NLC chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chứng cứ của TTHS nhiều nước trên thế giới. Hoạt động tố tụng càng có tính tranh tụng bao nhiêu, sự bình đẳng về quyền của các bên trong hoạt động chứng minh càng được thừa nhận đầy đủ bao nhiêu thì lời khai NLC càng được sử dụng phổ biến bấy nhiêu. Niềm tin vào lời khai NLC trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án là một phần niềm tin của con người vào sự công minh, khách quan của hoạt động xét xử. Có thể nói là trong tương lai dù khoa học kỹ thuật có phát triển đến đâu đi nữa, dù máy móc tự động có thể thay thế hoạt động của con người trong nhiều lĩnh vực khác nhau đi chăng nữa thì lời khai NLC vẫn có vai trò to lớn trong hoạt động xét xử. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật chỉ có thể mở rộng khả năng, làm thuận tiện hơn, dễ dàng hơn quá trình thu thập, lưu trữ, truyền tải và sử dụng lời khai NLC nhưng không thể thay thế lời khai NLC. Lời khai NLC vẫn là một trong những công cụ không thể thiếu được trong quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Ở Liên bang Nga khi thăm dò ý kiến của các thẩm phán về việc chứng cứ nào mà họ cho là quan trọng nhất trong hoạt động xét xử thì kết quả trả lời cho thấy lời khai NLC chiếm vị trí số một, thứ hai là kết luận giám định và thứ ba là lời khai người bị hại. Điều này có thể hiểu được bởi lẽ NLC khác với người bị hại (NBH). NBH là nạn nhân trực tiếp của hành vi tội phạm nên lời khai của họ có thể phản ánh đậm nét hơn những đánh giá, cảm xúc chủ quan của họ về các tình tiết của vụ án so với lời khai của NLC. Lời khai NBH không chỉ là nguồn chứng cứ làm sáng tỏ sự thật của vụ án mà còn là lời buộc tội, là công cụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người đó. Trình bày lời khai không chỉ là nghĩa vụ tố tụng mà đồng thời còn là quyền tố tụng của NBH. Ở góc độ này NBH được nhìn nhận là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội. Còn NLC là chủ thể của chức năng hỗ trợ tư pháp - chức năng không cơ bản trong TTHS. Chức năng này hiện chưa được đề cập nhiều trong khoa học TTHS ở nước ta. Sự hạn chế về lý luận khoa học này chính là nguyên nhân chậm thay đổi trong tư duy lập pháp khi sửa đổi BLTTHS 2003 và thái độ đối xử không công bằng với NLC trong thực tiễn tố tụng. Khách quan mà nói thì BLTTHS 2003 có một số bổ sung về quyền của NLC so với BLTTHS 1988 như quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của người, cơ quan có thẩm quyển tiến hành tố tụng, quyền được thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật (Điều 55 BLTTHS 2003). Đây là tín hiệu đáng mừng về sự thay đổi tư duy lập pháp về NLC, nhưng các bổ sung này chưa kèm theo những bảo đảm và chưa được cụ thể hóa nên tính hiện thực trong thực tiễn chưa cao. Lời khai của NLC có thể bất lợi hoặc có thể có lợi cho bị cáo do vậy về lý thuyết người ta có phân biệt NLC của bên buộc tội và NLC của bên bào chữa nhưng về bản chất của mình NLC là chủ thể tham gia tố tụng không có sự quan tâm pháp lý về kết cục của vụ án. Lý do tham gia của họ trong vụ án hình sự không phải lợi ích cá nhân của họ mà là lợi ích chung của xã hội: làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Dù là NLC của bên buộc tội hay NLC của bên bào chữa thì họ đều có sự quan tâm duy nhất là sự thật khách quan của vụ án phải được sáng tỏ và sự tham gia của họ góp phần cho nhiệm vụ đó. Đối với NLC thì tham gia vào vụ án và trình bày lời khai trung thực tất cả những gì mà mình biết vừa là nghĩa vụ công dân vừa là nghĩa vụ tố tụng của họ. Nhưng đối với nhà nước thì NLC chính là những người cộng tác với nhà nước, với cơ quan tiến hành tố tụng. Nhà nước cần đến sự hợp tác đó. Theo lôgíc này thì NLC phải được hoan nghênh, được trải thảm đỏ khi tham gia trong TTHS hoặc chí ít thì quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ phải cân bằng với nhau. Nhưng khi phân tích các quy định của BLTTHS 2003 thì chúng ta sẽ thấy không có sự tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ tố tụng của NLC. Nghĩa vụ của NLC nhiều và nặng nề hơn rất nhiều so với quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng mặc dù họ có vai trò quan trọng trong vụ án.[1] NLC có thể bị dẫn giải nếu vắng mặt không có lý do chính đáng và gây khó khăn trở ngại cho việc điều tra, xét xử. Nếu từ chối hoặc trốn tránh khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 Bộ luật Hình sự (BLHS), nếu khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 BLHS. Nói chính xác thì NLC không được hưởng một lợi ích vật chất hay tinh thần nào khi tham gia vào vụ án. Các quyền mà BLTTHS thừa nhận cho NLC chỉ là quyền yêu cầu được bù đắp những thiệt thòi mất mát hoặc ngăn chặn những mất mát, tổn thất có thể xảy ra đối với họ liên quan đến sự hợp tác của họ với cơ quan tiến hành tố tụng mà thôi. BLTTHS 2003 chưa tạo ra được cơ sở pháp lý phù hợp để khuyến khích NLC tích cực thực hiện nghĩa vụ công dân của mình - hợp tác với Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tội phạm và xác lập chân lý của vụ án. Chỉ xét riêng ở khía cạnh kinh tế, sự vắng mặt của NLC tại phiên tòa buộc tòa án phải hoãn phiên tòa xét xử vụ án cũng đã làm thiệt hại đáng kể cho ngân sách nhà nước. NLC không trình diện tại phiên tòa có thể vì nhiều lý do như sợ bị đe dọa nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình hay người thân của mình, không muốn bị phiền phức vì những việc không liên quan đến họ, do bận rộn công việc hoặc đơn giản chỉ vì họ quên. Tại Anh trong năm 2002-2003, 2.845 vụ án ở Tòa án Hoàng gia và 13.328 vụ án ở tòa án sơ thẩm đã bị hoãn vì nhân chứng vắng mặt, chiếm 22% và 26% số vụ án bị hoãn. Cơ quan kiểm toán quốc gia Anh ước tính mỗi năm các phiên tòa bị hoãn đã gây thiệt hại 41 triệu bảng (hơn 1.000 tỷ đồng). [2] Bên cạnh thiệt hại về kinh tế thì thiệt hại về công lý mới đáng quan tâm hơn. Không có lời khai NLC, NLC phản cung, thay đổi lời khai ban đầu... làm cho hoạt động xét xử gặp khó khăn thậm chí bế tắc, kẻ phạm tội đích thực vẫn tiếp tục nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, nhiệm vụ của TTHS không hoàn thành, chân lý khách quan của vụ án không xác định được. Thực tiễn xét xử ở nước ta cũng cho thấy trong nhiều vụ án lớn liên quan đến băng nhóm xã hội đen như vụ án Phúc bồ, Khánh trắng (Hà Nội), Năm Cam ( TP. Hồ Chí Minh) thì gần như những NLC được tòa án triệu tập đã không có mặt. Gần đây trong một vụ án về tội cố ý gây thương tích Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã phải hoãn phiên tòa vì vắng mặt nhiều NLC quan trọng. Sau đó Tòa xuống địa phương xác minh và làm việc với từng NLC. Họ đều khẳng định đã nhiều lần khai với cơ quan điều tra về các tình tiết của vụ án, cam đoan lời khai của mình là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình nhưng kiên quyết từ chối ra tòa. Họ giải thích trong vụ án còn có một người đi theo “bảo kê” cho bị cáo nhưng cơ quan điều tra không làm rõ lai lịch và vai trò của người này trong vụ án. Vì ngại “người chưa lộ mặt ” này nên họ không dám ra tòa làm chứng. Tòa tiếp tục xử và chấp nhận cho những NLC vắng mặt. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cho rằng áp dụng dẫn giải NLC trong trường hợp này là “ làm khó” cho họ.[3] Bên cạnh lý do lo sợ cho sự an toàn của bản thân và người thân của mình thì sự vắng mặt của NLC còn có lý do khác nữa: đối xử không thiện chí, không khách quan từ phía những người tiến hành tố tụng đối với họ. Trong vụ án bị cáo Nguyễn Minh Hùng hai lần bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh kết án tử hình và cả hai lần đều bị Tòa phúc thẩm TANDTC hủy án để điều tra lại, xung quanh lời kêu oan của bị cáo còn có nỗi đau và nước mắt của những công dân lương thiện bị đối xử thậm tệ khi họ tham gia tố tụng với tư cách NLC. Báo chí đã phải dùng cụm từ là “hành hạ nhân chứng”. Bị cáo Hùng và vợ đã đưa ra trước tòa chứng cứ chứng minh sự vô tội của Hùng là sự kiện họ đã tham dự sinh nhật của chị Thuyết - người bạn của hai vợ chồng – vào thời điểm xảy ra vụ án. Chị Thuyết đã được cơ quan điều tra và Tòa án triệu tập tham gia vào vụ án với tư cách là NLC. Cơ quan điều tra đã nhiều lần mời chị đến làm việc trong hai ngày liên tục cả sáng và chiều. Tại phiên tòa NLC đã phải bật khóc khi bị tòa xét hỏi theo kiểu áp đặt “Chị là một giáo viên đào tạo cả một thế hệ mà khai báo như vậy à?” NLC khác trong vụ án này là Nguyễn Tuấn Bình cũng bất bình không kém: “Tôi gặp Hùng thì nói là gặp Hùng nhưng không hiểu sao cơ quan điều tra làm tôi mất thời gian nhiều quá. Lúc đầu thì điều tra viên nói chuyện thấy được, nhưng sau đó gắt gỏng quá. Tôi thấy vậy phản ứng lại rằng tôi là nhân chứng mà sao mấy anh đối xử như vậy? Nhưng các điều tra viên cứ ép tôi nói theo hướng phản lại những lời khai ban đầu của tôi. Rồi các anh công an mặc sắc phục vào tận cơ quan tôi gửi giấy mời... nhiều người trong cơ quan cứ nghĩ tôi là tội phạm gì hay sao mà công an cứ mời tôi hoài”. [4] 2. Bảo vệ NLC Hoạt động xét xử ở nhiều nước trong khoảng thời gian nửa cuối thế kỷ 20 đã gặp phải trở ngại to lớn là sự tác động của thế giới tội phạm đối với những nạn nhân của chúng và NLC. Các hình thức cưỡng bức NLC không hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng thông qua việc trình bày lời khai gian dối, phản cung... ngày càng tinh vi và tàn bạo hơn. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia tội phạm học thì đây chính là cách thức phổ biến nhất để vô hiệu hóa hệ thống tư pháp. Các điều tra xã hội học cho thấy NLC, NBH và người thân của họ luôn có tâm lý sợ hãi về việc phải đối mặt với bị cáo, với người thân và “bạn bè, chiến hữu” của bị cáo trong quá trình điều tra và xét xử tại phiên tòa. Những cuộc đối mặt như vậy có thể ngoài tầm kiểm soát của cơ quan tiến hành tố tụng, thí dụ như đối mặt ở bên ngoài trụ sở tòa án, ở hành lang phòng xét xử khi chờ đợi phiên tòa bắt đầu. Những năm 80, 90 thế kỷ trước ở Hoa Kỳ rất phổ biến hiện tượng “băng nhóm tội phạm đường phố” với thiên hướng bạo lực. Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoa kỳ J. Keeney lúc đó trước Hạ viện đã thừa nhận “sự sợ hãi của những người có thể trở thành NLC trong vụ án lớn đến mức nó đã hạn chế đáng kể khả năng của các cơ quan bảo vệ pháp luật truy cứu trách nhiệm hình sự những kẻ tội phạm bạo lực. Biết về sự sợ hãi này cũng như biết về sự bất lực của cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc bảo đảm an toàn cho NLC đã làm cho những kẻ phạm tội càng thêm tin tưởng về khả năng không bị pháp luật trừng phạt và càng lộng hành hơn đến nỗi chúng thẳng tay trả thù với cả những NLC gián tiếp”. Vấn đề bảo vệ nhân chứng được xem như là một trong những vấn đề có tính toàn cầu trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm. Sự bảo đảm của nhà nước về an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản cho NLC và cho người thân của họ có ảnh hưởng lớn đến tính xác thực trong lời khai của NLC, tính tích cực của họ khi tham gia trong vụ án. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải hoàn thiện pháp luật hình sự cũng như pháp luật TTHS ở mỗi quốc gia. Cùng với quá trình mở rộng những bảo đảm quyền con người trong TTHS, chế định NLC cũng có những vận động thay đổi theo hướng nhân đạo hóa mối quan hệ giữa nhà nước với NLC, mở rộng quyền của NLC và những bảo đảm tố tụng cho các quyền đó. Yêu cầu đấu tranh hiệu quả với tội phạm chính là động lực cho quá trình này. Thực tiễn quốc tế về đấu tranh chống tội phạm nhất là tội phạm có tổ chức cho thấy cuộc đấu tranh này chỉ thu được kết quả mong đợi ở những quốc gia xây dựng được nền tảng pháp lý chặt chẽ trong việc bảo vệ NLC. Một trong những bước ngoặt lớn trong phát triển của pháp luật quốc tế liên quan đến bảo vệ NLC là Tuyên ngôn về những nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực do Liên hiệp quốc ban hành ngày 29/11/1985. Liên hiệp quốc yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng những biện pháp cần thiết giảm thiểu tối đa những khó khăn mà NBH có thể phải đương đầu trong quá trình giải quyết vụ án, những biện pháp bảo đảm an ninh cho họ, cho NLC và người thân của họ không bị trả thù từ phía kẻ phạm tội và đồng bọn. Có thể nói văn kiện này của Liên hiệp quốc đã khẳng định vai trò to lớn và địa vị pháp lý quan trọng của nạn nhân tội phạm và NLC trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nhiều quốc gia ở Tây Âu, Úc, Nhật bản và châu Mỹ Latinh, châu Phi trên cơ sở nội dung cơ bản của Tuyên ngôn đã cải cách đáng kể pháp luật TTHS của mình và thay đổi thái độ đối xử với nạn nhân của tội phạm, với NLC trong thực tiễn. Năm 1970 Hoa Kỳ ban hành Luật Kiểm soát đối với tội phạm có tổ chức trong đó thừa nhận cho Viện trưởng Viện Công tố Hoa Kỳ quyền được cấp kinh phí cho việc bảo vệ NLC khi người này gặp nguy hiểm về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Tuy nhiên luật này chỉ áp dụng với NLC trong các vụ án liên quan đến tội phạm có tổ chức. Năm 1982 Quốc hội Hoa Kỳ ban hành Luật bảo vệ các nạn nhân của tội phạm và NLC. Trong phần mở đầu của luật có nhấn mạnh rằng sự vận hành bình thường của hệ thống tư pháp hình sự không thể thiếu được sự hợp tác với nạn nhân của tội phạm và với NLC. Luật Kiểm soát tội phạm có tổ chức năm 1984 của Hoa Kỳ có sửa đổi một số nội dung của luật cũ (1970) theo hướng mở rộng đáng kể phạm vi các chủ thể được nhà nước bảo vệ khi tham gia tố tụng hình sự. Pháp luật của các bang đều có những quy định bảo vệ “những đối tượng đặc biệt” - nạn nhân của tội phạm. Ở Cộng hòa Liên bang Đức vào nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ trước nhờ áp dụng những biện pháp bảo vệ NLC mà hiệu quả đấu tranh chống các băng nhóm tội phạm có tính sắc tộc đã tăng lên rõ rệt. Ở Italia, trong năm 1995 đã áp dụng biện pháp bảo vệ với 1.113 NLC và 4.612 người thân của họ. Tham khảo pháp luật TTHS của một số nước có thể thấy những biện pháp bảo vệ NLC rất đa dạng và chúng có thể chia thành những nhóm sau đây: a) Những biện pháp chung – là những biện pháp có thể áp dụng trong quá trình tiến hành điều tra xét xử vụ án cũng như ngoài phạm vi vụ án, áp dụng với NLC cũng như với người thân thích của họ: - Bố trí người bảo vệ NLC, người thân của họ trong suốt thời gian điều tra, xét xử vụ án hay trong một khoảng thời gian nhất định. Thông thường cảnh sát tư pháp đảm nhiệm việc bảo vệ này. - Trang bị vũ khí, công cụ bảo vệ cá nhân cho NLC hay người thân của họ. Biện pháp này đòi hỏi nhà nước phải có luật quy định về việc sử dụng vũ khí vì mục đích dân sự. - Sơ tán tạm thời NLC, người thân của họ đến địa điểm an toàn. Đầu tiên biện pháp này được áp dụng chủ yếu với NBH là phụ nữ, trẻ em - nạn nhân của những hành vi tội phạm “bạo lực gia đình” sau được mở rộng với NLC. Những người này được sơ tán đến những trung tâm dành riêng cho họ trong khoảng thời gian từ 2 đến 5 tuần. Địa chỉ của những trung tâm này được giữ kín. Trong thời gian ở trung tâm này họ được giúp đỡ về tâm lý và pháp lý cho việc chuẩn bị tham gia phiên tòa. - Thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc hoặc học tập của NLC và người thân của họ. Biện pháp này rất tốn kém về tài chính và khi áp dụng nó không được gây bất kỳ thiệt hại nào về tài chính, tài sản, nhà cửa, về quyền lao động, học tập hay hưu trí cho đối tượng áp dụng đồng thời phải bảo đảm cho họ có thể sinh sống, làm việc, học tập bình thường trong điều kiện mới. “Biện pháp này chỉ hiệu quả nếu Chính phủ dám đứng ra nhận trách nhiệm về số phận của cả một gia đình”. Theo Chương trình liên bang về bảo vệ NLC của Hoa Kỳ thì Viện trưởng Viện công tố Hoa Kỳ có quyền bố trí chỗ ở mới và những biện pháp bảo đảm an ninh khác cho NLC nếu lời khai của người này tại phiên tòa có lợi cho Chính phủ liên bang và chính quyền các bang trong các vụ án về tội phạm có tổ chức và tội phạm nghiêm trọng khác và nếu có căn cứ cho rằng có khả năng xảy ra tội phạm chống lại NLC do sự tham gia của người đó trong vụ án hình sự. - Thay đổi giấy tờ tùy thân, giữ bí mật thông tin cá nhân về NLC. Những biện pháp này thường được sử dụng kèm theo biện pháp thay đổi chỗ ở, nơi làm việc, nơi học tập. Một số cơ quan nhà nước (cơ quan dịch vụ điện thoại, cơ quan cấp phát chứng minh, hộ chiếu...) bị cấm cung cấp thông tin cá nhân của NLC như thông tin về địa chỉ nơi cư trú, về số điện thoại nhà riêng, về những thông tin cá nhân khác trong một khoảng thời gian nhất định nếu không có sự đồng ý của cơ quan tiến hành tố tụng. b) Những biện pháp bảo vệ NLC trong giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra vụ án. Những biện pháp bảo vệ này chỉ do các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong phạm vi vụ án cụ thể đã được khởi tố, điều tra. Việc áp dụng những biện pháp này được xem xét và cân nhắc với một trong những nguyên tắc quan trong của giai đoạn điều tra là nguyên tắc không tiết lộ bí mật điều tra (BLTTHS của nước ta cũng ghi nhận nguyên tắc này ở Điều 124). Nhóm này gồm những biện pháp sau đây: - Không thể hiện những thông tin cá nhân về NLC trong biên bản lấy lời khai hay còn gọi là lời khai NLC khuyết danh. Theo quy định chung thì biên bản lời khai của NLC phải phản ánh những thông tin cá nhân về NLC như họ và tên, địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc, số điện thoại... Điều này luôn tạo ra khả năng cho những người thứ ba có thể tiếp xúc với NLC, tác động và ảnh hưởng đến lời khai của họ. Do vậy lời khai NLC khuyết danh - không kèm theo thông tin về cá nhân NLC là giải pháp nhằm mục đích hạn chế một cách thấp nhất khả năng tác động trái pháp luật đến NLC từ phía những người quan tâm đến kết cục của vụ án. Quy định lời khai NLC khuyết danh là một trong những biện pháp bảo vệ nhân chứng trong TTHS đã được nhiều quốc gia áp dụng. Quyết định của Tòa án nhân quyền châu Âu thừa nhận “việc sử dụng những thông tin từ lời khai NLC khuyết danh là chứng cứ của vụ án trong giai đoạn trước xét xử là phù hợp với Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người ngày 04/11/1950”. Quyết định của Tòa án châu Âu và Ủy ban châu Âu về quyền con người khẳng định “bên buộc tội không có nghĩa vụ thông báo cho bị can biết về tất cả các chứng cứ mà mình sẽ đề xuất trước Tòa”. Trong BLTTHS của Đan Mạch quy định một trong những biện pháp bảo vệ NLC ở giai đoạn trước xét xử là trong các đơn tố giác tội phạm, giải thích, biên bản hoạt động điều tra có thể không ghi những thông tin về cá nhân của NBH, NLC - những chủ thể được pháp luật bảo vệ. Những thông tin này sẽ được phản ánh trong các văn bản tố tụng khác. Một trong những bổ sung mới nhất của BLTTHS Pháp là quy định cho phép nhân chứng không ghi địa chỉ của mình trong biên bản lấy lời khai mà sử dụng địa chỉ của cảnh sát trưởng hay đồn cảnh sát gần nhất. Nhưng bên cạnh đó theo nguyên tắc bình đẳng của các bên thì lợi ích của bị can cũng phải được tôn trọng, do vậy BLTTHS Pháp thừa nhận quyền của bị can được đối chất với nhân chứng và được hỏi nhân chứng. Pháp luật TTHS của Thụy Sỹ cho phép cơ quan điều tra có quyền không cho người bào chữa tham dự hoạt động lấy lời khai của NLC khi có căn cứ về khả năng lạm dụng quyền này từ phía người bào chữa hoặc căn cứ về khả năng NLC sẽ không trình bày lời khai đúng sự thật khi có hiện diện của người bào chữa. Ở Liên bang Nga có đề nghị cho phép điều tra viên ra quyết định trong đó phản ánh lý do bảo mật thông tin cá nhân của NLC, lựa chọn bí danh cho NLC và chữ ký mà người đó sẽ sử dụng trong tất cả các biên bản lời khai của mình. Chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát và thẩm phán xét xử mới có quyền tiếp xúc với thông tin thật về cá nhân NLC. Có ý kiến đề nghị phải bổ sung quy định của BLTTHS về nghĩa vụ của điều tra viên giải thích cho những người tham gia hoạt động điều tra không được tiết lộ bí mật điều tra cũng như tiết lộ thông tin về NLC. Những thông tin này cần được nhìn nhận là thông tin thuộc bí mật điều tra. Quy định NLC khuyết danh về hình thức có hạn chế phần nào quyền bào chữa của bị can, bị cáo khi nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ nhưng những hạn chế này không liên quan đến nội dung lời khai mà chỉ là những hạn chế thông tin về cá nhân của NLC. Hơn nữa những hạn chế này là giải pháp có tính bắt buộc khi không còn lựa chọn nào khác và chỉ áp dụng trong trường hợp do luật định. - Không để NLC nhận dạng trực tiếp bị can mà chỉ nhận dạng qua ảnh hay qua hình ảnh video. Với kỹ thuật video hiện nay hoàn toàn cho phép thực hiện việc nhận dạng một cách khách quan và hạn chế sự tiếp xúc đối mặt giữa người nhận dạng và đối tượng bị nhận dạng. - Không để bị can - đối tượng bị nhận dạng có thể nhìn thấy NLC - người nhận dạng khi tiến hành việc nhận dạng. Các biện pháp kỹ thuật có thể được áp dụng ở đây thí dụ như bị can cùng những người trong nhóm bị nhận dạng được bố trí đứng ở phòng có ánh sáng mạnh, còn NLC - người nhận dạng đứng ở phòng tối hay có kính tối bên ngoài không nhìn vào trong được. NLC có thể được hóa trang thay đổi về ngoại hình, đeo kính tối... khi nhận dạng. - Không để bị can có thể nhìn thấy NLC khi tiến hành đối chất. Biện pháp này chỉ có thể áp dụng với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật nghe-nhìn hiện đại. - Kiểm soát và ghi âm các cuộc điện thoại của NLC. Biện pháp này trước hết nhằm mục đích bảo vệ NLC vì có thể biết được nội dung cuộc gọi, số điện thoại gọi đến của những người tác động đe dọa NLC, chủ động áp dụng những biện pháp bảo vệ NLC thích hợp. Bên cạnh đó kết quả của biện pháp này có thể làm cơ sở cho việc khởi tố trách nhiệm hình sự của những người tác động NLC cản trở điều tra, xét xử. - Cắt những thông tin cá nhân về NLC ra khỏi hồ sơ vụ án và quyết định truy tố (cáo trạng) khi chuyển giao hồ sơ cho bên bào chữa nghiên cứu chuẩn bị cho việc bào chữa. Sau khi người bào chữa kết thúc nghiên cứu hồ sơ, những thông tin này lại được khôi phục, đưa vào trong hồ sơ chuyển tòa để xét xử. c) Những biện pháp bảo vệ NLC ở giai đoạn xét xử. Ở đây cần tính đến khả năng xung đột giữa yêu cầu bảo vệ NLC và những quy định chung, những chuẩn mực quốc tế chung về phiên tòa công khai và minh bạch, về quyền bào chữa của bị cáo. - NLC có quyền yêu cầu giữ bí mật về cá nhân khi họ ra làm chứng tại phiên tòa và tòa án có thể cấm báo chí không được phát hình ảnh hay đăng báo ảnh chụp về họ, không được ghi âm lời khai NLC. - Thẩm vấn kín NLC hoặc tiến hành phiên xử kín. Biện pháp này có thể được áp dụng trên cơ sở quy định tại Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự, Điều 6 Công ước châu Âu: “Báo chí và công chúng có thể không được phép vào phòng xử án tham dự toàn bộ phiên tòa hay một phần của nó... khi tính công khai của phiên tòa có thể làm tổn hại lợi ích của xét xử”. - Tòa án có thể chỉ tuyên đọc phần quyết định, không đọc toàn bộ bản án. Luật của Thụy Sỹ còn cho phép tòa án không tuyên đọc bản án nếu lợi ích bảo vệ NBH, NLC đòi hỏi như vậy. - Tòa án có thể thẩm vấn NLC thông qua các phương tiện nghe nhìn trong điều kiện NLC không cần trình diện, không cần có mặt ở phiên tòa. Ở Hoa Kỳ các phương tiện nghe nhìn này được trang bị cho các tòa án và được xem như là một trong những chuẩn mực về tòa án. Năm 1992 tòa án ở 32 bang đã sử dụng mạng truyền hình nội bộ để lấy lời khai NBH là trẻ em trong các vụ án lạm dụng tình dục trẻ em. Một kinh nghiệm khác ở Estonia: Luật cho phép thiết kế một phòng xử án đặc biệt được trang bị thêm các kỹ thuật nghe nhìn hiện đại có thể thay đổi nhịp điệu giọng nói của NLC, hoặc NLC có thể trình bày lời khai của mình từ một nơi bảo đảm loại trừ mọi tác động đến tính khách quan, tính xác thực của lời khai, thậm chí có thể trình bày lời khai từ nhà mình thông qua cầu truyền hình. - Thẩm vấn NLC trong điều kiện bị cáo bị cách ly khỏi phòng xử án. Biện pháp này không trái với điểm 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự và Điều 6 Công ước châu Âu quy định về quyền của bị cáo được hỏi NLC có lời khai chống lại bị cáo... hoặc quyền yêu cầu NLC này phải được thẩm vấn... Ủy ban châu Âu về quyền con người cũng thừa nhận sự sợ hãi của NLC về việc bị trả thù có thể xem là trường hợp hết sức nghiêm trọng và tòa án có thể thẩm vấn NLC trong sự cách ly bị cáo ra khỏi phòng xử án. Trong trường hợp này người bào chữa của bị cáo vẫn có mặt trong phòng xử án và vẫn có quyền thẩm vấn NLC, do vậy quyền của bị cáo không bị vi phạm. Trong thực tiễn tòa án thường cách ly bị cáo trước khi thẩm vấn NLC nếu thấy sự hiện diện của bị cáo khi thẩm vấn có thể làm cho NLC không trình bày đúng sự thật. Sau đó kết quả thẩm vấn NLC được tòa công bố cho bị cáo khi bị cáo được cho phép trở lại phiên tòa. Như vậy vấn đề bảo vệ của nhà nước đối với NLC vì lý do hợp tác của họ với cơ quan tiến hành tố tụng là vấn đề cực kỳ quan trọng và có tính thời sự ở nhiều nước trên thế giới. Các quy định của luật về bảo vệ NLC là một trong những yếu tố nâng cao đáng kể tính xác thực và giá trị chứng minh cho lời khai của chủ thể này trong vụ án vì nó loại trừ được nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng khai gian dối, phủ nhận lời khai ban đầu của NLC – tâm lý sợ bị trả thù. Đồng thời nó cũng tác động tích cực đến hoạt động tố tụng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm. BLTTHS 2003 của nước ta mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận cho NLC quyền yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng. BLTTHS không quy định những biện pháp cụ thể, trình tự thủ tục áp dụng chúng và những bảo đảm kèm theo nên mới chỉ dừng lại ở dạng nguyên tắc chung, chưa phát huy được vai trò của nó trong thực tiễn xét xử. Việc nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài để hoàn thiện chế định bảo vệ NLC là hết sức cần thiết ở nước ta. Tuy nhiên khi nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm của các nước về bảo vệ NLC cần chú ý một số vấn đề sau đây: - Các biện pháp bảo vệ NLC luôn đòi hỏi sự tốn kém về tài chính, về chi phí trang bị các phương tiện kỹ thuật cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Thí dụ như ở Liên bang Nga dự toán ngân sách cho những biện pháp này nhiều hơn ngân sách dành cho họat động của Viện Kiểm sát Liên bang. Ở Anh, Viện công tố Hoàng gia, Hiệp hội cảnh sát trưởng, Bộ Nội vụ và Phòng Cải cách dịch vụ công của Chính phủ Anh đã hợp tác đưa ra sáng kiến xây dựng đề án “Không nhân chứng - Không công lý”. Năm 2004 Chính phủ Anh đã chi 27 triệu Bảng Anh (khoảng 680 tỷ VNĐ) hỗ trợ cho bộ phận chăm sóc NLC tại 42 khu vực ở Anh và xứ Wales. [5] Sự tốn kém này là cần thiết vì nó phục vụ cho lợi ích của con người. Chấp nhận sự tốn kém này còn là sự khôn ngoan vì nó có thể còn ít tốn kém hơn rất nhiều cho nhà nước trong trường hợp tội phạm không bị phát hiện, kẻ phạm tội đích thực không bị trừng phạt, tiếp tục gây án, hoặc nhà nước phải bồi thường thiệt hại vì làm oan người vô tội do khi xét xử không có sự tham gia của NLC hoặc NLC thay đổi lời khai, khai không đúng sự thật do sợ hãi bị trả thù. Nguồn tài chính cho các biện pháp này nên lấy từ ngân sách, từ những khoản thu được trong quá trình xét xử các vụ án hình sự (tài sản bị tịch thu của kẻ phạm tội, các khoản tiền phạt...), từ quỹ của các tổ chức xã hội và từ sự đóng góp của tư nhân. - Mỗi quốc gia có định hướng riêng, giải pháp riêng của mình trong việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS liên quan đến bảo vệ NLC tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, kinh tế và truyền thống pháp lý của mình. Vấn đề cốt lõi khi lựa chọn các biện pháp bảo vệ NLC là việc bảo đảm cân bằng hợp lý quyền bào chữa của bị can, bị cáo và lợi ích hợp pháp của NLC, cân bằng hợp lý giữa yêu cầu của các nguyên tắc cơ bản trong TTHS, những chuẩn mực quốc tế chung về tiến trình tố tụng với nội dung của những biện pháp này. Những trường hợp xung đột có thể được xem xét chấp nhận từ góc độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLC, lợi ích của xã hội trong phát hiện, khám phá tội phạm. Để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, quy định của Hiến pháp thì việc áp dụng những biện pháp này đòi hỏi phải có những điều kiện bổ sung để sao cho thủ tục xét xử của phiên tòa sơ thẩm vẫn bảo đảm được tính công minh của nó. Phải có căn cứ thực tế về sự cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ NLC tức là những chứng cứ về sự đe dọa một cách hiện thực tính mạng, sức khỏe và tài sản của NLC. Bất kỳ biện pháp nào hạn chế quyền bào chữa của bị can đều phải thực sự xuất phát từ lý do cần thiết, do vậy việc giữ bí mật đối với bên bào chữa những thông tin về NLC chỉ được phép thực hiện khi những biện pháp khác không thể thay thế được. Quyết định áp dụng các biện pháp này phải được sự đồng ý của Viện trưởng Viện kiểm sát như là một kênh kiểm tra bổ sung về sự cần thiết và hợp pháp của việc áp dụng những biện pháp này. 3. Miễn trừ làm chứng Ngày 6/3/2006 vụ án đưa nhận hối lộ và cố ý làm trái tại PMU 18 được khởi tố. Bùi Tiến Dũng -Tổng giám đốc PMU 18 và Phạm Tiến Dũng - Chánh văn phòng đã bị bắt, bị khởi tố bị can. Tại thời điểm đó ông Nguyễn Việt Tiến là thứ trưởng Bộ giao thông vận tải. Ngày 20/3/2006 ông Tiến được cơ quan điều tra triệu tập với tư cách NLC. Một cán bộ Tổng cục cảnh sát choVnExpress hay, việc triệu tập ông Tiến là hoạt động bình thường của C14 trong quá trình điều tra những sai phạm của Bùi Tiến Dũng và các cá nhân liên quan. Sau nhiều lần trình diện theo triệu tập của cơ quan điều tra, ngày 04/4/2006 ông Tiến đã bị khởi tố bị can về tội cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm và bị tạm giam. [6] Từ sự việc thực tế này chúng ta thử phân tích tình trạng của NLC Nguyễn Việt Tiến khi phải đối mặt với cơ quan điều tra như thế nào. Cơ quan điều tra sẽ yêu cầu ông Tiến trình bày những gì ông biết về sai phạm của bị can Bùi Tiến Dũng - cấp dưới của ông, người kế nhiệm ông ở chức Tổng giám đốc PMU 18. Đương nhiên là trước khi bị lấy lời khai NLC Nguyễn Việt Tiến đã được cơ quan điều tra giải thích về quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong đó có nghĩa vụ trình diện, nghĩa vụ khai báo và khai báo trung thực. Nếu không thực hiện các nghĩa vụ này thì có thể bị dẫn giải, bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 và Điều 308 BLHS. Trong bối cảnh này NLC Nguyễn Việt Tiến không còn lựa chọn nào khác là phải trình bày trung thực, trả lời trung thực những câu hỏi của cơ quan điều tra kể cả những câu hỏi về trách nhiệm của ông với tư cách là cấp trên của bị cáo Bùi Tiến Dũng. Những lời khai này của ông sau đó đã trở thành một trong những căn cứ để chống lại chính ông - căn cứ khởi tố bị can đối với ông. Nói một cách thẳng thắn thì địa vị tố tụng của NLC – người cộng tác với nhà nước vì lợi ích chung - trong BLTTHS 2003 bất lợi hơn rất nhiều so với địa vị tố tụng của bị can - người đã bị khởi tố về trách nhiệm hình sự. Thực hiện nghĩa vụ tố tụng vì lợi ích chung nhưng việc này có thể dẫn đến hệ quả là bản thân NLC, người thân của họ có thể phải đối mặt với những bất lợi trong tương lai: có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên cơ sở những lời khai mà họ có nghĩa vụ phải khai không được từ chối. Đối với bị can thì trình bày lời khai, thừa nhận tội là quyền chứ không phải là nghĩa vụ tố tụng của họ. Trường hợp nêu trên không phải là cá biệt. Nhiều vụ án mà NLC ban đầu bỗng trở thành bị can. Điều này hoàn toàn có thể giải thích được bởi lẽ hoạt động TTHS là cả một quá trình. Lúc đầu chưa có đủ thông tin về sự liên quan của A với sự kiện tội phạm thì A có thể bị triệu tập tham gia vào vụ án với tư cách NLC và đến khi có đủ thông tin về sự liên quan của A trong sự kiện tội phạm xảy ra thì mới có thể khởi tố A là bị can của vụ án. Vấn đề đáng nói là những lời khai của NLC A trước đó có giá trị như thế nào trong việc chứng minh tội phạm của bị can A sau này. Với các quy định hiện hành của BLTTHS 2003 thì NLC ở trong một tình thế hoàn toàn bất lợi giống như của ông Tiến ở trên. NLC không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải trình diện, phải khai báo và khai báo trung thực nếu không muốn bị dẫn giải hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 hoặc Điều 308 BLHS. NLC phải trả lời các câu hỏi mà cơ quan điều tra quan tâm và lời khai của họ có thể chống lại chính họ hoặc người thân của họ. Đánh giá một cách khách quan thì có thể nhận thấy BLTTHS 2003 mặc dù được sửa đổi, bổ sung sau BLHS 1999 nhưng đã không tiếp thu được tư tưởng nhân đạo của nó. Cụ thể, Điều 22 BLHS 1999 đã không quy định hành vi không tố giác tội phạm của những người là ông bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị em ruột, vợ hoặc chồng của kẻ phạm tội là hành vi tội phạm (trừ trường hợp không tố giác tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng). Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với khía cạnh đạo đức trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Nhà nước đã đặt lợi ích của mình - lợi ích về đấu tranh chống tội phạm thấp hơn lợi ích cá nhân để phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc. Rất tiếc là BLTTHS 2003 khi quy định về nghĩa vụ của NLC đã không tiếp thu và phát triển được tư tưởng nhân văn này ngay trong khoa học pháp lý của nước ta chứ chưa nói đến trào lưu nhân đạo hóa, mở rộng bảo đảm quyền con người trong TTHS của nhiều nước trên thế giới. Một trong những nội dung tiến bộ trong trào lưu nhân đạo hóa TTHS của nhiều nước trên thế giới chính là quy định miễn trừ làm chứng. Chế định miễn trừ làm chứng cũng có cội nguồn sâu xa trong lịch sử xã hội loài người. Chế định này đã được biết đến trong Luật La Mã cổ. Nhiều yếu tố đạo đức, quan niệm tôn giáo, điều kiện xã hội, kinh tế và chính trị đã tác động đến quá trình hình thành chế định này. Trước khi tìm hiểu chế định miễn trừ làm chứng thì cần làm rõ khái niệm miễn trừ. Miễn trừ theo tiếng Latin - immunitas có nghĩa là loại trừ, miễn phải làm cái gì đó, việc gì đó. Trong khoa học pháp lý quyền miễn trừ được giải thích là quyền đặc thù không phải tuân theo một số quy định chung của pháp luật dành cho những chủ thể nhất định hoặc cũng được hiểu là quyền bất khả xâm phạm, là tổng hợp quyền và những đặc quyền của một số chủ thể nhất định. (Trước đây quyền miễn trừ được hiểu theo theo nghĩa hẹp - chỉ áp dụng cho nhóm chủ thể hạn chế là những người có chức quyền trong Nhà nước. Cách hiểu này chưa thuyết phục vì quyền miễn trừ không chỉ dành cho những người có vị trí đặc biệt trong Nhà nước. Một số chủ thể khác cũng có thể có quyền này như công dân hay chính Nhà nước. Ngày nay quyền này được hiểu ở góc độ rộng - có thể áp dụng với nhiều chủ thể khác nhau. Nhiều công ước quốc tế và luật quốc gia đã đi theo hướng này khi dành cho một số chủ thể quyền bất khả xâm phạm trong những lĩnh vực pháp luật nhất định). Quyền miễn trừ là một dạng đặc quyền. Chủ thể của nó được trao một lợi thế to lớn: bất khả xâm phạm pháp lý trong lĩnh vực cụ thể của quan hệ pháp luật. Tác giả Malcô. A.V. và Xumencốv C.IU. đã đưa ra một số dấu hiệu của quyền miễn trừ như sau: - Quyền này tạo ra chế độ pháp lý đặc thù cho phép tối ưu hóa, cải thiện địa vị pháp lý củanhững chủ thể nhất định, mở rộng khả năng thỏa mãn những lợi ích nhất định cho các chủ thể đó. - Quyền này là một trong những công cụ pháp lý có khả năng tác động tới một hướng hành xử cụ thể và có vai trò là động cơ pháp lý tích cực cho hành xử của chủ thể. - Quyền này là bảo đảm cho những hoạt động xã hội có ích, góp phần thực hiện những nghĩa vụ nhất định. - Quyền này như là những ngoại lệ đặc biệt, hợp lý nhất định được quy định bằng những quy phạm riêng của luật. - Quyền này như là hình thức đặc thù trật tự hóa các quan hệ xã hội nhất định. Mặc dù quyền miễn trừ là những ngoại lệ nhất định của nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật nhưng nó không phải là phân biệt đối xử. Quyền miễn trừ là những ưu đãi và đặc quyền pháp lý do luật định, cho phép những chủ thể nhất định không phải thực hiện những nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nào đó để bảo đảm cho những chủ thể này thực hiện những chức năng của họ. Theo Xumencôv, quyền miễn trừ là một đặc quyền cả về luật nội dung lẫn luật tố tụng của những chủ thể nhất định. Nội dung của đặc quyền này là những bảo đảm và lợi thế bổ sung của chủ thể trong vấn đề truy cứu trách nhiệm pháp lý và trong thực hiện những nghĩa vụ pháp lý nhất định. Trong luật có nhiều cách phân loại quyền miễn trừ khác nhau thí dụ như phân loại theo phạm vi chủ thể : quyền miễn trừ của tổng thống, quyền miễn trừ của thẩm phán, quyền miễn trừ ngoại giao, quyền miễn trừ đại biểu Quốc hội, quyền miễn trừ của Nhà nước... Có thể phân loại theo nội dung: quyền miễn trừ tài sản, quyền miễn trừ tư pháp, quyền miễn trừ hình sự... Một trong những hình thức của quyền miễn trừ tư pháp là quyền miễn trừ làm chứng. Quyền miễn trừ làm chứng được đề cập đến trong một số điều ước quốc tế như Tuyên ngôn chung về quyền, tự do của con người và công dân 1948, Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966 của Liên hiệp quốc. Hiến pháp của một số nước cũng ghi nhận quyền này như là nguyên tắc hiến định, thí dụ như Hiến pháp của Liên bang Nga quy định: “Không ai buộc phải trình bày lời khai chống lại chính mình, vợ (hay chồng), người thân của mình”. Quy định này của Hiến pháp có ảnh hưởng sâu rộng trong toàn bộ hệ thống pháp luật. Các nội dung của nó được thể hiện trong luật nội dung cũng như trong luật TTHS. Cụ thể BLHS Liên bang Nga tại Điều 308 quy định: NLC không phải chịu TNHS trong trường hợp từ chối trình bày lời khai chống lại bản thân mình, vợ hoặc chồng hoặc người thân của mình”. Luật giải phóng cho NLC không phải trình bày lời khai bất lợi cho bản thân, cho người thân của mình là một trong những tiền đề quan trọng bảo đảm quyền con người, bảo đảm danh dự, quyền bất khả xâm phạm đời tư của công dân. Trong TTHS quyền miễn trừ làm chứng được nhìn nhận ở ba góc độ: - Như là một đặc quyền pháp lý, một bất khả xâm phạm pháp lý. Một số chủ thể tham gia TTHS có quyền không phải làm chứng tức là quyền không trình bày lời khai với tư cách NLC và không thể bị truy cứu trách nhiệm về việc này; - Như một chế định bảo vệ quyền của những người tham gia tố tụng; - Như một quyền tố tụng cụ thể. .Làm chứng như đã nói ở trên có nghĩa là trình bày, cung cấp những thông tin mà mình biết được nhằm xác định hoặc phủ nhận về một tình tiết, sự kiện nào đó của vụ án. Quyền miễn trừ làm chứng bao hàm quyền im lặng tức là không trình bày lời khai về bất kỳ tình tiết sự kiện nào của vụ án khi thấy lời khai của mình có thể được sử dụng để truy cứu TNHS đối với bản thân mình hoặc đối với người thân của mình. Quyền miễn trừ làm chứng được thừa nhận không phải chỉ vì lợi ích của NLC mà còn vì mục đích thực hiện tổng thể các quyền tự do dân chủ hiến định - một trong những tiền đề cần thiết và quan trọng bảo đảm một cách hiện thực vấn đề quyền con người trong TTHS. Quyền miễn trừ làm chứng đồng nghĩa là bảo đảm quyền về nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm đời tư của công dân trong lĩnh vực TTHS. Khi giải thích quyền im lặng như là một yếu tố của quyền miễn trừ làm chứng Tòa án Châu Âu về quyền con người cho rằng những nội dung này được các quy phạm điều ước quốc tế thừa nhận và là nền tảng của khái niệm “thủ tục tư pháp công bằng”. BLTTHS LB Nga quy định quyền miễn trừ làm chứng có thể áp dụng cho: NBH, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bị tình nghi, bị can, NLC. Không được lấy lời khai với tư cách NLC của những chủ thể sau đây: thẩm phám, bồi thẩm, linh mục, người bào chữa của bị can, bị cáo, thành viên của Hội đồng Liên bang, đại biểu Quốc hội. Hiện nay có hai cách hiểu về quyền miễn trừ làm chứng trong khoa học TTHS ở Nga. Cách hiểu ở góc độ hẹp là quyền không trình bày lời khai chống lại bản thân mình hoặc người thân của mình. Cách hiểu ở góc độ rộng là quyền của cá nhân từ chối trình bày lời khai chống lại bản thân và chống lại người thân của mình đồng thời là quyền của cả những người mà luật cấm lấy lời khai của họ với tư cách NLC. Theo cách hiểu thứ hai thì có thể phân chia chủ thể quyền miễn trừ làm chứng thành hai nhóm: nhóm chủ thể thứ nhất là những chủ thể có quyền từ chối trình bày lời khai nhưng họ có thể không sử dụng quyền luật định đó của mình (họ có thể trình bày lời khai trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện). Thí dụ như NLC, NBH, người có quyền miễn trừ ngoại giao, thành viên Hội đồng Liên bang. NLC có quyền từ chối làm chứng bất lợi cho bản thân mình, vợ (chồng) hay người thân của mình. Khi họ tự nguyện làm chứng thì phải được giải thích về việc lời khai của họ có thể được sử dụng làm chứng cứ trong vụ án ngay cả khi họ phủ nhận lời khai của mình sau này. Người thân của NLC bao gồm: vợ, chồng, cha mẹ, con cái, con nuôi, cha mẹ nuôi, anh chị em ruột, ông bà, cháu. Danh mục này do luật định, không được phép mở rộng. Nhóm thứ hai là những chủ thể mà luật cấm không được lấy lời khai của họ với tư cách NLC về mọi tình tiết hoặc về một số tình tiết cụ thể của vụ án. Thí dụ như thẩm phán, người bào chữa, linh mục, NLC và NBH có hạn chế về tâm thần và thể chất. So sánh với Điều 55 BLTTHS 2003 của nước ta thì thấy phạm vi các chủ thể không được làm chứng của ta hẹp hơn, chỉ bao gồm người bào chữa của bị can, bị cáo, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn. Có ý kiến đề nghị mở rộng phạm vi chủ thể quyền miễn trừ làm chứng gồm cả điều tra viên, kiểm sát viên với lập luận những chủ thể này là đại diện của bên buộc tội nhân danh nhà nước và vì vậy họ không thể bị lôi cuốn vào tố tụng với tư cách là những chủ thể tư. Hơn nữa, niềm tin nội tâm của những chủ thể này dựa trên các chứng cứ đã được thu thập, do vậy họ là những người quan tâm đến vụ án – không thể là NLC. Không thừa nhận quyền miễn trừ làm chứng của những chủ thể này còn vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa vì người bào chữa của bị can, bị cáo được hưởng quyền miễn trừ làm chứng. Hơn nữa, quy định điều tra viên phải làm chứng trước tòa còn vi phạm quyền của bị can, bị cáo vì điều tra viên có thêm khả năng tác động đến tòa khi giải thích về những nội dung của vụ án. Những người phản đối mở rộng quyền miễn trừ cho điều tra viên, kiểm sát viên cho rằng lời khai của điều tra viên trước tòa có thể có ý nghĩa quan trọng cho việc làm rõ các tình tiềt, bối cảnh tiến hành những hoạt động điều tra cụ thể đã không được phản ánh trong hồ sơ. Vấn đề triệu tập điều tra viên với tư cách NLC trước tòa cũng là vấn đề đã từng có tranh luận trên diễn đàn báo chí ở nước ta. Điều 55 BLTTHS 2003 không quy định điều tra viên là chủ thể không được làm chứng. Do vậy trong thực tiễn xét xử gần đây một số tòa án đã triệu tập điều tra viên đến tòa với tư cách NLC. Quan điểm của chúng tôi là ủng hộ ý kiến thứ nhất. Điều tra viên, kiểm sát viên cũng như thẩm phán phải có quyền miễn trừ làm chứng hoặc họ chỉ có thể bị triệu tập đến tòa với tư cách của chính họ - đại diện cho cơ quan tiến hành tố tụng trình bày về những tình tiết liên quan đến chính hành vi tố tụng mà họ thực hiện hoặc tham gia chứ không phải với tư cách NLC. Trên đây là một số kinh nghiệm lập pháp của các nước trong việc bảo vệ NLC và quyền miễn trừ làm chứng. Những vấn đề này là những vấn đề thời sự trong thực tiễn xét xử nhưng chưa được chú ý nhiều trong khoa học TTHS ở nước ta. Việc tham khảo và vận dụng kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về chế định NLC trong điều kiện cụ thể của nước ta là cần thiết để hoàn thiện chế định này theo hướng nhân đạo hơn, bảo đảm đầy đủ hơn quyền con người và tạo những động lực tích cực cho hoạt động xét xử.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThực trạng và giải pháp của vấn đề Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 và của các.docx
Luận văn liên quan