Tiểu luận Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng

Tên chuyên đề : Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng 1.Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết hiện nay chăn nuôi lợn của Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số lượng đầu lợn năm 2001 là 21,8 tiệu con; 2002 là 23,17 triệu con, đứng thứ 7 trên thế giới và thứ 2 Châu Á và thứ nhất Đông Nam Á (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [4] đã góp phần đưa kinh tế nước ta phát triển. Đặc biệt trong những năm gần đây việc chăn nuôi một số động vật hoang dã, đặc sản đang được nhiều người quan tâm vì hiệu quả kinh tế cao. Cùng với sự xuất hiện các vật nuôi mới như nhím, dúi, hươu, nai đang thu hút mạnh cả người chăn nuôi và người tiêu dùng thì lợn rừng đang tỏ ra là một nghề rất triển vọng, nhưng còn là nghề khá mới với người chăn nuôi (Đào Lệ Hằng, kỹ thuật ) [1]. Nghề chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống lâu đời gắn bó mật thiết với người nông dân. Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng trong đời sống con người. Mặt khác nó là nguồn cung cầp phân bón hữu cơ quan trọng trong trồng trọt và một số sản phẩm cho ngành chăn nuôi, chế biến. Ở nước ta chăn nuôi lợn sản xuất trên 70 % lượng thịt trong năm.nó là nghề truyền thống và nhanh tiếp cận với công nghệ nuôi thâm canh hiện đại nhất hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt cho sinh hoạt ngày một cao của nhân dân và xuất khẩu. Nghề chăn nuôi lợn có vị trí quan trọng hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam là nhờ có: Lợn là loại ăn tạp thích ứng với mọi hoàn cảnh chăn nuôi, khả năng sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, khả năng sinh sản cao, tỷ lệ thịt xẻ cao, thịt thơm ngon, dễ tiêu hoá, thu hút được sức lao động thừa ở nông thôn. Ngày nay, nghề chăn nuôi sẽ phát triển mạnh nếu có hệ thống chăn nuôi phù hợp và giữ vững được chất lượng sản phẩm này còn vô cùng to lớn, mà chăn nuôi lợn rừng tuy là nuôi động vật hoang dã nhưng không thuộc danh sách trong sách đỏ nếu được khuyến khích chăn nuôi. Thị trường đầu ra cho sản phẩm lợn rừng đã có sẵn đang cần có người tâm huyết, có nội lực, mong muốn làm giàu từ chăn nuôi. Lợn rừng cho ta các sản phẩm như thịt thơm, ngon, rất được ưa thích, da lợn rừng là món khoái khẩu, là nguyên liệu cho công nghiệp da. Răng nanh và móng vuốt được buôn bán với giá đắt và thị trường càng trở nên khan hiếm. Trong chăn nuôi lợn rừng thức ăn là một yếu tố quan trọng nhất vì nếu không thì thịt lợn rừng sẽ nhanh chóng giống thịt lợn nhà và như vậy sẽ mất đi khả năng cạnh tranh ưu thế trên thị trường. Hơn nữa thức ăn không tốt, không đúng và phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng sẽ ảnh hưởng đến khả năng sản xuất khác làm chăn nuôi thua lỗ, kém hiệu quả (Đỗ Kim Tuyên-NXB NN) [3]. Muốn đảm bảo lợn phát triển, sinh trưởng, phát dục bình thường thì thức ăn đóng vai trò quan trọng. Lượng thức ăn, nước uống mỗi ngày của lợn rừng thường là: - 0,5 kg thức ăn tinh / ngày - 2 kg thức ăn thô xanh - 4 lit nước / ngày Thức ăn xanh chủ yếu là củ, quả, cỏ và các loại thức ăn thô xanh khác dễ kiếm và rẻ tiền. Để cho lợn có thức ăn quanh năm và đủ chất dinh dưỡng ta có một số phương pháp chế biến thức ăn cơ bản cho lợn rừng: như cho ăn tươi, phương pháp làm bột cỏ ( bột xanh), phương pháp làm cao rau. Chếbiến và bảo quản thức ăn từ một số phụ phẩm, có thể cho phối trộn với thức ăn tinh để cho chăn nuôi lợn rừng đạt hiệu qủa cao.

doc17 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/06/2013 | Lượt xem: 3671 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
§¹i häc Th¸i Nguyªn tr­êng §¹i häc N«ng L©m ------------ @&? ------------- Bài tiểu luận MÔN: THỨC ĂN VÀ DINH DƯỠNG GIA SÚC CHUYÊN ĐỀ: Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng. GIẢNG VIÊN: NGUYỄN HƯNG QUANG SINH VIÊN: LINH THỊ VÂN LỚP: 40B_CNTY KHOA: CHĂN NUÔI THÚ Y THÁI NGUYÊN, 2010 Tên chuyên đề : Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng 1.Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết hiện nay chăn nuôi lợn của Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, số lượng đầu lợn năm 2001 là 21,8 tiệu con; 2002 là 23,17 triệu con, đứng thứ 7 trên thế giới và thứ 2 Châu Á và thứ nhất Đông Nam Á (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [4] đã góp phần đưa kinh tế nước ta phát triển. Đặc biệt trong những năm gần đây việc chăn nuôi một số động vật hoang dã, đặc sản đang được nhiều người quan tâm vì hiệu quả kinh tế cao. Cùng với sự xuất hiện các vật nuôi mới như nhím, dúi, hươu, nai …đang thu hút mạnh cả người chăn nuôi và người tiêu dùng thì lợn rừng đang tỏ ra là một nghề rất triển vọng, nhưng còn là nghề khá mới với người chăn nuôi (Đào Lệ Hằng, kỹ thuật …) [1]. Nghề chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống lâu đời gắn bó mật thiết với người nông dân. Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng trong đời sống con người. Mặt khác nó là nguồn cung cầp phân bón hữu cơ quan trọng trong trồng trọt và một số sản phẩm cho ngành chăn nuôi, chế biến. Ở nước ta chăn nuôi lợn sản xuất trên 70 % lượng thịt trong năm.nó là nghề truyền thống và nhanh tiếp cận với công nghệ nuôi thâm canh hiện đại nhất hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt cho sinh hoạt ngày một cao của nhân dân và xuất khẩu. Nghề chăn nuôi lợn có vị trí quan trọng hàng đầu trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam là nhờ có: Lợn là loại ăn tạp thích ứng với mọi hoàn cảnh chăn nuôi, khả năng sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, khả năng sinh sản cao, tỷ lệ thịt xẻ cao, thịt thơm ngon, dễ tiêu hoá, thu hút được sức lao động thừa ở nông thôn. Ngày nay, nghề chăn nuôi sẽ phát triển mạnh nếu có hệ thống chăn nuôi phù hợp và giữ vững được chất lượng sản phẩm này còn vô cùng to lớn, mà chăn nuôi lợn rừng tuy là nuôi động vật hoang dã nhưng không thuộc danh sách trong sách đỏ nếu được khuyến khích chăn nuôi. Thị trường đầu ra cho sản phẩm lợn rừng đã có sẵn đang cần có người tâm huyết, có nội lực, mong muốn làm giàu từ chăn nuôi. Lợn rừng cho ta các sản phẩm như thịt thơm, ngon, rất được ưa thích, da lợn rừng là món khoái khẩu, là nguyên liệu cho công nghiệp da. Răng nanh và móng vuốt được buôn bán với giá đắt và thị trường càng trở nên khan hiếm. Trong chăn nuôi lợn rừng thức ăn là một yếu tố quan trọng nhất vì nếu không thì thịt lợn rừng sẽ nhanh chóng giống thịt lợn nhà và như vậy sẽ mất đi khả năng cạnh tranh ưu thế trên thị trường. Hơn nữa thức ăn không tốt, không đúng và phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng sẽ ảnh hưởng đến khả năng sản xuất khác làm chăn nuôi thua lỗ, kém hiệu quả (Đỗ Kim Tuyên-NXB NN) [3]. Muốn đảm bảo lợn phát triển, sinh trưởng, phát dục bình thường thì thức ăn đóng vai trò quan trọng. Lượng thức ăn, nước uống mỗi ngày của lợn rừng thường là: - 0,5 kg thức ăn tinh / ngày - 2 kg thức ăn thô xanh - 4 lit nước / ngày Thức ăn xanh chủ yếu là củ, quả, cỏ và các loại thức ăn thô xanh khác dễ kiếm và rẻ tiền. Để cho lợn có thức ăn quanh năm và đủ chất dinh dưỡng ta có một số phương pháp chế biến thức ăn cơ bản cho lợn rừng: như cho ăn tươi, phương pháp làm bột cỏ ( bột xanh), phương pháp làm cao rau. Chế biến và bảo quản thức ăn từ một số phụ phẩm, có thể cho phối trộn với thức ăn tinh để cho chăn nuôi lợn rừng đạt hiệu qủa cao. 2.Nội dung. 2.1. Đặc điểm lợn rừng Việc nuôi thuần và lai tạo với giống thuần địa phương như trong chăn nuôi lợn rừng hiện nay ở việt Nam đã góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học các giống lợn, tăng tính đa dạng sinh học và hạn chế việc săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên. Bên cạnh đó lợn rừng có một số đặc điểm khác lợn nhà như sau. Chuồng trại đơn giản, thức ăn dễ kiếm, rẻ tiền, chi phí thú y thấp quay vốn chậm do sinh trưởng dài, khả năng sản xuất thịt và sinh sản chậm. Lợn rừng nước ta có một số đặc điểm: Mẹ nhỏ, thường chỉ từ 35-50 kg, mõm dài và nhọn đầu nhỏ, cổ dài, thắt ngẫng, không có má đẻ it con, lợn chậm lớn, áp dụng đúng kĩ thuật nuôi thì cơ bản không có mỡ (95% là thịt nạc. [8] Lợn rừng là loại ăn tạp và tham ăn đến 95% thực đơn là rau, củ, quả, cỏ, phụ phẩm công nông nghiệp rẻ tiền, dễ kiếm. Người chăn nuôi chỉ phải đầu tư ít cám gạo (5% còn lại trong khẩu phần). Mỗi lợn rừng trưởng thành tiêu thụ mỗi ngày hết khoảng 2 kg cỏ hoặc thức ăn thô xanh khác và 0,2 kg cám gạo [7]. Theo Đỗ Kim Tuyên [3] Lợn rừng hiện nay có rất nhiều loài: lợn rừng đại (lợn rừng “thần” hay lợn rừng lông ); giống lợn rừng ria trắng, giống lợn rừng tai dài, lợn rừng nhim, lợn rừng ngựa, giống lợn rừng râu dài, lợn rưng Indonesia, lợn rừng không lông, lợn rừng sông, lợn rừng Ấn Độ, lợn rừng Philippins … Hiện nay Việt Nam ta đang nuôi một số loài lợn rừng như: lợn rừng thuần mặt dài, lợn rừng thuần mặt ngắn. 2.2. Thức ăn của lợn rừng Thức ăn chủ yếu của lợn rừng chủ yếu là thực vật . Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi lợn rừng vì nó sẽ làm cho chất lượng của lợn rừng bị biến đổi và đôi khi lợn lại bị tiêu chảy. [6].Sẽ làm mất năng suất của chăn nuôi. Thức ăn thô: cây chuối, bẹ chuối, thân cây ngô non, rau muống,rau lấp, bèo tây các loại cỏ, các loại cỏ xanh. [6]. Các loại thức ăn thô xanh này rất quan trọng bởi chúng hợp với khẩu vị, mức tiêu hoá và tập tính ăn uống của lợn rừng. Nếu chỉ cho ăn thức ăn tinh, lợn kém ăn do không quen, không ngon miệng và chất lượng thịt sẽ giảm xuống. Đồng thời nghề chăn nuôi lợn rừng không hấp dẫn nữa bởi giá thành cao và sức tiêu thụ giảm. Thức ăn thô xanh còn có thể là một số loại phụ phẩm công, nông nghiệp như dây lang sau thu củ, ngọn lá sắn, quả giả điều, vỏ và thịt cà phê, vỏ các loại trái cây là phụ phẩm trong công nghiệp sấy khô hoa quả. Thức ăn tinh: Là loại thức ăn ít chất xơ, có thành phần dinh dưỡng cao hơn gồm: gạo, cám, ngô, đậu, khoai, sắn. [6]. Có thể pha trộn thức ăn tonh với thức ăn tươi để tăng tính ngon miệng. Thức ăn tinh và thức săn bổ sung là nhóm thức ăn dễ chế biến đơn giản từ bột các loại ngũ cốc, các loại khô dầu, các loại phụ phẩm của công nghiệp giết mổ gia súc, gia cầm như bột xương, bột máu, bột thịt xương, bột đầu cá, đầu tôm, cả các loại thức ăn giàu đạm có thể sản xuất ngay tại trang trại lợn rừng như bột giun, bột côn trùng… 2.3 Các phương pháp chế biến cơ bản Trong thực tiễn nuôi dưỡng người ta thấy rằng có nhiều loại thức ăn không thể hoặc không nên cho vật nuôi ăn ở dạng tự nhiên mà cần áp dụng phương pháp chế biến thích hợp trước khi cho ăn. Nhờ đó thức ăn trở nên mềm và ngon hơn, con vật ăc được nhiều hơn, tỷ lệ tiêu hoá cũng tăng lên, đồng thời thông qua chế biến một số chất độc hại hoặc loại trừ, từ đó làm tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn. (Từ Quang Hiển và cs_2001) [5]. Dưới đây là một số phương pháp chế biến và bảo quản thức ăn cho lợn rừng. Chủ yếu là phương pháp làm khô hoặc bột cỏ (bột xanh), phương pháp làm cao rau. Mặc dù trong các phương pháp chế biến thức ăn xanh có phương pháp ủ chua khá hiệu quả nhưng trong chăn nuôi lợn rừng vẫn chưa sử dụng. 2.3.1 Phương pháp cho ăn tươi Là phương pháp mà ta loại bỏ tạp chất rửa sạch bùn đất, phân gio còn dính trên thức ăn. Cắt bỏ phần gốc già, thái thức ăn thô xanh thành từng đoạn nhỏ và bỏ vào máng thức ăn cho ăn thức ăn xanh trong chuồng. (Đỗ kim Tuyên-chủ biên) [3]. 2.3.2 Phương pháp làm bột cỏ (bột xanh) Theo Đào Lệ Hằng – 45 câu hỏi [2]. Phương pháp này thường sử dụng chế biến và bảo quản các loại thức ăn thô xanh ngoài ra còn có bèo, su su, thân lá chuối, keo dậu, chè khổng lồ, đậu Sơn Tây … đến các phẩm còn tươi như rơm, thân lá khoai lang sau thu hoạch củ, thân lá lạc, vỏ lạc, ngọn lá sắn đều có thể phơi sấy khô để dự trữ cho gia súc ăn vào mùa đông, mùa khô thiếu thức ăn xanh hoặc nguyên liệu chế biến với ure cùng với các phụ phẩm khác. Các loại phụ phẩm này đều là những thực vật giàu đạm, giàu vitamin, khoáng, tỷ lệ xơ cũng cao nên là thức ăn rất tốt cho gia súc. Phương pháp sấy khô thường làm mất hơn 10% các chất hữu cơ nên khi cho ăn tnức ăn phơi sấy khô thường nên cho ăn thêm rau, cỏ tươi, rỉ mật đường hoặc các chất tinh bột khác (cám gạo, cám ngô …). Ở phương pháp này, không cần hố ủ mà chỉ cần các thiết bị để nghiền nát sản phẩm như chày cối, máy xay và các vật liệu để đựng sản phẩm như thùng kim loại không rỉ, bao nilông có máy hàn kín miệng sau khi đựng sản phẩm, bao xác sẵn, bao tải khô, kho chứa …Khi sấy khô phải khống chế được tác đụng lên men, sinh mốc của nhóm nấm mốc thì mới giữ được sản phẩm phơi, sấy khô tốt. Bảng 1: Thành phần hoá học của một số loại bột xanh. Stt Tên thức ăn vật chất khô Protein thô Lipit thô Xơ thô Dẫn xuất không đạm Khoáng tổng số Canxi Phot pho 1 Bột Bèo tấm 91,9 16,8 2,8 10,3 50,2 11,8 2 Bột bèo dâu 84,6 15,5 3,3 16,1 29,5 20,2 1,22 0,4 3 Bột lá keo dậu 91,0 27,8 2,83 7,21 45,43 8,25 1,79 0,28 4 Bột lá sắn 89,66 20,57 8,37 13,98 39,62 7,12 1,10 0,63 5 Bột thân lá khoai lang 84,3 7,1 4,7 13,20 49,3 10,00 1,00 0,4 6 Bột thân lá lạc 94,45 10,99 1,13 36,47 38,92 6,94 1,03 0,2 Bảng 2: Giá trị dinh dưỡng của một số loại bột xanh STT Tên thức ăn Năng lượng tiêu hoá (Kcal) Năng lượng trao đổi (Kcal) 1 Bột bèo tấm 2729 2572 2 Bột bèo dâu 2052 1881 3 Bột lá keo dậu 2671 2487 4 Bột lá sắn 2538 2349 5 Bột thân, lá khoai lang 2052 1958 6 Bột thân lá lạc 1984 1803 Quy trình tóm tắt: _ Cắt sát mặt đất khi dỡ củ nhưng để làm thức ăn cho gia súc nên cắt loại bỏ đi phần gốc khoảng 20-30 cm (đối với khoai lang, lạc); với sắn, mía, ngô chỉ lấy phần ngọn, lá. _Rửa sạch bùn, đất, nhặt bỏ cuống thối, lá úa, lá vàng, côn trùng, sâu rau. _Thái thành từng đoạn nhỏ 2-3 cm. _Phơi khô 80-85% (bóp nhẹ, lá vỡ vụn). _Nghiền và giã nhỏ thành bột mịn. Rồi đóng vào bao nilon, cho vào kho bảo quản dùng dần. _Cho lợn ăn (nấu cám, hoà với nước uống hoặc cho ăn trực tiếp với tỷ lệ 5-10% khẩu phần. (Đỗ Kim Tuyên-chủ biên ) [3] 2.3.3 Phương pháp làm cao rau Chuẩn bị và sơ chế nguyên liệu: _ Thu gom các phụ phẩm tươi ngay sau khi thu hoạch như thân lá khoai lang, thân lá lạc, ngọn lá sắn, thân lá ngô và các loại rau. _ Không cần phân loại mà chỉ cần chú ý cắt bỏ phần qua già, nhặt bỏ phần thân, lá úa vàng thối. _ Rũ sạch bùn, đất, côn trùng, rác và các tạp chất khác. _ Rửa sạch để ráo nước. _ Băm hoặc giã nhỏ. _ Vắt lấy nước, bỏ bã. Chế biến: _ Đun dịch rau vừa lọc được ở nhiệt độ 70-80ºC (không cho sôi thấy bay hơi lên nhiều nghi ngút là được). _ Khi thấy chất đặc nổi lên thành một lớp váng dày thì vớt ngay lớp váng đó ra rổ hoặc sàng, nong, nia to mắt dày. _ Dải đều lớp váng vừa vớt xong lên sân gạch sạch. _ Khi bóp nhẹ, váng cao dã vỡ là cao đã đạt độ khô cần thiết. _ Trộn cao đã khô với muối đã rang theo tỷ lệ sau 7-8 g muối/ 1kg cao. _ Sau đó tán nhỏ cao và muối thành bột mịn. _ Cất vào bao nilon để nơi khô ráo, dùng dần. Cách dùng : _ Cao rau có nhiều đạm và vitamin nhóm B,E,tiền vitamin A, D rất tốt cho lợn đặc biệt là lợn con. _ Cao rau cho lợn ăn với lượng 50-60g cao rau/ ngày sẽ cho mức tăng trưởng nhanh và giảm tiêu tốn thức ăn 10%. (Đỗ Kim Tuyên-2004) [3] Ta có thể chuẩn bị nguyên liệu cho các phương pháp trên bằng việc trồng, chế biến một số loại cây như: bí ngô, rau dệu, bí đao, chuối, rau muống, khoai lang, su su, mít, cỏ ghinê, bèo tấm, bèo sen, khoai nưa…Hầu hết chúng được sử dụng cho vật nuôi ăn tươi là chủ yếu ngoài ra có thể ủ tươi, nấu chín, làm bột rau, bột xanh, ủ hỗn hợp… Nấu chín là phương pháp xử lý nhiệt ẩm đối với thức ăn nhiệt độ và thời gian có ảnh hưởng lớn đối với thức ăn,giúp phá huỷ chất độc, những chất ức chế trong thức ăn, giúp nâng cao độ tiêu hoá của thức ăn. Ủ tươi cũng là phương pháp giúp giảm chi phí so với thức ăn khô, diệt được nấm mốc, làm cho thức ăn ngon hơn. [9]. Giúp ta có nhiều cách bảo quản và chế biến thức ăn. 2.4 Chế biến và bảo quản thức ăn từ một số phụ phẩm Theo( Đào Lệ Hằng-kỹ thuật….) [1] 2.4.1 Sử dụng bã bia (hèm),bã rượu làm thức ăn Bã bia,bã rượu là phụ phẩm của các nhà máy rượu, nước giải khát có ga, là loại thức ăn rất tốt cho lợn vì chứa lượng protein thô tới 20%; bột đường 49-53%; Canxi 0,65; kali 1,38-1,58%; giàu sinh tố B, C… Bã bia tươi là loại thức ăn nhiều nước, mùi vị thơm ngon, chứa nhiều khoáng, vitamin nhất là vitamin nhóm B. Còn chứa chất kích thích thèm ăn, làm tăng khả năng tiết sữa ở lợn mẹ. Tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong bã bia rất cao nên là loại thức ăn bổ sung chất đạm rất tốt cho lợn. Nhưng bã bia lại không dể được lâu, dự trữ tự nhiên trong chum, vại sạch chỉ được khoảng một tuần là bị lên men và làm mất dinh dưỡng, tăng độ chua. Nếu kéo dài thới gian bảo quản bã bia, bã rượu chúng ta nên cho thêm muối ăn vơi tỷ lệ 11,5kg muối ăn với 1 tấn bã bia hoặc bã rượu. Nên cho ăn với liều lượng không quá ½ lượng thức ăn trong khẩu phần của lợn. Cứ 4,5kg bã bia hoặc bã rượu tương đương 1kg thức ăn tinh. Sử dụng thức ăn này giảm lượng thức ăn tinh dể khẩu phần gia súc không dư thừa chất đạm lãng phí. Khi cho ăn nên trộn bã bia, bã rượu với thức ăn tinh cho ăn nhiều bữa. Để bảo quản được lâu loại thức ăn này, người ta sử dụng ở dạng khô dùng dần. Qui trình như sau: _ Gạn hết nước,sau đó rải bã bia hoặc bã rượu ra sân gạch hoặc sân xi măng sạch phơi 1-2 ngày nắng. _ Cho bã bia/ rượu khô vào chảo hoặc tấm tôn sấy đảo nhiều lần cho khô đều. _Cuối cùng để nguội trong mát, cho vào bao nilon hoặc chum, vại để bảo quản dùng dần. _ Sử dụng bã bia hoặc bã rượu khô với tỷ lệ 10-15% trong khẩu phần. 2.4.2 Chế biến và sử dụng bã đậu nành Bã đậu nành là phụ phẩm cuả nghề chế biến đậu phụ và sữa đậu nành. Bã đậu nành không những là thức ăn giàu dinh dưỡng mà còn có mùi thơm ngon vị ngọt nên lợn và các loại gia súc rất thích ăn. Khoảng 7kg bã đậu nành có giá trị năng lượng tương đương với 1kg thức ăn tinh mà hàm lượng protein thô lại cao hơn nhiều. Nên bã đậu nành được coi là nguồn thức ăn giàu đạm cho lợn và nhiều gia súc khác. Chú ý: bã đậu nành có men phân giải ure nên nếu cho gia súc ăn kèm với nhiều loại thức ăn có ure như rơm ủ ure, bánh dinh dưỡng…sẽ tạo ra số lượng lớn amoniac (NH3) sẽ gây ngộ độc cho gia súc. Nên chia nhỏ bã đậu nành sống và các thức ăn giàu ure ra thành các bữa nhỏ để đảm bảo an toàn cho gia súc. Bã đậu nành có thể được dự trữ lâu dài bằng phương pháp : _ Lọc bỏ tạp chất như bùn, đất, côn trùng rơi bám vào rác. _ Phơi khô _ Rang sấy _ Nghiền thành bột nhỏ, mịn. _ Bỏ vào bao ni lon rồi dán kín để bảo quản. 2.4.3 Chế biến và sử dụng bã sắn làm thức ăn Bã sắn là phụ phẩm của nghề chế biến bột sắn, sau khi nghiền lọc lấy đi tinh bột từ củ sắn thì còn lại bã sắn. Bã sắn có thể dùng làm thức ăn cho lợn ở cả dạng tươi và khô. Khoảng 6kg bã sắn giá trị năng lượng tương đương 1kg thức ăn tinh nhưng hàm lượng protein lại thấp hơn. Khi sử dụng bã sắn nên cho ăn thêm với ure, rỉ mật và khoáng để dinh dưỡng được cân đối. Nên sử dụng bã sắn với bã đậu nành để bổ sung dinh dưỡng cân đối. Nếu kết hợp 6kg bã sắn với 7kg bã đậu nành thì hỗn hợp 13kg này có giá trị năng lượng tương đương 2kg thức ăn tinh. Nếu thêm hỗn hợp trên bột sò, bột xương, bột dầu tôm thì có thể dùng hỗn hợp đó thay thế tới 1/3 hoặc ½ lượng thức ăn tinh trong khẩu phần của lợn. Bã sắn có thể để lâu bằng phương pháp: _ Bã sắn hoà với nước để làm loãng và tơi bã. _ Lọc bằng sàng để tách bỏ phần xơ, các tạp chất. _ Ép làm khô tinh bột lắng đọng thu được( độ ẩm chỉ còn 58-62%). _ Phơi hoặc sấy khô đến khi đạt ẩm độ 13-14%. _ Đánh tơi bã khô thu được. _ Đóng vào bao ni lon, bao xác rắn hoặc thùng tôn, kim loại không rỉ để bảo quản. 2.5 Phương pháp phối trộn thức ăn tinh Theo Đỗ Kim Tuyên-chủ biên [3] Để nâng cao sức sản xuất của lợn rừng việc phối trộn thức ăn tinh cũng đóng vai trò quan trọng để đảm bảo dinh dưỡng cho lợn rừng sinh trưởng, phát triển, nhất là giai đoạn lợn sinh sản và lợn con. Ta có thể phối trộn theo một số bảng sau: Bảng 3: Công thức phối hợp thức ăn dùng cho nái chửa, nái nuôi con và đực giống. Tên thức ăn Lợn chửa Lợn nuôi con Đực giống (%) Công thức I (%) Công thức II (%) Công thức I (%) Công thức II (%) Ngô, tấm 20 35 20 50 15 Cấm, mỳ 36 10 36 35 Thóc tẻ 10 18 20 Cám gạo 25 23 10 Bột sắn khô 18 10 8 Bột đậu nành 8 8 6 15 10 Bột cá loại I 6 10 10 10 8 Premix khoáng 1 1 1 1 1 Premix vitamin 1 1 1 1 1 Bảng 4: Công thức phối hợp thức ăn cho lợn con tập ăn : Tên thức ăn Công thức I (%) Công thức II (%) Công thức III (%) Công thức IV (%) Bột ngô 34 43 34 29 Cám gạo loại I 22 29 34 43 Khô dầu dừa 23 Bột cá nhạt 18 6 4 10 Khô dầu lạc 10 19 15 Khô dầu đậu nành 9 6 Bột xương 1,2 1,2 1,2 1,2 Vôi bột 0,9 0,9 0,9 0,9 Muối 0,6 0,6 0,6 0,6 Sunfat Mg 0,3 0,3 0,3 0,3 Bảng 5: Công thức phối trộn thức ăn cho lợn choai Tên thức ăn Công thức 1 (%) Công thức 2 (%) Công thức 3 (%) Bột ngô 20 35 35 Cám gạo 10 25 25 Cám mì 13 Bột sắn 30 5 Bột đậu nành 12 Khô dầu lạc 5 15 15 Bột cá nhạt 8,6 6 8 Bột xương 1 Tấm gạo 18 10 Premix vitamin 0,13 0,5 0,85 Premix khoáng 0,12 0,5 0,85 Muối ăn 0,3 Lysin 0,15 Với các loại thức ăn như trên ta nên có chế độ cho ăn thích hợp. Lợn rừng ăn tạp nên việc cho ăn rất đơn giản. Cỏ cho trực tiếp dưới đất, cám pha với nước cho vào các chậu để sẵn trong chuồng.Chế độ cho ăn ngày 2 bữa sáng chiều (nên cho ăn đúng giờ để tạo phản xạ có điều kiện cho lợn rừng nuôi thả trong trang trại ) [8]. Hoặc có thể cho lợn ăn rải rác cả ngày nếu có điều kiện cho lợn ăn làm nhiều lần trong ngày (4-5 lần) nhưng ít nhất cũng phải 3 lần (sáng, trưa, chiều) đối với thức ăn xơ. Bên cạnh thức ăn môi trường sống cũng ảnh hưởng tới chế độ cho ăn và thức ăn của lợn. Nếu nuôi lợn nên chộn chỗ đất cao và thoát được nước để bố trí nuôi lợn rừng, chỗ nuôi nên có nhiều cây cối, càng rậm rạp càng tốt, có nguốn nước sạch sẽ đảm bảo cung cấp cho lợn.[6]. Ta có thể nuôi theo qui mô như sau: nuôi 10 con (1đực, 9 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100 m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20-30 cm.[10]. Như vậy lợn rừng đem lại hiệu quả kinh tế cao mà viêc chăm sóc. Nuôi dưỡng không khó chỉ là mới với người chăn nuôi. 3. Kết luận Cùng với các ngành chăn nuôi khác thì ngành chăn nuôi lợn rừng đang rất phát triển. Điều đó cũng là nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đến công tác giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng không ngừng nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ngày nay ngành chăn nuôi lợn ở nhiều nơi đã phát triển theo hướng công nghiệp mang lại lợi nhuận cho ngươig chăn nuôi. Việc chăn nuôi lợn rừng đang dần phát triển với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của người nông dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quí hiếm. Hiện nay lợn rừng đang được nhiều người trong nước ta ưa chuộng. Thuần hoá lợn rừng, lai tạo lợn rừng với lợn nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng. Với hướng phát triển kinh tế trang trại hiên nay thì chăn nuôi lợn ngày càng được chú trọng phát triển. Nó giúp giải quyết công việc cho số lao động dư thừa và còn đem lại thu nhập cao cho người nông dân.Ngành chăn nuôi đang là ngành mũi nhọn trong nền nông nghiệp nước nhà nói chung. Tài Liệu Tham Khảo 1. Đào Lệ Hằng _Kỹ thuật cơ bản nuôi lợn rừng_Nhà xuất bản Hà nội. 2. Đào Lệ Hằng_45 câu hỏi đáp chăn nuôi lợn rừng_Nhà xuất bản Hà nội. 3. Ts.Đỗ Kim Tuyên (Chủ biên)_Nuôi lợn rừng_Nhà xuất bản Nông nghiệp. 4. Ts.Trần Văn Phùng và cs_Giáo trình chăn nuôi lợn_2004_Nhà xuất bản Nông nghiệp. 5. PGS.Ts.Từ Quang Hiển và cs_Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng gia súc_2001_Nhà xuất bản Nông nghiệp. 6. 7. www.khuyennongvn.gov.vn/ 8. 9. 10.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCác phương pháp chế biến thức ăn cho lợn rừng.doc
Luận văn liên quan