Tiểu luận Chính sách xóa đói giảm nghèo

Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác. Đồng thời nó còn tạo ra nhiều c ơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động v.v

pdf53 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 26/08/2014 | Lượt xem: 2693 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Chính sách xóa đói giảm nghèo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 23 Cả 2 Đồng bằng 46,3 47,2 54,6 60,3 55,3 TD- MN 48,8 51 42,1 48,5 51,9 Chung 53,1 54,6 51,2 58 58,7 Người khác Đồng bằng 3,2 3,7 0,9 2,8 3,9 TD- MN 1,9 1,8 1,3 1,8 1,6 Chung 2,1 2,4 1,7 2,3 2,5 Hơn nữa, nếu xét cụ thể thì một số công việc lớn như xây dựng nhà cửa hoặc mua sắm tài sản lớn thì tỉ lệ người chồng quyết đình chiếm một vị trí tương đối cao so với người vợ. Những khoản chi tiêu khác không lớn mà người vợ thường ó tỷ lệ quyết định nhiều hơn người chồng như học hành của con là một ví dụ. Rõ ràng, tâm lý truyền thống đã ảnh hưởng đến vai trò của người chồng trong những quyết định liên quan đến tài sản bảo lưu trong không ít những gia đình hiện nay, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong văn hóa của ta. Do vậy, mối quan hệ bình đẳng trong sở hữu tài sản của vợ và chồng vẫn còn có phần nghiêng về người chồng nhiều hơn, trong khi bản thân người vợ lại thường chấp nhận vai trò là một người mẹ với con cái nhiều hơn, đó cũng là thiên chức vốn có của người phụ nữ. 3.2. Quyền quyết định sử dụng đất Luật Đất đai và Luật Hôn nhân và Gia đình đảm bảo cho phụ nữ và nam giới được hưởng các quyền như nhau đối với đất đai (Xem thêm Điều 15). Nghị định 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định : các hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây mà chỉ ghi tên chủ hộ thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên cả vợ và chồng. Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 24 Trên thực tế, phụ nữ còn thụ động, ít có cơ hội tham gia vào quá trình giao đất một phần là do chưa nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong vần đề đất đai, mặt khác do phong tục, tập quán lâu đời của nông thôn Việt Nam, người chồng thường là chủ hộ, nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cũng như sổ địa chính của địa phương đều chỉ đăng ký tên chủ hộ. Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia quyền sử dụng đất khi ly hôn, khi đi lấy chồng hoặc nhận thừa kế quyền sử dụng đất khi người chồng qua đời. Tính đến cuối năm 2002, cả nước đã cơ bản hoàn thành việc giao ruộng đất cho gần 12 triệu hộ nông dân sử dụng đất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho 91,74% số hộ, chiếm khoảng 87,02% diện tích đất nông nghiệp. Số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do phụ nữ đứng tên chiếm khoảng 10-12% do chủ hộ là nữ độc thân hay góa chồng. Một trong những cách chính để tiền tệ hóa tài sản là sử dụng đất để thế chấp vay vốn. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy trong số những phụ nữ bị từ chối không được vay vốn, 20% nói rằng lý do là vì họ không có vật thế chấp (Quỹ phát triển khu vực tư nhân Mêkông 2006). Mặc dù phong tục truyền thống của Việt Nam thừa nhận cả phụ nữ và nam giới đều được thừa kế đất đai nhưng trên thực tế, ít phụ nữ được đứng tên chủ sử dụng đất. Mặc dù đất đai đã được cấp cho các hộ gia đình nông thôn từ năm 1988 nhưng đa số giấy CNQSDĐ đều do nam giới đứng tên. Bản sửa đổi Luật đất đai năm 2003 quy định tất cả giấy CNQSDĐ mới phải bao gồm têncủa cả hai vợ chồng. Cho dù đây là một bước đi đúng hướng và sẽ đảm bảo rằng rất nhiều phụ nữ tiếp cận được với đất đai và vốn tín dụng nhưng Luật lại không yêu cầu sửa đổi các giấy CNQSDĐ được cấp từ trước. Có 81% các hộ gia đình trong điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004 có giấy CNQSDĐ cho một phần đất đai của Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 25 họ. Bảng 7 dưới đây phân chia các loại giấy CNQSDĐ theo người đứng tên chủ sử dụng đất. 20 Đối với gia đình Việt Nam, dù ở nông thôn hay ở thành phố, nhà ở, đất đai (đất ở, đất canh tác, đất lâm nghiệp) luôn có giá trị đặc biệt lớn và rất quan trọng trong khối tài sản được coi là bất động sản của mỗi hộ gia đình. Trước đây theo truyền thống, phần lớn nam giới là người đứng tên chủ sở hữu các tài sản thuộc về chủ hộ. Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam cho biết, có 79,7% hộ gia đình ở đồng bằng và 82,1% hộ gia đình ở trung du – miền núi do nam giới làm chủ hộ đang đứng tên chủ sở hữu nhà ở và đất ở. Còn tại thành phố, do tỷ lệ phụ nữ được phân nhà dưới thời bao cấp cao, nên số phụ nữ đứng tên chủ sở hữu nhà cao hơn ở nông thôn, tỷ lệ này là 19,2% và chỉ có 49,8% nam giới đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở. 21 Bảng 4. Nếu chỉ có một người đứng tên chủ sử dụng đất trong giấy tờ, thường đó là nam giới Loại đất Chủ sử dụng đất Chỉ nam giới Chỉ phụ nữ Cả hai Đất nông nghiệp hàng năm 66 19 15 Đất ở 60 22 18 Nguồn: NHTG, 2006 sử dụng số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2004. 20 Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, 12/2006, tr. 45 21 TS. DOÃN HỒNG NHUNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Pháp luật đất đai và quyền lợi của phụ nữ, ngày cập nhật: 6/9/2010 Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 26 Trong một nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình22 ở một xã ở miền núi, đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ, cũng đã phản ánh được thực trạng trên, khi mà ở Quận Khê, người đàn ông thường sở hữu đất đai, dòng họ quan niệm và suy tôn giá trị của người đàn ông trong gia đình. Mặt khác, người đàn bà khi về nhà chồng không thể mang theo đất đai nên họ cùng sử dụng với người chồng và coi việc đứng tên tài sản đó là hợp lý. Khoảng cách quá lớn trong bảng đưới đây cho thấy vị trí hơn hẳn của người chồng so với người vợ trong việc nắm giữ tài sản đất đai, không liên quan đến vai trò kinh tế cá nhân của người vợ và người chồng. Bảng 5: Người đứng tên sở hữu đất đai (% ý kiến người trả lời) Đứng tên sở hữu/ sử dụng nhà ở Đứng tên sở hữu/ sử dụng đất thổ cư Đứng tên sử dụng đất canh tác Vợ 90,7 92,0 87,7 Chồng 4,0 4,0 7,3 Người khác 5,3 4,0 4,0 Một nghiên cứu khác cũng cho thấy23, tuy không thành luật nhưng mọi người đều thừa nhận rằng đứng tên trên giấy tờ sử dụng nhà ở thường là người chủ hộ, thực tế này xuất phát từ hai nguyên nhân: Nhà ở thường do kế thừa hoạc do gia đình nhà chồng xây dựng cho các đôi vợ chồng mới cưới. 22 Đặng T hanh Phúc- Nguyễn Phương Thảo, Thực trạng và nhận thức về bình đẳng giới của phụ nữ một xã miền núi, Tạp chí Khoa học Phụ nữ, số 3 (46), 2001, Tr. 26.- 29 23 Nguyễn Linh Khiếu, Phụ nữ tiếp cận và quản lý một số nguồn lực phát triển của gia đình, Tạp chí Khoa học Phụ nữ, số 5, 2001 Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 27 Khi cấp hoặc chia nhà bao giờ cũng chia cho người chủ hộ, do đó giấy tờ mang tên họ Vì thế ở nước ta tỉ lệ người chồng, nam giới đứng tên giấy tờ sở hữu nhà ở chiếm tỉ lệ cao. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là, riêng ở thành phố, thời bao cấp nhà nước, chính sách phân phân phối nhà chủ yếu lấy người phụ nữ ở thành phố cao hơn so với phụ nữ nông thôn là người đứng tên các giấy tờ sở hữu nhà ở. Nếu xét tương quan người đứng tên giữa vợ và chồng thì tỉ lệ người chồng đứng tên trên giấy sở hữu nhà là 74,4% và người vợ là 13,1%. Còn nếu tương quan nam nữ đứng tên trên giấy tờ là nam 80% và nữ là 17,3% Bảng 6: Người đứng tên trên giấy sở hữu nhà theo giới (%) Vợ Chồng Cả 2 Con gái Con trai Bà Ông Người khác Nam 5,7 84,0 0,6 - 0,9 4,1 3,1 1,6 Nữ 19,5 66,0 1,3 0,4 0,8 5,6 4,8 1,8 Chung 3,1 74,4 1,0 0,2 0,8 4,0 9,8 1,7 Nếu xét tương quan giữa chồng và vợ với tư cách là người đứng trên giấy tờ sở nhà ở trong cộng đồng dân cư trung du thì đối với người kinh, chồng đứng tên chiếm 79% còn người vợ đứng tên chiếm 16,2% Bảng 7: Người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà theo điều tra (%) Vợ Chồng Cả 2 Con gái Con trai Bà Ông Người khác Thành phố 19,2 49,8 2,7 - 0,7 11,8 11,4 4,4 Đồng bằng 10,0 79,7 0,8 0,4 0,7 3,0 4,4 1,0 TD - MN 14,1 82,1 - - 1,1 0,4 1,1 1,1 Chung 13,1 74,4 1,0 0,2 0,8 4,0 4,8 1,7 Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 28 Vấn đề người đứng tên trên giấy tờ trở nên quan trọng khi người sử dụng dùng nhà ở như một tài sản để thế chấp vay vốn sản xuất kinh doanh và phân chia tài sản sau ly hôn. Đây chính là một một sự hạn chế, bất lợi đối với người người phụ nữ, người vợ trong gia đình và xã hội. Như thế, mặc dù có một tỉ lệ nhất định đất nhà ở đứng tên sở hữu của người phụ nữ nhưng nhìn chung, nam giới, người chồng là người đứng tên chủ sử dụng nhà ở là chủ yếu. Điều này thống nhất ở cả 3 vùng điều tra ở các độ tuổi khác nhau, các trình độ văn hóa và ở các cộng đồng dân tộc khác nhau 3.3. Quan hệ giới và sự thiếu quyền quyết định trong nghề nghiệp Sự tham gia của phụ nữ vào chính trị và ra quyết định chưa đạt được tiến triển như ở các lĩnh vực khác. Trong số các quốc gia Đông Á và Thái Bình Dương, Việt Nam có tỷ lệ phụ nữ tham gia nghị trường cao nhất. Trên thế giới, Việt Nam cũng đứng hàng cao, xếp thứ 18 về số đại biểu quốc hội là nữ. Tỷ lệ ở cấp quốc gia cũng cho thấy một vài cải thiện qua các khóa quốc hội liên tiếp (Hình 7). Tuy nhiên, tỷ lệ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005- 2010, chỉ đạt 13,5%, trong khi mục tiêu đặt ra trong KHHĐ vì sự tiến bộ của Phụ nữ lần thứ 2 là 15% (Bộ KH&ĐT/Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ 2006). Trong các cơ quan Quốc hội, phụ nữ thường có mặt nhiều ở các Ủy ban tập trung vào các vấn đề chính trị “mềm”. Ví dụ, các Ủy ban về các vấn đề xã hội, Ủy ban văn hóa, giáo dục và thanh niên có 40% là phụ nữ. Tương tự, Ủy ban dân tộc thiểu số có 44% là nữ giới. Ngược lại với điều này, ở các Ủy ban mang tính chiến lược lại có rất ít phụ nữ: 13% ở Ủy ban ngân sách và kinh tế, hay 0% ở Ủy ban quốc phòng và an ninh (ADB 2005). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 29 Biểu đồ 3. Tỷ lệ nữ trong các hội đồng nhân dân (Nguồn: báo cáo hành chính của Văn phòng quốc hội) Chính quyền địa phương bao gồm ba cấp: tỉnh, huyện và xã. Mỗi cấp đều có một Hội đồng nhân dân do người dân bầu ra, đóng vai trò giám sát và một Ủy ban nhân dân được bổ nhiệm có quyền ra quyết định. Sự tham gia của phụ nữ vào Hội đồng nhân dân các cấp đã tăng lên cho tới cấp quốc gia (Bộ KH&ĐT/Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ 2006). Ở cấp hành chính công trung ương, có rất ít phụ nữ nắm các chức vụ lãnh đạo (Bảng 5). Ở cấp trung ương trong năm 2005, người đứng đầu hoặc cấp phó các sở, ban, ngành là nữ chỉ chiếm tương ứng là 6% và 14% (Bộ KH&ĐT-Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 30 2006). Ở các cấp địa phương, đa số các sở và ở hầu hết các lĩnh vực hầu như không có phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Bảng 8. Tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp trung ương (%) Cấp 1987-1991 1992-1996 1997-2002 2005 Bộ trưởng và cấp tương đương 10 12 13 12 Phó bộ trưởng và cấp tương đương 7 7 9 9 Giám đốc sở và cấp tương đương 13 13 12 6 Phó giám đốc sở và cấp tương đương 9 12 8 14 Giám đốc ban, cục 25 Phó giám đốc ban, cục 33 Nguồn: TCTK-Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam 2005, Bộ KH&ĐT/Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam `2006, KHHĐ vì sự tiến bộ của phụ nữ 3 Đáng lo lắng hơn là ở một số lĩnh vực có sự giảm sút của đại diện nữ giới trong thập kỷ vừa qua, ví dụ như bộ máy tư pháp là nơi mà số lượng nữ giới ở cấp huyện giảm 13% trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến 2003.24 24 Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam, 12/2006, tr. 34 Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 31 4. Vai trò của phụ nữ trong tấn công nghèo đói Các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước về phụ nữ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập tiếp tục khẳng định và nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia của cả hệ thống chính trị đối với công tác phụ nữ, đặc biệt là sự nỗ lực của bản thân phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển chung của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới. Phụ nữ nông dân, những người giữ vai trò chủ đạo trong trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ chế biến…đã tham gia ngày càng tích cực, có hiệu quả các hoạt động khuyến nông, các hoạt động phổ biến, hướng dẫn ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất… tích cực tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật góp phần tạo ra sản phẩm cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Một bộ phận phụ nữ phát triển kinh tế trang trại và doanh nghiệp hộ gia đình, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường. Góp phần bảo đảm an ninh lương thực và giữ vững vị trí là nước xuất nhập khẩu gạo trên thế giới. Thực hiện Nghị quyết của Đảng và Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã đề ra chương trình hành động thiết thực, vận động phụ nữ cả nước tham gia tích cực vào công cuộc xoá đói giảm nghèo. Các mô hình cho vay tín dụng nhỏ từ các chương trình việc làm, xoá đói giảm nghèo, kinh tế trang trại, đã giúp phụ nữ vừa có việc làm, vừa tăng thu nhập cho gia đình. Đặc biệt các cấp Hội phụ nữ được Chính phủ cho phép đứng ra làm tín chấp để tổ chức cho hội viên vay vốn làm kinh tế gia đình. Hàng năm, có khoảng 30% trong tổng số dự án nhỏ do các cấp Hội phụ nữ đứng ra tổ chức cho phụ nữ vay. Mức thu nhập bình quân của người làm kinh tế gia đình bằng khoảng 40-60% và khoản thu nhập này đã đóng góp vào tăng thu nhập cho bản Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 32 thân và gia đình họ.( vov.vn). Từ năm 2006 đến năm 2010, tỉnh đã giải quyết cho 65.614 lượt hộ nghèo vay vốn với số tiền 653,8 tỷ đồng trong đó có 45.415 lượt hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ”25, “Theo bà Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thông qua các phong trào thi đua với sự tham gia chủ động, tích cực của chính bản thân người phụ nữ như phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”… với nội dung chủ yếu là vận động phụ nữ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần “ai có gì giúp nấy, người khó ít giúp người khó nhiều”, với nội dung, hình thức phù hợp đã thu hút đông đảo chị em phụ nữ tham gia, trở thành phong trào quần chúng rộng lớn trong cả nước. Hàng triệu ngày công giúp nhau khi ốm đau, lúc vào vụ đến hàng triệu cây, con giống, hàng trăm tỷ đồng cho nhau vay không lấy lãi được chị em phụ nữ mọi tầng lớp, kể cả bản thân phụ nữ nghèo cùng tham gia, góp phần quan trọng giúp chị em nghèo vượt qua khó khăn, vừa phát huy được nội lực, vừa duy trì phát triển sự bền vững của chương trình.” 26 Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp. Trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Lao động nữ đã tham gia ngày càng nhiều trong khu vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành và lĩnh 25(Theo nt_view) 26(Theo Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 33 vực kinh tế có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao và khu vực dịch vụ, khu vực kinh tế phi chính thức. Trong khoa học và công nghệ, tỷ lệ nữ đã tăng lên rõ rệt: Khoa học tự nhiên 36,64%; khoa học nông – lâm, thuỷ sản 43,42%, khoa học công nghệ 33%; khoa học xã hội và nhân văn 38,27%. Trong các cơ sở nghiên cứu đã có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ, 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do phụ nữ làm chủ nhiệm. Đội ngũ cán bộ khoa học nữ đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại, ngày càng nhiều cá nhân và tập thể các nhà khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIPHOTEC, giải thưởng Covalevskaia, giải thưởng phụ nữ Việt Nam, Bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam…( vanhien.vn) Trong ngành giáo dục đào tạo, phụ nữ chiếm tỷ lệ gần 70%. Trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, đội ngũ nữ trong ngành y tế đã phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức, đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong hoạt động văn hóa thông tin, báo chí, thể thao, đội ngũ nữ văn nghệ sỹ, nhà báo, biên tập viên, huấn luyện viên, vận động viên đã phát huy tài năng, trí tuệ đóng góp cho sự phát triển văn hóa, thông tin, nghệ thuật, thể thao nước nhà. Phong trào phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càng phát triển. Đặc biệt, với thành tích xuất sắc, đội bóng đá, bóng chuyền nữ và nhiều nữ vận động viên đã làm rạng danh đất nước trong thi đấu thể thao khu vực và quốc tế. Vai trò của phụ nữ ngày càng được nâng cao. Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động. Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chỉ cần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 33,1% đại Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 34 biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới. Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004.... Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển. Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và tài sản. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đặc biệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành và toàn bộ 64 tỉnh, thành phố. Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường, Luật Bình đẳng giới chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2007. Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 35 4.1. Phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị - xã hội. Đây chính là vai trò quan trọng của phụ nữ trong tấn công nghèo đói, và xóa đi khoảng cách của sự bất bình đẳng giới Đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ Việt Nam đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực thúc đẩy chung của xã hội; vừa dung hòa những bản sắc truyền thống vốn có của mình, vừa thích ứng với những thay đổi mới của xã hội và hội nhập với văn hóa toàn cầu. Phụ nữ không chỉ giỏi trong công việc nhà mà còn tích cực tham gia và gặt hái nhiều thành công trong các lĩnh vực xã hội. Vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ngày càng được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết, đặc biệt là vai trò của họ trong tấn công nghèo đói. Nghị quyết của Đảng chỉ rõ phụ nữ Việt Nam “là người lao động, người công dân, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người”.) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”. Các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà nước về phụ nữ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập tiếp tục khẳng định và nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự tham gia của cả hệ thống chính trị đối với công tác phụ nữ, đặc biệt là sự nỗ lực của bản thân phụ nữ để chị em tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn vai trò của mình trong tấn công nghèo đói, giúp cho sự phát triển chung của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới. Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 36 Trong thời kỳ CNH – HĐH, người phụ nữ càng phải chịu nhiều đòi hỏi khắt khe của xã hội hiện đại. Bên cạnh vai trò quan trọng trong gia đình, người phụ nữ còn tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Phụ nữ có mặt trong hầu hết các công việc và nắm giữ nhiều vị trí quan trọng. Ngày càng nhiều người trở thành chính trị gia, các nhà khoa học nổi tiếng, những nhà quản lý năng động. Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặt của người phụ nữ là không thể thiếu như ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghiệp dịch vụ, v.v... “Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động của Hội nghị thế giới lần thứ 4 về phụ nữ tại Bắc Kinh, vai trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động. Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Chỉ cần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30%. Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới. Có tới 71% phụ nữ Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 37 từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập. Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004.... Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển. Trong bài phát biểu tại buổi toạ đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc UNIFEM và Hội phụ nữ Việt Nam tổ chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Chủ tịch Hội phụ Nữ Việt Nam – Bà Hà Thị Khiết đã tôn vinh người phụ nữ Việt Nam: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại”.27 “Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều hơn trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp. Tỷ lệ nữ đảng viên mới kết nạp chiếm từ 25 đến trên 30% trong tổng số đảng viên mới kết nạp. Trong Ban chấp hành TW Đảng khoá X, có 02 nữ tham gia Ban bí thư TW Đảng, nữ uỷ viên chính thức BCHTW Đảng chiếm tỷ lệ 7,5% dự khuyết chiếm 14,29%. 27 (Trích trong bài báo: “Vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước”- ở báo Hậu Giang - Th.s Lê Thị Linh Trang ) Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 38 Nhiệm kỳ 2006 – 2010, nhiều bộ, nghành, địa phương tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ Đảng đạt từ 15 đến trên 20%; trên cả nước có 03 chị Bí thư tỉnh uỷ, 05 chị phó bí thư Tỉnh uỷ, Thành ủy. Trong Quốc Hội, khoá X, nhiệm kỳ 1997 – 2002, tỷ lệ phụ nữ đạt 26,2% khoá XI, nhiệm kỳ 2002 – 2007 đã tăng lên 27,3%, đến khóa XII, nhiệm kỳ hiện tại tỷ lệ nữ tuy chỉ còn 25,76% nhưng số đại biểu nữ giữ các trọng trách quan trọng trong Quốc hội tăng lên: có 03 người là Uỷ viên, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, trong đó 01 Phó chủ tịch Quốc hội, 02 chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội và 72 người là uỷ viên các Uỷ ban, Hội đồng. Ở nhiệm kỳ trước, đại biểu nữ thường chiếm tỷ lệ cao trong các uỷ ban mang tính xã hội, thì trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII, đại biểu nữ đã tham gia vào Uỷ ban quốc phòng và An ninh, Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường. Số lượng nữ là thành viên UBND các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009 cũng tăng lên đáng kể. Đội ngũ cán bộ, công chức nữ tăng cả số lượng và chất lượng. Nhiều phụ nữ được bổ nhiệm đề bạt giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ TW đến địa phương. Trong khoa học và công nghệ, tỷ lệ nữ đã tăng lên rõ rệt: Khoa học tự nhiên 36,64%; khoa học nông – lâm, thuỷ sản 43,42%, khoa học công nghệ 33%; khoa học xã hội và nhân văn 38,27%. Trong các cơ sở nghiên cứu đã có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ, 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do phụ nữ làm chủ nhiệm. Đội ngũ cán bộ khoa học nữ đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại, ngày càng nhiều cá nhân và tập thể các nhà khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIPHOTEC, giải thưởng Covalevskaia, giải thưởng phụ nữ Việt Nam, Bằng lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam… Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 39 Trong ngành giáo dục đào tạo, phụ nữ chiếm tỷ lệ gần 70%. Trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, đội ngũ nữ trong ngành y tế đã phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện y đức, đóng góp tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong hoạt động văn hóa thông tin, báo chí, thể thao, đội ngũ nữ văn nghệ sỹ, nhà báo, biên tập viên, huấn luyện viên, vận động viên đã phát huy tài năng, trí tuệ đóng góp cho sự phát triển văn hóa, thông tin, nghệ thuật, thể thao nước nhà. Phong trào phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng ngày càng phát triển. Đặc biệt, với thành tích xuất sắc, đội bóng đá, bóng chuyền nữ và nhiều nữ vận động viên đã làm rạng danh đất nước trong thi đấu thể thao khu vực và quốc tế”. 28 4.2. Vai trò của phụ nữ trong hoạt động kinh tế Trong lĩnh vực kinh tế và lao động, phụ nữ có vị trí ở mọi ngành nghề, công việc. Trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Lao động nữ đã tham gia ngày càng nhiều trong khu vực phi nông nghiệp, đặc biệt là các ngành và lĩnh vực kinh tế có yêu cầu kỹ thuật, công nghệ cao và khu vực dịch vụ, khu vực kinh tế phi chính thức. 28 (Trích trong bài báo: “Vai trò phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”, ở trang web Văn hiến Việt Nam-Diễn đàn trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc – Tác giả: Hoàng Thị Ái Nhiên). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 40 Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và tài sản. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Đặc biệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành và toàn bộ 64 tỉnh, thành phố. Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường, Luật Bình đẳng giới chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2007.29 Trong cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, đã xuất hiện đội ngũ cán bộ nữ doanh nhân thành đạt trên các lĩnh vực. Họ là nhà quản lý năng động – giám đốc, tổng giám đốc… các công ty, chủ doanh nghiệp. Chị em đã năng động bám sát thị trường, nhanh nhạy nắm bắt và xử lý thông tin, kịp thời đổi mới thiết bị và công nghệ, sản xuất những sản phẩm có chất lượng, góp phần khẳng định thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế. Nét nổi bật của đội ngũ nữ doanh nhân là không chỉ lãnh đạo sản xuất, kinh doanh giỏi mà còn tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện chăm lo giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn vươn lên hội nhập cùng cộng đồng. 4.3. Phụ nữ cả nước tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, khuyên góp vào các quỹ để giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn → làm giảm đi số hộ nghèo ở nước ta 29 (Trích trong bài báo: “Vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước”- ở báo Hậu Giang - Th.s Lê Thị Linh Trang ). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 41 Thành tựu xoá đói giảm nghèo của đất nước những năm qua có sự đóng góp to lớn của phụ nữ. Ngày càng có nhiều phụ nữ vượt nghèo thành công, vươn lên làm giàu bằng sức lao động sáng tạo và nghị lực của chính mình, được cộng đồng xã hội tôn vinh. Phát huy truyền thống tương thân tương ái, phụ nữ cả nước đã đóng góp tích cực vào các hoạt động vì người nghèo. Nhiều tập thể, cá nhân đã trở thành những điển hình tiên tiên tiến trên mặt trận chống đói nghèo. Hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được các tầng lớp phụ nữ cả nước tích cực tham gia thường xuyên có hiệu quả. Năm năm qua, phụ nữ nước nhà đã quyên góp ủng hộ hàng trăm tỷ đồng xây dựng nhà tình nghĩa, mái ấm tình thường, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, khó khăn hoạn nạn… Nhiều việc làm từ thiện của phụ nữ, trong đó có đóng góp lớn của phụ nữ các tôn giáo, đã góp phần giảm bớt nỗi đau cho những người bất hạnh. Với những đóng góp xứng đáng trong lịch sử phát triển của dân tộc, thời kỳ kháng chiến, phụ nữ Việt Nam được Bác Hồ phong tăng Tám chữ vàng “Anh Hùng, Bất Khuất, Trung Hậu, Đảm Đang” thời kỳ đổi mới của đất nước, Đảng ta đã khen ngợi phẩm chất “Trung Hậu, Đảm Đang, Tài Năng, Anh Hùng” của phụ nữ. Đó không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn là sự thừa nhận và đánh giá vai trò lớn của phụ nữ Việt Nam”.30 4.4. Phụ nữ nông thôn có vai trò quan trọng trong việc tấn công nghèo đói 30 (Trích trong bài báo: “Vai trò phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”, ở trang web Văn hiến Việt Nam-Diễn đàn trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc – Tác giả: Hoàng Thị Ái Nhiên). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 42 4.4.1. Phụ nữ nông thôn giữ vai trò chính trong sản xuất nông nghiệp, đã áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao Phụ nữ nông thôn chiếm 50,8% dân số và khoảng 49% lao động nông thôn (năm 2002). Năm 2002, tỷ suất hoạt động kinh tế của phụ nữ nông thôn tương đối cao, đạt 71% (phụ nữ thành thị đạt 56%). - Với mức 65% lực lượng lao động trong sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã có đóng góp rất quan trọng vào thành tựu sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp của nước ta. (Theo báo cáo CEDAW lần 5). - Phụ nữ nông thôn tham gia hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp, nhiều khâu giữ vai trò chính (chiếm tới 70 - 80% lực lượng lao động) như gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, chăn nuôi. Phụ nữ chiếm 60- 70% lao động trong các nghề như đan lát, bện tết (mây, tre, nứa), thêu ren, ươm tơ, dệt vải, dệt chiếu, chế biến lương thực, thực phẩm vv... Phụ nữ nông dân, những người giữ vai trò chủ đạo trong trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ chế biến…đã tham gia ngày càng tích cực, có hiệu quả các hoạt động khuyến nông, các hoạt động phổ biến, hướng dẫn ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất… đã mạnh dạn tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và phương pháp làm ăn mới, góp phần tạo ra sản phẩm cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao. Một bộ phận phụ nữ đã mạnh dạn phát triển kinh tế trang trại và doanh nghiệp hộ gia đình, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường. Góp phần bảo đảm an ninh lương thực và giữ vững vị trí là nước xuất khẩu gạo trên thế giới. Tình hình phụ nữ tham gia các hoạt động khuyến nông đã được cải thiện. Với ưu điểm là cẩn thận, chuyên cần, chu đáo và là người tham gia vào hầu hết các khâu trong quá trình Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 43 canh tác nông nghiệp nên việc áp dụng khoa học công nghệ của phụ nữ khá hiệu quả. Theo số liệu điều tra của Hội LHPNVN năm 2003, cả nước có 2.796.685 phụ nữ tham gia vào hướng dẫn, phổ biến, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới. 31 4.4.2. Phụ nữ nông thôn đã tham gia xây dựng, thực hiện kế hoạch phát triển và hoạt động cộng đồng Hội LHPNVN đã có kế hoạch cụ thể hướng dẫn cho các cấp hội vận động phụ nữ tham gia như: tích cực đi họp, chủ động tham gia bàn bạc các chủ trương và quy định đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội tại địa bàn v.v... Việc ban hành Nghị định 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (với nhiều quy định mới) đã tạo thêm các cơ hội thuận lợi cho phụ nữ tham gia bàn bạc, quyết định, thực hiện và giám sát các kế hoạch phát triển ở cơ sở. Bên cạnh đó, phụ nữ còn có tiếng nói đại diện thông qua hoạt động và những đóng góp của các cấp hội phụ nữ trong quản lý nhà nước ở các địa phương theo tinh thần Quyết định số 163/HĐBT năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng và nay là Nghị định số 19/2003/NĐ-CP của Chính phủ. Kết quả đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp của các trường đại học, trung học và dạy nghề nông, lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT cho thấy, tỷ lệ nữ sinh trúng tuyển năm học 2002-2003 là: đại học 27,58%, cao đẳng 52,66%, trung học 52,89% và dạy nghề 27,9%. Năm 2002, tỷ lệ nữ tham gia đào tạo ở các bậc học có sự khác 31 (Theo báo cáo CEDAW lần 5). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 44 nhau: Tiến sĩ 18,70%, Thạc sĩ 57,4%, Đại học 11,8%, Trung học 40,8% và dạy nghề 13,4%. 32 4.4.3. Phụ nữ nông thôn ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận tín dụng để vay vốn làm ăn → giảm đi số hộ nghèo Hiện nay, phụ nữ có thể vay vốn sản xuất kinh doanh từ các nguồn: quỹ của Hội phụ nữ, nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm, vốn “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, vốn ưu đãi cho hộ nghèo, Quỹ xóa đói giảm nghèo, Ngân hàng nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng chính sách xã hội... Theo thống kê của Hội LHPNVN, năm 2003 cả nước có 3,55 triệu phụ nữ được tiếp cận vốn vay từ các nguồn nói trên; số phụ nữ nghèo được vay vốn là 1,04 triệu người. Hiện nay nhà nước đã xây dựng các chợ đường biên, chợ cá, chợ rau, chợ nổi ở đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng các trung tâm buôn bán ở các vùng hàng hóa tập trung nhằm giúp phụ nữ nông thôn mua, bán nông sản thuận lợi tạo điều kiện phát triển kinh tế, tăng thu nhập. 33 4.4.4. Tỷ lệ nữ tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp ngày càng cao hơn trước → giúp họ có thu nhập → khẳng định được vị trí của mình trong gia đình và xã hội 32 (Theo báo cáo CEDAW lần 5). 33 (Theo báo cáo CEDAW lần 5). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 45 Riêng trong hoạt động tư pháp, tỷ lệ nữ thẩm phán tại Toà án Nhân dân Tối cao chiếm 22%; tại toà án cấp tỉnh thành là 27%; tại toà án cấp quận, huyện là 35%. Tính đến hết quý I/2003, nữ luật sư trong cả nước chiếm 20%, có 12,75% văn phòng luật sư và công ty luật do phụ nữ đảm trách.34 4.4.5. Phụ nữ ngày nay đã được tự do kinh doanh theo ý thích, ít bị phân biệt đối xử → thu nhập gia đình tăng lên → giảm nghèo đói Quy định này đã tạo ra một khung pháp lý mềm dẻo, thông thoáng hơn, bảo đảm cho phụ nữ dễ dàng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao địa vị của người phụ nữ trong xã hội. Theo báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trong 4 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, có trên 27% người mới đăng ký kinh doanh là phụ nữ và 40% hộ gia đình tổ chức sản xuất kinh doanh phụ nữ quản lý, điều hành. Năm 2003, ở Việt Nam, lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao trong các doanh nghiệp: khu vực doanh nghiệp Nhà nước là 42%; khu vực kinh tế tư nhân là 39%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 65%. Tỷ lệ nữ chủ doanh nghiệp tăng so với trước: giai đoạn 1990-1995, tỷ lệ nữ chủ doanh nghiệp là 15 - 17%; năm 2001 tỷ lệ này là 24,74%; năm 2002 tỷ lệ này là 20%. (Theo báo cáo CEDAW lần 5). ► Những khó khăn của phụ nữ Việt Nam hiện nay: 34 (Theo báo cáo CEDAW lần 5). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 46 - Hiện tại chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất là về mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và nữ giới. Không chỉ có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái độ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ mà ngay chính bản thân nhiều phụ nữ cũng hiểu biết mơ hồ từ đó có những thái độ lệch lạc và không thể có cách giải quyết đúng đắn các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống có liên quan đến vai trò, vị trí về giới của mình. Bà Rose Marie Greve, Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong buổi tọa đàm “Vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI” nói trên, đã từng nhận định: “Đã đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng phía trước chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm. Bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo và là một trong những cản trở cho sự phát triển bền vững. Người phụ nữ cần phải được bộc lộ hết khả năng của mình cũng như thực thi và hưởng các quyền của mình. Thiếu bình đẳng về giới gây cản trở cho phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các thành viên trong gia đình và xã hội. Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng định và phát huy vai trò của mình, phụ nữ Việt Nam có nhiều mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tế mang lại, nhưng đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua”.35 * Khó khăn của phụ nữ nông thôn: 35 (Trích trong bài báo: “Vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước”- ở báo Hậu Giang - Th.s Lê Thị Linh Trang ). Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 47 - Do quá trình công nghiệp hoá và đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp. Số lượng nông dân, chủ yếu là nam giới ra thành phố tìm việc làm ngày càng tăng, họ chỉ trở về nhà tham gia sản xuất nông nghiệp trong thời gian mùa vụ nên những công việc nặng nhọc trong gia đình đè lên vai người phụ nữ. Thời gian lao động được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở nông thôn đã tăng lên và đạt 77,65% (năm 2003), trong đó nữ là 77,36%. Bình quân một phụ nữ phải dành đến 13,6 giờ/tuần (năm 2002) cho các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình - những công việc không đem lại thu nhập. - Mặt khác, thu nhập của nữ nông dân nhìn chung thấp hơn và chỉ bằng 73% thu nhập của nam giới (năm 2002). Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là nữ chủ hộ độc thân, phụ nữ cao tuổi thuộc vào nhóm người nghèo dễ bị tổn thương nhất. - Phụ nữ dân tộc thiểu số còn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới vì ít quyền quyết định, trình độ học vấn và cơ hội cũng ít hơn. Về mặt luật pháp và chính sách, không có sự phân biệt đối xử giữa nông thôn và thành thị trong việc tiếp cận giáo dục. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng khá phổ biến ở nông thôn là khi gia đình gặp khó khăn về kinh tế thì học sinh nữ thường phải nghỉ học đi làm nhiều hơn nam. - Phụ nữ nông thôn còn thụ động, ít có cơ hội tham gia vào quá trình giao đất một phần là do chưa nhận thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong vấn đề đất đai, mặt khác do phong tục, tập quán lâu đời của nông thôn Việt Nam, người chồng thường là chủ hộ, nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cũng như sổ địa chính của địa phương đều chỉ đăng ký tên chủ hộ. Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia quyền sử dụng đất khi ly hôn, khi đi lấy chồng hoặc nhận thừa kế quyền sử dụng đất khi người chồng qua đời. Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 48 Một thực tiễn khá phổ biến hiện nay ở nước ta là đối với đồng bào dân tộc thiểu số cũng như đồng bào ở vùng nông thôn, người con gái khi đi lấy chồng trong nhiều trường hợp không được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ đẻ. Còn bản thân phụ nữ thì do có thói quen cam chịu, nên cũng không đòi hỏi quyền thừa kế của mình. Đây là tập quán lạc hậu, tạo ra sự bất bình đẳng trong việc thực hiện quyền thừa kế đối với phụ nữ, đòi hỏi các cơ quan hữu quan phải có biện pháp tuyên truyền, vận động để xoá bỏ. - Ở nông thôn Việt Nam, vẫn còn tồn tại một số phong tục tập quán với quan niệm bất bình đẳng giữa nam và nữ và không đảm bảo được quyền lợi của phụ nữ như quan niệm “thuyền theo lái, gái theo chồng”, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Chính phủ Việt Nam đang vận động xóa bỏ tập quán này và tuyên truyền người dân thực hiện theo pháp luật. ► Phương hướng trong thời gian tới: Phải xây dựng, khẳng định và phát triển vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ mới. * Về phía xã hội: Qua báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới: Đưa vấn đề giới vào phát triển – thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói (năm 2001), ta có thể tham khảo chiến lược ba phần mà các tác giả đã đưa ra và vận dụng hợp lý vào tình hình thực tế của Việt Nam, trong đó: - Thứ nhất: cải cách thể chế để tạo lập quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới. Cải cách pháp lý sẽ tăng cường bình đẳng giới rõ nét nhất qua: Luật hôn nhân gia đình, luật chống bạo hành, bạo lực, quyền về đất đai, luật lao động, quyền chính trị. Việc này sẽ tạo môi trường cho sự bình đẳng về cơ hội và quyền lực, hai yếu tố thiết yếu để đạt được Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 49 bình đẳng giới trên các phương diện khác như giáo dục, y tế và tham gia chính trị. Điều này Việt Nam chúng ta đã và đang thực hiện tốt (thể hiện ở các văn bản luật đã được thông qua và có hiệu lực thi hành, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII là 33,1%...); cần phát huy, nỗ lực tăng tỉ lệ nữ ở Hội đồng nhân dân 3 cấp và các cơ quan quản lý nhà nước. Cung cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho việc tiếp cận dành cho phụ nữ, như: hệ thống trường lớp, cơ sở y tế, chương trình cho vay vốn… - Thứ hai: Đẩy nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia và phân bố nguồn lực công bằng hơn. Phát triển kinh tế có xu hướng làm tăng năng suất lao động và tạo nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ, thu nhập cao hơn, và mức sống tốt hơn. Đầu tư có trọng điểm vào cơ sở hạ tầng và giảm bớt chi phí cá nhân cho phụ nữ khi thực hiện vai trò của họ trong gia đình sẽ có thể giúp họ có thêm thời gian để tham gia vào các hoạt động khác, dù là để tạo thu nhập hay làm công tác xã hội. Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của phụ nữ. Thiết kế chính sách thị trường lao động phù hợp, như về nghỉ đẻ, sa thải, dưỡng bệnh, nghỉ bắt buộc… trong việc sinh đẻ để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc trên thị trường, đồng thời chăm sóc gia đình. Cung cấp bảo trợ xã hội, an sinh xã hội phù hợp. - Thứ ba: Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự phân biệt giới trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói chính trị. Nhà nước nên thiết lập một môi trường thể chế bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng đến các nguồn lực và dịch vụ công cộng cho cả nam và nữ. Tăng cường tiếng nói của phụ nữ (sử dụng sáng kiến, ý tưởng) trong quá trình hoạch định chính sách. Ngoài ra có thể: Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 50 - Mở rộng các quan hệ hợp tác giao lưu, vừa phù hợp với xu hướng thời đại, vừa chia sẻ, trao đổi được kinh nghiệm quốc tế trong việc giài quyết các vấn đề về giới, đồng thời lại mở ra nhiều cơ hội học tập, làm việc cho phụ nữ. Tạo điều kiện trao đổi cởi mở các ý tưởng với phụ nữ, nâng cao tính minh bạch trong hoach định chính sách. - Triển khai giáo dục vấn đề về giới, bình đẳng giới và phát triển phổ biến trong xã hội. - Phát huy vai trò của tổ chức Hội phụ nữ, nhất là ở cơ sở. Các chiến lược này không chỉ có thể vận dụng vào quản lý xã hội ở cấp vĩ mô mà cón có thể vận dụng cụ thể vào hoạt động quản lý ở từng cơ sở. * Về phía cá nhân người phụ nữ: Mỗi thời kỳ có những cơ hội và yêu cầu mang tính lịch sử, muốn có thể khẳng định, phát huy vai trò của mình, và giảm nghèo đói đi thì bản thân người phụ nữ trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò về giới của mình, mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng xử bình đẳng giới. Muốn vậy, phụ nữ hiện đại cần nỗ lực nhiều mặt: - Có tri thức, văn hoá. Chúng ta đang hướng tới phát triển nền kinh tế tri thức, phụ nữ khi có tri thức sẽ có bản lĩnh hơn và có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong cuộc sống. Chẳng hạn như khi công nghệ thông tin phát triển, nhiều công việc yêu cầu sử dụng máy tính tăng lên, đây sẽ là cơ hội tốt cho những phụ nữ biết sử dụng vi tính nhưng lại sẽ trở thành rào cản cho những người không biết sử dụng. - Có ý thức cầu tiến, độc lập Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 51 - Sống có mục đích - Có khả năng giao kết thân thiện. Một số nghiên cứu hiện nay thừa nhận mối quan hệ giữa sự tham gia tích cực của phụ nữ vào đời sống xã hội với sự giảm bớt mức độ tham nhũng - Có kỹ năng sống: tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân, v.v… Để có được những điều này phụ nữ nên chịu khó học hỏi ở nhà trường, các tổ chức, đội nhóm, nhà văn hóa, câu lạc bộ… Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội để tích lũy tri thức và kinh nghiệm sống. Mở rộng các mối quan hệ giao lưu giao tiếp trong xã hội. Tạo thói quen suy nghĩ tích cực, sẵn sàng chia sẻ, siêng năng lao động, rèn luyện và chăm sóc sức khoẻ cho bản thân. Người phụ nữ Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới nếu được sự hỗ trợ tích cực từ phía khách quan, cùng với những nỗ lực chủ quan sẽ có cơ hội đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, tạo vị thế cho bản thân. Hi vọng họ sẽ không còn gặp những trở ngại về giới do những quan điểm không phù hợp nào đó, họ sẽ không còn nghèo khó nữa, không còn phải băn khoăn trong sự lựa chọn giữa sự nghiệp và gia đình, không còn gặp những rào cản không cần thiết từ các chính sách xã hội. Phụ nữ – dù trong thời đại nào cũng luôn có những vị trí không thể thay thế. Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 52 Như vậy có thể nói, trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và khẳng định vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của xã hội. Khi nền kinh tế của chúng ta càng phát triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội hơn. Nó phá vỡ sự phân công lao động cứng nhắc theo giới, cho phép phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị trường và khiến nam giới phải chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình. Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác. Đồng thời nó còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động v.v… Chính nhờ Đảng có sự lựa chọn đường lối đúng đắn cho sự phát triển của đất nước mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới là những bước khởi đầu thuận lợi. Hiện thời chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất là về mặt tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và nữ giới. Không chỉ có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái độ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ mà ngay chính bản thân nhiều phụ nữ cũng hiểu biết mơ hồ từ đó có những thái độ lệch lạc và không thể có cách giải quyết đúng đắn các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống có liên quan đến vai trò, vị trí về giới của mình. Bà Rose Marie Greve, Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong buổi tọa đàm “Vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI” nói trên, đã từng nhận định: “Đã đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng phía trước chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm. Bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo và là một trong những cản trở cho sự phát triển bền vững. Thành tựu xoá đói giảm nghèo của đất nước những năm qua có sự đóng góp to lớn của phụ nữ. Ngày càng có nhiều phụ nữ vượt nghèo thành công, vươn lên làm giàu bằng sức lao động sáng tạo và nghị lực của chính mình, được cộng đồng xã hội tôn vinh. Phát huy truyền thống tương thân tương ái, phụ nữ cả nước đã đóng góp tích cực vào các hoạt động vì Bài tập giữa kỳ môn Chính sách xóa đói giảm nghèo – Nhóm 5 53 người nghèo. Nhiều tập thể, cá nhân đã trở thành những điển hình tiên tiên tiến trên mặt trận chống đói nghèo.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfchuong_3_phu_nu_va_ngheo_doi_1354.pdf
Luận văn liên quan