Tiểu luận Công ty 100% vốn nước ngoài

Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung, vấn đề nâng cao chất lượng về thể lực, tầm vóc và trí lực cho toàn dân, giải quyết việc làm, ổn định và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân có ý nghĩa cơ bản. Vị trí của chiến lược nguồn nhân lực trong sự phát triển của thế giới hiện đại được xác định: - Con người đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển là tác nhân là mục đích của sự phát triển. Sự phát triển toàn diện con người là mục tiêu cuối cùng và cao nhất của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. - Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. - Phát triển con người vừa là tiền đề cho sự phát triển, vừa là hệ quả phản ánh kết quả của sự phát triển.

pdf46 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 20/12/2013 | Lượt xem: 1824 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Công ty 100% vốn nước ngoài, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ày, người tiêu dùng Việt Nam sẽ có thêm sự lựa chọn về chủng loại xe ga có kiểu dáng lịch lãm, khỏe khoắn và tiết kiệm nhiên liệu. Buổi lễ ra mắt đã thu hút sự chú ý của giới báo chí và giới yêu xe tại Hà Nội. Tháng 1/2011 Công ty TNHH Piaggio Việt Nam chính thức công bố phiên bản mới của Liberty – Liberty i.e., câu trả lời cho xu hướng tiêu dùng cá tính và phong cách. Với nửa triệu xe được bán ra trên thế giới trong 14 năm qua, Liberty đã trở thành hiện tượng về sự thành công thương mại của dòng xe tay ga bánh lớn, là lựa chọn hàng đầu của giới trẻ thành thị với phong cách năng động, sành thời trang. Được trang bị công nghệ phun xăng điện tử, dòng xe này vẫn đang tiếp tục “khuấy đảo” thị trường Việt Nam và khu vực. Tháng 4/2011 Công ty TNHH Piaggio Việt Nam đã tổ chức buổi họp báo giới thiệu dự án mở rộng nhà máy Piaggio Việt Nam tại Vĩnh Phúc. Nằm ngay cạnh nhà máy đầu tiên, nhà máy mới sẽ được trang bị những công nghệ và quy trình sản xuất mới nhất, nhờ đó tăng khả năng sản xuất từ 100,000 lên 300,000 sản phẩm một năm vào giữa năm 2012. Cũng trong tháng 4, công ty đã cho ra mắt dòng xe Vespa LX và Vespa S được trang bị công nghệ phun xăng điện tử. Với những cải tiến này, các dòng xe Vespa LX và Vespa S đã tiết kiệm được 40% lượng nhiên liệu tiêu thụ, giảm 50% lượng khí thải và được xếp vào hai trong số các mẫu xe thân thiện nhất với môi trường và đạt tiêu chuẩn EURO 3. Tháng 7/2011 Công ty TNHH Piaggio Việt Nam đã chính thức xuất xưởng chiếc xe tay ga thứ 100,000 sản xuất tại nhà máy Piaggio Việt Nam tại tỉnh Vĩnh Phúc, đánh dấu cột mốc quan trọng trong sự phát triển của Piaggio tại Việt Nam. Tại lễ chào mừng được tổ chức nhân sự kiện này, Ông Costantino Sambuy, Tông giám đốc Piaggio Việt Nam đã trân trọng trao tặng CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 23 chiếc xe thứ 100.000 này (Liberty 125 i.e) cho quỹ nhân đạo của Hội chữ thập đỏ Vĩnh Phúc dưới sự chứng kiến của Ông Hà Hòa Bình, Phó chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc và ông Hà Đình Kính, chủ tịch Hội chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 2/2012 Tập đoàn Piaggio chính thức giới thiệu ra thị trường Việt Nam sản phẩm xe máy tay ga Piaggio Fly hoàn toàn mới. Đây là phiên bản toàn cầu được phát triển dựa trên những nghiên cứu thị trường toàn cầu. Phiên bản Piaggio Fly mới là sự kết hợp hoàn hảo của sự thoải mái, thuận tiện, dễ sử dụng cùng phong cách và kiểu dáng Ý thanh lịch. Những đặc tính trên giúp cho Piaggio Fly trở thành đại sứ cho những giá trị của Piaggio trên toàn thế giới. 3.2 Công ty Piaggio Việt Nam và chiến lược maketing cho sản phẩm Vespa : 3.2.1 Quá trình mang thương hiệu sản phẩm đến với Việt Nam và quyết định thành lập công ty con ở Việt Nam – Công ty TNHH Piaggio Việt Nam Trong suốt quá trình ra đời và phát triển, những chiếc xe Vespa luôn luôn được xem là biểu tượng của đẳng cấp, sự lịch lãm và lãng mạn với phong cách Ý. Một chiếc xe tay ga với thiết kế trang nhã, thân thép liền khối và màu sắc sang trọng luôn là sự khao khát của giới sành chơi. Là một trong những điểm đến của dòng xe mang đẳng cấp quốc tế này, Việt Nam cũng sớm đón nhận Vespa ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước. Những chiếc xe đầu tiên này theo chân những người Pháp du nhập vào đất Việt từ năm 1954 và được sử dụng bởi những người giàu có. Đời Vespa đầu tiên đến Việt Nam là Acma thuộc đời từ 1953 - 1957, trong đó quý hiếm nhất là dòng xe Acma GS. Văn phòng đại diện Piaggio Indochina Pte Ltd ( PIPL) chính thức được thành lập tại Hà Nội vào tháng 1 năm 1996 trực thuộc Piaggio Asia Pacific– văn phòng của Piaggio tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương do công ty mẹ Piaggio & C.S.p.A quản lý trực tiếp. PIPL được thành lập tại Việt Nam nhằm mục đích : - Hỗ trợ việc ký kết hợp đồng giữa các đối tác Việt Nam với công ty mẹ. - Hỗ trợ tất cả các hoạt động quảng cáo, khuyến mại trên toàn quốc. - Phát triển hệ thống phân phối, đại lý trong nước để phân phối xe máy bánh nhỏ CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 24 Piaggio đến người tiêu dùng Việt Nam theo tiêu chuẩn Piaggio toàn cầu. - Hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật, bán hàng thường xuyên cho các nhà phân phối, đại lý để phục vụ, bảo dưỡng xe Piaggio cũng như đáp ứng các nhu cầu khác của khách hàng Việt Nam theo tiêu chuẩn của Piaggio toàn cầu. - Tiến hành các nghiên cứu về thị trường xe máy tại Việt Nam. - Phát triển kế hoạch kinh doanh để đầu tư, xây dựng dự án tại Việt Nam. ***Các thành tựu đã đạt được: Sau 8 năm hoạt động, PIPL đã xây dựng được một hình ảnh vững chắc của mình tại Việt Nam đó là xe máy bánh nhỏ Piaggio, là mặt hàng xe cao cấp trên thị trường cả về sản phẩm và dịch vụ bán hàng, sau bán hàng. Xe máy bánh nhỏ Piaggio thực sự đã được người tiêu dùng Việt Nam đánh giá là loại xe cao cấp, sang trọng, thời trang và thường gắn liền với những người tiêu dùng có kiến thức, vị trí, học vị trong xã hội. PIPL đã thiết lập được hệ thống các nhà phân phối chính thức xe máy Piaggio với dịch vụ bán hàng, sau bán hàng và cung cấp dịch phụ tùng chính hiệu của Piaggio tại Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng. PIPL cung cấp dịch vụ sau bán hàng tại các Trung tâm Piaggio cho tất cả khách hàng Piaggio trong và sau chế độ bảo hành theo quy định. PIPL đã đưa khái niệm“Trung tâm Piaggio”và “Cửa hàng thời trang Vespa” với tiêu chuẩn Piaggio trên toàn quốc. PIPL thường xuyên đào tạo cho các nhân viên của PIPL cũng như các nhà phân phối, đại lý về kỹ thuật và thương mại qua các khóa đào tạo tổ chức tại Italy, Singapore và Việt Nam. Trải qua hơn nửa thế kỷ, có những lúc Vespa làm điên đảo lòng người, lại có những khi Vespa vắng bóng trên đường phố. Hiện nay, Vespa đã lấy lại phong độ của mình để tiếp tục chiếm lĩnh thị phần của dòng xe tay ga cao cấp. Tiếp nối “huyền thoại Ý trên đất Việt”, cuối tháng 6/2009, Công ty TNHH Piaggio Việt Nam chính thức khai trương nhà máy và dây chuyền sản xuất xe Vespa tại Việt Nam và nhanh chóng chiếm lĩnh phần lớn thị trường của dòng xe tay ga cao cấp sản xuất nội địa CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 25 với dòng xe Vespa LX125 và LX150. Các dòng xe nhập khẩu như LXVvà GTS super vẫn tiếp tục khẳng định chỗ đứng trong phân khúc xe tay ga cao cấp. Sau chưa đầy 4 tháng đi vào hoạt động, công ty Piaggio Việt Nam đã cho ra đời chiếc xe Vespa thứ 10,000 sản xuất tại Việt Nam. Đây là một mốc son quan trọng, thể hiện sự phát triển cũng như sự cam kết của công ty về vai trò to lớn của thị trường Việt Nam. Tới ngày 22/3/2010, công ty Piaggio Việt Nam tiếp tục ra mắt mẫu xe thứ 2 sản xuất tại Việt Nam– Vespa S với phong cách thể thao, khỏe khoắn. Ngày 24/6/2010, nhân kỷ niệm 1 năm thành lập, công ty Piaggio Việt Nam giới thiệu phiên bản đặc biệt Vespa LX hồng (pink) với số lượng hạn chế. Chiếc xe với màu sắc trẻ trung, thời trang đã làm điên đảo thị trường, đặc biệt là các bạn trẻ. Tiếp theo đó, 29/9/2010, sau hơn 1 năm thanh lập, chiếc Vespa thứ 50,000 đã xuất xưởng trong sự vui mừng của toàn thể lãnh đạo và nhân viên của công ty Piaggio Việt Nam, hứa hẹn một tương lai đầy triển vọng cho công ty nói chung và dòng xe tay ga cao cấp tại thị trường Việt Nam nói riêng. Và gần đây nhất, ngày 15/10/2010, công ty đã chính thức giới thiệu màu xe LX “made in Vietnam” mới là Vespa LX nâu, tăng tổng số màu xe Vespa LX hiện tại lên 8 màu: trắng, xanh, đỏ, vàng, đen, hồng, be và nâu. Qua những kết quả đạt được thời gian qua và qua việc chính thức chuyển trụ sở chính của tập đoàn tại khu vực Châu Á về Việt Nam, công ty Piaggio Việt Nam đã thể hiện sự kỳ vọng và cam kết của công ty cũng như của cả tập đoàn vào thị trường Việt Nam. Công ty hy vọng những chiếc Vespa sẽ tiếp tục khẳng định vị trí của mình trên thị trường Việt Nam và hứa hẹn một tương lai tương sáng trong thời gian tới. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 26 3.2.2 Lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường ở Việt Nam 3.2.2.1. Thị trường mục tiêu Piaggio Việt Nam đã lựa chọn phân khúc dòng xe cao cấp, đó là xe Vespa. Piaggio Vespa LX là dòng sản phẩm đầu tiên bước vào phân khúc này. Xe tay ga hiện đang được người tiêu dùng chọn mua để tham gia giao thông tại Việt Nam hiện nay (theo số liệu kết quả kinh doanh của các hãng xe máy). Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua, việc thiếu nguồn cung một số sản phẩm xe tay ga đã dẫn đến sự khan hiếm hàng, cuối cùng là đẩy giá xe tay ga lên cao, vậy nhưng các khách hàng Việt Nam vẫn đổ xô mua, đây là cơ hội lớn cho các hang xe máy. Các hãng cũng có những dòng xe tay ga nằm ở phân khúc cao cấp nhưng chủ yếu vẫn là xe nhập khẩu, việc này làm cho giá xe tăng cao do các loại thuế, điều này cũng làm nhập nhằng cho người mua. Nhu cầu ở Việt Nam hiện nay đủ lớn để Piaggio quyêt định đầu tư xây dựng nhà máy ngay tại Việt Nam để sản xuất những dòng xe cao cấp nhưng giá không quá cao lên đến cả trăm triệu như Honda SH, Honda, PS, Dylan, Spacy và ngay cả những chiếc xe Vespa trước đây phải nhập khẩu nên giá cũng rất cao. Với kiểu dáng trẻ trung, sang trọng cùng đẳng cấp đem lại cho khách hàng khi sử dụng, Piaggio Vespa LX đã thành công trong việc xây dựng niềm tin trong lòng người tiêu dùng. Để đáp ứng lại lòng yêu mến đó, công ty đã không ngừng sáng tạo và phát triển sản phẩm của mình ngày càng đa dạng hơn. Thị trường mục tiêu của Piaggio Vespa LX nhắm tới tầng lớp thượng lưu, có thu nhập cao, đặc biệt yêu thích về kiểu dáng cũng như phong cách lịch lãm của sản phẩm. 3.2.2.2 Định vị thị trường Trong thị trường Việt Nam, Piaggio Vespa LX là dòng xe máy hàng đầu trong việc thể hiện đẳng cấp của người đi xe. Nó đã tạo được một vị thế vững chắc trên thị trường của mình. Sản phẩm gắn liền với hình ảnh sang trọng, lãng mạn của phong cách đến từ nước Ý đã chiếm được vị trí quan trọng trong tâm trí của khách hàng, đặc biệt là các bạn trẻ với sự yêu mến và niềm hãnh diện khi sở hữu chúng. Để làm được điều đó, Vespa LX đã xây dựng cho mình một chiến lược định vị hoàn hảo. Sự thật đã chứng minh cho chúng ta thấy được qua dòng sản phẩm mang phong cách CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 27 lãng mạn, sang trọng, thể hiện đẳng cấp cho người sử dụng. Bước vào phân khúc thị trường này, Piaggio đã tạo cho chiếc xe Vespa LX mang dáng vẻ kiêu sa và lịch lãm – một kiệt tác đến từ nước Ý kết hợp với những đường cong đầy sáng tạo làm sống động hơn trong mỗi chuyển động. Vespa LX mang phong cách cổ điển và tinh tế, ý tưởng thanh lịch và hiện đại, kết hợp với tính hữu dụng, an toàn và năng động. Vespa LX mới nhưng không dánh mất hình ảnh của những chiếc Vespa huyền thoại, vẫn là những đường cong độc đáo của chiếc Vespa và nó càng trở nên căng mọng và sống động hơn, tôn vinh dáng vẻ hiện đại và hợp thời. Piaggio đã tạo được cho nó một hình ảnh rất riêng, một văn hóa riêng mang cái tên của nó, không cầu kỳ, không thể thao. Tất cả đã khẳng định và tái định vị sâu hơn lại hình ảnh, thương hiệu Piaggio Vespa đã rất quen thuộc và được người tiêu dùng Việt Nam đánh giá cao về chất lượng và thương hiệu trên thị trường Việt Nam từ lâu . 3.2.3 Chính sách cơ cấu chủng loại sản phẩm : Kể từ khi Piaggio bắt đầu sản xuất xe Vespa LX ở Việt Nam đến nay, công ty đã liên tục đưa ra các phiên bản Vespa LX. Trong vòng 3 tháng kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động vào tháng 6 -2009 Công ty đã lắp ráp thành công 10.000 chiếc Vespa LX, phục vụ chủ yếu cho thị trường nội địa và theo đại diện của Piaggio cho biết doanh số bán hàng của Vespa LX cũng không kém ấn tượng so với sản lượng xe được lắp ráp. Điều này đã làm động lực cho các nhà quản lý Piaggio quyết định đưa ra nhanh chóng các phiên bản mới của dòng Vespa LX. Sau bước khởi đầu thành công của model Vespa đầu tiên sản xuất tại Việt Nam - Vespa LX125, ngày 20/9, Piaggio Việt Nam đã chính thức giới thiệu phiên bản Vespa LX 150. Tiếp theo là một phiên bản đặc biệt Vespa LX Pink thiết kế riêng cho phái nữ và thiên hướng thời trang, ông Mario Di Maria, Phó tổng giám đốc Piaggio khu vực châu Á Thái Bình Dương cho biết: "Chúng tôi ra mắt mẫu Vespa LX Pink để thể hiện chỉ có Piaggio mới có khả năng và dám làm những điều mà các nhà sản xuất khác không nghĩ tới. Đây là cuộc chơi của màu sắc . Sự kiện đã làm nổi bật lên thêm cho hình ảnh của công ty và chiếc Vespa LX. Chỉ một thời gian sau khi Piaggio Việt Nam cho mắt Vespa LX Pink lắp ráp trong nước với số lượng hạn chế, hãng CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 28 này tiếp tục bổ sung phiên bản LX Brown. Nếu LX Pink với sắc hồng rực rỡ chỉ hướng đến khách hàng là nữ giới thì phiên bản LX Brown sẽ tập trung nhiều hơn vào đối tượng nam giới với màu nâu cá tính. Theo xu hướng, tất cả các mẫu xe Vespa sản xuất tại Việt Nam đã được đồng loạt trang bị công nghệ phun xăng điện tử, trong đó có Vespa LX, Piaggio đã trình làng phiên bản Vespa LX i.e . 3.2.4 Chính sách nhãn hiệu: Ngay khi thấy chiếc Vespa đầu tiên, Piaggio đã sửng sốt không chỉ bởi thiết kế thông minh và những đường cong tuyệt mỹ và kiểu dáng được vuốt tròn gợi cảm. Khi nghe tiếng động cơ 98 cc hai thì “ Phạch phạch…”, Piaggio đã thốt lên “SEMBRA UNA VESPA” có nghĩa là “trông nó như con ong ấy nhỉ!” (it seems like a wasp). Và cái tên Vespa đã ra đời như thế. Chiếc Piaggio đầu tiên ra đời năm 1946 Ngay sau sự ra đời của chiếc xe năm 1946, các phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin vespa là sáng chế đầu tiên của nước Ý sau chiến tranh, một chiếc xe thật tiện dụng và phong cách. Các quý bà quý cô sau khi được chạy thử đã rất mê loại xe này vì “mặc váy cũng đi xe được, không cần phải gò người như mấy con xe mô tô thổ tả…”. …Cho đến nền văn hóa mang tên Vespa… Trong năm đầu tiên chiếc xe ra mắt 1946, 2181 chiếc xe được bán ra. Năm tiếp theo số lượng vọt lên 10.535 và năm 1948 là 20.000 xe….Từ thiết kế của chiếc Vespa truyền thống, tới nay, Piaggio đã cho ra đời hơn 140 model khác nhau. Không chỉ là một hiện tượng giữa đời thường, vespa trở thành ngôi sao trong những bộ phim, trên sàn diễn, trong hội họa. Bắt nguồn từ việc mang đến giải pháp đi lại thông minh và sáng tạo dựa trên những phế tích của chiến tranh và là biểu tượng của thời kì tái thiết đất nước, Vespa ngày nay trở thành biểu tượng cho sự kết hợp hài hòa giữa phong cách cổ điển, thanh lịch và nhịp sống hiện đại, thời trang. Không chỉ đơn thuần thành công về mặt thương mại, Piaggio đã tạo ra một giá trị lớn lao hơn mà không một thương hiệu xe nào có được, đó là văn hóa Vespa toàn cầu. Những lý do này đã khiến công ty Piaggio sử dụng cái tên Vespa đến bây giờ cho những sản phẩm mới, không cần truyền thông hay quảng cáo, khi nhắc đến Vespa hầu như ai CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 29 cũng biết, đi kèm với tên Piaggio của công ty cũng là một điểm mạnh, không cần phải tạo dựng lại thương hiệu và hình ảnh, thuận lợi cho sản phẩm bởi danh tiếng quá lớn của công ty Piaggio .Cuối cùng người ta đi đến cái tên Piaggio Vespa LX , LX – Luxury – sự xa hoa lộng lẫy. Cái tên cũng rất dễ đọc, đễ nhớ, nó tạo ấn tượng từ ban đầu, kết hợp với biểu tượng gắn trên xe Vespa LX có hình chữ nhật nền một nửa màu xanh dương đậm và một nửa nhạt, trên nền có chữ P và Piaggio đặc trưng không thể nhầm với những hình ảnh khác được. 3.2.5 Chính sách phát triển sản phẩm tại thị trường Việt Nam và ra thị trường các nước trong khu vực : 3.2.5.1 Khát vọng chinh phục khách hàng Việt Xác định Việt Nam là thị trường tiềm năng đầy hứa hẹn, Piaggio đã có chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp nhất với thị hiếu người tiêu dùng Việt và lối sống tại Việt Nam. Cụ thể, hãng cải tiến sản phẩm của mình theo xu thế tiết kiệm nhiên liệu hơn, giảm lượng khí thải và phát triển dòng sản phẩm với giá thành vừa phải. Trong năm 2011, Piaggio Việt Nam giới thiệu và áp dụng công nghệ phun xăng điện tử trên những mẫu xe cao cấp của hãng như Vespa LX 125/150 i.e.,Vespa S125/150 i.e. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 30 Vespa LX125 Phun xăng điện tử Ngoài ra, Piaggio Việt Nam đã quyết định mở rộng và nâng cấp cụm 26 000 m2 nhà xưởng hiện tại để xây dựng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển. Đây là kế hoạch quan trọng thể hiện chiến lược phát triển đầy tham vọng của Tập đoàn trong tương lai. Mục đích của trung tâm là phát triển các mẫu xe mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng châu Á. Với dự án mới trị giá 40 triệu $ đầu tư vào sản xuất và Nghiên cứu Phát triển, Tập đoàn tiếp tục khẳng định vị trí là nhà đầu tư Ý lớn nhất trong khu vực và khẳng định vị thế chiến lược của Việt Nam trong chính sách toàn cầu của Tập đoàn. 3.2.5.2 Quyết định về các dịch vụ hỗ trợ kèm theo Cũng như hầu hết các hãng xe khác, Vespa không chỉ bán sản phẩm cho khách hàng mà còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ hỗ trợ sau mua. Các dịch vụ này được cung ứng nhằm củng cố lòng trung thành của khách hàng, đem lại lợi nhuận và tăng lợi thế cạnh tranh cho công ty. Hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, Vespa thiết kế hệ thống dịch vụ hỗ trợ sản phẩm bao gồm các dịch vụ như sau: - Dịch vụ thông tin: Thông tin về sản phẩm được quảng bá rộng rãi trên nhiều phương tiện truyền thông như truyền hình, báo, tạp chí, Internet,…giúp khách hàng dễ dàng nắm bắt các thông tin cần thiết. Không những thế, công ty còn có đội ngũ nhân viên thực hiện chức năng tư vấn, hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng sản phẩm… làm khách hàng cảm thấy hài lòng hơn. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 31 - Dịch vụ kỹ thuật: công ty có bộ phận lắp đặt, vận hành thử, kiểm tra thông số… nhằm đảm bảo sản phẩm đến tay khách hàng với chất lượng tốt nhất. - Dịch vụ bảo hành: công ty thực hiện chế độ bảo hành bằng việc sửa chữa hoặc thay thế chi tiết bị lỗi trong quá trình sản xuất hoặc lắp ráp với phụ tùng chính hiệu của Piaggio. Khách hàng được bảo hành xe trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày bán hoặc giới hạn dưới 20.000 km. - Dịch vụ tín dụng: để tạo sự thuận tiện cho khách hàng trong việc sử dụng khoản tiền của mình cho công việc cũng như tạo cơ hội cho nhiều người được sở hữu chiếc Vespa đẳng cấp, công ty cũng tổ chức hình thức bán trả góp rất đơn giản. Khách hàng có thể đăng ký một chiếc Vespa mang tên mình mà không cần thế chấp tài sản. - Dịch vụ khiếu nại và điều chỉnh: Mọi thắc mắc về sản phẩm của khách hàng đều sẽ được công ty giải quyết thông qua đường dây nóng hoặc email của công ty. Ngoài các dịch vụ trên Piaggio còn cung cấp những dịch vụ: - Đi thử xe: Để giúp khách hàng có quyết định chính xác và tin tưởng trước khi mua xe, khách hàng có thể đăng ký và đi thử loại xe mình đang dự định mua tại các của hàng bán xe của Piaggio. - Chuyển xe mới đến nhà: Khi khách hàng mua xe và đề nghị chuyển xe về nhà thì nhân viên của Piaggio sẽ đưa xe đến nhà miễn phí và khách hàng sẽ xác nhận đã nhận xe. Dịch vụ này chỉ áp dụng với khách hàng ở các địa phương có đại lý chính thức của Piaggio. Trong quá trình sử dụng, nếu có yêu cầu, nhân viên của công ty sẽ đến nhà khách hàng đưa xe về trạm bảo hành để kiểm tra và bảo dưỡng. Trong trường hợp này, khách hàng sẽ chịu thêm chi phí sửa lưu động của Piaggio. - Đăng ký xe mới: Khi khách hàng cần đăng ký xe, nhân viên Piaggio sẽ tiến hành đăng ký theo yêu cầu. Những dịch vụ này của công ty được thực hiện dựa trên phương pháp là thỏa thuận với các trung gian phân phối và các đại lý được ủy quyền để họ cung ứng những dịch vụ này. Theo đó, người sản xuất sẽ kiếm lời trong việc cung cấp phụ tùng thay thế và dành việc kinh doanh dịch vụ cho các trung gian phân phối và đại lý vì họ gần CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 32 khách hàng hơn, hoạt động ở nhiều nơi hơn và có thể cung ứng dịch vụ nhanh hơn, mang lại sự hài lòng cao hơn cho khách hàng. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 33 PHẦN 4 KẾT LUẬN MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI 4.1 Những mặt tích cực mà công ty vốn nước ngoài mang lại cho nền kinh tế Việt Nam : 4.1.1 Tạo vốn để phát triển kinh tế, góp phần tăng nguồn thu ngân sách Công ty vốn nước ngoài nói riêng và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó nhăn về vốn cho quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy kinh tế của một nước phát triển. Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, nhìn chung các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống thấp, khả năng tích lũy kém, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật lạc hậu, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Nguồn vốn được đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hóa của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này cũng dễ hiểu, khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra, do đó trước khi đầu tư họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án. Trước khi tiến hành đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài thường có sẵn một số điều kiện cơ bản như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí, khả năng thị trường… tức là nhà đầu tư đã dự báo được phần nào hiệu quả có thể thu được của đồng vốn đầu tư. Mặc dù vậy, cũng không ai dám chắc khi có đầy đủ các điều kiện như vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tư. Rất dễ nhận thấy rằng khi nhà đầu tư bắt đầu bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư thì xác suất giữa thành công và thất bại là ngang nhau. Khi doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài kinh doanh có lãi, thì phần lãi thu được họ phải trích một phần đóng góp cho nước sở tại, nhưng nếu kinh doanh thua lỗ thì nhà đầu tư phải gánh chịu toàn bộ. Trong trường hợp kinh doanh gặp khó khăn thì chính các công ty mẹ ở chính quốc phải tìm cách hỗ trợ. Nói đúng hơn đây là những rủi ro có thể xảy ra mà CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 34 tất cả các nhà đầu tư đều phải tính toán trước. Điều này chỉ ra rằng không có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào lại không tính toán kỹ trước khi đầu tư. Hay nói cách khác, các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán thấy độ rủi ro ít và khả năng thu lợi cao. Như vậy, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước để phát triển. Thực chất của việc làm này là tận dụng điều kiện khách quan thuận lợi mà có thể “mượn sức” những nước đi trước để thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu” để thu dần khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển. Mặt khác, tìm kiếm lĩnh vực và địa bàn đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao là bản chất của nhà đầu tư nước ngoài. Do các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản xuất, những địa bàn thuận lợi để đầu tư nên chính phủ cần phải dành một số vốn đầu tư. Từ ngân sách nhà nước tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư vào những vùng đặc biệt khó khăn, những ngành trọng điểm, những lĩnh vực thấy không nên có yếu tố nước ngoài. Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. Do vậy, xét về nhu cầu vốn, vốn nước ngoài được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà nước ta đang thực hiện. Khi đã đi vào hoạt động, với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp nước ngoài có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nước sở tại, qua đó góp phần tăng nguồn triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội của nước tiếp nhận đầu tư. Ở Việt Nam trong thời gian qua khu vực nước ngoài đã đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách củanhà nước. Bên cạnh đó, vốn nước ngoài đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn, cải thiện cán cân thanh toán nói chung và tạo ra những cân đối vĩ mô trong nền kinh tế. 4.1.2 Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của nước tiếp nhận đầu tư. Theo yêu cầu của kinh tế thị trường, muốn có được tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế phải không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 35 của quá trình sản xuất từ đó làm nền tảng cho nâng cao sức cạnh tranh của các ngành hàng, các vùng cũng như toàn bộ nền kinh tế. Nâng cao sức cạnh tranh là đòi hỏi khách quan và là điều kiện để tồn tại đối với từng chủ thể sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có tác động lớn đối với quá trình này. Như chúng ta biết, muốn có lợi nhuận các chủ thể kinh doanh buộc phải, một mặt, không ngừng hạ thấp hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao động xã hội cần thiết theo đòi hỏi của quy luật giá trị, mặt khác phải không ngừng cải tiến mẫu mã, chủng loại, chất lượng sản phẩm, cách thức phục vụ khách hàng dựa trên sự phát triển ngày càng đa dạng với những yêu cầu ngày càng cao của hệ thống các nhu cầu xã hội. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi các chủ thể kinh tế không ngừng ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật - công nghệ vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động. Bản thân các nước đang phát triển với trình độ sản xuất còn lạc hậu nên dẫn đến năng suất lao động không cao, sản phẩm kém chất lượng, không có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Trong khi đó, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn được thực hiện dựa trên những công nghệ hiện có nhất định, nên đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đồng thời thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước tiếp nhận đầu tư. Trước sức ép cần phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước không thể không tiến hành ứng dụng kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất, điều này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh nội bộ ngành nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung. Như vậy, công nghệ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò của công nghệ lại càng khẳng định rõ. Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, các dự án của công ty nước ngoài còn tham gia nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà, nhờ đó mà năng lực công nghệ của nước chủ nhà ngày càng phát triển hơn. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ hiện đại của nước ngoài đội ngũ chuyên gia cũng như công nhân trong nước học được rất nhiều kinh nghiệm. Muốn học được công nghệ hiện đại đòi hỏi lực lượng lao động trong nước (chuyên gia và công nhân) phải nỗ lực rất nhiều mới có thể nhanh chóng tiếp thu CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 36 được công nghệ hiện đại, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện của nước mình và biến chúng thành công nghệ của mình. Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, công nghệ hiện đại có vai trò quyết định đến năng suất lao động nó tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của ngành. Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, trình độ công nghệ lạc hậu thì việc nâng cao trình độ công nghệ thông qua vốn đầu tư nước ngoài là bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, công nghệ hiện đại không là giải pháp duy nhất cho tất cả các trường hợp tiếp nhận công nghệ, vì còn phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận của người sử dụng. 4.1.3 Đa dạng hóa các hình thức kinh doanh đa dạng, liên kết các ngành nghề Trước đây, khi Việt Nam còn thực hiện nền kinh tế khép kín, các hoạt động kinh tế chỉ bó hẹp trong loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, do đó nền kinh tế nước ta thời kỳ đó rất trì trệ và kém hiệu quả, không khai thác hết những tiềm năng kinh tế, nhìn chung nước ta lúc bấy giờ chỉ là một nước nông nghiệp lạc hậu. Thực tế 20 năm đổi mới cho thấy, sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần với sự hình thành các hình thức đầu tư ngoài kinh tế nhà nước và tập thể đã tạo ra những đối thủ cạnh tranh đối với các doanh nghiệp nhà nước và tập thể cùng những hình thức kinh doanh đa dạng. Sự có mặt và ngày càng gia tăng các hình thức đầu tư đó đã thực sự tạo ra nền kinh tế ngày càng năng động, thúc ép bản thân các doanh nghiệp nhà nước và tập thể phải không ngừng vươn lên. Sức ép đó ngày càng lớn với sự hình thành, phát triển của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cùng với lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nền kinh tế nước ta, từ đó làm đa dạng thêm các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, góp phần tạo dựng một nền kinh tế năng động, tận dụng tối đa các nguồn lực của quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế. Không những làm đa dạng các hình thức kinh doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần tạo sự liên kết giữa các ngành với nhau, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp, sự liên kết này xuất hiện do các nguyên nhân: Thứ nhất, các công ty trong nước thường nắm giữ nguồn nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho các công ty nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp; Thứ hai, bất kỳ một ngành công nghiệp nào cũng cần các ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành công nghiệp phụ trợ này phải do các công ty trong nước đảm nhiệm; Thứ CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 37 ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào các khu công nghiệp nên xu hướng các công ty trong khu công nghiệp liên kết với nhau nhằm giảm chi phí đầu vào. Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu thông qua quá trình trao đổi trực tiếp giữa các công ty nội địa với các công ty nước ngoài những hàng hóa (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào) và dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Mối liên kết này sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới cho các ngành công nghiệp nội địa và các công ty trong nước. 4.1.4 Tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là một trong những mục tiêu kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia, bản thân mỗi nền kinh tế luôn tồn tại những lợi thế riêng, tùy theo những tương quan nhất định mà đó có thể là lợi thế tuyệt đối hay lợi thế tương đối. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể thực hiện được nếu thiếu những nguồn lực quan trọng như vốn, công nghệ, tài nguyên và con người (đặc biệt là những chủ thể có vai trò tạo lập). Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc bổ sung về vốn cho nền kinh tế, đưa thiết bị, công nghệ hiện đại và phương thức tổ chức quản lí vào đã tạo ra những điều kiện mới cho việc khai thác những tiềm năng của nước nhận đầu tư, từng bước hình thành những lợi thế mới trong hệ thống phân công lao động quốc tế. Việc phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp nước nhận đầu tư xác định rõ hơn các ngành hàng chủ lực, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ với sự giảm dần về tỷ trọng của nông nghiệp, sự gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong sản xuất GDP và cơ cấu lao động. Một trong những biểu hiện về tăng cường khai thác các lợi thế của quốc gia được thể hiện thông qua việc nhận chuyển giao công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những công nghệ được chuyển giao bao gồm cả những công nghệ không còn có sức cạnh tranh ở các nước tiên tiến do nguyên nhân giá trị hàng hóa sức lao động tăng cao, đặc biệt là những công nghệ dùng nhiều lao động và nhiều năng lượng truyền thống. Dưới các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài đã nhập khẩu toàn bộ thiết bị để nước tiếp nhận có thể khai thác những công nghệ đó vào sản xuất và xuất khẩu. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 38 4.1.5 Thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường lao động, tạo điều kiện mở rộng việc làm và thu nhập, nâng cao trình độ nguồn nhân lực Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước có nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới vấn đề việc làm có thể xem xét trên hai phương diện: trực tiếp và gián tiếp. Theo phương diện tác động trực tiếp, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp từ đó thu hút sức lao động vào các doanh nghiệp đó. Theo phương diện gián tiếp, đầu tư trực tiếp nước ngoài gián tiếp tạo thêm việc làm trong lĩnh vực dịch vụ và có thể tạo thêm lao động trong các ngành công nghiệp phụ trợ trong nước với điều kiện tồn tại mối quan hệ mua bán nguyên vật liệu hoặc hàng hóa trung gian giữa các doanh nghiệp này; đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần vào cải thiện điều kiện kết cấu hạ tầng lạc hậu, yếu kém ở nhiều địa phương, điều này cũng tạo điều kiện cho người dân có thể phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của mình, tạo nhiều việc làm cho lao động ở nước tiếp nhận đầu tư. Có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo cơ hội cho người dân có khả năng tìm kiếm và tự tạo việc làm, mở mang ngành nghề giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ hội và điều kiện cho sự hình thành và phát triển thị trường lao động. Cùng với việc tạo ra việc làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước tiếp nhận đầu tư. Để các dự án của mình hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, các chủ doanh nghiệp nước ngoài buộc phải đào tạo đội ngũ công nhân, cán bộ quản lí làm việc cho mình, điều này đã tiết kiệm cho nước chủ nhà một phần ngân sách để đào tạo lao động trong nước (như trợ giúp về tài chính mở các lớp đào tạo dạy nghề trung và dài hạn, mở các lớp huấn luyện nâng cao nghiệp vụ quản lí, v.v). Ngoài ra, để đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực trong các dự án, doanh nghiệp nước ngoài thường đưa người lao động đi đào tạo ở nước ngoài để họ tiếp cận được với công nghệ và kinh nghiệm quản lí hiện đại. Trong khi làm việc ở các doanh nghiệp nước ngoài, các chuyên gia kỹ thuật, quản lí trong nước có cơ hội tiếp cận với các chuyên gia nước ngoài, học được các kinh nghiệm thực hành từ các chuyên gia này. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 39 Mặt khác, do sức ép cạnh tranh trên thị trường lao động, người lao động trong nước không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình qua học tập và qua công việc, từ đó chất lượng nguồn nhân lực trong nước không ngừng được nâng lên. 4.1.6 Nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và xuất khẩu, mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các điều kiện cần thiết cho việc lập một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công nghiệp hóa, tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế, v.v. Hình thành được các khu chế xuất, khu công nghiệp chủ lực, tạo ra các điều kiện cơ bản để phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu. Sự phát triển của sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên những hình thức đầu tư khác nhau theo cơ chế thị trường sẽ thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ thị trường và không ngừng mở rộng hệ thống thị trường theo hướng đồng bộ, gắn với thị trường khu vực và quốc tế. Sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước cho phép phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu trong nước và từng bước mở rộng xuất khẩu, sự phát triển của các doanh nghiệp nước ngoài là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập vì tạo thuận lợi cho khai thác và mở rộng thị trường ở nước ngoài. Xuất khẩu của nước tiếp nhận đầu tư sẽ phát triển nhanh chóng, cơ cấu xuất khẩu được cải thiện theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định, tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ mật thiết với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Xuất nhập khẩu tăng hay giảm sẽ tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định là điều kiện tốt nhất thúc đẩy lĩnh vực ngoại thương phát triển. Xuất khẩu cho phép chúng ta khai thác tối đa lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, năng suất cao nhờ chuyên môn hóa sản xuất... Nhập khẩu bổ sung được hàng hóa, dịch vụ khan hiếm đặc biệt là thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Mặt khác, xuất nhập khẩu còn thúc đẩy trao đổi thông tin, dịch vụ, tìm kiếm thị trường cho các doanh nghiệp nội địa. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 40 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, nhờ xuất khẩu mà nước chủ nhà khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực trong nước, mở rộng thâm nhập thị trường quốc tế, gia tăng các quan hệ kinh tế đối ngoại. 4.1.7 Cải thiện đáng kể cở hạ tầng, phát triển kinh tế Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự lạc hậu và thiếu thốn về công nghệ và kỹ thuật. Theo quy luật và sức ép thay thế kỹ thuật thì một kỹ thuật nào đó đã đến lúc cần thay thế ở các nước phát triển, nhưng nó có thể còn hiện đại và phù hợp với trình độ của các nước đang phát triển. Về bản chất, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bao giờ cũng đặt vấn đề lợi nhuận cao và thu hồi vốn nhanh làm mục tiêu hàng đầu. Những công nghệ, những kỹ thuật mà nhà đầu tư đưa vào thực hiện dự án đầu tư có thể đã đến lúc cần thay thế ở nước họ. Nhưng vì đi cùng với nó thường là một số lượng nhất định tiền vốn phải bỏ ra, có nghĩa là kỹ thuật đó sẽ là nhân tố trực tiếp chi phối lợi ích của nhà đầu tư nên khi đưa kỹ thuật vào thực hiện dự án, họ buộc phải cân nhắc, lựa chọn những kỹ thuật còn có khả năng phát huy hiệu quả cho tới khi họ thu hồi đủ vốn và có lãi.Để thực hiện một số dự án đầu tư có khả năng sinh lời lớn, thu hồi vốn nhanh, nhiều nhà đầu tư đã chọn một số lĩnh vực như giao thông vận tải, viễn thông, tin học… như là điều kiện cho việc thực hiện các dự án đầu tư của mình. Bên cạnh đó, chính phủ các nước nhận đầu tư cũng thường có nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào một số lĩnh vực công nghiệp, cơ sở hạ tầng quan trọng hy vọng thúc đẩy nhanh sự phát triển của các lĩnh vực này. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra điều kiện để góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng của nước nhận đầu tư. 4.2 Những tiêu cực mà doanh nghiệp nước ngoài ảnh hưởng đến Việt Nam : 4.2.1 Tác động tới môi trường sinh thái Trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cần hiểu rằng, tại các quốc gia đã phát triển, nhiều công nghệ sản xuất, đặc biệt là những công nghệ ô nhiễm môi trường, đang có xu hướng bị thải loại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những công nghệ đó có thể trở thành đối tượng để xuất khẩu sang các nước đang phát triển, do đó thu hút vốn nước ngoài ngày nay của các nước đang phát triển đang song hành với nguy cơ ô nhiễm môi trường. Mục tiêu chủ yếu của các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng là CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 41 thu được lợi nhuận cao. Để đạt được mục tiêu đó các nhà đầu tư luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất, tận dụng khai thác tối đa những công nghệ hiện có. Tại các nước phát triển những yêu cầu cao của xã hội về môi trường đã làm cho các chi phí về môi trường đối với một số những ngành sản xuất ngày càng tăng cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư. Vì vậy, một trong những nguyên nhân của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại các nước đang phát triển với trực tiếp ra nước ngoài là do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại các nước đang phát triển với yêu cầu tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa rút ngắn, những bức bách về vốn đầu tư phát triển buộc các quốc gia này nhiều khi phải chấp nhận sự hiện diện của những công nghệ cũ tương đối, điều này có lợi cho chủ đầu tư, song trong một chừng mực nào đó nó lại có ảnh hưởng xấu đến môi trường của nước tiếp nhận. Trong những năm qua, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vì chạy theo mục tiêu lợi nhuận nên việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật không được các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam chưa hoàn chỉnh, chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lí môi trường, điều này đã ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái nước ta. Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường ở các KCN, KCX của nước ta đã đến mức báo động, chủ yếu tập trung tại các KCN ở vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam. Số KCN đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung là rất ít. Tuy nhiên, ngay cả ở những KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, thì chất lượng thực tế của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, thuộc da, ngành hóa chất… Tình trạng ô nhiễm này đã ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe của người dân lân cận, phá hủy môi trường sinh thái. Đặt ra vấn đề các nước nhận đầu tư cần lưu ý trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. 4.2.2 Góp phần gia tăng khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội Với việc tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, đầu tư trực tiếp nước ngoài bên cạnh nâng cao đời sống của người lao động, giải quyết vấn nạn thất nghiệp của nước nhận đầu tư, đã trở thành là một trong những nhân tố dẫn đến sự phân hóa giàu - nghèo trong tiến trình phát triển nền kinh tế, đây cũng là một hệ quả khó tránh khỏi mà đầu tư CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 42 trực tiếp nước ngoài tạo ra. Điều này xuất phát từ nguyên nhân đầu tư trực tiếp nước ngoài thường xuất hiện chủ yếu trong các ngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ năng cao nên mức thu nhập trung bình của lao động trong khu vực này thường cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành. Mặt khác, chúng ta cũng cần nhìn nhận một tất yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài thường chỉ tập trung ở các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm bởi ở đây có môi trường đầu tư và điều kiện kinh doanh thuận lợi như cơ sở hạ tầng tốt, nhu cầu thị trường cao, khả năng chu chuyển vốn nhanh, … mặc dù điều này góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực để lôi kéo sự phát triển chung và các vùng phụ cận nhưng đã vô hình chung góp phần tạo khoảng cách chênh lệch ngày càng lớn về mức sống và điều kiện sống giữa người dân thành thị và nông thôn, miền núi, làm phân hóa giàu - nghèo trong xã hội. Ngoài một số tác động tiêu cực chủ yếu trên, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có một số tác động tiêu cực khác mà chúng ta cần phải quan tâm để có những biện pháp thích hợp, kịp thời không để các tác động tiêu cực đó trở nên trầm trọng kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế như: - Do mục tiêu của các nhà đầu tư khi bỏ vốn ra là nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên đầu tư trực tiếp nước ngoài thường phân bố không đều, chỉ tập trung vào những ngành có lợi nhuận cao. Hầu hết các nhà đầu tư chỉ hướng vào đầu tư các ngành nghề có mức độ rủi ro thấp, thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận nhiều điều này gây ra hiện tượng mất cân đối ngành nghề đối với nước chủ nhà. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, trong khi đó lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chưa được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài quan tâm. - Ngoài ra, với kinh nghiệm dày dặn trên thị trường các doanh nghiệp nước ngoài rất có thể sẽ thôn tính thị trường trong nước, hoặc có những hành vi thao túng giá cả gây thiệt hạintức thời đối với các doanh nghiệp trong nước không có khả năng cạnh tranh. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 43 4.3 Giải pháp : 4.3.1 Về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút vốn nước ngoài Trong quá trình xây dựng và phát triển nước ta cần quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội một cách đồng bộ. Bên cạnh định hướng thu hút đầu tư trong nước nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng, nó còn góp phần phát triển kinh tế một cách đồng đều giữa các địa phương trong nước, hạn chế được khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các vùng miền. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn chính là căn cứ quan trọng để các nhà đầu tư xác định cơ hội đầu tư của mình, nó có vai trò định hướng thu hút đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau. Do đó, Việt Nam cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng các quy hoạch đang triển khai và phê duyệt các quy hoạch mới; rà soát để định kỳ bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án. Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch. 4.3.2 Về đẩy mạnh hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư Để gia tăng những đóng góp tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế, nước ta cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư. Đó là tổng thể những biện pháp nhằm tạo ra thuận lợi cho công tác thu hút đầu tư nước ngoài. Xét theo nghĩa rộng thì xúc tiến thu hút đầu tư bao gồm toàn bộ các hoạt động cải thiện môi trường đầu tư theo hướng ngày càng thông thoáng, hấp dẫn cùng với các hoạt động quảng bá, giới thiệu về sự hấp dẫn của môi trường đầu tư của tỉnh với các nhà đầu tư. Xét theo nghĩa hẹp, xúc tiến thu hút đầu tư là những hoạt động trực tiếp liên quan tới các nhà đầu tư như giới thiệu và cung cấp thông tin về chính sách và môi trường đầu tư, cơ chế đăng ký, cấp phép, hỗ trợ đối với các nhà đầu tư. 4.3.3 Về xây dựng và cải thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật Để phát huy tác động tích cực và tăng cường khả năng thu hút các công ty nước ngoài , việc xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuật hiện đại là hết sức cần thiết và cần được coi là một điều kiện tiên quyết. Việc quy hoạch các cụm, khu công nghiệp tập trung... khu chế xuất gần đường giao thông lớn, cảng biển, sân bay, đường sắt là một yếu tố hết sức quan trọng, song vấn đề không chỉ dừng lại ở cự ly gần mà còn đòi hỏi đường giao thông sắt, CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 44 bộ, hàng không, đường biển.. đồng bộ, thông tin liên lạc thuận lợi, kịp thời. Trên thực tế, không một nhà đầu tư nước ngoài nào muốn gánh chịu những chi phí trực tiếp do kết cấu hạ tầng vật chất thấp kém gây ra, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư, mà trực tiếp là mức lợi nhuận mà họ mong muốn đạtđược. 4.4.4 Về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Con người là yếu tố đặc biệt quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển. Nguồn nhân lực có kỹ năng tốt, trình độ cao là một lợi thế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi vậy, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một trong những chính sách quan trọng nhất đảm bảo cho tạo thuận lợi cho thu hút vốn đầu tư và thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung, vấn đề nâng cao chất lượng về thể lực, tầm vóc và trí lực cho toàn dân, giải quyết việc làm, ổn định và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân có ý nghĩa cơ bản. Vị trí của chiến lược nguồn nhân lực trong sự phát triển của thế giới hiện đại được xác định: - Con người đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển là tác nhân là mục đích của sự phát triển. Sự phát triển toàn diện con người là mục tiêu cuối cùng và cao nhất của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. - Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. - Phát triển con người vừa là tiền đề cho sự phát triển, vừa là hệ quả phản ánh kết quả của sự phát triển. Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế mở đa phương vận hành theo cơ chế thị trường thì việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết. Phát triển nguồn nhân lực có ảnh hưởng quan trọng tới phát triển kinh tế, đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực sẽ trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhờ chất lượng lao động và nâng cao năng suất lao động. Ngược lại, kinh tế phát triển sẽ là tiềm năng to lớn để đầu tư nâng cao trình độ kỹ năng và sức khỏe của nguồn nhân lực. Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay cần phải bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực đủ tầm để kết hợp và phát huy tối đa nguồn nội lực (như: tài nguyên thiên nhiên, cơ CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 45 sở vật chất và khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý) và nguồn ngoại lực từ bên ngoài... vào mục tiêu tăng trưởng với mức độ nhanh, hiệu quả và bền vững. CÔNG TY 100% VỐN NƯỚC NGOÀI GVHD: ThS. Đinh Tiên Minh Nhóm 8 – Lớp NT02VB2K15 Trang 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS Võ Thanh Thu - Ths.Ngô Thị Ngọc Huyền, 2008, Kỹ Thuật Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài, NXB Thống kê 2. %E1%BA%BFp_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_ngo%C3%A0i 3. (ngày truy cập: 25/01/2013) 4. www.gso.gov.vn/ 5. fia.mpi.gov.vn/

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcty_100_von_nuoc_ngoai_02_04_2013_0003.pdf
Luận văn liên quan