Tiểu luận Đánh giá thực trạng của ngân hàng thương mại Việt Nam những năm gần đây

Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong nền kinh tế ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất p hát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động của các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong khuôn khổ hạn hẹp của tiểu luận nhóm 2 đã trình bày một số lý luận cơ bản về NHTM và các hoạt động của nó, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam

pdf30 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 09/09/2014 | Lượt xem: 7303 | Lượt tải: 39download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Đánh giá thực trạng của ngân hàng thương mại Việt Nam những năm gần đây, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 1/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Tiểu luận ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 2/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 LỜI MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, các ngân hàng thương mại đóng vai trò điếu tiết nguồn vốn cho nền kinh tế, đưa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoá phát triển nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệp đã cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình. Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động và vai trò to lớn của các Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế. Nhóm 2- Lớp đêm 1 Cao học K19 chọn đề tài "ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY". Bài viết bao gồm những nội dung sau: - Chương 1 : Tổng quan về NHTM và hoạt động của các NHTM - Chương 2 : Thực trạng hoạt động của các NHTM ở Việt Nam những năm gần đây - Chương 3 : Một số kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế trong hoạt động của các NHTM Việt Nam. Nhóm hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về hoạt động tín dụng ngân và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTM Việt Nam hiện nay. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, nhóm 2 rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 3/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 MỤC LỤC CHƯƠNG 1 ... ... .. ... ...... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. .. 4 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.. .. ... .. ... .. ... .. ... ...... .......... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. .. 4 1. KHÁI Q UÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠIVÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .. .. .. .. 4 1.1. Khái niệm ...... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. .. 4 1.2. Các nghiệp vụ của NHTM ... ..... ..... ..... ..... ..... ....... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. .. 4 2. VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA NHTM ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ.. .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. .. 9 2.1. Chức năng của NHTM. .. ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. .. 9 2.2. Đánh giá vai trò, vị trí NHTM đối với nền kinh tế... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 10 CHƯƠNG II .. ... .. ... ...... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 11 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY .. .. .. 11 1. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM.. .. ... .. ... .. ... .. 11 2. TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NƯỚC ...... ..... ..... ..... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 11 3. THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC CỦA NHTM VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. 14 4. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG NGẦN HÀNG VIỆT NAM ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. ... .. ... .. 22 CHƯƠNG III.... .. ... ...... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ....... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 27 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM....... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 27 1. NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH ...... ..... ..... ..... ..... ..... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 27 3. ĐA DẠNG HÓA CÁC SẢN PHẨM, DỊCH VỤ...... ..... ..... .. ... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 27 4. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT TÍN DỤNG.. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 28 5. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. 28 KẾT LUẬN ... ... .. ... ...... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... ..... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ..... ... .. ... .. ... .. ... .. ... .. ... ... .. .. 30 Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 4/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về ngân hàng thương mại và các hoạt động của ngân hàng thương mại 1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội đồng Nhà nước xác định:" Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay qua đó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là một loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù các tổ chức tài chính trung gian khác cũng có một số chức năng tương tự nhưng người ta vẫn phải tách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như: chức năng huy động vốn thông qua phát hành các chứng chỉ tiền gửi, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. 1.2. Các nghiệp vụ của NHTM 1.2.1. Nghiệp vụ trong bảng tổng kết tài sản Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ nợ), nghiệp vụ sử dụng vốn (nghiệp vụ có) và nghiệp vụ trung gian (dịch vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác). 1.2.1.1. Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ nợ) a) Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ  Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thành lập, nó có thể Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 5/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liên doanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân. Mức vốn điều lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NH TM được pháp lệnh quy định cụ thể.  Vốn coi như tự có: Bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả.  Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng được trích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủi ro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương. b) Nguồn vốn quản lý và huy động Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng có thời hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:  Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó có mục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.  Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây là khoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiền khi đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước kèm một số điều kiện cụ thể. Mục đích của người gửi tiền chủ yếu là lấy lãi.  Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có hai hình thức: một là, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi đến kỳ mới được rút.  Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhà nước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới được thanh toán. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 6/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là phát hành theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn); hai là phát hành dưới hình thức chiết khấu (người mua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số t iền chiết khấu và sẽ được hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn). c) Vốn vay Bao gồm vốn vay của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụng khác và các khoản vay khác trên thị trường như phát hành chứng chỉ tiền gửi, phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoài nước ... Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi. d) Các nguồn vốn khác Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư. Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mục tiêu riêng. 1.2.1.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn (nghiệp vụ có) Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. a) Nghiệp vụ ngân quỹ  Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ, nhu cầu dự trữ t iền két cao hay thấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.  Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệ nhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng Trung ương; tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loại này được sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặt như séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán... b) Nghiệp vụ cho vay và đầu tư Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 7/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19  Nghiệp vụ cho vay: Hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạt động quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinh lợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:  Tín dụng ứng trước: Đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định. Có hai loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.  Thấu chi (tín dụng hạn mức): Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.  Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.  Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.  Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiện thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.  Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng bảo lãnh.  Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư  Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là một hình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên. NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầu tư chứng khoán có giới Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 8/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay. Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã huy động. 1.2.1.3. Nghiệp vụ trung gian Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:  Nghiệp vụ thanh toán: Ngân hàng là một trung tâm thanh toán không bằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư t ín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.  Nghiệp vụ thu hộ: Ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các chứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng khoán có giá.  Nghiệp vụ thương mại: Ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.  Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: Đây là một nghiệp vụ quan trọng và ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích... nhằm thu hút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờ các ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và được nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành.  Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quản tài sản (đá quý, chứng khoán...), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản; thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền sở hữu tài sản. 1.2.2. Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản Lâu nay việc quản lý tài sản có và tài sản nợ là sự quan tâm hàng đầu của các NHTM Việt Nam, nhưng trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu đa dạng của khách hàng và sự cạnh tranh mạnh mẽ để tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM đã phát triển những hoạt động ngoại bảng, trong đó một số hoạt động chủ yếu như: Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 9/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 1.2.2.1. Các hợp đồng bảo lãnh Tùy theo nhu cầu của khách hàng, các NHTM sẽ ký kết các hợp đồng bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh dự thầu,… 1.2.2.2. Các hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn NHTM ký kết các hợp đồng tài chính tương lai và hợp đồng quyền chọn với khách hàng trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận những chứng khoán tại một mức giá đã được đảm bảo. 1.2.2.3. Các hợp đồng tỷ giá hối đoái NHTM ký kết với khách hàng trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận một lượng ngoại tệ nhất định. 1.2.2.4. Các cam kết ngoại bảng khác 2. Vai trò, vị trí của NHTM đối với nền kinh tế 2.1. Chức năng của NHTM. 2.1.1. Chức năng trung gian tín dụng, tập trung vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay, trở thành cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn. 2.1.2. Chức năng trung gian thanh toán. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 10/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan. Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ: chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…) 2.1.3. Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính. Sự ra đời và phát triển của thị trường tài chính tạo điều kiện cho NHTM đa dạng hóa trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho thị trường. Dựa trên những ưu thế về thông tin thị trường với khả năng tập hợp và phân tích thông tin nhạy bén, cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ nhân viên được đào tạo về chuyên môn, NHTM cung cấp nhiều dịch vụ tài chính cho nền kinh tế như tư vấn tài chính, môi giới tài chính,… 2.2. Đánh giá vai trò, vị trí NHTM đối với nền kinh tế Với vai trò là trung gian tín dụng của nền kinh tế các NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội, góp phần tiết giảm chi phí và lượng tiền mặt lưu thông, đảm bảo an toàn trong thanh toán, qua đó thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và gia tăng hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. NHTM cũng là cánh tay đắc lực của Chính phủ và NHNN trong việc thực thi các chính sách tiền tệ. Có thể nói NHTM là một trong những hạt nhân trung tâm có vai trò vô cùng to lớn đối với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 11/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 1. Đánh giá chung về tình hình kinh tế thế giới và tác động đối với Việt Nam Năm 2008, khủng hoảng tín dụng bất động sản ở Mỹ do việc cho vay dưới chuẩn đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Mỹ và lan rộng đến toàn thế giới. Khủng hoảng kinh tế Mỹ có những tác động nhất định đến thị trường tài chính - tiền tệ Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng, chu chuyển vốn thị trường thế giới. Trong điều kiện hiện nay, tất cả các quốc gia đều đã hội nhập nên “nhất cử, nhất động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một nền kinh tế lớn như M ỹ . Trước mắt có những vấn đề, ví dụ lãi suất cho vay liên ngân hàng quốc tế - LIBOR và SIBOR - đang tăng. Nó có thể ảnh hưởng tới nợ ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp. Khủng hoảng ở Mỹ có thể làm cho người dân dự đoán USD sẽ xuống giá và họ có thể rút USD khỏi ngân hàng, hoặc bán USD mua tiền Việt gửi vào. Nó có thể làm cấu trúc tài sản của các ngân hàng rơi vào thế bất lợi. Khủng hoảng tài chính của Mỹ có thể làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ giảm mạnh vì hai lý do (1) hàng xuất khẩu của Việt Nam một phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ, và (2) sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm Giá bất động sản ở Việt Nam cũng có thể xuống thấp hơn nữa. Mà bất động sản xuống thì tài sản ngân hàng cũng xuống theo và nợ xấu có thể tăng lên . 2. Tình hình kinh tế vĩ mô trong nước Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 12/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Tốc độ tăng trưởng GDP 5.1 9.54 6.79 6.84 7.2 7.26 7.7 8.43 8.17 8.5 6.2 5.32 0 2 4 6 8 10 12 19 90 19 95 20 00 20 01 20 02 20 03 20 04 20 05 20 06 20 07 20 08 20 09 Năm GDP (%) Nam GDP(%) Biểu đồ 1 : Tốc độ tăng trưởng GDP (Nguồn : Tổng cục thống kê Việt Nam) GDP từ năm 2000 đến 2007 tăng và ổn định , năm 2008 và năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới , GDP Việt Nam giảm thấp xuống mức kỷ lục trong vòng 10 năm qua . Trong những năm gần đây, một số chính sách tiền tệ của NHNN đã tác động đến hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam . Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 13/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Bảng 1 : Tổn g hợp một số thay đổi về lãi suất trong hệ thống NH năm 2008 và 2009  Ngày 16-1, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký Quyết định 187 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng. Theo đó, kể từ tháng 2-2008, tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tăng thêm 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Cụ thể, đối với tiền VND không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên, tăng từ 4% lên 5%. Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tăng từ 4% lên 5%.  17/03/2008  Nguyên nhân phát hành tín phiếu bắt buộc nhằm kiềm chế lạm phát tăng cao từ cuối năm 2007 (CPI = 22,47 %) . Việc phát hành tín phiếu bắt buộc trong thời gian ngắn gây khó khăn cho NH trong việc huy động vốn để đáp ứng yêu cầu của NHNN, nhất là những ngân hàng nhỏ phải vay với lãi suất cao qua thị trường liên ngân hàng .  10/06/2008 Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 14/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19  Việc điều chỉnh các mức lãi suất cơ bản từ 12% lên 14% nhằm tiếp tục thực thi chính sách tiền tệ “thắt chặt” nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và được căn cứ vào mặt bằng lãi suất thị trường tăng . Năm 2009 , lãi suất cơ bản giảm nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mức độ giảm lãi suất cơ bản có biên độ nhỏ nhằm kìm hãm lạm phát tăng mạnh trở lại . 3. Thành tựu đạt được của NHTM Việt Nam trong thời gian qua Hệ thống NHTM VN sau gần 15 năm xây dựng và phát triển đã đạt được một số thành tựu tạo nền tảng để phát triển: 3.1 NHTM VN đã huy động nguồn vốn nội và ngoại tệ đáng kể, làm tăng tiết kiệm của nền kinh tế: Từ những năm 90, lượng vốn huy động qua hệ thống NHTM tăng trưởng không ngừng với tốc độ nhanh và vững chắc. Do sự ổn định giá trị đồng Việt Nam cùng với việc giảm mức lạm phát từ phi mã xuống còn 1 con số, các NHTM Việt Nam đã phát huy được hiệu quả trong chiến lược huy động vốn từ dân chúng. Lượng vốn huy động của toàn hệ thống qua các năm đều tăng với mức trung bình từ 25-30%/năm. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 15/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn 2005-2009 (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước) Từ năm 2008, tình hình huy động vốn của các NHTM giảm sút rõ rệt; theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 4/2009 tăng khoảng 3,74% so với cuối tháng trước và tăng 9,88% so với cuối năm 2008; đến hết tháng 7 tăng 20,92% so với đầu năm. Nguyên nhân là do trong năm 2008, lạm phát cao bùng phát và năm 2009, Việt Nam đã có những dấu hiệu rõ rệt về suy giảm kinh tế do tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu. Tại Việt Nam, trong năm 2009, Chính Phủ chủ trương thực hiện kích cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4%. Hơn nữa, một số kênh đầu tư khác tỏ ra hấp dẫn hơn lãi suất ngân hàng như đầu tư vàng và ngoại tệ khiến dòng tiền chảy vào những kênh đầu tư này hơn là gửi tiết kiệm trong ngân hàng. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 16/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 3.2. Các NHTM đã góp phần tăng trưởng đầu tư cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế giúp cho các doanh nghiệp duy trì ổn định sản xuất, đầu tư công nghệ, thay đổi máy móc, nhờ đó nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế Trong thời gian qua, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới các hình thức cho vay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua,... Đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu có hiệu quả. Thông qua quan hệ tín dụng của các NHTM Nhà nước với các tổ chức tín dụng trong nước thể hiện chủ yếu ở sự biến động của khoản mục cho vay, có thể thấy số lượng giao dịch giữa các tổ chức tín dụng tăng lên liên tục. Mặc dù duy trì được mức tăng trưởng dư nợ trong năm cao song các ngân hàng vẫn kiểm soát được rủi ro ở mức độ an toàn. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được kiềm chế ở mức thấp. Theo con số được Ngân hàng Nhà nước công bố: “Dư nợ tín dụng năm 2008 ước tăng 21- 22% so với cuối năm 2007”. Vốn tín dụng đầu tư vào khu vực dân doanh tăng 35-37%, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 12-14%, lĩnh vực xuất khẩu tăng 35-37%, khu vực sản xuất tăng 34- 36%, khu vực nông nghiệp và nông thôn tăng 30%. Vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác tăng 40-42%. Đến cuối năm 2008, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ngân hàng tăng 30% so với cuối năm 2007, tỷ lệ an toàn vốn tăng từ 8,9% lên 9,7%. Kết thúc quý 1/2009, với một loạt giải pháp chống suy giảm kinh tế của Chính Phủ, trong đó có nới lỏng dần chính sách tiền tệ, dư nợ tín dụng chỉ tăng vỏn vẹn 2,67% so với cuối năm 2008. Tuy nhiên, đến hết tháng 7/2009, mọi chuyện đã đảo ngược khi nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các tổ chức tín dụng tăng khá, lên tới gần 20% so với cuối năm 2008. Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố, nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế thông qua các tổ chức tín dụng tăng khoảng trên 24% so với cuối năm 2008, cá biệt một số tổ chức tín dụng còn trên 50%. Kết thúc năm 2009, với chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ để kích thích phát triển kinh tế, Chính Phủ sử dụng chính sách tiền tệ như gói kích cầu lãi suất ưu đãi 4%, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cơ bản (còn 7%/ năm), và sử dụng chính sách tài khóa như tăng cường Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 17/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…, đã làm tín dụng tăng trưởng khoảng 37%. Từ đó giúp cho tốc độ tăng trưởng GDP trong 2009 của Việt Nam đạt 5,32%. Tốc Độ Tăng Trưởng Tín Dụng 36.50% 53.90% 20% 37%32.10% 0% 20% 40% 60% 2005 2006 2007 2008 2009 Biểu đồ 3 : Tốc độ tăng trường tín dụng 2005-2009 Nguồn: NHNN 3.3.Các NHTM đã đóng góp lớn đến tổng thu nhập kinh tế quốc dân Ngoài việc tăng trưởng mạnh các hoạt động huy động và cho vay, các hoạt động có thu khác của NHTM cũng ngày càng được quan tâm và phát triển. Đây là xu hướng của các NHTM ở các nước phát triển. Đặc biệt khi các hoạt động cho vay và huy động vốn rất nhạy cảm với tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, các hoạt động khác chính là “phao cứu sinh” cho các NHTM, cụ thể là: Trong năm 2008, trước tình hình hạn chế tăng trưởng tín dụng từ chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đã tính đến các biện pháp khác để thu hút khách hàng, cải thiện cơ cấu thu nhập. Biện pháp đầu tiên các NHTM đưa ra là nâng cấp, phát triển dịch vụ, chính vì vậy, hoạt động dịch vụ trong năm 2008 tăng trưởng cao, tăng 67% so với Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 18/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 năm trước. Trong đó, tăng nhiều nhất là thanh toán trong nước, tăng 72%. Qua đó, kéo theo tổng thu tiền mặt qua quỹ Ngân hàng Nhà nước trong năm 2008 tăng 76%. Biều đồ 4: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng trưởng dịch vụ tài chính, tín dụng các năm Nguồn: NHNN Theo biểu 5, ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế chung và dịch vụ tài chính, tín dụng có mối quan hệ rất chặt chẽ, đặc biệt là từ năm 2000 đến nay. Các NHTM vẫn là những tổ chức trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính và tín dụng lớn nhất ở Việt Nam. Như vậy, cả lý thuyết và thực tế đều cho thấy rõ tác động của hoạt động NHTM đến tăng trưởng kinh tế có vị trí quan trọng hàng đầu. 3.4. Với vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế, NHTM VN góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ chu chuyển thanh toán, chu chuyển vốn: Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 19/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Nền kinh tế càng phát triển, chu chuyển thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng tăng vai trò của NHTM trong thanh toán ngày càng mạnh hơn. Với việc áp dụng công nghệ kỹ thuật, tốc độ thanh toán qua ngân hàng đã tăng nhanh. Hiện có 5 chi nhánh NHNN, trên 35 NHTM với 159 đơn vị tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, bình quân mỗi ngày xử lý 7.000 chứng từ với số tiền 3.000 tỷ đồng, ngày cao điểm 12.000 chứng từ với 5.500 tỷ đồng. Mỗi thanh toán thực hiện chỉ dưới 10 giây (Trước kia chuyển tiền từ Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh phải mất trung bình từ 3 đến 5 ngày). Bên cạnh đó, các NHTM có xu hướng hoạt động liên kết và thống nhất với nhau hơn, cụ thể như hợp tác đồng tài trợ các dự án lớn, cùng nhau hỗ trợ khách hàng của các ngân hàng trong hệ thống. Hoạt động thanh toán đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo các hoạt động kinh tế diễn ra một cách liên tục. Các yêu cầu của một hệ thống thanh toán, đó là: an toàn, nhanh chóng, thuận tiện. Sự phát triển của các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần giảm tỉ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, trong năm 2008, dịch vụ thẻ ngân hàng và mở tài khoản cá nhân, trả lương qua dịch vụ ngân hàng tự động ATM phát triển nhanh chóng. Đến nay, toàn hệ thống ngân hàng có khoảng 15 triệu tài khoản cá nhân, tăng 36% so với cuối năm 2007; số lượng thẻ trong lưu thông đạt khoảng 13,4 triệu thẻ, tăng 46% so với cuối năm 2007 với 142 thương hiệu thẻ thuộc 39 tổ chức phát hành thẻ. Hệ thống ATM có 7.051 máy, tăng 2.238 máy so với cuối năm 2007. Mạng lưới chấp nhận các phương tiện thanh toán đạt 24.760 thiết bị POS. Các hệ thống thanh toán của ngành Ngân hàng tiếp tục được ứng dụng công nghệ hiện đại hoá, tiên tiến theo hướng tự động hoá, mở rộng dịch vụ, phạm vi áp dụng và tăng nhanh tốc độ xử lý. 3.5. Các NHTM VN từng bước mở rộng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại phục vụ nhu cầu của nền kinh tế, đời sống Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 20/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Nếu như những năm trước, NHTM VN hầu như chỉ thực hiện các nghiệp vụ truyền thống thì từ mấy năm trở lại đây, đã mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng mới của ngân hàng thương mại hiện đại: dịch vụ ngân hàng tại nhà, Internet Banking, hệ thống thanh toán thẻ, ATM... Đội ngũ khách hàng của NHTM VN khá đông đảo. Sau gần 15 năm hoạt động trong kinh tế thị trường, các NHTM VN đã có mối quan hệ với hầu hết các đối tượng khách hàng. Chẳng hạn như: Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam có thế mạnh trong việc cung cấp các khoản tín dụng trung và dài hạn cho các dự án lớn. Ngân hàng Ngoại thương tập trung vào cung cấp các dich vụ quốc tế như thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ...Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt nam lại tập trung vào tài trợ cho các dự án tài chính phát triển nông thôn Việt Nam với mạng lưới chi nhánh dày đặc trên cả nước. Ngân hàng thương mại cổ phần tập trung phục vụ đối tượng khách hàng là doanh nghiệp tư nhân...Các NHTM VN luôn chú trọng tới mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt là có thể phục vụ các khách hàng có mức độ rủi ro rất cao theo tiêu chí của các ngân hàng nước ngoài. Có thể nói rằng hệ thống NHTM đã có những thành công nhất định trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại. Nếu so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì mức độ phát triển của sản phẩm ngân hàng hiện đại của hệ thống NHTM Việt Nam chưa đạt được chuẩn quốc tế, nhưng đã có sự chú trọng và đã xây dựng được hướng phát triển trong tương lai cũng như bước đầu tạo được hình ảnh tốt trong thị trường nội địa. 3.6. NHTM VN đã thiết lập được đội ngũ chi nhánh đông đảo trong tất cả các tỉnh thành trong cả nước Đây là điều kiện thuận lợi giúp các ngân hàng tăng cường khả năng huy động vốn và tín dụng đến những vùng tiềm năng. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 21/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 3.7. Hệ thống NHTM đã nâng cao vai trò quan trọng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, từ đó tác động đến nền kinh tế Từ cuối năm 2008, Chính Phủ bắt đầu thực hiện gói kích cầu nền kinh tế, trong đó các biện pháp tài chính, tiền tệ là chủ đạo. Các biện pháp tiền tệ gồm: Giảm lãi suất cơ bản: Tính từ ngày 21/10 cho đến hết năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm lãi suất cơ bản, khiến lãi suất cơ bản đã giảm mạnh từ mức đỉnh 14%/năm (ngày 11/6) xuống còn 8,5%/năm. Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc: tính đến hết tháng 6/2009, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc cũng có 2 lần điều chỉnh giảm. Hỗ trợ lãi suất vay vốn nói chung: trong năm 2009 hỗ trợ 4% lãi suất cho vay ngắn hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/2/2009 đến ngày 31/12/2009) và hỗ trợ 4% lãi suất cho vay trung hạn (thời hạn giải ngân khoản vay tính từ ngày 1/4/2009 đến ngày 31/12/2011). Quy mô gói hỗ trợ lãi suất trị giá 1 tỷ đô la Mỹ, tương đương với tổng cung tín dụng khoảng 496.362 tỷ đồng. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 22/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Hệ thống NHTM góp phần tích cực trong việc thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ của NHNN, điển hình như đầu năm 2008, bắt nguồn từ việc tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ từ cuối năm 2007 với mức tăng trưởng trung bình lên đến 54% đã dẫn đến CPI tăng 22.47% và giá hàng hóa đầu vào tăng cao, lạm phát trở thành mối lo ngại chung của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước phải tăng lãi suất cơ bản từ 8.25% đầu năm 2008 lên 14% vào giữa năm 2008 qua 4 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản để kìm hãm tăng trưởng dư nợ và lạm phát. NHNN đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua việc phát hành tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM với tổng giá trị là 20.300 tỉ đồng để rút bớt lượng tiền trong lưu thông. Ngay lập tức tình hình lạm phát đã được cải thiện giúp Chính Phủ ổn định kinh tế vĩ mô. Sự điều tiết chính sách tiền tệ của NHNN còn được thông qua thị trường liên ngân hàng với công cụ lãi suất liên ngân hàng, lãi suất tái cấp vốn (11%/năm tăng lên 13%/năm trong năm 2008), lãi suất tái chiết khấu (tăng từ 13%/năm lên 15%/năm). Những công cụ này góp phần điều tiết lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM: Ngân hàng Phát triển Việt Nam đứng ra bảo lãnh cho các doanh nghiệp có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng và sử dụng tối đa 500 lao động, trừ một số lĩnh vực kinh doanh bất động sản, chứng khoán hay đảo nợ. 4. Một số hạn chế của hệ thống Ngân hàng Việt Nam 4.1. Tăng trưởng tín dụng với tốc độ cao khiến tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng giảm sút trong những năm gần đây Việc tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh là điều thiết yếu đối với mỗi ngân hàng. Tuy nhiên các NHTM thường đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong khi chưa đạt được các yếu tố khác (như nguồn vốn đầu vào, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, khả năng kiểm soát rủi ro…) điều này có thể dẫn đến sự tăng trưởng không bền vững và tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống ngân hàng thương mại. Trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 tính thanh khoản của hệ thống Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 23/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 ngân hàng giảm sút mạnh, tuy nhiên được cải thiện dần ở những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009. Bắt nguồn từ việc tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ từ cuối năm 2007 với mức tăng trưởng trung bình lên đến 54% đã dẫn đến CPI tăng 22.47% làm giá hàng hóa đầu vào tăng cao và lạm phát trở thành mối lo ngại chung của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước phải tăng lãi suất cơ bản từ 8.25% đầu năm 2008 lên 14% vào giữa năm 2008 qua 4 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản để kìm hãm tăng trưởng dư nợ và lạm phát. Các ngân hàng tăng trưởng tín dụng quá nóng trong năm 2007 đến đầu năm 2008 đều thiếu hụt nguồn vốn dẫn đến phải huy động với lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng (bình quân trên 20%/năm, cá biệt có một số thời điểm lên tới 30% thậm chí hơn 40%/năm) và huy động khách hàng với lãi suất 18-20% để duy trì thanh khoản. Lãi suất huy động tiền gửi một số ngân hàng (Kiên Long, Đại Dương, Đông Nam Á, Nam Việt, Gia Định) có lúc tăng lên trên 19%. Lãi suất cho vay cũng theo đó tăng cao nhưng lại bị khống chế bởi trần lãi suất dẫn đến chênh lệch lãi giảm, thu nhập từ lãi của các ngân hàng cuối quý 2/2008 đã giảm mạnh mẽ so với 2007. Cùng với các biện pháp thắt chặt tiền tệ khác của Chính phủ như tăng dự trữ bắt buộc, yêu cầu các NH mua tín phiếu bắt buộc, đến tháng 10/2008, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã được điều chỉnh giảm dần, tăng trưởng lạm phát được kiểm soát cùng với hệ quả tất yếu là kinh tế suy giảm, khả năng sinh lời các tổ chức tín dụng giảm sút thì NHNN bắt đầu giảm lãi suất cơ bản xuống còn 13% và đến cuối 2008 giảm còn 7.95%. Đồng thời, NHNN cũng tăng lãi suất dự trữ bắt buộc lên 5% (21/10/08), tăng lãi suất tín phiếu phát hành 2008 lên 13% (1/7/08) và cho phép NH cầm cố, chiết khấu hoặc thanh toán trước hạn các tín phiếu này, do đó, áp lực thanh khoản của các NH đã được giảm nhẹ. 4.2. Trình độ quản lý còn hạn chế dẫn đến hiệu quả quản lý rủi ro chưa cao Trình độ quản lý, đặc biệt quản lý cấp cao luôn là bài toán khó đối với Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Mặc dù trong những năm qua, các NHTM không ngừng Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 24/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 tuyển dụng, đào tạo cán bộ quản lý các cấp. Song chất lượng còn hạn chế. Đây là nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam so với các ngân hàng nước ngoài. Nhiều NHTM cổ phần đã chọn giải pháp liên doanh, liên kết, bán cổ phần cho các ngân hàng lớn trên thế giới để từng bước được chuyển giao và học tập công nghệ quản lý như: HSBC, Standard Chartered, ANZ…. Nhưng trước mắt, đây vẫn là một vấn đề bức xúc của các NHTM của Việt Nam. Bảng 2: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các NHTM Việt Nam Số TT Tổ chức TD nước ngoài Tỷ lệ sở hữu Tổ chức TD trong nước 01 HSBC 20% Techcombank 02 Standard Chartered 15% ACB 03 SMFG 15% Eximbank 04 Malayan BanKing 15% ABBank 05 BNPParibas 10% Oricombank 06 ANZ 10% Sacombank 07 Duetsche Bank 10% Habubank 08 United Oversea Bank 10% Phương Nam 09 Societe Generale 10% SeaBak (Nguồn: Reuters) 4.3. Quy mô vốn hoạt động còn nhỏ nên chưa thực hiện được mục tiêu kinh doanh một cách hoàn chỉnh Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 25/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Quy mô vốn của các ngân hàng Việt Nam chưa tương xứng tiềm năng phát triển và còn rất nhỏ so với tiêu chuẩn của thế giới. Theo hướng dẫn về vốn pháp định và các tiêu chuẩn quốc tế Basel 1, các ngân hàng của Việt Nam cần duy trì một hệ số vốn tối thiểu (CAR) là 8%. Đến cuối năm 2010, các ngân hàng Việt Nam sẽ buộc phải đăng ký vốn tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Rõ ràng có một sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ CAR của các NHTMCP và các NHTM NN từ 7% đến 14%, trong đó tỷ lệ của NHTMNN thấp hơn. Trong bối cảnh khó khăn như hiện nay, mặc dù tổng vốn huy động của các ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn đáp ứng đủ, song khả năng phát triển và mở rộng thị phần còn hạn chế. Bảng 3. Tổng vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng Việt Nam Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 26/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Nguồn: NHNN 4.4. Nguy cơ khủng hoảng tín dụng do tập trung cao vào một số lĩnh vực làm gia tăng nguy cơ của hệ thống ngân hàng, khiến rủi ro thua lỗ và giảm vốn ngân hàng trở nên khó dự báo Việc tập trung tín dụng quá lớn vào một số ngành, một số Tập đoàn, Tổng công ty là yếu tố rủi ro rất lớn với các NHTM : Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước VN, tính đến Nhóm Ngân hàng Tổng VCSH (tỷ đồng) Nhóm NH quốc doanh Vietcombank 13,316 BIDV 13,466 Agribank 20,989 Vietinbank 12,698 MHB 1,169 Nhóm NH ngoài quốc doanh ACB 7,766 Scombank 7,758 Techcombank 5,991 Eximbank 13,368 VIB 2,292 Đông Á 3,463 An Bình 3,953 HDB 1,673 Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 27/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 31.12.2008, tổng nợ tín dụng của 7 Tập đoàn (Dầu khí, Than khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp tàu thủy, Điện lực, Bưu chính viễn thông) là 128.786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối 2007, chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế ở cùng thời điểm. Một số đơn vị có nợ lớn là Tập đoàn Điện lực nợ 66.764 tỉ đồng (chiếm 51,84% tổng nợ tín dụng của 7 Tập đoàn); Tập đoàn Dầu khí nợ 21.477 tỉ đồng (16,67%); Vinashin nợ 19.885 tỉ đồng (15,44%). Báo cáo cho biết, đây chủ yếu là nợ trung và dài hạn, phục vụ cho các dự án đầu tư mang tính chiều sâu và các kế hoạch phát triển. Cụ thể, nợ ngắn hạn chiếm 15%, nợ trung và dài hạn chiếm 85% tổng nợ của các Tập đoàn. Về chất lượng nợ, tổng nợ quá hạn của 7 Tập đoàn tính đến 31.12.2008 là 4.168 tỉ đồng (chiếm 3,24% tổng dư nợ tín dụng của các Tập đoàn). Tập đoàn Vinashin có số nợ quá hạn là 3.812 tỉ đồng (91,4% tổng số nợ quá hạn của cả 7 Tập đoàn). CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 1. Nâng cao năng lực tài chính Bước vào hội nhập, chúng ta mở cửa toàn diện cho các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quốc tế vào nước ta thì sức ép cạnh tranh sẽ rất lớn. Với kinh nghiệm, vốn và kỹ thuật hiện đại, với mạng lưới rộng khắp trên toàn thế giới thì sự cạnh tranh của các ngân hàng quốc tế đối với chúng ta sẽ mạnh hơn và khắc nghiệt hơn. Trong thực trạng đa phần các ngân hàng Việt Nam với qui vốn chủ sở hữu còn nhỏ, nếu không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng Nhà Nước trong năm 2010 từ 3.000 tỷ đồng trở lên sẽ phải sáp nhập lại để tạo qui mô vốn lớn nhằm đảm bảo hệ số an toàn vốn. Từ đó hình thành các tập đoàn tài chính-ngân hàng đủ lớn để đú sức cạnh tranh với các tập đoàn tài chính nước ngoài. 3. Đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vu Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 28/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 Cần thực hiện việc quản lý điều hành kinh doanh của tổ chức tín dụng theo hướng tập trung, thống nhất tại Hội sở chính. Trên cơ sở đó, hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng truyền thống, chủ động mở rộng các nghiệp vụ ngân hàng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại, phù hợp với nhu cầu thị trường, năng lực quản lý của tổ chức tín dụng và quy định của pháp luật. Đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng bán lẻ như: cho vay tiêu dùng trả góp, tiết kiệm với lãi suất qua đêm, các dịch vụ gửi tiền tại nhà, v.v. 4. Nâng cao trình độ quản lý và kiểm soát tín dụng Ngân hàng là dịch vụ rất đặc biệt và để có một dịch vụ đạt tiêu chuẩn thì yếu tố con người là cực kỳ quan trọng. Trong lĩnh vực ngân hàng thì quan trọng nhất là kỹ năng quản lý và kiểm soát tín dụng. Cần thiết phải có một hệ thống kiểm soát thật chặt chẽ để khi phát triển mạng lưới hệ thống ngân hàng rộng lớn, thì tính hiệu quả sẽ thể hiện rất rõ ở trình độ quản lý. Trình độ quản lý này chỉ có hiệu quả khi có con người có đủ năng lực và hệ thống phương tiện quản lý hiện đại. Ngoài ra, do đặc thù hoạt động của các ngân hàng thương mại chủ yếu dựa trên hoạt động của tín dụng, vì lẽ đó kiểm soát tín dụng là một khâu rất quan trọng nhằm nâng cao chất lượng của danh mục đầu tư của ngân hàng cũng như giảm thiểu tổn thất cho hoạt động của ngân hàng. Đối với chiến lược nhân sự, cần gắn chiến lược nhân sự với các trường đại học trọng điểm và hình thành các trung tâm đào tạo tại các ngân hàng thương mại. Nhân viên ngân hàng là những người làm việc trên lĩnh vực dịch vụ cao cấp nên phải đảm bảo tính chuyên nghiệp và lương cao. 5. Kiến nghị đối với chính sách của nhà nước Tiếp tục rà soát, bổ sung, chỉnh sửa hệ thống quy chế, quy trình nội bộ như các yêu cầu tối thiểu về vốn, quản lý rủi ro, xây dựng sổ tay tín dụng, quy trình đánh giá xếp hạng khách Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 29/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 hàng vay, tổ chức theo dõi và thực hiện việc đánh giá chất lượng tín dụng và các khoản nợ xấu; đề cao vai trò trách nhiệm và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Ban hành các quy định về kiểm soát rủi ro hệ thống, giám sát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, có khả năng cảnh báo sớm đối với các tổ chức tín dụng, đặc biệt đối với thị trường ngoại hối và hệ thống thanh toán quốc gia. Tăng cường công tác thanh tra giám sát nhằm đảm bảo tính an toàn cho cả hệ thống ngân hàng và tạo niềm tin cho công chúng, nâng cao thương hiệu “hàng VN chất lượng cao và giá dịch vụ phải chăng”, tăng cường công tác kiểm toán-kiểm soát nội bộ nhằm giám sát và ngăn ngừa sai sót trong từng ngân hàng. Các quy định về thanh tra giám sát cần nghiên cứu và ban hành phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Tiểu luận môn học GVHD: PGS-TS Vũ Thị Minh Hằng Nhóm 2 30/30 Lớp: Cao họcĐ1-K19 KẾT LUẬN Từ khi ra đời hệ thống NHTM Việt Nam cùng với hoạt động tín dụng của nó đã góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam một cách tích cực. Nó không những cung ứng vốn cho các doanh nghiệp tăng cường mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ các dự án, chương trình xây dựng cơ bản, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước. Ngân hàng đã đạt được một số thành tựu nhất định, chứng tỏ rõ nó là một bộ phận chủ yếu trong nền kinh tế ở nước ta, đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển góp phần vào quá trình xây dựng đất nước đưa đất nước đi lên theo con đường chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong nền cơ chế thị trường thì hoạt động của các NHTM vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong khuôn khổ hạn hẹp của tiểu luận nhóm 2 đã trình bày một số lý luận cơ bản về NHTM và các hoạt động của nó, cùng với một số vấn đề nổi cộm trong thực tế hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Nam, và có đưa ra một số đề xuất về giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả của hoạt động của ngân hàng ở Việt Nam .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfde_tai_so_8_0901.pdf
Luận văn liên quan