Tiểu luận Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam

Để thị trường trái phiếu vận hành tốt đòi hỏi một hệ thống pháp lý hoàn thiện mang lại một sân chơi công bằng, luật sở hữu rõ ràng và thông tin minh bạch cũng như một cơ quan quản lý thị trường có năng lực. Hiện nay, hoạt động của thị trường trái phiếu được điều chỉnh bởi các văn bản pháp quy: Nghị định 01/2011/NĐ-CP (quy định việc phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP), Nghị định 90/2011/NĐ-CP (quy định việc phát hành TPDN), Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 (quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán) và một số các văn bản pháp quy khác có liên quan. Các quy định về đấu thầu TPCP và việc công khai hóa thông tin của Chính phủ về TPCP cần được thể hiện trong Luật Chứng khoán, không nên quy định riêng lẻ trong các văn bản dưới Luật như hiện nay. Cần có các quy định để ràng buộc trách nhiệm của các thành viên tham gia đấu thầu và bảo lãnh phát hành. Xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động công bố thông tin, nền tảng là Luật Chứng khoán và Luật Kế toán. Tạo khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh cũng như các tranh chấp, kiện tụng giao dịch.

pdf33 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/06/2014 | Lượt xem: 2637 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ức đảm bảo cho khoản vay. Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau: + Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể. + Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động. Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định. Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là: + Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn. + Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn. + Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi được đề cập tới dưới đây. 3.3. Theo thời gian đáo hạn: + Tp ngắn hạn: thời hạn 1 đến 5 năm: + TP trung hạn: thời hạn 5 đến 15 năm + TP dài hạn: trên 15 năm. + TP vô hạn: không ghi ngày đáo hạn 3.4. Căn cứ theo phương thức trả lãi + Tp lợi tức + Tp chiết khấu 3.5. Căn cứ theo phạm vi lưu thông + Tp quốc nội + Tp quốc tế 4. Điều kiện phát hành Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau: - Là công ty cổ phần, công ty TNHH, DNNN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành là 10 tỷ đồng VN. - Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thơi không có lỗ luỹ kết đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm. - Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu. - Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác. II. Thị trường trái phiếu 1. Khái niệm Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Thị trường trái phiếu là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. 2. Phân loại thị trường trái phiếu Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp 2.1. Thị trường sơ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành. Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu mua các trái phiếu mới phát hành Vài trò của thị trường sơ cấp - Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua việc phát hành chứng khoán - Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhà rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền san dạng vốn dài hạn. Đặc điểm của thị trường sơ cấp - Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người phát hành. Là trhị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch. Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư. - Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành,... - Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trong thời gian hạn định. 2.2. Thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành. Đặc điểm thị trường thứ cấp - Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. - Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá trái phiếu trên thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định. - Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp. 2.3. Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Không có thị trườngsơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp là một lọai thị trường đặc biệt, nó không thể ra đời chừng nào vẫn chưa có một thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc với nhiều loại trái phiếu đa dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu và công chúng đến bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu. Ngược lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thị trường sơ cấp, vì một khi trái phiếu đã được phát hành ra trên thị trường, nếu không có một thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu thì thật khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu. Chính việc mua bán giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp làm cho lưu động hóa vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ trái phiếu thành tiền mặt. Vốn khả dụng thanh khoản cao của trái phiếu mà tính chất năng động của thị trường thứ cấp đã hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu. Điều này chính là điều kiện cơ bản để các nhà phát hành trái phiếu có thể bán được trái phiếu trên thị trường sơ cấp và huy động được nguồn vốn lớn theo nhu cầu. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 1) Thị trường trái phiếu chính phủ Trong suốt 10 năm qua, thị trường trái phiếu chính phủ đã hình thành và phát triển song song với sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết, với các mốc lịch sử sau:  Đến năm 2000, quy chế phát hành trái phiếu CP theo nghị định 72/CP ngày 26/07/1994 được thay thế bằng nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 ban hành quy chế phát hành trái phiếu chính phủ. Quy chế phát hành TPCP đã đổi mới thể hiện qua việc áp dụng phương thức phát hành trái phiếu thông qua đấu thầu qua thị trường giao dịch chứng khoán tập trung và bảo lãnh phát hành. Bên cạnh đó còn quy định việc TPCP niêm yết, giao dịch trên TTCK và phân rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan. Tháng 8/2000: TPCP lần đầu tiên được đưa vào giao dịch trên Trung tâm giao dịch CK Tp. HCM (HOSE)  Tháng 11/2003: Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ trong phạm vi cả nước. TPCP do Chính phủ phát hành bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ quốc.  Tháng 8/2005: TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội. Tuy nhiên đến thời điểm này rất nhiều phiên đấu thầu thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà lãi suất là một trong những nguyên nhân lớn.  Tháng 6/2006: Quyết định số 2276/QĐ-BTC về tập trung đấu thầu TPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội. và Quyết định 46/2006/QĐ-BTC ban hành Quy chế về việc phát hành trái phiếu Chính phủ theo lô lớn. Quyết định này quy định sẽ chỉ tập trung hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, bao gồm trái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu tư tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội kể từ ngày 01/07/2006. Chỉ sau 3 tháng kể từ ngày Quyết định này ra đời, Trung tâm GDCK Hà Nội đạt được những thành công bước đầu khi tổ chức thành công 4 phiên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ theo kế hoạch huy động vốn của Kho bạc Nhà nước, huy động được 1.200 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 5 năm, đạt 80% khối lượng gọi thầu; đã có 38 loại trái phiếu đăng ký giao dịch với tổng giá trị đạt 7.027 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm 2007 thông qua gần 30 phiên đấu thầu TPCP tại HASTC, đã huy động được 12.695 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Hơn nữa, lãi suất đấu thầu trái phiếu giảm dần (lần đầu tiên lãi suất TPCP đã giảm xuống mức thấp hơn lãi suất ngân hàng, cụ thể lãi suất cơ bản vào ngày 1/6/2007 là 8,25% theo Quyết định 1143/QĐ- NHNN ngày 29/5/2007, trong khi đó lãi suất trúng thầu TPCP kỳ hạn 5 năm vào ngày 11/6/2007 là 7,15%), dẫn đến lãi suất bảo lãnh phát hành cũng giảm. Tuy nhiên sự thành công đó cũng bắt đầu giảm dần khi tỷ lệ thành công các đợt đấu thầu giảm mạnh từ 99% quý 1 xuống còn 58,39% của quý III năm 2007 và tiếp sau đó là sự thất bại của hàng loạt các đợt đấu thầu như lô 200 tỷ đồng kỳ hạn 15 năm phát hành ngày 27/9/2007 của Ngân hàng Phát triển Việt Nam … nguyên nhân chính là do yếu tố lãi suất thấp, mặc dù độ rủi ro là thấp. Nhiều người đã lạc quan cho rằng “hoạt động đấu thầu loại chứng khoán này đang thực sự chuyển biến tích cực và ngày càng hiệu quả hơn”. Khối lượng phát hành của một lô lớn trái phiếu tối thiểu là 1.000 tỷ đồng. Kỳ hạn của trái phiếu lô lớn từ 5 năm trở lên. Trái phiếu lô lớn được phát hành theo phương thức sau: đấu thầu trái phiếu hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu. Thời hạn phát hành của một lô lớn trái phiếu tối đa không quá 365 ngày..  Tính đến 30-9-2007, đã có hơn 114.809 tỉ đồng trái phiếu được niêm yết giao dịch trênSở GDCK TPHCM (HOSE) và Trung tâm GDCK Hà Nội (HASTC), tăng gấp hơn 104 lần sovới giá trị niêm yết năm 2000  Tháng 1/2008: Quyết định 86/2008/QĐ-BTC phê duyệt đề án xây dựng thị trường TPCP chuyên biệt. Đây được xem là mốc sự kiện quan trọng nhất vì đã đặt ra mục tiêu, lộ trình và xác định mô hình phát triển của Thị trường TPCP. Đề án được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt, tách hẳn khỏi thị trường giao dịch cổ phiếu. Hàng hóa giao dịch bao gồm các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh. Tất cả các loại trái phiếu giao dịch trong hệ thống đều được lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán. Trái phiếu Chính phủ giao dịch sẽ được gán mã giao dịch và mã định danh riêng biệt để tạo thuận lợi cho hoạt động giao dịch và quản lý. Phương thức giao dịch được áp dụng là thỏa thuận. Thành viên có thể thực hiện giao dịch thỏa thuận từ xa thông qua hệ thống mạng máy tính nội bộ mở rộng.  Tháng 5/2008: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định chuyển trái phiếu chính phủ từ sàn Tp.HCM sang niêm yết tại sàn Hà Nội.  Tháng 7/2008: Quyết định Số 46/2008/QĐ-BTC ban hành Quy chế quản lý giao dịch TPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội. Quy chế này quy định về hoạt động đăng ký niêm yết, công bố thông tin, thành viên giao dịch TPCP, giao dịch và quản lý giao dịch TPCP niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (TTGDCKHN). Từ khoảng đầu năm 2008, liên tục diễn ra các cuộc đấu giá TPCP không thành công, số lượng tham gia rất èo uột, thậm chí không có ai tham dự. Một thống kê cho thấy: trong 10 cuộc đấu giá từ tháng 3/2008 đến 11/7/2008 thì chỉ có 11 đơn vị tham gia với tổng cộng 875 tỷ đồng được đăng ký đấu so với trên 8.000 tỷ đồng gọi thầu. 6 cuộc đấu giá chỉ có một đơn vị tham gia đấu giá và 9 cuộc đấu giá không có một trái phiếu nào được đấu thành công. Từ đầu năm 2009 đến tháng 7/2009, các cuộc đấu thầu TPCP cũng chịu chung số phận. Thậm chí, từ đầu tháng 4 đến tháng 7, lãi suất trần huy động TPCP tăng thêm đến 1,2 điểm phần trăm (từ 7,6% đến 8,8%), nhưng các cuộc đấu giá TPCP vẫn chưa thể tạo được sức hút đối với các NĐT trong và ngoài nước, như sự thất bại của phiến đấu thầu lô 500 tỷ đồng ngày 29/5/2009 của Công ty CP Đầu tư phát triển đường cao tốc VN (VEC) …  Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức được Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế. Mục tiêu xây dựng và phát triển Thị trường TPCP là mở rộng thị trường, tăng cường tính thanh khoản trên thị trường TPCP, liên kết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăng cường công tác giám sát thị trường. Sự ra đời của thị trường này được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu của nền kinh tế mà còn làm đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn. Đồng thời, thị trường TPCP còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biến số kinh tế vĩ mô. Sau một năm chính thức đi vào hoạt động, thị trường trái phiếu chuyên biệt đã có những bước tiến mới, đó là thực hiện lưu ký tập trung tại HNX chứ không thực hiện một cách rải rác trên nhiều thị trường. Hơn nữa, nhờ yêu cầu khắt khe đối với các thành viên tham gia thị trường về các yếu tố trang thiết bị, chất lượng nhân sự, các bên tham gia thị trường có thể yên tâm về tính an toàn khi giao dịch. Các cơ chế dành cho giao dịch REPO rất hạn chế. Trong giai đoạn 2010 – 2015 thị trường sẽ có thêm giao dịch option, future và giao dịch corporation để đưa các trái phiếu doanh nghiệp vào giao dịch.  Năm 2010, thị trường TPCP tiếp tục ảm đạm, như đợt đấu thầu cho lô 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 2 năm tổ chức lần 1 vào ngày 25/1/2010 đã thất bại và phiên đấu thầu thứ 2 vào ngày 24/3/2010 cũng chỉ bán được 3,33% tổng khối lượng chào bán. Tuy nhiên, tổng giá trị giao dịch đạt trên 81.000 tỷ đồng, bình quân mỗi phiên giao dịch đạt 340 tỷ đồng. Người mua TPCP: Chủ yếu là các NĐT trong nước, đặc biệt là các NHTM, với 2 lý do chủ yếu là: Thứ nhất, các NĐT nước ngoài chưa quay trở lại thị trường do có sự quan ngại nhất định về sự sụt giảm giá trị của VND so với USD. Thứ hai, nhu cầu mua TPCP tăng mạnh của khối các tổ chức tín dụng (TCTD) trong nước do: bối cảnh chính sách tiền tệ mở rộng giai đoạn giữa năm làm gia tăng áp lực dư thừa vốn; Thông tư 13 và Thông tư 19 buộc các TCTD phải tăng cường đầu tư vào TPCP; các NHTM tích cực tham gia mua TPCP do chênh lệch lãi suất khá hấp dẫn giữa thị trường mở (OMO) và huy động từ thị trường 1; một lượng khá lớn TPCP đáo hạn trong năm 2010, phần lớn là tại các NHTM, nên các NHTM tiếp tục mua lại và nắm giữ TPCP.  Năm 2011: + Tổng giá trị giao dịch chỉ đạt trên 73.000 tỷ đồng, bình quân 280 tỷ đồng/phiên. Giá trị giao dịch trái phiếu chính phủ trong năm 2011 lại giảm so với 2010 (# tốc độ giảm là 9,88%). Nguyên nhân sự sụt giảm TPCP 2011 do tác động từ khủng hoảng nợ công châu Âu, suy thoái kinh tế Mỹ, lạm phát cao ở nhiều nước châu Á, cùng với một lượng lớn trái phiếu chính phủ đã đến hạn (hơn 50.000 tỷ đồng), bội chi ngân sách… gây áp lực lên nguồn cung trái phiếu chính phủ ở thị trường sơ cấp; lạm phát cao và chính sách tiền tệ thắt chặt đã hạn chế sự tham gia của các nhà đầu tư. + Tổng khối lượng trái phiếu chính phủ phát hành thành công đạt 65.903,8 tỷ đồng, đạt 77,5% kế hoạch năm. Khối lượng trái phiếu phát hành thành công nhiều nhất thuộc kỳ hạn 3 năm (30.117,1 tỷ đồng) và 5 năm (22.678,5 tỷ đồng). Khối lượng trái phiếu chính phủ bảo lãnh phát hành thành công đạt 14.957 tỷ đồng, trong đó, khối lượng trúng thầu kỳ hạn 3 năm và 5 năm đạt lần lượt 5.742 tỷ đồng và 4.770 tỷ đồng. Biểu đồ: Khối lượng trái phiếu Chính phủ đã phát hành năm 2011 + Theo Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), trong tháng 2/2012, tổng khối lượng trái phiếu huy động qua đấu thầu tại HNX đạt tới 35.380 tỷ đồng, tương ứng với 85,9% khối lượng gọi thầu, tăng gấp 141% so với cùng kỳ năm 2011. Trong phiên đấu thầu đầu tiên của tháng Ba (1/3), HNX cũng đã tổ chức đầu thầu huy động thành công 6.895 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ (khối lượng gọi thầu là 7.000 tỷ đồng), với các mức lãi suất huy động của kỳ hạn 3 và 10 năm xuống dưới 11%/năm.  Nhận định xu hướng: - Thị trường trái phiếu đã có những tín hiệu tích cực ngay trong thời điểm đầu năm 2012 với việc huy động thành công 1.880 tỷ đồng trái phiếu Kho bạc với lãi suất từ 12,1%-12,15% cũng như sự hợp tác hiệu quả giữa các cơ quan quản lý thị trường trong tiến trình thực hiện chương trình tái cơ cấu hàng hóa thị trường trái phiếu. - Nhằm nâng cao tính minh bạch, đẩy mạnh doanh số giao dịch trái phiếu và tính thanh khoản của thị trường trái phiếu, và cung cấp đường cong lãi suất thị trường đáng tin cậy cho thị trường trái phiếu, Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA) đã đề xuất việc lựa chọn các nhà tạo lập thị trường với 8 ngân hàng thành viên chủ chốt hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam. Đây là những bước đi phù hợp nhằm tạo sự chuyển biến tích cực cho thị trường trái phiếu Việt nam vốn nhiều tiềm năng, với giá trị giao dịch còn ở mức khiêm tốn, chiếm 16-17% GDP. - Lạm phát hạ nhiệt là cơ sở để hạ lãi suất trong mối liên quan mật thiết với giá trái phiếu. Song, tín hiệu hạ lãi suất còn phụ thuộc vào sự cải thiện thanh khoản của NHTM và khoảng thời gian này sẽ không sớm hơn quý I/2012. Bên cạnh đó, trong năm 2012, khối lượng trái phiếu Chính phủ và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đáo hạn khoảng gần 75.000 tỷ đồng. Một phần lượng tiền đáo hạn này sẽ quay lại đầu tư vào trái phiếu Chính phủ như một kênh dự phòng thanh khoản an toàn. Trong khi đó, nguồn cung trên thị trường sơ cấp chỉ đáp ứng được tôi đa 45.000 tỷ đồng nên nhu cầu đầu tư trái phiếu trên thị trường thứ cấo sẽ tiếp tục tăng, góp phần giúp lợi suất trái phiếu giảm xuống trong thời gian tới. 2) Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương: là công cụ cho các địa phương huy động vốn phục vụ cho việc xây dựng các công trình cơ sở vật chất hạ tầng tại địa phương của mình, chủ yếu phát hành thông qua công chúng của chính địa phương đó thông qua KBNN. Hiện nay, chỉ có hai địa phương là Hà nội và TP.HCM là thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương thường xuyên, với số lượng lớn nhằm huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi tại địa phương. Dựa vào những điểm mốc của việc hình thành khung pháp lý và cơ chế phân cấp NSNN cho việc phát hành trái phiếu đô thị, có thể chia làm hai giai đoạn cơ bản: - Giai đoạn: từ năm 1991 đến năm 2003 Cơ chế phân cấp của ngân sách trong giai đoạn này còn mang nạng tính tập trung, phần lớn nguồn thu các dự án đầu tư đều do NSTW thực hiện. Vì vậy, chỉ có một số địa phương vận dụng nội dung các văn bản pháp lý về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình để đầu tư cho các công trình địa phương. Những trái phiếu này được đảm bảo thanh toán bằng nguồn ngân sách địa phương. Năm 1995, triển khai Nghị định 72/CP của Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn Ủy ban Nhân dân các tỉnh xây dựng đề án huy động vốn cho các dự án đầu tư trọng điểm của địa phương về phát triển kinh tế xã hội. Ủy ban Nhân dân các tỉnh như: Bình Thuận, Tiền Giang, Cà Mau, Lào Cai… đã triển khai kế hoạch đầu tư các công trình thuộc hạ tầng kinh tế xã hội. Vận dụng nội dung của Luật NSNN, nhằm khuyến khích các địa phương đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, thông qua quỹ đầu tư phát triển đô thị, các địa phương như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Tháp, … như: khu đô thị Linh Đàm 42 tỷ đồng; khu đô thị mới Định Công 50 tỷ đồng; khu đô thị mới Chí Linh 71 tỷ đồng; nhà máy xi măng Bút Sơn 12,2 tỷ đồng; nhà máy xi măng Anh Sơn 7,6 tỷ đồng; đường Nguyễn Tất Thành-liên tỉnh lộ 15 là 25,2 tỷ đồng… Ngoài ra, một số địa phương như: Tiền Giang, Bình Thuận, Khánh Hòa… phát hành trái phiếu công trình huy động trên 130 tỷ đồng. - Giai đoạn từ năm 2003 đến 2008 Đẩy mạnh đầu tư phát triển kinh tế, nhằm hoàn thành chỉ tiêu kinh tế xã hội trong kế hoạch 5 năm (2000-2005) cùng với tiến trình đô thị hóa, đã làm cho nhu nhu cầu vốn đầu tư của tỉnh, thành phố tăng lên rất lớn, đặc biệt là các dự án phát triển hạ tầng cơ sở. Vận dụng nội dung ở khoản 3 điều 8 Luật ngân sách nhà nước về cho phép các tỉnh, thành chủ động huy động vốn để thực hiện các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng, và các nghị định của Chính phủ về việc áp dụng quy chế tài chính đặc biệt cho một số địa phương như Nghị định 123/2004/NĐ-CP và Nghị định 124/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004, cùng với việc thực hiện hiện cơ chế phi tập trung hóa trong lĩnh vực ngân sách nhà nước, một số tỉnh, thành phố có điều kiện về tiềm lực kinh tế đã vận dụng phương thức phát hành trái phiếu đô thị để huy động vốn tài trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng. Từ năm 2003-2007, thông qua Quỹ đầu tư phát triển các địa phương như TP.HCM, Hà Nội đã huy động được một lượng vốn lớn cho ngân sách. Tổng lượng vốn mà hai địa phương này huy động qua phát hành trái phiếu đô thị trên 11.000 tỷ đồng, trong đó TP.HCM là 10.000 tỷ đồng và Hà Nội là trên 1.000 tỷ đồng. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, là trái phiếu đô thị TP.HCM. Quỹ Đầu tư là đơn vị được UBND/TP ủy nhiệm việc phát hành trái phiếu đô thị qua các năm. Năm 2003 - 2007, Quỹ đã đảm nhiệm vai trò tư vấn kỹ thuật, phối hợp cùng Sở Tài chính thực hiện thành công 5 đợt phát hành trái phiếu đô thị, huy động được 10.000 tỷ đồng trái phiếu đáp ứng nhu cầu phát triển của Thành phố. Riêng năm 2009 là năm đầu tiên thành phố phát hành trái phiếu đô thị cho các công trình có nguồn thu, cụ thể là cho dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm với kế hoạch phát hành là 14.000 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 11/2009, khối lượng trái phiếu phát hành là 1.540 tỷ đồng, đạt 38,5% so với kế hoạch, với loại kỳ hạn 3 năm theo phương thức bảo lãnh. Khối lượng trái phiếu còn lại đã được tiếp tục triển khai phát hành trong năm 2010. Việc phát hành thành công trái phiếu đô thị TP.HCM không những mở ra một kênh huy động vốn mới, có những ưu điểm là có thể có thời hạn dài và ổn định, mức chi phí vốn hợp lý, góp phần đáng kể trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, đồng thời khắc phục một số hạn chế trong việc huy động tín dụng từ các ngân hàng của chính quyền địa phương...mà còn có ý nghĩa lớn về mặt thực hiện chủ trương thí điểm phát hành trái phiếu của chính quyền địa phương theo cơ chế "tự vay, tự trả" ở nước ta, mở ra triển vọng nâng cao tính tự chủ trong quản lý ngân sách đầu tư của chính quyền địa phương. Thành công trên chỉ bước đầu, việc phát hành trái phiếu đô thị vẫn còn một số hạn chế tồn tại cần phải khắc phục như sau: - Quy mô thị trường phát hành trái phiếu đô thị còn quá nhỏ, vốn huy động còn hạn chế chưa đáp được nhu cầu vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đô thị. Mặc dù, Luật NSNN cho phép các địa phương huy động vốn đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng, tuy nhiên các địa phương vẫn chưa mạnh dạn lựa chọn phương thức này. Tính đến cuối năm 2007, chỉ mới có 2 địa phương thực sự chủ động thực hiện phát hành trái phiếu để huy động vốn đầu tư cho ngân sách là Hà Nội và TP.HCM. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau: + Quy trình, thủ tục lập phương án phát hành còn quá nhiều phức tạp: dựa trên nhu cầu vốn đầu tư trong năm, cơ quan tài chính địa phương lập phương án huy động trình Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố xét duyệt. Tuy nhiên, khâu báo cáo và giải trình với Bộ Tài chính rất phức tạp. + Phân cấp nguồn tài chính cho ngân sách địa phương còn hạn chế, chưa tạo được cơ sở đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương chủ động cân đối trả nợ. - Công tác kế hoạch hóa kế hoạch huy động vốn còn chưa được quan tâm đúng mức. Chỉ mới xây dựng kế hoạch hàng năm, các địa phương chưa có chiến lược tổng thể về huy động vốn thông qua phát hành trong khoảng thời gian dài 5-10 năm, trong khi đã phát hành loại trái phiếu có kỳ hạn 15 năm. Việc xây dựng kế hoạch phát hành trái phiếu mang tính thụ động, chủ yếu dựa vào nhu cầu chi tiêu và dự toán Ngân sách đã được thông qua. Quy trình lập dự toán ngân sách hiện nay vẫn còn theo mô hình cũ, dựa trên cơ sở nguồn tài chính huy động đầu vào từ đó xác định đầu ra. - Cơ chế phát hành còn nhiều bất cập: + Về lãi suất đấu thầu: thời gian qua lãi suất đấu thầu trái phiếu chính phủ do Bộ Tài chính đưa ra còn phần nào mang tính chủ quan, chưa căn cứ vào tình hình biến động của nền kinh tế, cũng như việc quy định về biện độ dao động giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu đô thị còn cứng nhắc. Ví dụ như tình hình đấu thầu trái phiếu đô thị TP.HCM năm 2007, rất nhiều phiên không thực hiện được, phải áp dụng phương thức bảo lãnh phát hành. + Hình thức trái phiếu chưa thật sự phong phú, chủ yếu là dạng chứng chỉ có ghi hoặc không ghi tên, lãi suất cố định. Phương thức trả lãi phổ biến là hàng năm, định kỳ 6 tháng đối với trái phiếu đô thị TP.HCM. - Quy mô phát hành trái phiếu công trình đô thị còn hạn chế. 3) Thị trường trái phiếu công ty Năm 2009, thị trường trái phiếu công ty khá sôi động với nhiều đợt phát hành thành công, trong đó chủ yếu là hình thức phát hành trái phiếu với lãi suất thả nổi. Do lo ngại rủi ro biến động lãi suất ở mức cao mà cả nhà phát hành lẫn đầu tư đều tập trung vào loại hình trái phiếu này. Trái phiếu phát hành chủ yếu có cấu trúc lãi suất thả nổi do bối cảnh rủi ro biến động lãi suất ở mức cao. Ước tính đã có khoảng 18.000 tỉ đồng giá trị trái phiếu có lãi suất thả nổi được bán ra, chiếm 75% trong tổng giá trị trái phiếu huy động được Bên cạnh đó, trái phiếu chuyển đổi cũng là kênh huy động vốn được nhiều công ty sử dụng trong năm 2009, nhất là từ quí 3 trở đi, khi mà thị trường chứng khoán có sự phục hồi rõ rệt. Năm 2010 phát triển nở rộ với nhiều đợt phát hành thành công, với tổng giá trị đạt hơn 47 ngàn tỷ đồng, tăng 76% so với năm 2009. Một số doanh nghiệp phát hành thành công: EVN – 5000 tỷ đồng, Vinaconex – 2000 tỷ đồng… NĂM NHÀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU LỚN NHẤT VIỆT NAM (TÍNH ĐẾN 2010) Một số doanh nghiệp cũng đã thực hiện việc phát hành trái phiếu ra thị trường để huy động vốn trong các dự án đầu tư: - Vào năm 2010, công ty Địa ốc NH Sài Gòn Thương Tín (Sacomreal) đã phát hành 99 tỉ đồng trái phiếu riêng lẻ có mệnh giá 1 tỉ đồng, kỳ hạn 18 tháng với lãi suất tháng đầu tiên 17%/năm. Lãi suất thả nổi các tháng tiếp theo bằng lãi suất tiền gửi 12 tháng của Sacombank cộng thêm 2,5%. Theo Sacomreal, các nhà đầu tư cá nhân đã mua 34 tỉ đồng, 65 tỉ đồng còn lại do các tổ chức mua. Đây là trái phiếu không bảo đảm và có thể hoán đổi sản phẩm như căn hộ, biệt thự, nhà phố, đất nền do Sacomreal đầu tư hoặc phân phối. - Năm 2011, Công ty Đầu tư Phát triển Đô thị và Khu Công nghiệp Sông Đà (SJS) vừa huy động thành công 700 tỉ đồng trái phiếu DN riêng lẻ kỳ hạn 3 năm. Lãi suất trái phiếu điều chỉnh 6 tháng/lần, lãi đầu kỳ lên tới 22%/năm. Các kỳ sau thả nổi bằng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của NH Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) cộng 6% Tính đến tháng 5/2011, thị trường trái phiếu chiếm khoảng 16%GDP, trong đó trái phiếu chính phủ chiếm khoảng 13% GDP. Trái phiếu công ty có quy mô khiêm tốn, chỉ hơn 3% GDP và chiếm tỷ trọng khoảng 20% tổng quy mô thị trường. So với các nước trong khu vực, quy mô thị trường trái phiếu công ty Việt Nam còn nhỏ và cũng còn nhiều tiềm năng. Chẳng hạn, Thái Lan quy mô thị trường trái phiếu công ty lên tới gần 50 tỷ USD vào năm 2010, chiếm khoảng 20% GDP. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp/tổng dư nợ trái phiếu của Việt Nam mới đạt 11% trong khi con số tương ứng của Thái Lan là 33%, Malaysia: 50%, Hàn Quốc là 51%. Một số điểm mới của thị trường trái phiếu công ty: - Chính phủ ban hành nghị định 90/2011/NĐ-CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. - Chỉ thị số 01/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 01/3/2011 - Ban hành quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng; số dư nợ mua trái phiếu của doanh nghiệp được tính vào tỷ lệ tăng trưởng tín dụng và các tỷ lệ an toàn hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. - Thông tư 64/2010/TT-BTC ngày 22.4.2010 điều chỉnh về thuế suất đối với thu nhập từ giao dịch trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài - Ngoài việc thu hút các nhà đầu tư là các tổ chức, các doanh nghiệp đã niêm yết trái phiếu trên sàn chứng khoán nhằm thu hút vốn từ các nhà đầu tư cá nhân. 1) Trái phiếu quốc tế Năm 2005, lần đầu tiên Việt Nam phát hành thành công 750 triệu USD trái phiếu Chính phủ ra thị trường vốn quốc tế. Đây là một đợt phát hành rất thành công và đã được thị trường tài chính quốc tế bình chọn là một sự kiện lớn trên thị trường tài chính quốc tế. Toàn bộ số tiền vay qua trái phiếu quốc tế đã được cho Vinashin vay lại để đầu tư phát triển ngành công nghiệp đóng tàu. Đợt phát hành trái phiếu gần đây nhất là vào ngày 26/01/2010, Việt Nam đã phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu Chính Phủ thời hạn 10 năm trên thị trường quốc tế với lợi tức 6,95%. Số tiền thu được từ đợt phát hành 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế này được tập trung vào các mục tiêu: + Hoàn trả vốn ngân sách Nhà Nước + Giao Bộ Kế hoạch&Đầu tư phối hợp Bộ Tài chính lựa chọn dự án phù hợp (dự kiến cho các Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đầu tư bổ sung các dự án lọc hóa dầu Dung Quất, dự án xây dựng thủy điện Xê Ca Mản 3, nhà máy thủy điện Hủa Na và mua tàu vận tải biển). Phát hành trái phiếu quốc tế có thể giúp doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn với kỳ hạn dài để phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh, nhất là trong bối cảnh lãi suất ngân hàng cao như hiện nay. Đây là những động lực chính khiến nhiều “ông lớn” lên kế hoạch phát hành trái phiếu trong năm nay. Nhiều DN lớn của Nhà nước và tư nhân đều có kế hoạch phát hành trái phiếu quốc tế do nhu cầu vốn lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hiện đang triển khai xây dựng 15 dự án điện, với tổng công suất 10.581 MW. Tổng vốn đầu tư cho 15 dự án là 9 tỷ USD. Ngoài ra, EVN còn có 11 dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, với tổng công suất 7.285 MW và đang thực hiện các thủ tục đầu tư 5 dự án nguồn điện khác, dự kiến khởi công trong giai đoạn 2011 - 2015 gồm 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1&2 (hơn 4.000 MW) và 3 dự án thuỷ điện tích năng (Bắc Ái, Hàm Thuận Bắc, Mộc Châu, tổng công suất 3.600 MW). Với những dự án lớn như vậy, khó có thể chỉ trông chờ vào vốn nội địa. Để đảm bảo nguồn vốn cho các dự án điện, EVN có kế hoạch phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu trong nước và 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế năm 2011. Bên cạnh đó, kế hoạch phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế đã được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) dự kiến phát hành từ năm 2009, nhưng gần 2 năm trôi qua, kế hoạch này vẫn chưa được thực hiện. Năm 2011 này, PVN đã có kế hoạch đầu tư khoảng 5-6 tỷ USD cho nhiều dự án của mình và mục tiêu hướng tới là không vay ưu đãi mà sẽ phát hành trái phiếu quốc tế để giải quyết nhu cầu về vốn. Đối với Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng vừa trình lên Chính phủ xin phép được tái phát hành 500 triệu USD trái phiếu quốc tế. Thời điểm phát hành trái phiếu quốc tế thuận lợi nhất là vào khoảng giữa năm 2011 khi các báo cáo quyết toán đã hoàn thiện, nguồn tài chính trên thế giới dồi dào. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) dự kiến sẽ làm việc với các cơ quan Nhà nước để phát hành 500 triệu USD trái phiếu quốc tế, nhằm tăng vốn cấp 2 khi điều kiện thị trường cho phép. Không chỉ các tập đoàn Nhà nước cần đến dòng vốn quốc tế, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAG) đã tổ chức đại hội cổ đông bất thường nhằm thông qua kế hoạch phát hành 200 triệu USD trái phiếu quốc tế. Trái phiếu sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán Singapore. Rõ ràng, chủ động trong huy động vốn đầu tư qua kênh phát hành trái phiếu quốc tế thay vì phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư công hoặc dựa vào các khoản vay của Chính phủ sẽ là xu hướng của các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã đi theo cách này từ rất lâu. Thậm chí, tại các nước phát triển, chính quyền các thành phố hay Chính phủ có thể chủ động đứng ra bảo lãnh phát hành trái phiếu quốc tế cho các doanh nghiệp.Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng, trái phiếu quốc tế Việt Nam huy động, có thể thấy, giá vốn chúng ta huy động cao hơn khá nhiều so với các nước có hệ số tín nhiệm cao. Cụ thể: giá vốn huy động cao hơn các nước trong khu vực như Indonesia, Philippin, trong khi kinh tế của họ chưa hẳn tốt hơn Việt Nam, chất lượng tăng trưởng ở mức tương tự… Như vậy, các nhà đầu tư quốc tế sẽ nhìn thấy những yếu tố rủi ro tại Việt Nam lớn hơn. Ngoài ra, một đợt phát hành trái phiếu thành công phụ thuộc vào các yếu tố khách quan (như điều kiện thị trường tại thời điểm phát hành) cũng như các điều kiện chủ quan như: tính hấp dẫn của trái phiếu, sự chuẩn bị của doanh nghiệp trong việc đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư quốc tế. II. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM Như vậy, thị trường trái phiếu nước ta còn non trẻ, quy mô thị trường còn khiêm tốn, chủ thể phát hành không đa dạng, chưa có hệ thống các nhà tạo lập thị trường và hệ thồng giao dịch, thanh toán còn nhiều hạn chế mà đặc biệt là giúp cho chính quyền địa phương và doanh nghiệp huy động vốn hầu như chưa tồn tại.  Thị trường còn khá sơ khai với quy mô quá nhỏ so với GDP, chỉ chiếm khoảng 16% GDP. Các doanh nghiệp phát hành thường là lần đầu, chưa tạo ra một thị trường nhất định và chủ yếu vẫn là các DNNN...nhờ dựa vào uy tín. Hiện tại, TPCP đang "thống lĩnh" thị trường, trong khi trái phiếu của các công ty phát hành còn hạn chế.  An toàn nhưng lợi nhuận thấp, quy mô quá nhỏ, tính thanh khoản của các loại trái phiếu còn thấp. Thị trường TPCP thiếu một cơ chế giao dịch có khả năng cung cấp thanh khoản cho các trái phiếu Chính phủ như các nhà tạo lập thị trường, hợp đồng mua lại. Nhu cầu giao dịch phát sinh là các giao dịch lớn và ít mang tính tương thích thời điểm, hạn chế tính thanh khoản của trái phiếu.  Thị trường trái phiếu vẫn chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư. TPCP phát hành với khối lượng và giá trị niêm yết lớn nên những người nắm giữ TPCP trên thị trường sơ cấp chủ yếu là các nhà đầu tư có tổ chức (trừ các đợt phát hành riêng lẻ qua hệ thống Kho bạc).  Tính cạnh tranh thấp: Trái phiếu Chính phủ chưa cạnh tranh được với sự thuận tiện của hình thức gửi tiết kiệm, đầu tư kỳ phiếu ở các ngân hàng thương mại cùng với tính thanh khoản kém hơn nên chưa thu hút được tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và cá nhân.  Từ phía các công ty, chưa quen với kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu: Thị trường trái phiếu công ty kém phát triển do các công ty chưa quen với việc huy động vốn vay trực tiếp qua phát hành trái phiếu mà vẫn dựa vào nguồn vốn vay của ngân hàng, đặc biệt là các Tổng công ty lớn, các DN Nhà nước do có khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ngân hàng, vay ưu đãi. Các đơn vị này cũng thiếu tổ chức định mức tín nhiệm giúp cho việc xác định tín nhiệm và làm tăng tính minh bạch cho các trái phiếu phát hành; chưa xây dựng được đường cong lợi suất phi rủi ro cho trái phiếu Chính phủ phát hành làm tiêu chuẩn cho việc định lãi suất phát hành các công cụ nợ khác như trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị...  Thông tin thị trường: Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính, nguyên nhân quan trọng khiến thị trường trái phiếu của Việt Nam kém hấp dẫn chính là việc thiếu một hệ thống cung cấp thông tin đầy đủ. Thể hiện rõ nhất là cho đến nay vẫn chưa có những công ty định mức tín nhiệm. Hiện nay, trên thị trường đang có 3 loại trái phiếu và được phát hành bởi Chính phủ, chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến nay, quy mô phát triển của thị trường này còn nhỏ bé .Bên cạnh những vướng mắc xuất phát từ hệ thống văn bản chính sách khiến tính thanh khoản của trái phiếu không được cao, lượng doanh nghiệp có uy tín tham gia phát hành... thì việc thiếu thông tin cũng khiến cho các nhà đầu tư "dè dặt" hơn trong việc đầu tư vào loại hình này. Sau khi Nghị định 52/CP của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp với yêu cầu bắt buộc minh bạch thông tin, nhiều doanh nghiệp vừa muốn phát hành trái phiếu nhưng lại e ngại chuyện... minh bạch  Phí giao dịch cao : Theo quy định, việc giao dịch trái phiếu Chính phủ phải thông qua các công ty CK - là tổ chức trung gian thu phí cả người mua lẫn người bán. Để một giao dịch trái phiếu Chính phủ 100 tỉ đồng được hoàn tất thì nhà đầu tư phải mất đến cả 100 triệu đồng tiền phí, mà thông thường những giao dịch mua bán trái phiếu Chính phủ là những giao dịch lớn, ít nhất có giá trị từ 100-300 tỉ đồng. Chính điều này làm cho thị trường trái phiếu Chính phủ của VN không thu hút được nhiều nhà đầu tư giao dịch, nhất là các NH nước ngoài.  Không có tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp là rào cản lớn đối với doanh nghiệp nhỏ khi phát hành trái phiếu. Theo thông lệ, tại các TTCK phát triển, chỉ các DN được các tổ chức uy tín như Fitch, Standard & Poor's, Moody’s… xếp hạng tín dụng tốt mới tìm được người mua trái phiếu. Trái lại, tại Việt Nam, trái phiếu DN đang nổi lên như một kênh huy động vốn ưa thích, nhưng chưa có xếp hạng tương tự. Vì vậy tồn tại nhiều rủi ro. Trong các đợt phát hành trái phiếu, DN phải công khai sức khỏe tài chính để người mua đánh giá đúng. DN ngấp nghé bờ vực phá sản vẫn có thể phát hành trái phiếu thành công theo nguyên tắc rủi ro cao đi kèm lợi nhuận lớn.  Khả năng chuyển đổi của trái phiếu hiện nay còn thấp. Cho nên chỉ có những nhà đầu tư lớn, tập đoàn công ty, các tổ chức tín dụng… mới thực hiện mua trái phiếu, chứ các nhà đầu tư nhỏ lẻ ít quan tâm tới trái phiếu. CHƯƠNG III GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM Phát triển thị trường vốn là mục tiêu chiến lược quan trọng trong quá trình cơ cấu lại nền tài chính nước ta, trong đó phát triển thị trường trái phiếu là một mục tiêu quan trọng. Sự ổn định về mặt chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả nước trong những năm qua ở mức cao, thu nhập của dân cư đã được cải thiện, đã có những tác động tích cực đến TTCK nói chung và TTTP nói riêng. Những thành quả TTTP đạt được trong thời gian qua là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển trong tương lai. Qua những phân tích thực tế thời gian qua, cho thấy thị trường trái phiếu Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức, do đó cần có các giải pháp để thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển. Theo “Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 thì mục tiêu tổng quát của thị trường vốn (trong đó có thị trường trái phiếu) là phát triển cả quy mô và chất lượng hoạt động một cách đồng bộ, vững chắc nhằm tạo kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế, đồng thời góp phần phát triển thị trường tài chính Việt Nam; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quả quản lý, giám sát thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Để đạt được mục tiêu đề ra trong chặng đường phát triển hướng đến tầm nhìn 2020, trước mắt Bộ Tài chính cũng đã đưa ra một số định hướng phát triển cho thị trường trái phiếu, trong đó ưu tiên hàng đầu là tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện cơ chế phát hành thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, tăng cường phát hành trái phiếu theo lô lớn, bảo đảm khả năng thanh khoản của trái phiếu thông qua chính sách chiết khấu, tái chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở, cầm cố trái phiếu, đa dạng hóa hình thức trái phiếu và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các DN huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. 3.1 Mở rộng quy mô, đa dạng hoá và tăng tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu Trái phiếu đa dạng đảm bảo mang lại những lợi ích khác nhau cho nhà đầu tư, sẽ tạo nhiều sự lựa chọn cho nhà đầu tư, trên cơ sở đó nhà đầu tư so sánh, phân tích, đánh giá và đi đến quyết định đầu tư. Điều này sẽ kích thích và thu hút nhà đầu tư, thúc đẩy thị trường trái phiếu thêm sôi động. 3.1.1. Đối với trái phiếu Chính phủ Đa dạng hóa hình thức TPCP, đa dạng hoá không chỉ là việc phát hành nhiều loại TPCP với nhiều kỳ hạn khác nhau mà còn phải kết hợp việc đa dạng hóa về lãi suất, loại hình và phương thức thanh toán vốn gốc và lãi TPCP. Bên cạnh những loại TPCP truyền thống, Chính phủ cần triển khai thêm một số một số loại trái phiếu: trái phiếu trả lãi bằng 0 hay còn gọi là trái phiếu được chiết khấu, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu thanh toán từng phần,.. 3.1.2 Đối với trái phiếu chính quyền địa phương Cần có kế hoạch phát hành trái phiếu đô thị đi kèm theo với nhiều tiện ích khác nhau nhằm giúp cho các nhà đầu tư luôn có được hàng hóa đa dạng phù hợp với chiến lược đầu tư của mình, qua đó tạo điều kiện cho chính quyền địa phương nâng cao khả năng huy động vốn trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc huy động vốn. Có thể nghiên cứu phát hành trái phiếu đô thị dưới các hình thức: trái phiếu chiết khấu, trái phiếu đa kỳ hạn, trái phiếu thanh toán từng phần, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu option… 3.1.3 Đối với trái phiếu doanh nghiệp Thực tế cho thấy thị trường TPDN chỉ chiếm khoảng 10% thị trường trái phiếu. Việc tham gia thị trường trái phiếu của các doanh nghiệp trong nước mới chỉ là những bước đi đầu tiên với quy mô nhỏ lẻ, nên bước đầu các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ phát hành trái phiếu ra thị trường nội địa và chủ yếu là chọn hình thức phát hành riêng lẻ, tức là doanh nghiệp có thể thương lượng trực tiếp với người cung cấp vốn. Bên cạnh đó, để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu, doanh nghiệp có thể lựa chọn phát hành trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu hay trái phiếu gắn với quyền mua (warrant) như trường hợp của Vinaconex phát hành trái phiếu gắn với quyền mua cổ phiếu của một công ty thành viên. 3.2 Phát triển công cụ phái sinh liên quan đến trái phiếu Đầu tư chứng khoán nói chung và đầu tư trái phiếu nói riêng luôn chứa đựng rủi ro, việc bảo hiểm cho các khoản rủi ro trong quá trình đầu tư là điều cần thiết. Mặt khác, khi thị trường trái phiếu phát triển đến giai đoạn cao tất yếu dẫn đến việc hình thành các sản phẩm phái sinh liên quan đến trái phiếu nhằm đa dạng hoá và đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư từ khả năng sinh lợi đến mục tiêu giảm thiểu, hoán đổi rủi ro. Hiện nay, thị trường giao dịch trái phiếu ở Việt Nam khá đơn điệu, dừng lại ở nghiệp vụ mua bán trái phiếu giao ngay, làm hạn chế mục đích đầu tư và tính linh hoạt của thị trường. Cần phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh liên quan đến trái phiếu như: quyền chọn mua, bán chứng khoán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn; các sản phẩm từ chứng khoán hóa tài sản và các khoản nợ... 3.3 Xây dựng và phát triển hệ thống định mức tín nhiệm Tính minh bạch về thông tin là một trong những điều kiện để phát triển thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng. Trong hoàn cảnh đó, dịch vụ đánh giá tín nhiệm với các thông tin chính xác, kịp thời sẽ cung cấp thêm cho các cơ quan giám sát thị trường chứng khoán và các cơ quan quản lý tài chính công cụ để quản lý và giám sát; cung cấp thông tin để cho phép các nhà đầu tư kiểm soát và hạn chế các rủi ro trong kinh doanh; đồng thời đối với nhà phát hành nó được dùng như một chiến lược huy động vốn. Do đó, việc xây dựng hệ thống định mức tín nhiệm ở Việt Nam hiện nay đã trở nên cấp thiết. 3.4 Đẩy mạnh sự phát triển của các nhà tạo lập thị trường Ở các thị trường chứng khoán phát triển, các nhà tạo lập thị trường là các trung gian tài chính. Họ niêm yết giá mua, giá bán và sẵn sàng thực hiện giao dịch với các mức giá đã niêm yết. Các hoạt động của họ tạo tính linh hoạt cho thị trường trái phiếu; tăng khả năng thực hiện giao dịch trái phiếu làm cho thị trường giao dịch trái phiếu sôi động hơn thông qua cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau… Trong điều kiện thị trường trái phiếu còn sơ khai, hình thành các nhà tạo lập thị trường là điều cần thiết, cần có chủ trương khuyến khích các ngân hàng thương mại và các công ty bảo hiểm có tiềm năng tài chính lớn tham gia. 3.5 Xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt Trái phiếu với những đặc điểm riêng đòi hỏi phải có cơ chế phát hành và giao dịch riêng. Giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp cần tách khỏi thị trường cổ phiếu, xây dựng một thị trường trái phiếu chuyên biệt nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường. Cần tìm ra một mô hình giao dịch phù hợp cho thị trường trái phiếu chuyên biệt. 3.6 Hoàn thiện hệ thống pháp lý và hệ thống quản lý Để thị trường trái phiếu vận hành tốt đòi hỏi một hệ thống pháp lý hoàn thiện mang lại một sân chơi công bằng, luật sở hữu rõ ràng và thông tin minh bạch cũng như một cơ quan quản lý thị trường có năng lực. Hiện nay, hoạt động của thị trường trái phiếu được điều chỉnh bởi các văn bản pháp quy: Nghị định 01/2011/NĐ-CP (quy định việc phát hành TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và TPCQĐP), Nghị định 90/2011/NĐ-CP (quy định việc phát hành TPDN), Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 (quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán) và một số các văn bản pháp quy khác có liên quan. Các quy định về đấu thầu TPCP và việc công khai hóa thông tin của Chính phủ về TPCP cần được thể hiện trong Luật Chứng khoán, không nên quy định riêng lẻ trong các văn bản dưới Luật như hiện nay. Cần có các quy định để ràng buộc trách nhiệm của các thành viên tham gia đấu thầu và bảo lãnh phát hành. Xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động công bố thông tin, nền tảng là Luật Chứng khoán và Luật Kế toán. Tạo khuôn khổ pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh cũng như các tranh chấp, kiện tụng giao dịch. 3.7 Đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế Với thành công của đợt phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường quốc tế đầu tiên vào tháng 10/2005, thì việc đẩy mạnh phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế là cần thiết nhằm đầu tư một số dự án trọng điểm phục vụ cho phát triển kinh tế đất nước. Cần khuyến khích những doanh nghiệp lớn trong nước phát hành trái phiếu ra thị trường vốn để phát triển doanh nghiệp. Để đảm bảo cho việc huy động vốn ở thị trường quốc tế với chi phí rẻ, Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thông lệ Quốc tế và minh bạch hoá thông tin; khi đó mới được các tổ chức xếp hạn tín nhiệm đánh giá cao. Ngoài ra, cần có kế hoạch sử dụng nguồn vốn huy động ngay nhằm tránh lãng phí,mà chúng tá còn phải vừa trả lãi. Vì vậy, phải xem xét những dự án có hiệu quả, sử dụng vốn được ngay, giải ngân được ngay thì mới tính đến phương án phát hành. 3.8 Nâng cao nhận thức về trái phiếu cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư Doanh nghiệp và các nhà đầu tư là bộ phận không thể thiếu và góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển của thị trường trái phiếu. Chú trọng hơn nữa trong công tác tuyên truyền, đào tạo kiến thức về chứng khoán cho các doanh nghiệp và công chúng. Trong thời gian qua, tuy các doanh nghiệp và các nhà đầu tư có quan tâm tìm hiểu về thị trường chứng khoán nhưng hầu như chỉ tập trung vào cổ phiếu. Thông qua các phương tiện đại chúng, hệ thống thông tin trực tuyến internet để tuyên truyền cho doanh nghiệp và công chúng một sự hiểu biết toàn diện về thị trường chứng khoán trong đó có thị trường trái phiếu. Giúp các doanh nghiệp nhận thức được vai trò, lợi ích của việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu. Nâng cao nhận thức trong công chúng về vai trò, rủi ro và tính hữu ích của việc đầu tư trái phiếu. Kết luận chương III Trong thời gian qua thị trường trái phiếu đã chứng minh được tiềm năng huy động vốn của mình và Chính phủ cũng đã có nhiều giải pháp phát triển. Tuy nhiên để thị trường trái phiếu phát huy tốt vai trò của mình, cần có những giải pháp mang tính đồng bộ, cần có những nổ lực cụ thể và hiệu quả từ nhiều phía: Chính phủ, Chính quyền địa phương, các cấp, các ngành và các doanh nghiệp. Xây dựng lộ trình triển khai thực hiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và các nhà đầu tư tiếp cận với thị trường trái phiếu.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftrai_phiemnu_4978.pdf
Luận văn liên quan