Tiểu luận Pháp luật quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Chính đặc điểm này đã tạo sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Các định chế và các tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho kinh tế quốc tế và các lĩnh vực khác trên thế giới. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995 đến nay đã có hơn 148 nước tham gia và tương lai sẽ trở thành tổ chức lớn nhất hành tinh. Ngày 11/1/2007, Việt Nam ta đã chính thức gia nhập tổ chức WTO, mở đầu chặng đường hội nhập một cách sâu rộng và hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế thế giới đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước ta, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm nghèo, công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, củng cố an ninh quốc phòng . Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng gây ra nhiều áp lực với môi trường, trong đó phải kể đến sự gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường từ bên ngoài, chất lượng môi trường suy thoái, tài nguyên môi thiên nhiên cạn kiệt, cân bằng sinh thái bị đảo lộn . Sự ô nhiễm và suy giảm môi trường nghiêm trọng dẫn đến công tác bảo vệ môi trường có ý nghĩa vô cùng lớn. Bảo vệ môi trường được coi là một trong những nền tảng cơ bản cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Do vậy, trong thời kỳ hội nhập kinh tế, toàn cầu hóa, việc bảo vệ và giữ gìn một môi trường trong lành, xanh sạch đẹp đã trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và hết sức cần thiết đối với mọi quốc gia, đặc biệt là với Việt Nam – một quốc gia đang phát triển và có môi trường ô nhiễm khá nặng. Ở Việt Nam, công tác bảo vệ môi trường bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trong đó hoạt động quản lý chất thải là một hoạt động quan trọng và thu hút được khá nhiều sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân. Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, khi môi trường đang ngày một suy thoái ở mọi lĩnh vực thì công tác bảo vệ môi trường nói chung cũng như hoạt động quản lý chất thải nói riêng ở Việt Nam cần được đẩy mạnh hơn nữa. Tiến vào thời kỳ hội nhập, công tác quản lý môi trường cũng như công tác quản lý chất thải ở Việt Nam có rất nhiều những điều kiện thuận lợi để thực một cách nhanh chóng và có hiệu quả cao. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong thời kỳ hội nhập cũng lại đặt ra cho công tác quản lý chất thải ở nước ta rất nhiều thách thức, khó khăn cần được khắc phục. Để tiến hành công tác quản lý chất thải có hiệu quả, Đảng và Nhà nước đã đưa ra một số những biện pháp cụ thể trong đó biện pháp quan trọng nhất và có hiệu quả nhất là biện pháp quản lý chất thải bằng pháp luật. Biện pháp này được thực hiện bằng việc Đảng và Nhà nước đã cho ra đời nhiều văn bản pháp quy quy định về công tác quản lý chất thải. Thông qua hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành ấy, ta có thể đánh giá được một cách toàn diện nhất hoạt động quản lý chất thải ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Với mong muốn tìm hiểu và nâng cao hơn nữa vốn kiến thức thực tế cũng như kiến thức pháp lý về vấn đề quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế và những tác động tích cực, hạn chế của hội nhập kinh tế đến việc bảo vệ môi trường mà cụ thể là hoạt động quản lý chất thải ở Việt Nam, em đã lựa chọn đề tài này. Thông qua đề tài, em mong muốn đóng góp một phần hiểu biết của mình vào công tác bảo vệ, phát triển môi trường trong thời kỳ đổi mới; cải thiện môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp; từ đó thúc đẩy nền kinh tế đất nước ngày một phát triển, nâng cao đời sống con người Việt Nam ngày một sung túc, khỏe mạnh . Thực hiện đề tài này, em đã tìm hiểu một số nội dung cơ bản về quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập, cũng như nội dung pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp để hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý chất thải ở nước ta. Đề tài này đã vận dụng nhiều phương pháp khác nhau để nghiên cứu, trong đó hai phương pháp chính là phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích. Em đã tổng hợp những văn bản pháp luật và những tài liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu, sau đó tiến hành phân tích, đánh giá vấn đề này, cuối cùng là rút ra được một số kết luận và giải pháp chung về vấn đề quản lý chất thải bằng pháp luật trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam.

doc22 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 4328 | Lượt tải: 33download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Pháp luật quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng quan tâm nhất định đến lĩnh vực môi trường, nhiều khoa học công nghệ tiến bộ được đưa vào áp dụng để nâng cao hiệu quả của quá trình này... Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và mở rộng các khu công nghiệp, khu chế xuất thì lượng chất thải cũng không ngừng gia tăng cả về số lượng và chủng loại. Chúng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người. Theo dự đoán của Ngân hàng Thế giới (WB), với tốc độ gia tăng GDP như thời gian qua ( khoảng 7%/năm) thì mức độ ô nhiễm môi trường bởi chất thải của nước ta vào năm 2020 có thể sẽ gấp 4 - 5 lần hiện nay. Do đó trong thời gian tới, để có thể kiểm soát và kiềm chế sự ảnh hưởng của chất thải cần có một cơ chế quản lý chất thải nghiêm ngặt và chặt chẽ. Như vậy ta có thế kết luận rằng, hội nhập kinh tế là nhu cầu nội sinh của bản thân nền kinh tế nước ta, chứ không phải do chúng ta bị o ép, bị bắt buộc. Thời cơ đang đến, yêu cầu của chính bản thân đòi hỏi, không còn sự lựa chọn nào ưu việt hơn. Vì vây, Việt Nam cần phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập dân chủ, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường. Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo vì vậy Đảng và Nhà nước phải cùng kết hợp để đẩy mạnh phát triển kinh tế nhưng vẫn không quên nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong lành, khỏe mạnh. 2/ Chất thải và quản lý chất thải: 2.1/ Chất thải: Theo điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì “chất thải” là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt, hoặc các hoạt động khác. Như vậy, một vật có phải là chất thải hay không phụ thuộc vào ý chí của người sở hữu vật đó. Sự tồn tại của chất thải sẽ đồng nghĩa với nhu cầu loại bỏ nó hay biến đổi nó thành một dạng vật chất khác có ích cho đời sống con người. Ngoài ra, “chất thải” còn được định nghĩa là các chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu hủy, có ý định tiêu hủy hoặc phải tiêu hủy theo các điều khoản của luật lệ quốc gia(1) Theo công ước Basel (1989) về kiểm soát, vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và xử lý chúng . Như vậy có nghĩa là chất thải là sản phẩm phụ của các hoạt động của con người. Nó không còn giá trị sử dụng đối với con người và bị loại ra khỏi cuộc sống. Dù được định nghĩa bởi nhiều quan điểm khác nhau song về cơ bản có thể hiểu một cách khái quát chất thải là một dạng vật chất phức tạp, chứa đựng những yếu tố không có lợi cho sức khỏe và môi trường sống của con người. Do đó cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm của các loại chất thải để phân loại và áp dụng các biện pháp xử lý, kiểm soát chất thải phù hợp mang tính chuyên trách, nhằm loại bỏ khả năng gây hại của các loại chất thải. Việc phân loại chất thải căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau. Cụ thể như: Căn cứ vào nguồn phát sinh, chất thải gồm: chất thải sinh họat, chất thải y tế, chất thải công nghiệp. Căn cứ vào trạng thái tồn tại, chất thải gồm: chất thải rắn (vỏ đồ hộp, thủy tinh, sắt vụn…), chất thải lỏng (nước thải…), chất thải khí (khói, khí thải từ những phương tiện giao thông, khu công nghiệp…) Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường xung quanh, chất thải gồm: chất thải thông thường - mức độ độc hại thấp, không gây hưởng nhiều đến môi trường và sức khỏe con người; chất thải nguy hại - dễ cháy nổ, ngộ độc, ăn mòn, nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người như: chất thải kim loại, chất thải y tế… Chất thải có rất nhiều tác hại như: gây ô nhiễm môi trường đất, không khí, nước, biển…; tác động xấu đến sức khỏe con người gây nên những bệnh về hô hấp, tiêu hóa…; tác động đến đời sống kinh tế xã hội, làm mất mỹ quan, văn minh đô thị, giảm sự đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam… 2.2/ Quản lý chất thải Sự gia tăng không ngừng của các loại chất thải đã trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người và xã hội. Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã coi nhiệm vụ bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng là 1 trong những yếu tố cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững đất nước khi bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Theo điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì “quản lý chất thải” là họat động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải. Còn theo Công ước Basel (1989) về kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và tiêu hủy chúng thì “quản lý chất thải” là việc thu thập, vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hiểm hoặc các phế thải khác, bao gồm cả việc giám sát các địa điểm tiêu hủy. Như vậy, có thể hiểu quản lý chất thải nói chung là một quy trình khép kín và tuần tự, chúng luôn chịu sự giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu. Việc quản lý chất thải được thực hiện bởi nhiều hoạt động khác nhau. Những tác động này phải luôn đảm bảo có sự gắn kết, chặt chẽ và tuần tự nhằm tiêu hủy triệt để sự nguy hại của chất thải từ giai đoạn phát sinh đến giai đoạn xử lý và tiêu hủy hoàn toàn. Quản lý chất thải có thể hiểu là một quá trình tổng hợp của nhiều hoạt động không tách rời, bao gồm: Hoạt động thu gom chất thải: là việc thu gom, phân loại, đóng gói, lưu giữ tạm thời chất thải tại các địa điểm hoặc cơ sở đã được chấp nhận. Đây là giai đoạn đầu tiên, không thể thiếu trong quá trình quản lý chất thải, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải. Hoạt động lưu giữ chất thải: là việc lưu giữ và bảo quản chất thải trong một thời gian nhất định với những điều kiện cần thiết để đảm bảo không rò rỉ, phát tán, thất thoát ra môi trường cho đến khi chất thải được vận chuyển đến các địa điểm hoặc cơ sở tiêu hủy được chấp nhận. Hoạt động này nhằm ngăn ngừa và hạn chế tình trạng chứa đựng chất thải một cách tùy tiện. Yêu cầu của hoạt động này đòi hỏi các chủ thể có liên quan phải tuyệt đối tuân thủ để phòng tránh sự cố môi trường có thể xảy ra. Hoạt động vận chuyển chất thải: là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy chất thải. Đây là giai đoạn cần thiết để quá trình kiểm soát chất thải được triệt để và chặt chẽ hơn. Hoạt động xử lý chất thải: là quá trình sử dụng công nghệ hoặc biện pháp kỹ thuật (kể cả việc thu hồi, tái chế, tái sử dụng, thiêu đốt chất thải) làm thay đổi các tính chất và thành phần của chất thải nhằm làm mất hoặc giảm mức độ gây nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người. Đây là giai đoạn quan trọng nhất nhằm vận dụng những biện pháp thích hợp để xử lý chất thải nhằm loại bỏ. Hoạt động tiêu hủy chất thải: là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn lấp) chất thải làm mất khả năng gây nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người. Đây là giai đoạn cuối cùng và có ý nghĩa quyết định trong hoạt động kiểm soát, quản lý chất thải nhằm loại bỏ hoàn toàn tính chất nguy hại của chất thải. Tất cả những hoạt động trên đều có mối quan hệ mật thiết với nhau. Như vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc quản lý chất thải đã và đang trở thành một nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Trên cơ sở vì một môi trường sạch đẹp, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước, các tổ chức và cá nhân trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình cần nghiên cứu và lựa chọn những biện pháp quản lý chất thải phù hợp. II/ Thực trạng chất thải và pháp luật quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam: 1/ Thực trạng chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam: Những năm trở lại đây, cùng với sự phát triển cao hơn của đời sống kinh tế xã hội , vấn đề chất thải đã được quan tâm và đầu tư thích đáng hơn. Những biện pháp kiểm soát chất thải cơ bản đã có nhiều thành công đáng kể. Tuy nhiên, tất cả những cố gắng đó mới chỉ đạt được một phần rất nhỏ so với nhu cầu đặt ra. Trên thực tế, thực trạng chất thải đang là một vấn đề đáng lo ngại hiện nay ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác. Số lượng chất thải đã và đang không ngừng tăng lên cả về chất lượng và chủng loại trong khi quy trình kiểm soát chât thải còn có nhiều điểm bất cập và thiếu triệt để. Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam thải ra trên 15 triệu tấn chất thải, trung bình là 49134 tấn/ ngày bao gồm: Chất thải công nghiệp là 26877 tấn/ ngày, chất thải sinh hoạt là 21220 tấn/ ngày, chất thải y tế là 240 tấn/ ngày, cùng hàng nghìn m3 nước thải và khí thải từ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, bệnh viện... thải ra môi trường(2) Theo Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004 do Bộ tài nguyên môi trường, Ngân hàng Thế giới (WB) cùng Cơ quan phát triển quốc tế Canada thực hiện .Phần lớn chúng đều chưa được xử lý và trở thành nguy cơ lớn tới sức khỏe và môi trường sống hiện nay. Theo số liệu của WB cung cấp, ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh chỉ chiếm 24% tổng dân số nhưng lại có đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm, bằng gần 50% lượng chất thải có trong cả nước. Lượng chất thải phát sinh trong thời kỳ hội nhập kinh tế vẫn không ngừng tăng lên song việc thu gom còn chưa được thực hiện toàn diện. Khối lượng chất thải được xử lý hầu như không đáng kể. Theo WB thì chỉ có gần 3/4 lượng rác thải ở các đô thị và 1/5 lượng rác thải ở nông thôn được thu gom, chỉ có khoảng 1/5 số điểm tiêu hủy rác trên cả nước là hợp vệ sinh còn chủ yếu là các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật. Hình thức tiêu hủy rác thải chủ yếu là đổ ở các bãi rác lộ thiên rồi đem đốt, gây ô nhiễm môi trường cho vùng dân cư xung quanh. Bên cạnh đó, nước ta còn thiếu những hệ thống xử lý chất thải công nghiệp nguy hại và các cơ chế khuyến khích việc thực hiện những biện pháp tiêu hủy an toàn. Ngoài ra, lượng khí thải trên đất nước ta khi phát sinh đều chưa được qua bất kỳ một khâu xử lý nào khiến cho môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề. Không khí chủ yếu bị ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trung bình một ngày thường vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Nhiều nơi bị ô nhiễm ở mức độ nghiêm trọng như: khu dân cư gần nhà mày ximăng Hải Phòng, nhà máy tuyển than Hòn Gai... Tại nhiều khu dân cư gần các khu công nghiệp lớn, nồng độ khí sulfure gấp chỉ số tiêu chuẩn nhiều lần như: khu dân cư gần nhà máy ximăng Hải Phòng (gấp 1,4 lần tiêu chuẩn cho phép), cụm công nghiệp Tân Bình (gấp 1,1 lần tiêu chuẩn cho phép). Tại các làng nghề thủ công sản xuất nhựa, gốm, sứ, vật liệu xây dựng... mức độ ô nhiễm không khí đang ở mức báo động như làng gốm sứ Bát Tràng có nồng độ khí độc hại lớn hơn chỉ tiêu cho phép từ 1,8 đến 2 lần, làng Đông Mai (Hưng Yên) có nồng độ bụi chì vượt quá mức tiêu chuẩn tới 4600 lần(3) Theo số liệu của WB cung cấp ). Mặt khác, nước thải cũng đang là một vấn đề bức xúc hiện nay. Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất chưa có trạm xử lý nước thải. Hàng nghìn m3 nước thải có chứa các chất độc hại được thải trực tiếp ra sông ngòi gây ô nhiễm nghiêm trọng. Ngoài ra, nước thải bệnh viện cũng chưa được xử lý, như tại Hà Nội mỗi ngày có hàng trăm nghìn m3 nước thải nhưng hệ thống xử lý chỉ đáp ứng được 25% tổng số nước thải đó. Như vậy, cùng với sự phát triển đáng kể của nền kinh tế, thực trạng chất thải đang là một vấn đề bức xúc hiện nay, đặc biệt là tại các thành phố lớn có mật độ dân số cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng... Tìm hiểu về thực trạng chất thải ở Việt Nam hiện nay, ta có thể rút ra được một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm nặng nề do chất thải này, cụ thể là: Do những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển và mở rộng của các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu công nghiệp, khu chế xuất, các loại chất thải ngày càng tăng lên trong khi hầu hết các quá trình quản lý chất thải tại Việt Nam chưa được đầu tư đúng mức, những giải pháp để quản lý và kiểm soát chất thải còn thiếu sự quan tâm của cơ quan chức năng và toàn xã hội. Quá trình đô thị hóa có bước phát triển đáng kể, chất lượng cuộc sống được nâng cao cùng với sự gia tăng ồ ạt của những dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị sinh sống, làm ăn khiến khối lượng rác thải ở đô thị tăng lên nhanh chóng. Mặc dù trong những năm gần đây, cơ sở hạ tầng – kỹ thuật tại các đô thị được đầu tư, nâng cấp nhưng cơ bản hệ thống này vẫn còn nhiều yếu kém. Thêm nữa, phần lớn người dân chưa có ý thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường nói chung và vệ sinh rác thải nói riêng. Kiến thức về rác thải còn hạn chế, trong khi đó ngành vệ sinh môi trường vốn cũng chưa hoàn thiện. Một nguyên nhân nữa là do sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật về chất thải ở Việt Nam. Các cơ quan chức năng chưa thực sự chú trọng đến hoạt động bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải. Do đó, quá trình quản lý chất thải của cơ quan có thẩm quyền còn phiến diện và mang tính hình thức. Công tác kiểm tra, giám sát quá trình quản lý chất thải ở các cơ sở, địa phương còn lỏng lèo và nhiều bất cập, từ đó làm nảy sinh các hành vi tiêu cực đối với môi trường. Nguyên nhân cuối cùng là do sự lạc hậu về trình độ khoa học kỹ thuật, phương tiện, thiết bị chuyên dụng, vốn đầu tư cho các dự án, các hoạt động về kiểm soát chất thải, thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn về vấn đề này. 2/ Thực trạng pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế: 2.1/ Các quy định pháp luật chung: * Đối với cá nhân, tổ chức: Điều 66, 68 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định, các cá nhân, tổ chức trong hoạt động của mình mà làm phát sinh chất thải thì phải có những trách nhiệm sau: Áp dụng các biện pháp làm giảm thiểu phát sinh chất thải: Các biện pháp giảm thiểu việc phát sinh chất thải rất đa dạng, từ việc áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật, sử dụng tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu; sử dụng vật liệu bao bì đóng gói cho tới các biện pháp quản lý; áp dụng các phương pháp sản xuất sạch hơn, sử dụng công nghiệ sạch trong sản xuất... Các biện pháp giảm thiểu chất thải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý chất thải bởi nó loại trừ được nguyên nhân làm phát sinh chất thải. Có biện pháp thu gom đến mức tối đa lượng chất thải mà mình tạo ra: Trong trường hợp không thể loại trừ việc phát sinh chất thải, người sản sinh chất thải có trách nhiệm thu gom chất thải, không được để chất thải thoát ra ngoài môi trường. Khả năng thực hiện biện pháp thu gom phụ thuộc vào dạng tồn tại của chất thải. Thực hiện biện pháp thu gom chất thải là điều kiện để thực hiện các nghĩa vụ tiếp theo của người sản sinh chất thải. Phân loại chất thải ngay từ nguồn: Việc phân loại chất thải từ nguồn nhằm mục đích tránh tình trạng lây nhiễm các chất độc hại từ chất thải này sang chất thải khác và phục vụ cho hoạt động tái chế, tái sự dụng chất thải. Phân loại chất thải ngay từ nguồn áp dụng chủ yếu với chất thải rắn. Có nhiều tiêu chí khác nhau để tổ chức việc phân loại chất thải, phân loại giữa chất thải độc hại và chất thải không độc hại, phân loại chất thải có thể hay không thể tái chế, tái sử dụng... Quá trình phân loại chất thải để tái chế, tái sử dụng nhằm mục đích giảm lượng chất thải phải xử lý tiêu hủy. Có trách nhiệm xử lý chất thải: Trách nhiệm xử lý chất thải là trách nhiệm của người sản sinh ra chất thải. Người sản sinh chất thải có thể tự mình thực hiện các biện pháp xử lý như chôn lấp, đốt... hoặc phải chi trả chi phí để xử lý. Trong trường hợp người sản sinh chất thải không có thiết bị xử lý thì phải có hợp đồng với một đơn vị có chức năng quản lý chất thải để thu gom và xử lý triệt để; và phải trả chi phí quản lý và xử lý chất thải.Việc áp dụng các biện pháp xử lý phải phù hợp với các yêu cầu của pháp luật, không được làm ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, pháp luật còn quy định các tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải phải sử dụng phương tiện, công nghệ thích hợp nhằm phòng tránh ô nhiễm môi trường. Thông thường, các doanh nghiệp thực hiện hoạt động lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải là loại hình doanh nghiệp công ích, chịu sự quản lý và điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy nhiên trong xu thế xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, Nhà nước khuyến khích các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức tự quản tham gia vào hoạt động này. Thực thế trong thời gian qua tại các địa phương như Lạng Sơn, Hà Nội và một số tỉnh, thành phố khác đã chứng minh hiệu quả rõ rệt về kinh tế và môi trường khi đa dạng hóa các hình thức hoạt động lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải. Bên cạnh đó, theo điều 67 Luật bảo vệ môi trường 2005 chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn phải có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ dưới đây: Nguồn phóng xạ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Pin, ắc quy. Thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp. Dầu nhớt, mỡ bôi trơn, bao bì khó phân hủy trong tự nhiên. Sản phẩm thuốc, hóa chất sử dụng trong công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, thuốc chữa bệnh cho người. Phương tiện giao thông. Săm, lốp. Sản phẩm khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. *Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: Các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực thi nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân. Cụ thể là theo điều 69 Luật bảo vệ môi trường 2005, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm: Lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết chất thải rắn sinh hoạt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, khu chôn lấp chất thải. Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng, phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình. Kiểm tra, giám định các chương trình quản lý chất thải của tổ chức, cá nhân trước khi đưa vào sử dụng. Ban hành và thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật. 2.2/ Các quy định pháp luật cụ thể: Các quy định pháp luật cụ thể về quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập được chia làm 5 nhóm căn cứ vào các loại chất thải. Các quy định này đều được nêu chi tiết tại Luật Bảo vệ môi trường 2005, Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 về quản lý chất thải rắn và một số nghị định có liên quan. Cụ thể như sau: 2.2.1/ Các quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại: Tại điều 70 Luật bảo vệ môi trường 2005, pháp luật đã quy định cụ thể về việc các tổ chức, cá nhân có hoạt động phát sinh chất thải nguy hại hoặc bên tiếp nhận quản lý chất thải nguy hại phải lập hồ sơ, đăng ký với cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh. Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm phổ biến điều kiện về năng lực và hướng dẫn việc lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép, mã số hành nghề quản lý chất thải nguy hại cho những tổ chức, cá nhân đủ điều kiện về năng lực quản lý chất thải. Việc phân loại, thu gom, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại cũng được quy định cụ thể tại điều 71, 72, 73 Luật bảo vệ môi trường 2005. Các hoạt động này đều phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo yêu cầu luật định. Theo điều 74, 75 tại Luật này, cơ sở xử lý chất thải nguy hại và khu chôn lấp chất thải nguy hại cũng được quy định với các điều kiện nghiêm ngặt về công nghệ cũng như quy trình, thủ tục tiến hành xử lý chất thải để đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường. Ngoài ra, pháp luật còn chỉ rõ Bộ Xây dựng cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Nội dung quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại được quy định tại điều 76 Luật bảo vệ môi trường 2005. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí mặt bằng xây dựng khu chôn lấp chất thải nguy hại theo quy hoạch đã được phê duyệt. 2.2.2/ Các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường: Theo điều 77 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 và điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn thì chất thải rắn thông thường gồm chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp. Điều 78 và điều 79 Luật bảo vệ môi trường là các quy định về thu gom, vận chuyển chất thải rắn thông thường và tiêu chuẩn về cơ sở tái chế, tiêu hủy, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường để đảm bảo thực hiện hoạt động quản lý chât thải rắn thông thường một cách hiệu quả. Ngoài ra, pháp luật còn quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng, quản lý các cơ sở tái chế, tiêu hủy, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường trên địa bàn. Bộ Xây dựng cần chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, hướng dẫn, kiểm tra, xác nhận cơ sở tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường. Tại điều 80, Luật bảo vệ môi trường 2005 đã quy địn về nội dung xây dựng quy hoạch về thu gom, tái chế, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải rắn thông thường. Bên cạnh đó, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí mặt bằng, tổ chức xây dựng và quản lý các cơ sở thu gom, tái chế, tiêu huỷ, khu chôn lấp chất thải rắn thông thường trên địa bàn theo quy hoạch đã được phê duyệt. Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, tái chế, tiêu huỷ, chôn lấp chất thải rắn thông thường trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. 2.2.3/ Các quy định pháp luật về quản lý nước thải: Điều 81 Luật bảo vệ môi trường 2005 đã đưa ra các quy định về thu gom, xử lý nước thải đối với từng loại nước thải, đó là: Đối với hệ thống nước thải ở các khu đô thị và khu dân cư tập trung phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi đưa vào môi trường. Đối với nước tải của cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ hay khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường. Đối với bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải được thì được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải rắn thông thường. Đối với nước thải, bùn thải có yếu tố nguy hại phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại. Luật bảo vệ môi trường 2005 còn chỉ ra những đối tượng bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải và những tiêu chuẩn cụ thể của các hệ thống đó để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường nước trong sạch (điều 82). Ngoài ra, chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và sau khi xử lý. Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống xử lý nước thải. 2.2.4/ Các quy định pháp luật về quản lý và kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ: Hoạt động quản lý và kiểm soát bụi và khí thải được quy định tại điều 83 Luật bảo vệ môi trường 2005. Pháp luật quy định trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh có phát tán bụi, khí thải vào môi trường; khuyến khích hạn chế các phương tiện, thiết bị có thải khí bụi, độc hại ra môi trường; thực hiện các biện pháp giảm thiểu khí thải bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường. Điều 84 Luật này quy định về quản lý chất thải gây hiệu ứng nhà kính, phá hủy tầng ô zôn. Đây là công tác thuộc thẩm quyền của Nhà nước nhưng Nhà nước cũng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Việc hạn chế tiếng ồn, ánh sáng, rung động, bức xạ được pháp luật quy định tại điều 85 Luật bảo vệ môi trường 2005. Ngoài ra, tại điều này, pháp luật còn cấm sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo nổ. Việc sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, kinh doanh và sử dụng pháo hoa theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, thông qua hệ thống các quy phạm pháp luật về hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là quản lý chất thải ta đã phần nào hiểu được việc bảo vệ môi trường nói chung cũng như hoạt động quản lý chất thải nói riêng trong thời kỳ hội nhập đã được Đảng, Nhà nước và toàn dân ngày càng quan tâm, chú ý. Qua đó, ta có thể thấy để công tác quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế thu được hiệu quả thì cần phải áp dụng những quy định trên vào thực tiễn đời sống một cách triệt để, mạnh mẽ. *Ngoài Luật bảo vệ môi trường 2005, mới đây, đứng trước thực trạng môi trường ngày càng bị xuống cấp nghiêm trọng và để bảo vệ môi trường cũng như thực hiện công tác quản lý chất thải có hiệu quả trong thời kỳ hội nhập kinh tế, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 41/2004/NQ-TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tại nghị quyết này, Bộ chính trị đã: Nhận định về tình hình bảo vệ môi trường và công tác quản lý chất thải trong thời gian qua, đưa ra những thành tựu và khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường. từ đó khẳng định việc giải quyết vấn đề môi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế là vô cùng cấp bách và cần thiết. Nghị quyết đã đưa ra những quan điểm bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, nó vừa là mục tiêu vừa là nội dung cơ bản của phát triển bền vững và là quyền lợi, nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân. Theo nghị quyết này, mục tiêu bảo vệ môi trường và quản lý chất thải là để ngăn ngừa, hạn chế gia tăng ô nhiễm môi trường; khắc phục ô nhiễm môi trường và xây dựng nước ta thành một nước có môi trường tốt. Ngoài ra, Nghị quyết còn đưa ra các nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cụ thể đối với từng vùng, từng địa phương để đảm bảo bảo vệ môi trường và quản lý chất thải có hiệu quả. Thông qua Nghị quyết số 41/2004/NQ-TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Bộ chính trị đã đưa ra các giải pháo chính để bảo vệ môi trường như: đẩy mạnh tuyên truyên, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường và quản lý chất thải, nâng cao hợp tác quốc tế về môi trường... Cuối cùng, Bộ chính trị còn quy định cụ thể về các Bộ, các ngành, các cơ quan có liên quan phải cùng nhau phối hợp, chỉ đạo, đề ra chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết này và các quy định pháp luật khác có liên quan đến bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện. Nghị quyết số 41/2004/NQ-TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện bảo vệ môi trường, bao gồm hoạt động xử lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. III/ Đánh giá hoạt động quản lý chất thải bằng pháp luật ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế: 1/ Những thành tựu: Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, nước ta đã kế thừa được nhiều thành tựu của các nước phát triển đi trước trên thế giới ở rất nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực lập pháp. Đối với các quy định pháp luật về môi trường ở nước ta, chúng ta đã may mắn kế thừa được những kỹ thuật lập pháp ưu việt của các nước bạn như Pháp, Đức... Nhờ vậy mà hệ thống pháp luật của chúng ta về môi trường cũng như về hoạt động quản lý chất thải tương đối hoàn thiện. Hệ thống văn bản pháp luật về chất thải ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa này được ban hành tương đối đầy đủ; được bổ sung thêm nhiều những quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân có liên quan cũng như chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan quản lý có thẩm quyền. Về cơ bản, hệ thống pháp luật có liên quan tới lĩnh vực này đã trở thành một trong những công cụ hữu hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải trên phạm vi cả nước. Hội nhập kinh tế làm cho kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ, ngân sách Nhà nước gia tăng tạo điều kiện cho các cơ quan Nhà nước có kinh phí để vận dụng các quy định pháp luật, có những hoạt động quản lý thiết thực như tổ chức, tuyên tuyên, giáo dục, tập huấn, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ, có sự phối hợp giữa các cơ quan... Từ đó, các cơ quan Nhà nước có thể kiểm tra, giám sát các quy định pháp luật trong việc thực hiện trong thực tế. Ngoài ra, công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia quản lý chất thải và công tác giám sát thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý chất thải cũng có nhiều tiến bộ. Cuối năm 2003 vừa qua, “Chương trình phân loại rác thải tại nguồn” do công ty Môi trường đô thị khởi xướng được thực hiện thí điểm ở các khu dân cư và thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Quá trình kiểm soát chất thải từ khâu phát sinh, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan. Theo thống kê, tỷ lệ thu gom chất thải rắn trong cả nước tăng từ 40 – 70%, tỷ lệ thu hồi các chất thải rắn có khả năng tái chế như nylon, nhựa, thủy tinh... tăng 25%(4) Theo Hội nghị tổng kết môi trường Việt Nam năm 2001 – 2005 .Khâu thu gom, vận chuyển chất thải phần nào đã đáp ứng được yêu cầu vệ sinh, an toàn kỹ thuật. Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... rác thải sinh hoạt được thu gom bằng xe đẩy tay rồi được chuyển đến các điểm hoặc thùng chứa quy định, rồi được chuyển đến các bãi chôn lấp. Ở nhiều nơi công cộng như công viên, nhà ga... có nhiều thùng gom rác có thể tích lớn (3,5 – 6,5 m3). Nhờ có quá trình hội nhập kinh tế mà Việt Nam ta đã tiếp thu được nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong hoạt động xử lý chất thải ở các nước tiên tiến. Đó đều là những chương trình có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý chất thải ở nước ta. Ví dụ như năm 2005 vừa qua, chúng ta đã áp dụng xử lý rác thải bằng công nghiệp An Sinh – ASC. Tiêu chí của công nghệ An Sinh – ASC là: Tái sinh mùn hữu cơ, tái chế phế thải dẻo và tránh chôn lấp. Dây chuyền công nghệ này được sản xuất tại Việt Nam và thành công của dây chuyền xử lý là giảm được khối lượng rác chôn lấp, tỷ lệ dưới 10%; sản phẩm tái chế từ rác được thị trường chấp nhận. Kết quả này rất đáng hoan nghênh và thể hiện sự thành công trong việc xử lý rác thải(5) Theo báo Nhân dân, ngày 22/11/2005 . Một trong những thành tựu lớn là chất thải ở các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, bệnh viện và cơ sở y tế phần lớn là chất thải nguy hại đã có phương án kiểm soát. Cụ thể là chất thải này được chia làm hai loại: Chất thải không có tính độc hại – được xử lý thông thường và chất thải có tính độc hại – được tập trung riêng, đóng gói theo tiêu chuẩn của pháp luật và được khử khuẩn trước khi đem đi xử lý. Hầu hết các cơ sở đã có phương pháp tự xử lý chất thải hoặc ký hợp đồng tiêu hủy chất thải với các công ty chuyên trách. Việc Nhà nước áp dụng nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” đã đưa các cơ sở sản xuất kinh doanh và người dân đi vào quy củ. Thông qua hội nhập kinh tế, nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực môi trường, từ đó các nhà máy xử lý rác thải đã được nâng cấp và xây dựng mới ở các thành phố lớn như nhà máy xử lý rác ở Cầu Diễn – Hà Nội... Các nhà máy này được trang bị cơ sở kỹ thuật khá hiện đại, hệ thống xử lý rác được nâng cấp lên có công suất đến 50.000 tấn rác sinh hoạt mỗi năm và đã có lò đốt chất thải y tế. Đặc biệt, ngày 5/6/2003 lò đốt chất thải công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam đạt trình độ tương đương nước ngoài đã đi vào hoạt động. Đó là khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn – Hà Nội; công suất đến 125 – 150 kg/ giờ; nhiệt độ buồng đốt sơ cấp đạt 750 – 800oC, nhiệt độ buồng đốt thứ cấp đạt 950 – 1050oC, không gây ô nhiễm, không có khói... Bên cạnh đó, Chính phủ còn phê duyệt nhiều dự án xử lý nước thải như Nhà máy xử lý nước thải Cẩm Thạch – Quảng Nam, Nhà máy xử lý chất thải rắn Hội An, khu xử lý và chôn lấp chất thải công nghiệp trên khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn (khu xử lý quan trọng nhất)... 2/ Những khó khăn: Với mức độ ô nhiễm môi trường về nước, không khí bụi, tiếng ồn, chất thải tràn lan... như hiện nay cho thấy khả năng và hiệu quả thực thi chính sách môi trường của chúng ta chưa được tốt. Hội nhập WTO tất yếu dẫn đến đầu tư từ các nước khác đổ vào Việt Nam. Nhiều nhà máy công nghiệp sẽ mọc lên, các khu chế xuất do nước ngoài đầu tư sẽ đi vào vận hành. Chất thải công nghiệp được thải ra. Trong điều kiện đó, từ hiệu lực chính sách môi trường chưa cao, chúng ta phải xem xét lại các điều khoản về môi trường, quản lý chất thải. Nếu không, chúng ta sẽ trở thành nơi chứa đựng rác thải công nghiệp, nơi tiêu thụ thiết bị và hàng hóa độc hại đối với môi trường mà nó đã bị cấm sản xuất và lưu hành ở các nước khác. Trong tình huống đó, các quy chế, điều khoản về môi trường và quản lý chất thải nhất thiết phải chặt chẽ, khắt khe hơn trước. Nhưng với những điều khoản chặt chẽ thì các doanh nghiệp trong nước lại khó đáp ứng được các thông số kỹ thuật về môi trường, quản lý chất thải và không đủ tiềm lực tài chính để đầu tư sản xuất. Hội nhập kinh tế thường đặt ra nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các nước. Nhưng các đối tác có thể vin vào yếu tố môi trường như là một công cụ bảo hộ mậu dịch cho họ, làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các nước nghèo như nước ta. Hội nhập kinh tế không chỉ dừng ở việc người đầu tư cho ta mà bao hàm cả việc ta “đem chuông đi đấm xứ người” có thế mới thực hiện tốt được quy trình trao đổi và chuyển giao công nghệ. Nhưng các doanh nghiệp Việt Nam bị vấp vào rào cản môi trường cụ thể là chất thải. Bởi lẽ các đối tác có tiềm lực hơn ta, với đầy đủ cơ sở hạ tầng, họ chỉ tiếp nhận các “công nghệ sạch” có tính chất “thân thiện với môi trường”. Điều kiện ấy khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó đáp ứng, thành thử sa vào nguy cơ “thua trên sân nhà” và không đủ điều kiện “chơi trên sân người”. Có thể dễ dàng nhận thấy ý thức bảo vệ môi trường và quản lý chất thải ở Việt Nam còn rất kém. Từ đó dẫn đến ý thức về sản phẩm với các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường của người tiêu dùng chưa cao. Và nó cũng trở thành mối quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp. Thực tế họ đã phải trả giá đắt khi sản phẩm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trường hợp các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trường EU, Mỹ là những bài học xương máu cho vấn đề này. Cho đến thời điểm hiện nay, hầu như các nước phát triển đều dùng tiêu chuẩn môi trường, quản lý chất thải làm công cụ bảo hộ mâu dịch, hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ các nước kém phát triển. Gần đây, giới nghiên cứu cho biết, muốn có sự đồng bộ trong công tác vệ sinh môi trường, phải hội tụ đủ 4 yếu tố: nhân lực, tài lực, vật lực và thông tin. Xét về các nguồn lực này, chúng ta đều chưa có là bao. Hiện nay, lưc lượng thanh tra về vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm từ Trung ương đến địa phương còn thiếu và yếu. Công tác thông tin tuyên truyền chưa phổ cập rộng rãi ở nông thôn và miền núi. Từ đó cho thấy công tác vệ sinh môi trường, quản lý chất thải cần có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa của Đảng, Nhà nước và các ban ngành chức năng(6) Theo VOV cung cấp . Như vậy có thể tổng kết lại rằng, công tác bảo vệ môi trường mà cụ thể là quản lý chất thải ở Việt Nam bằng pháp luật cũng như bằng các biện pháp khác trong thời kỳ hội nhập kinh tế còn gặp một số vấn đề cần được kiện toàn, cụ thể: Hệ thống pháp luật có liên quan đến chất thải chưa đồng bộ và không đầy đủ; còn thiếu nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành về chất thải từ đó gây khó khăn cho cơ quan quản lý cũng như các tổ chức, cá nhân có liên quan khi tiến hành áp dụng các quy định này. Công tác xã hội hóa quản lý chất thải còn yếu kém. Các đơn vị, tổ chức tham gia hoạt động quản lý chất thải ở các tỉnh và thành phố trong cả nước đều là các doanh nghiệp công ích và đơn vị hành chính có thu. Nhà nước gần như bao cấp toàn bộ hệ thống quản lý rác thải, mà trong tương lai chất thải có nguy cơ gia tăng, như vậy cơ chế bao cấp này của Nhà nước sẽ không thể quản lý được hết số lượng rác thải phát sinh. Một khó khăn nữa là nhận thức cộng đồng về công tác bảo vệ môi trường và quản lý chất thải nói chung và nhiều lĩnh vực chất thải nói riêng là yếu kém. Phần lớn người dân còn thiếu ý thức pháp luật về giữ gìn vệ sinh môi trường và các vấn đề kiểm soát chất thải. Người dân hầu hết quan niệm đó là công việc của Nhà nước, của pháp luật. Hiểu biết của người dân về nguy cơ và tác hại của chất thải còn sơ sài và hạn chế. Vì vậy dẫn đến tình trạng xả rác tràn lan, bừa bãi là phổ biến. Nếu tiếp tục duy trì tình trạng xả thải vô ý thức như hiện nay, người Việt Nam có nguy cơ sống cùng với rác thải của chính mình. Vấn đề vốn, công nghệ, trình độ khoa học kỹ thuật còn gặp nhiều khó khăn. Về cơ bản, tài chính cho đầu tư, xử lý chất thải còn hạn hẹp trong khi nhu cầu quản lý đòi hỏi phải có đầu tư lớn và tập trung. Phần lớn trang thiết bị, công nghệ trong quản lý chất thải của ta còn lạc hậu, vì vậy việc lựa chọn công nghệ sao cho vừa đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, vừa phù hợp với điều kiện ở Việt Nam là rất khó. Chúng ta chưa đủ điều kiện để mua sắm các công nghệ tiên tiến, phương tiện chuyên dùng hiện đại. Các công trình, kế hoạch, dự án đầu tư còn thiếu kinh phí. Nhà nước vẫn chưa có các cơ chế về tài chính đầu tư tạo điều kiện và hỗ trợ cho các cơ sở có nhu cầu về xử lý chất thải, đó là chưa kể đến sự yếu kém về trình độ khoa học kỹ thuật, sự hạn chế về trình độ quản lý. Ngoài những vấn đề trên, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa cũng là một thách thức lớn đối với sự phát triển chung của toàn xã hội. Thời gian tới, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cần có những giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác hiệu quả sự hỗ trợ của các nhà đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể hòa nhập cùng cộng đồng thế giới, từ đó toàn cầu hóa công tác bảo vệ môi trường và quản lý chất thải. IV/ Giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất thải bằng pháp luật trong thời kỳ hội nhập kinh tế: Để nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác quản lý chất thải bằng pháp luật cũng như để vấn đề môi trường, chất thải không còn là rào cản trong các hoạt động hội nhập, phát triển thương mại, Đảng và Nhà nước cần đưa ra những giải pháp đồng bộ giữa các khâu tổ chức quản lý, giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức nhân dân... và còn nhiều các giải pháp hữu hiệu khác. Sau đây em xin đưa ra một vài giải pháp cơ bản để khắc phục những khó khăn trong vấn đề này, cụ thể như sau: 1/ Giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về quản lý chất thải: Hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý chất thải tuy đã được ban hành nhưng vẫn còn sơ sài và chưa đồng bộ. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý chất thải là vô cùng cần thiết, trước mắt là cần có sự sửa đổi, bổ sung Luật bảo vệ môi trường 2005, cụ thể là phần quy định về quản lý chất thải. Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cũng cần chú ý kiện toàn và tăng cường năng lực tổ chức bộ máy Nhà nước, đảm bảo thực hiện có hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về quản lý chất thải từ Trung ương đến cơ sở. Cần xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ quản lý chất thải cũng như bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp. Xây dựng và phát triển các cơ chế giải quyết vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng. Chú trọng xây dựng năng lực ứng phó sự cố môi trường, chất thải. Kết hợp với công tác chỉ đạo, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền còn cần tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; quy định và áp dụng các chế tài cần thiết để xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường. Giải pháp tăng cường công tác quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như hoàn thiện hơn nữa hệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường bằng pháp luật trong thời kỳ hội nhập kinh tế. 2/ Giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý chất thải: Phương pháp này dựa trên nguyên tắc: “Nhà nước, nhân dân cùng làm”, “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đây là một biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải. Trong giai đoạn hiện nay, cần có sự tích cực tham gia của cộng đồng để từ đó thực hiện xã hội hóa công tác quản lý chất thải. Xã hội hóa trên cơ sở tăng cường quyền làm chủ và trách nhiệm của người dân trong bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng, nâng cao ý thức cộng đồng vì nhân dân có nắm vững pháp luật, mcó hiểu biết về chất thải mới có ý thức bảo vệ môi trường và quản lý chất thải. Vì vậy, Đảng và Nhà nước phải thường xuyên tiến hành tuyên tuyền những thông tin về chất thải cũng như pháp luật về quản lý chất thải, tổ chức các chiến dịch truyền thông, phát động phong trào toàn dân thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường và thông qua hoạt động định kỳ của các tổ chức quần chúng ở cơ sở, tạo các phong trào thi đua xấy dựng nếp sống văn minh trong khu dân cư. Cơ quan chức năng có thẩm quyền cần phối hợp với các ngành có liên quan phổ biến sâu rộng các tài liệu, tuyên truyền, hướng dẫn bảo vệ môi trường, quản lý chất thải phù hợp với từng đối tượng, khu vực, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu niên. Nâng cao năng lực đào tạo; đầu tư cho các trường, cơ sở đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý chất thải , nâng cao chất lượng quản lý đưa nội dung quản lý chất thải vào chương trình giảng dạy ở các cấp học nhằm đưa hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý chất thải là phổ thông, thiết yếu với mọi người. Xã hội hóa công tác đầu tư dịch vụ trong quản lý chất thải, các cơ quan quản lý Nhà nước cần khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, tổ chức kinh tế tham gia vào hoạt động quản lý chất thải như: cho vay vốn tín dụng ở ngân hàng nước ngoài để thực hiện dự án, cho vay với lãi suất ưu đãi, giảm thuế thu nhập, nhập khẩu... Các cơ quan có thẩm quyền về quản lý chất thải cũng cần phải củng cố tổ chức, mở rộng doanh nghiệp Nhà nước hoạt động quản lý có hưởng, cổ phần doanh nghiệp Nhà nước, thành lập công ty theo mô hình doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích. Thêm nữa, cần tạo thành dư luận xã hội để lên án nghiêm khắc những hành vi gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường đi đôi với việc áp dụng các chế tài hình sự, dân sự, hành chính để xử phạt nghiêm, đúng mức với mọi vi phạm. Cần khôi phục và phát huy truyền thống yêu thiên nhiên, nếp sống gần gũi, gắn bó với môi trường, từ đó tạo nên trách nhiệm bảo vệ môi trường. 3/ Giải pháp về hợp tác quốc tế: Hợp tác quốc tế là vấn đề chung của toàn thế giới. Vì vậy, tham gia hội nhập với các nước trên thế giới về lĩnh vực bảo vệ môi trường, quản lý chất thải là giải pháp hữu hiệu được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Tranh thủ nguồn vốn viện trở của chính phủ các nước, tổ chức phi chính phủ trên thế giới và các loại hình tài trợ quốc tế khác về đào tạo nhân lực, học tập, kinh phí quản lý, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ về kỹ thuật, hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực chất thải nhằm tăng cường quan hệ giao lưu quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần quan tâm hơn nữa tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường, cần nâng cao tính tương đồng giữa các quy định pháp luật về chất thải tại Việt Nam với các quy định trong Công ước quốc tế về môi trường nhằm tiến tới toàn cầu hóa chiến lược bảo vệ môi trường, quản lý chất thải. 4/ Giải pháp về khoa học, kỹ thuật, công nghệ: Nghiên cứu xây dựng những luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải trong phát triển bền vững là một giải pháp quan trọng và đem lại hiệu quả cao. Đây là một công cụ không thể thiếu được trong kiểm soát chất thải cũng như trong bảo vệ môi trường. Để thực hiện được giải pháp này, chúng ta cần hiện đại hóa các công nghệ, kỹ thuật; lựa chọn, áp dụng các công nghệ tiên tiến, phù hợp với khả năng của Việt Nam. Chú trọng, khuyến khích áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ mới để giảm thiểu số lượng chất thải phải loại bỏ như: giải pháp sử dụng tối đa nguyên liệu; thay đổi công thức sản xuất để giảm vật liệu bao bì; áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại để tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải; áp dụng “công nghệ sạch”... Cần tiến hành đổi mới, cải thiện thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải bằng việc làm thiết thực như cung cấp thêm xe ép rác, thay thế bằng các trạm ép rác kín có trang bị máy ép rác, xe kéo; nâng cấp các trạm trung chuyển... Ngoài ra cần thực hiện nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu, tiêu chuẩn trong việc lựa chọn công nghệ, thiết kế, xây dựng và vận hành các bãi chôn lấp hợp vệ sinh, ứng dụng các lò đốt có công nghệ tiên tiến để xử lý chất thải rắn y tế và chất thải rắn công nghiệp nguy hại đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, quan trắc, dự báo, cảnh báo về tài nguyên và môi trường. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về môi trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, Việt Nam ta chủ yếu vẫn nhập khẩu các công nghệ kỹ thuật hiện đại ở nước ngoài với giá thành cao, vì vậy trong tương lai cần tiến tới tự sản xuất các thiết bị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải để đỡ tốn kém cho ngân sách nhà nước. 5/ Giải pháp về kinh tế - tài chính Chúng ta cần áp dụng chính sách ưu đãi về tài chính theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia vào bảo vệ môi trường và quản lý chất thải. Cần trích ngân sách Nhà nước để trợ giúp doanh nghiệp tham gia quản lý chất thải vì hoạt động này đòi hỏi chi phí rất lớn. Đảng và Nhà nước cần ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, sử dụng đất để huy động tiềm lực của nhân dân, các thành phần kinh tế tham gia, đầu tư vào bảo vệ môi trường và quản lý chất thải. Thêm nữa, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phân bổ hợp lý các nguồn vốn, ODA, vốn vay dài hạn và lãi suất ưu đãi để xây dựng các cơ sở, trang thiết bị bảo vệ môi trường, quản lý chất thải... và hỗ trợ việc cho vay. Cần tổ chức, quản lý việc thu nhặt phế thải, coi đây là nguồn tái chế, tái sử dụng nhằm giảm thiểu chất thải phát sinh và tiết kiệm chi phí liên quan. Đảng, Nhà nước và pháp luật còn khuyến khích sử dụng công cụ kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm của nhân dân, tổ chức. Biện pháp này vừa tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, vừa đánh vào lợi ích của những người sản sinh chất thải, từ đó họ có trách nhiệm hơn đối với bảo vệ môi trường và quản lý chất thải, các nguồn thu này bao gồm: tiền phạt, đánh thuế, thu phí nguyên liệu đã qua sơ chế, thuế các sản phẩm nguy hại, thuế các mặt hàng xuất khẩu có khả nằng gây ô nhiễm... Trên đây là một số những biện pháp cơ bản để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chât thải ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Cần căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện của từng đối tượng, từng khu vực cụ thể để áp dụng những biện pháp này một cách hữu hiệu nhất. KẾT LUẬN Như vậy có thể kết luận lại rằng, công tác bảo vệ môi trường nói chung cũng như hoạt động quản lý chất thải nói riêng là một trong những mối quan tâm lớn nhất của Đảng và Nhà nước đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay. Hội nhập kinh tế quốc tế là một đòi hỏi tất yếu, bức thiết của đất nước ta. Nhận rõ lợi thế và thách thức để chủ động hội nhập là điều hết sức cần thiết. Có vậy cũng ta mới đẩy mạnh được quá trình hội nhập với quy môi rộng lớn, trình độ cao hơn mà vẫn bảo đảm được sống trong một môi trường xanh – sạch, chất thải trong môi trường được xử lý tốt... Chúng ta có nhiều lợi thế để bước vào hội nhập. Nếu biết vận dụng đúng lợi thế, chúng ta sẽ tạo ra nhiều cơ hội tốt để hội nhập. Chúng ta có thế mạnh về con người, về lao động với trí thông minh, nhanh nhẹn, chăm chỉ, cần cù, về môi trường đa dạng phong phú, trữ lượng ở dạng tiềm năng lớn. Đây là những thế mạnh để chúng ta vượt qua khó khăn, tiến tới hội nhập kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế cũng như các lĩnh vực môi trường, văn hóa... Những thế mạnh này giúp chúng ta có được nhiều thành tựu lớn về môi trường trong nhiều năm qua. Nhưng bên cạnh những lợi thế đó, chúng ta còn vô vàn khó khăn, yếu kém cản trở quá trình hội nhập kinh tế thế giới đi đôi với bảo vệ môi trường, quản lý chất thải. Đó là những khó khăn xuất phát từ hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, từ ý thức của nhân dân về vấn đề này còn kém, từ công nghệ, kỹ thuật còn thiếu, thô sơ, từ vốn đầu tư còn hạn chế... Đây thực sự là những khó khăn vô cùng lớn, không phải một sớm một chiều mà giải quyết được, vì vậy đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ta một đòi hỏi phải có sự nỗ lực, cố gắng hơn nữa, có trách nhiệm hơn nữa với môi trường sống của chính mình, chúng ta cần biết lợi dụng những ưu thế sẵn có để khắc phục dần những tiêu cực còn tồn đọng, xây dựng một hệ thống quản lý môi trường và chất thải tiến bộ, hiện đại. Đối với biện pháp quản lý chất thải bằng pháp luật, đây là một biện pháp quan trọng và hứa hẹn đem lại hiệu quả cao trong công tác bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, vì vậy chúng ta cần không ngừng kiện toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người sản sinh chất thải cũng như các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên quan nhằm đảm bảo các yêu cầu của môi trường và quản lý chất thải. Nghiên cứu về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải là một công trình nghiên cứu đòi hỏi nhiều thời gian, tâm huyết. Một đề tài với dung lượng 20 trang chưa thể nào nghiên cứu đầy đủ được về vấn đề này, tuy nhiên với những nghiên cứu và tìm hiểu của mình, em mong đóng góp được một phần nhỏ vốn kiến thức cũng như tâm huyết của mình vào công tác bảo vệ môi trường cũng như quản lý chất thải, nhằm khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của môi trường sạch, không chất thải. TÀI LIỆU THAM KHẢO * Sách: - Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật môi trường, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2006. - Đại học Huế, Giáo trình Luật môi trường – ThS. Nguyễn Văn Phương. - Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (phần luật môi trường), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 1999. * Văn bản quy phạm pháp luật: - Luật bảo vệ môi trường 2005. - Nghị định 59/2007/NĐ-CP ra ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Nghị quyết số 41/2004/NQ-TW ra ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấy nước. * Các tài liệu khác: - Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 – 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 – 2005. - Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2005, năm 2006. - Biên bản phiên họp toàn thể ISGE 2007, chủ đề “Công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam”. - Các bài báo, trang web khác có liên quan...

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận- Pháp luật quản lý chất thải trong thời kỳ hội nhập kinh tế ở Việt Nam.doc
Luận văn liên quan