Tiểu luận Tình hình sử dụng lao động ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2010

Từ những phân phân tích và nhận định ở chương II, chương III ta có thể nhận thấy tuy năm 2010 được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt hơn năm 2009, nhưng thị trường lao động Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại nhiều nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động luôn là một bài toán khó cho Thành phố nói chung và các doanh nghiệp trong việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của mình. Nhìn chung, các ngành nghề thu hút lao động nhiều nhất vẫn là dệt may - da giày, nhựa - bao bì, dịch vụ - phục vụ, điện tử - viễn thông , marketing, nhân viên kinh doanh, tư vấn - bảo hiểm, kế toán - kiểm toán . với nhu cầu tuyển dụng trình độ lao động phổ thông chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động thời vụ như: Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Mộc – Mỹ nghệ, Tư vấn – Bảo hiểm, Marketing Nhân viên Kinh doanh, kế tiếp là trình độ trung cấp nghề .

pdf37 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 3315 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Tình hình sử dụng lao động ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chúng ta sẽ lần lượt xem xét sau đây. Các đặc tính của hộ gia đình: Các đặc tính của hộ gia đình như qui mô, cơ cấu gia đình, như: tình trạng hôn nhân, số con, gia đình hạt nhân hay gia đình nhiều thế hệ. Các đặc tính nhân khẩu học: Các đặc tính nhân khẩu học như tuổi, giới tính của người lao động. Các biến khả năng và động lực: Khả năng của người lao động quyết định phần lớn cơ hội có việc làm của họ. Nhưng rất tiếc, việc đo lường những biến này rất khó, nếu có thì không chính xác vì nhiều nguyên nhân. Ví dụ, biến trình độ học vấn là một biến phản ánh không chính xác khả năng có thể đảm nhận được công việc của người lao động. Thứ nhất, nó chỉ phản ánh hình thức đào tạo mà chưa đề cập tới những loại hình khác như đạo tạo trong công việc, đào tạo ngắn hạn; Thứ hai, chất lượng giáo dục ở các Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 9 trường, vùng miền khác nhau là khác nhau; Thứ ba, những kiến thức học được ở trường cũng chưa chắc đã phù hợp đối với công việc trong thực tế. Biến kinh nghiệm làm việc, cũng là biến không được quan tâm trong một số cuộc điều tra, vì vậy người ta phải sử dụng biến tuổi để thay thế, nhưng khi sử dụng biến này chúng ta đã chấp nhận một giả định rằng người càng nhiều tuổi thì càng có kinh nghiệm, nhưng điều này không đúng cho mọi trường hợp. Trong nghiên cứu đã sử dụng các biến như trình độ học vấn để đánh giá khả năng của người lao động. Những động lực khuyến khích một người đi làm cũng sẽ làm tăng khả năng tham gia thị trường lao động của họ và do vậy ảnh hưởng tới khả năng có việc làm. Những nhân tố thường cũng khó đo lường như: Thái độ của gia đình, cha mẹ, vợ, chồng... đối với việc đi làm của một cá nhân, mức thu nhập bình quân của những thành viên trong gia đình, hoặc sống trong cảnh nghèo sẽ ít cơ hội mặc dù họ mong muốn điều này. Người nghèo sẽ ít có cơ hội được học tập, đào tạo nghề, họ thiếu thông tin, khó có điều kiện di chuyển để tìm việc làm cũng như dễ bị kỳ thị trên thị trường lao động. Đối với người nghèo, các chương trình hỗ trợ tạo việc làm và dạy nghề có tác động quan trọng tới khả năng có việc làm. Tuy nhiên, trong những hộ gia đình nghèo, không có đất đai, vốn để sản xuất, cũng là động lực để tìm kiếm việc làm, nhưng phần lớn họ chỉ tập trung vào những loại công việc lao động giản đơn. 1.5.2 Các biến quyết định cầu lao động: Cơ hội một người có thể có việc làm hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cầu lao động trên thị trường. Thị trường có nhiều cơ hội việc làm hay không? Người lao động có thể dễ dàng di chuyển xa từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm việc làm không? Người lao động có dễ dàng tiếp cận được với thông tin về việc làm hay không? Vùng nơi họ sinh sống. Cơ cầu ngành nghề ở địa phương. Trong nghiên cứu này, một số biến sau được sử dụng: (1) Thành thị/nông thôn, (2) Vùng kinh tế, Thành thị/nông thôn: đây là biến rời rạc. Người lao động sống ở thành thị, biến nhận giá trị là 1, nếu ở vùng nông thôn là 0. Biến này được sử dụng thay thế cho một số biến không quan sát được hoặc khó lượng hoá như ở thành thị dường như có nhiều công việc làm công ăn lương hơn ở nông thôn, hệ thống thông tin về việc làm ở thành thị cũng Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 10 dễ tiếp cận hơn, việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm việc làm cũng dễ dàng hơn, cơ cấu ngành nghề ở thành thị cũng phong phú hơn. Vùng kinh tế: biến này xác định hộ gia đình thuộc vùng nào: 1.Đồng bằng sông Hồng, 2.Đông Bắc, 3.Tây Bắc, 4.Bắc Trung Bộ, 5.Duyên hải Nam Trung Bộ, 6.Tây Nguyên, 7.Đông Nam Bộ, 8.Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng kinh tế với những đặc điểm và trình độ phát triển khác nhau sẽ khác nhau về cơ hội tìm kiếm việc làm. Một số đặc tính của cung và cầu lao động: 1. Các đặc tính của người lao động: - Kinh nghiệm của người lao động. - Tuổi của người lao động. - Trình độ văn hoá, nghề nghiệp. 2. Các đặc tính của hộ gia đình: - Quy mô hộ gia đình. - Giới tính của chủ hộ. - Khả năng kinh tế hộ gia đình. - Tình trạng hôn nhân. 3. Một số kết quả - Kết quả còn cho thấy, trình độ phải đạt tới mức cao đẳng, đại học, trung học cơ sở và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm trên thị trường của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam. - Thành viên các gia đình nghèo trong nghiên cứu này lại có khả năng có được việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo. Điều này có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên đi làm lớn hơn, mặt khác cũng phản ánh cơ cấu việc làm hiện nay cũng phù hợp đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay, và việc làm trong khu vực phi kết cấu. Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cao hơn một chút so với nam giới. - Mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ gia đình càng tăng thì càng làm giảm xác suất có việc làm của các thành viên, mức độ ảnh hưởng đối với nữ cao hơn đối với nam, có thể do động lực phải tìm kiếm việc làm và đóng góp thu nhập giảm. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 11 - Ở thành thị dễ kiếm việc làm hơn ở nông thôn, nam giới dễ kiếm việc làm ở thành thị hơn là nữ giới. - So sánh giữa các vùng kinh tế cho chúng ta thấy, so với vùng Đồng Bằng Sông Hồng thì các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và Bắc Trung Bộ khả năng kiếm được công việc được trả lương thấp hơn, trong khi đó các vùng như Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long lại cung cấp nhiều công việc làm công ăn lương hơn, nhất là ở vùng Đông Nam Bộ. Cơ hội về việc làm ở các vùng giữa nam và nữ có sự khác biệt đôi chút. - So với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ phụ nữ khó kiếm việc làm hơn so với nam giới, nhưng ở vùng Tây Bắc nam giới lại khó kiếm việc hơn. Cũng so với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long lại cung cấp nhiều việc làm hơn cho phụ nữ. Riêng vùng Tây Nguyên, so với Đồng bằng sông Hồng, nam giới ít có khả năng trong khi nữ giới lại có nhiều khả năng kiếm được việc làm hơn. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 12 CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010 2.1 Sơ lược về tình hình sử dụng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008, 2009 Năm 2008 Lực lượng lao động Thành phố tăng dần qua các năm, năm 2001 số người trong độ tuổi lao động là 3,6 triệu người, chiếm tỷ trọng 66,14% dân số. Năm 2008 lực lượng lao động là 4,6 triệu người, chiếm tỷ trọng 67,67% dân số Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2001 chiếm tỷ trọng 33,17%, năm 2008 chiếm tỷ trọng 49,11% trong tổng số lao động đang làm việc Số người có việc làm tăng dần qua các năm, năm 2008 có trên 3,2 triệu người, chiếm tỷ trọng 67,75% nguồn lao động Tỷ lệ thất nghiệp năm 2001 là 6,8% giảm dần dưới 6% năm 2008. Năm 2009 Sự bùng nổ dân số trong những thập niên vừa qua đã tạo nhiều áp lực lớn đối với thị trường lao động Việt Nam.Năm 2009,lực lượng lao động tăng đáng kể với nhóm tuổi 30 – 39 có tỷ lệ tăng cao nhất. Đối với người dân Việt Nam, tài sản tạo ra thu nhập chủ yếu là sức lao động; do đó việc tham gia vào thị trường lao động là tất yếu đối với nhiều người để tồn tại. Việc làm giúp nhiều người có thu nhập để đáp ứng những nhu cầu cơ bản như ăn, ở và nhiều nhu cầu khác.Năm 2009,lực lượng lao động tăng nhanh 49,3 triệu người , chủ yếu là do sự gia tăng dân số trong thời kỳ này. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động được xác định bằng lực lượng lao động so với dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên), cũng tăng 2,1 điểm phần trăm. Tỷ lệ này ở mức 76,5% năm 2009, đây là mức cao nếu xem xét ở góc độ quốc tế (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 65,1% năm 2009. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 13 2.2 Thực trạng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 2.2.1 Đặc điểm lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 Năm 2010: 275.000 lao động Thành phố Hồ Chí Minh có việc làm ổn định Trong số này có khoảng 271.000 lao động được giải quyết việc làm và hơn 120.000 lượt người có việc làm mới, là số liệu tổng kết của Trung tâm Dự báo và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tổng hợp cơ sở dữ liệu của 18.036 doanh nghiệp tại Thành phố Những ngành nghề được liệt kê hút lao động nhất năm 2010 bao gồm: dệt may - da giày, nhựa - bao bì, dịch vụ - phục vụ, điện tử - viễn thông , marketing, bán hàng... Các ngành này sử dụng lao động phổ thông trong tổng nhu cầu tuyển dụng với cơ cấu trình độ chuyên môn đạt hơn 56%. Riêng trình độ cao đẳng - đại học chiếm tỉ lệ hơn 19%, chủ yếu rơi vào lĩnh vực: công nghệ thông tin, xây dựng - kiến trúc, quản lý kinh doanh - nhân sự, kiểm toán - kế toán; còn lại là đội ngũ lao động sơ cấp, trung cấp nghề. Mặc dù được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt hơn năm 2009, thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 vẫn tồn tại nhiều nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động luôn được xem là một bài toán cần phải giải quyết một cách triệt để. Theo đó, quý 1/2010, thị trường lao động diễn ra mất cân bằng, giữa nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu trình độ chuyên môn và ngành nghề. Nhu cầu lao động phổ thông trong khoảng thời gian này rất lớn, chiếm 71,16% so với tổng nhu cầu chỗ làm việc trống; trong khi đó, nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ chiếm 30%. Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong quý này chủ yếu là những ngành nghề thâm dụng lao động, như: nhựa - bao bì, dệt may – giày da, chế biến, vệ sinh công nghiệp, mộc - mỹ nghệ. Bước sang quý 2/2010, từ những tác động chính sách quản lý nhà nước và chính sách sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, đặc biệt việc cải tiến quy trình sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định sản xuất kinh doanh, nâng cao tiền lương, thu nhập, đời sống lao động được cải thiện, thị trường lao động phát triển xu hướng tương đối cân bằng cung Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 14 – cầu. Nhu cầu lao động phổ thông chiếm từ 71,76% xuống còn 56,42% so với tổng nhu cầu. Đến quý 3, tình hình đã có sự ổn định hơn. Nguồn cung và nguồn cầu đáp ứng được 80%; nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông đã giảm hẳn so với trước đó (40% so với tổng nhu cầu). Các doanh nghiệp tăng cường việc tuyển dụng nhân sự có trình độ chuyên môn cao, lao động có tay nghề và nhu cầu việc làm thời vụ, việc làm bán thời gian trong lĩnh vực gia công sản xuất, chế biến. Năm 2010 cũng là năm các hoạt động hỗ trợ thị trường lao động và hình thức tuyển dụng lao động trên hệ thống điện tử, trực tuyến phát triển mạnh cùng với các chính sách của doanh nghiệp về tuyển dụng linh hoạt, cụ thể thông tin chính sách sử dụng lao động đã hỗ trợ sinh viên học sinh, người lao động tìm việc thuận lợi hơn. 11 tháng qua, các kênh giới thiệu việc làm đã tổ chức giới thiệu và giải quyết việc làm được 271.061 lao động, đạt 100,39% kế hoạch; trong đó có 120.641 chỗ làm việc mới. Ước cả năm 2010, giải quyết việc làm được trên 275.000 lao động. Trong tổng số người được giải quyết việc làm, tại các khu chế xuất, khu công nghiệp đã thu hút trên 30.000 lao động. Diễn biến nhu cầu nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2010 là thời điểm kinh tế phục hồi và phát triển sau thời gian doanh nghiệp cắt giảm nhiều lao động. Đây cũng là thời điểm vào dịp lễ và Tết nên sau Tết, nhu cầu của các doanh nghiệp tập trung nhiều vào nguồn lao động phổ thông cho các hoạt động sản xuất, dịch vụ thời vụ rất lớn. Trong 6 tháng cuối năm, thị trường lao động thay đổi theo chiều hướng tích cực. Các doanh nghiệp thiếu lao động phổ thông đã cải thiện chính sách tổ chức sản xuất kinh doanh, tiền lương cùng nhiều chính sách phúc lợi khác, vì vậy nhu cầu lao động phổ thông giảm dần, thay vào đó là nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề và có trình độ cao. Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao vẫn là những ngành nghề của 6 tháng đầu năm nhưng với yêu cầu về tay nghề và trình độ chuyên môn cao hơn. Trong khi đó, nguồn cung nhân lực trong năm 2010 cũng diễn biến theo những nghịch lý. Khi nguồn lao động phổ thông thiếu thì nguồn lao động có trình độ từ trung Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 15 cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề lại chưa đáp ứng số lượng, chất lượng so với nguồn cầu. Do đó, vẫn có hiện tượng thừa lao động có trình độ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng và làm việc của doanh nghiệp. Nhu cầu nhân lực về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 Trình độ chuyên môn Tỷ lệ (%) Tổng số nhu cầu nhân lực 100,00 - Trên Đại học 1,06 - Đại học 7,48 - Cao đẳng chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề 5,35 - Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề 10,27 - Công nhân kỹ thuật lành nghề 30,67 - Sơ cấp nghề 17,55 - Lao động chưa qua đào tạo 27,62 Năm 2010 cũng là năm diễn ra sự dịch chuyển lao động khá lớn (trên 30%), phần lớn lao động có nhu cầu tìm việc tại các sàn giao dịch việc làm, các phương tiện truyền thông , mạng việc làm, các trung tâm giới thiệu việc làm là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và có tay nghề. Trên 50% người tìm việc làm có kinh nghiệm từ 1 năm trở lên, và với mức lương mong muốn trên 5 triệu đồng/tháng, đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa những người tìm việc làm có trình độ chuyên môn. Theo chương trình việc làm của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, nhu cầu việc làm cho năm tới được dự báo là trên 265.000 lao động, kể cả nhu cầu về lao động thay thế và lao động tuyển mới (khoảng 120.000 chỗ làm việc mới). Trong đó lao động phổ thông chiếm trên 45%, cao đẳng, đại học khoảng 20%, lao động có trình độ từ sơ cấp nghề đến trung cấp chiếm khoảng 35%. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 16 36.91 14.4 10.14 6.4 5 0 5 10 15 20 25 30 35 40 Kế toán - Kiểm toán Quản lý nhân sự - Hành chính văn phòng Marketing- Nhân viên kinh doanh Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu Quản lý điếu hành Chỉ số nguồn cung nhân lực ở Tp HCM năm 2010 (%) 7.82 6.79 4.13 9 13.75 0 2 4 6 8 10 12 14 16 Cơ khí - luyện kim Dệt - may - giày da Công nghệ thông tin Giao thông vận tải - thuỷ lợi Marketing - Nhân viên kinh doanh Nhu cầu tuyển dụng ở Tp HCM năm 2010 (%) Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 17 2.2.2 Sự phân bố lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh theo từng ngành nghề: Trong tháng 10, Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh đã khảo sát, cập nhật tại các sàn giao dịch việc làm, ngày hội nghề nghiệp việc làm; hệ thống hoạt động giới thiệu việc làm và hệ thống thông tin của các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu tuyển dụng lao động trên địa bàn thành phố với tổng số 1.144 doanh nghiệp và 13.379 nhu cầu chỗ làm việc, 7479 người có nhu cầu tìm việc làm. Từ kết quả khảo sát trên, Trung tâm đưa ra phân tích tình hình thị trường lao động thành phố như sau. Về cơ cấu ngành nghề: Nhu cầu tuyển dụng lao động tháng 10/2010 tăng nhẹ (1,47%) so với tháng 9. Marketing - Nhân viên Kinh doanh vẫn là ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao nhất (20,04%) trong tháng, kế đến là một số ngành nghề như dịch vụ và phục vụ (9,45%), Dệt - May - Giày da (8,57%), Tư vấn - Bảo hiểm (7,94%), Bán hàng (7,59%), Kế toán - Kiểm toán (7,21%). Ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng tăng cao trong tháng 10 là: Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản tăng 5 lần, Điện tử - Viễn thông tăng 3 lần, Tài chính - Ngân hàng tăng 1,92 lần. Chỉ số nguồn cung nhân lực so với tháng 9, cho thấy một phần người tìm việc của các tháng trước đã tìm được việc làm. Chỉ số cung, cầu tháng 10 thể hiện sự cân bằng hơn. Những ngành nghề có chỉ số cung cao nhất vẫn là Kế toán - Kiểm toán (36,91%), Quản lý nhân sự - Hành chính văn phòng (14,40%), Marketing - Nhân viên kinh doanh (10,14%), Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu (6,40%), Quản lý điều hành (5,00%). Thị trường lao động bình ổn do các doanh nghiệp đang trong giai đoạn ổn định sản xuất kinh doanh. Tuy vậy, các doanh nghiệp đang rất cần những nhà quản lý có trình độ, kinh nghiệm và chuyên môn cao, trong khi đó trên 40% sinh viên mới tốt nghiệp năm 2010 vất vả tìm việc làm do chỗ làm việc chưa phù hợp, thiếu thông tin mặc dù các ngày hội việc làm, các sàn giao dịch việc làm diễn ra thường xuyên và đa dạng . Riêng ngành nghề Dệt - May - Giày da tình hình thiếu hụt lao động cho hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm vẫn tiếp diễn, một số doanh nghiệp đăng tin tuyển dụng rất lâu và tình hình tiền Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 18 lương đã được cải thiện nhưng vẫn không tuyển đủ số lao động cần tuyển, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước. Người lao động có xu hướng chuyển sang làm cho các doanh nghiệp dệt may của Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức lương trên 2.000.000 đồng/tháng và chế độ chính sách lao động ổn định. Về cơ cấu trình độ nghề: Chỉ số nhu cầu tuyển dụng về trình độ lao động phổ thông là 30,96% trong tháng 10/2010, giảm 29% so với nhu cầu tuyển dụng của tháng trước. Các ngành có nhu cầu tuyển lao động phổ thông chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động thời vụ như: Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Mộc – Mỹ nghệ, Tư vấn – Bảo hiểm, Marketing - Nhân viên Kinh doanh. Lao động có trình độ Đại học 17,29%, Cao đẳng – Cao đẳng nghề 11,66%, Trung cấp – Trung cấp nghề 24,83%, Sơ cấp nghề 11,04%, Công nhân kỹ thuật lành nghề 3,37%. Nguồn lao động chủ yếu mà doanh nghiệp cần tuyển là lao động có trình độ và tay nghề. Đặc biệt, trình độ đại học và trên đại học lĩnh vực quản lý có nhu cầu tuyển cao nhất như: Quản lý điều hành, Kế toán - Kiểm toán, Marketing - Nhân viên Kinh doanh, Xây dựng - Kiến trúc, Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng. Nhìn chung, thị trường lao động tháng 10/2010 có sự ổn định. Các doanh nghiệp đã thực sự chú trọng tuyển dụng nguồn lao động có tay nghề và trình độ cao. Nhu cầu tuyển lao động phổ thông cũng tương đối ổn định và chủ yếu là tuyển lao động làm việc thời vụ, bán thời gian. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 19 Sự phân bố lao động theo từng ngành nghề năm 2010 Thành Phố Hồ Chí Minh STT Ngành nghề Tỷ trọng (%) 1 Công nghệ Thông tin – Viễn thông 7,75 2 Điện – Điện tử - Điện công nghiệp – Điện lạnh 6,82 3 Hóa – Hóa thực phẩm – Hóa chất – Hóa dầu 3,15 4 Cơ khí – Xây dựng – Giao thông vận tải – Hàng hải 7,36 5 Sản xuất đồ gỗ, trang trí nội thất 2,07 6 Kiến trúc – Thiết kế - Giấy bao bì – Xuất bản 6,42 7 Giáo dục – Đào tạo 3,08 8 Tài chính – Ngân hàng – Kiểm toán – Bảo hiểm 6,83 9 Y khoa – Y tế - Mỹ phẩm – Dược 4,56 10 Du lịch – Môi trường – Nhà hàng – Khách sạn 6,45 11 Marketing – Dịch vụ tư vấn 6,16 12 Quản lý – Quản trị - Hành chánh - Văn phòng 7,6 13 Phục vụ và bán hàng 5,18 14 Nông – Lâm – Ngư – Thủy sản 1,55 15 May dệt – giày da – Thủ công mỹ nghệ 18,79 16 Các ngành nghề khác 6,23 Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 20 2.2.3 Chất lượng nguồn lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh : Thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn cao Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có nguồn nhân lực lớn nhất nước với khoảng 4,7 triệu người trong độ tuổi lao động, tổng số người có việc làm hiện vào khoảng 3,2 triệu người. Ðội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao trên địa bàn chiếm tới 30% so với cả nước. Số lao động đã qua đào tạo tăng từ 40% năm 2005 lên 55% năm 2010. Thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2006-2010 do Ðại hội Ðảng bộ Thành phố lần thứ 8 đề ra, đến nay nguồn nhân lực Thành phố đã có bước phát triển đáng kể. Ðội ngũ cán bộ công chức, khối hành chính sự nghiệp các cấp, các ngành đã có hơn 138.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng trong nước và gần 2.500 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Sở hữu nhiều thuận lợi để phát triển mạnh nguồn nhân lực, tuy vậy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố . Dự báo trong những năm tới, tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng có thể sẽ càng trở nên trầm trọng hơn nếu không đưa ra được những giải pháp hợp lý, nhất là giải pháp gắn kết giữa tuyển dụng và đào tạo. Từ nhiều năm qua, vấn đề thiếu hụt lao động đã được đặt ra, tuy nhiên chưa bao giờ Thành phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động có trình độ chuyên môn một cách nghiêm trọng như những năm gần đây do chỉ có 50% lao động mới qua đào tạo. Đặc biệt lực lượng lao động có trình độ từ trung cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề còn rất ít ỏi, chất lượng chưa đạt so với yêu cầu. Tình trạng này xảy ra nhiều nhất ở các ngành: quản lý điều hành, tin học, kế toán, nhân sự - hành chính văn phòng, tài chính - ngân hàng... Bên cạnh khu vực trung tâm, tại các vùng ngoại ô Thành phố , tình trạng khan hiếm lao động chất lượng càng trầm trọng hơn. Theo thống kê của Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh, tại 5 huyện ngoại thành của Thành phố bao gồm Hóc Môn, Củ Chi, Cần Giờ, Bình Chánh và Nhà Bè đang thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao trên nhiều lĩnh Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 21 vực, trong đó sư phạm và y tế là những ngành hiện đang có nhu cầu bức thiết về nguồn nhân lực. Tình trạng trên đã gây ra nhiều tác động tiêu cực cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như môi trường đầu tư của Thành phố Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó nguyên nhân chính là do việc hoạch định chính sách đầu tư của Thành phố còn chậm chuyển đổi, chủ yếu vẫn là các ngành thâm dụng lao động, công nghệ lạc hậu, giá trị gia tăng thấp. Mặt khác chính sách đãi ngộ của Thành phố chưa thực sự hợp lý, do vậy hiện tượng chảy máu chất xám vẫn đang diễn ra. Những lao động được đào tạo bài bản thường tìm việc ở các công ty nước ngoài, nhiều du học sinh sau khi học xong cũng thường tìm cách ở lại nước ngoài do chính sách lương bổng và đãi ngộ cao hơn. Quan trọng hơn, vấn đề đào tạo và sử dụng lao động bị “lệch pha”, giữa các trung tâm đào tạo nhân lực và nơi sử dụng nhân lực chưa có sự tương thích hoàn toàn. Ðộ chênh giữa nhà trường và doanh nghiệp còn khá lớn, hơn nữa doanh nghiệp cũng chưa có chiến lược, kế hoạch dài hạn về nhu cầu nhân lực của mình đồng thời chưa thật sự chủ động tham gia, góp sức vào quá trình đào tạo nhân lực. Đặc điểm lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường lao động có đặc điểm như sau: 1. Quá trình đô thị hóa, nhập cư và chuyển dịch lao động dẫn đến tình trạng phân bố nhân lực không đồng đều giữa các khu vực kinh tế; ngành kinh tế, tạo mất cân đối nhu cầu nhân lực và nhu cầu việc làm. 2. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phát triển năng động, quan tâm hơn đến chính sách phát triển nguồn nhân lực. Đây là môi trường phù hợp đối với đa số lao động là sinh viên, học sinh ra trường còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng nghề. 3. Sự gắn kết giữa người sử dụng lao động và người lao động vẫn chưa đồng nhất. Đối với người sử dụng lao động (doanh nghiệp) yếu tố cơ bản về vấn đề tuyển chọn, sử dụng lao động là năng lực chuyên môn và năng suất lao động. Đối với người lao động yếu tố cơ bản về vấn đề việc làm là tiền lương, địa điểm cư trú và địa điểm việc làm, chính sách sử dụng lao động tạo động lực ổn định. 4. Nhân lực luôn được đào tạo, đào tạo bổ sung, đào tạo lại để thay thế các vị trí không còn phù hợp hoặc chỗ làm việc mới yêu cầu trình độ, chất lượng lao động, Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 22 ngành nghề chuyên môn với các tiêu chuẩn quốc tế và khu vực. Vì vậy yêu cầu người lao động phải tự học tập trang bị, nâng cao trình độ nghề và các kỹ năng nghề. 5. Sự thay đổi tích cực về nhận thức và biện pháp đào tạo gắn liền với sử dụng lao động và cân đối theo trình độ chuyên môn, cân đối ngành nghề để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 6. Mức độ dịch chuyển lao động, thay đổi chỗ làm việc của Thành phố vẫn ở mức độ cao từ 25% đến 30% tổng nguồn nhân lực đang làm việc. Hình thức việc làm bán thời gian phát triển nhanh, đa dạng ngành nghề 7. Hạn chế về công tác quản lý nguồn nhân lực và Thành phố vẫn chưa tổ chức được hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động một cách đầy đủ và chuẩn xác. Chính từ việc chưa thực hiện được tốt công tác cụ thể về số lượng ngành nghề, trình độ, kỹ năng của lực lượng lao động và chưa thực hiện được việc thống kê, phân tích nhu cầu nhân lực của nhà tuyển dụng nên đào tạo chưa định hướng và chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động; người lao động tìm việc làm thiếu thông tin về việc làm, người sử dụng lao động thiếu thông tin về cung - cầu lao động ảnh hưởng đến đầu tư sản xuất – kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực Thành phố Sự mất cân đối trong việc đào tạo nguồn nhân lực và nhu cầu thực tế của xã Hội . Bởi hiện có trên 60% sinh viên theo học các ngành kinh tế trong khi định hướng phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố (năm 2011 đến 2015) tập trung vào các nhóm ngành kỹ thuật (cơ khí, điện tử, tin học; hóa chất và chế biến lương thực-thực phẩm), cùng với đó là các nhóm dịch vụ (tài chính-tín dụng-ngân hàng-bảo hiểm; thương mại; vận tải; kho bãi; bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin-truyền thông ; kinh doanh tài sản-bất động sản; dịch vụ tư vấn; khoa học-công nghệ; du lịch; y tế; giáo dục-đào tạo). Điều này cũng đồng nghĩa với việc Thành phố đang cần một nguồn nhân lực dồi dào về các ngành nghề kỹ thuật, sản xuất Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổng số sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng tốt nghiệp ra trường hàng năm tại Thành phố có 55.000 – 60.000 người bao gồm các ngành nghề chuyên môn kỹ thuật chiếm 40%, các ngành nghề chuyên môn quản lý - nghiệp vụ chiếm 60% tổng số ngành nghề được đào tạo. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 23 Tuy nhiên thực trạng chung là phần lớn sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm phù hợp và ổn định, do chưa định hướng đúng mức về nghề nghiệp – việc làm, vì một số sinh viên chọn ngành học chưa phù hợp năng lực, sở trường và xu hướng phát triển thị trường lao động. Mặt khác các doanh nghiệp rất quan tâm tuyển chọn đối với sinh viên tốt nghiệp về kiến thức ngoại ngữ, khả năng hợp tác, kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, những hiểu biết về môi trường văn hóa doanh nghiệp và tác phong làm việc công nghiệp. Sự hạn chế lớn của sinh viên khi ra trường, đa số chưa định hướng được cụ thể để chọn một ngành chuyên môn phù hợp với khả năng, đồng thời do hệ thống thông tin thị trường lao động; hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm Thành phố chưa cập nhật kịp thời để gắn kết sinh viên và doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Theo khảo sát của Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin Thị trường Lao động Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có khoảng 80% sinh viên sau khi tốt nghiệp là tìm được việc làm, còn 20% tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm phải chuyển đổi ngành học hoặc làm những công việc thấp hơn trình độ đào tạo. Trong tổng số sinh viên tìm được việc làm chỉ có 50% là có việc làm phù hợp năng lực và phát triển tốt, 50% vẫn phải làm việc trái ngành nghề, thu nhập thấp; việc làm chưa thật sự ổn định và có thể phải chuyển việc làm khác. Hiện nay và những năm tới, thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh (về nhu cầu việc làm) tiếp tục phát triển theo chiều hướng đổi mới công nghệ, nâng cao quản lý; phát triển quy mô sản xuất kinh doanh, quy mô doanh nghiệp tạo nhiều chỗ làm mới thu hút lao động với nhiều ngành nghề đa dạng, đặc biệt nhu cầu việc làm chất lượng cao. Thực tế về thị trường lao động không có ngành nghề nào sẽ là “hot” hoặc lên “ngôi”. Năm 2011 và những năm sắp tới do nền kinh tế phục hồi và phát triển, nhiều doanh nghiệp sẽ tăng nhu cầu thường xuyên tuyển lao động bao gồm lao động quản lý; chuyên môn kỹ thuật và lao động phổ thông để đào tạo nghề gắn bố trí việc làm. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phát triển năng động, tăng quy mô, quan tâm đến chính sách phát triển nhân lực, đây là môi trường phù hợp với đa số người lao động là sinh viên, học sinh mới ra trường còn thiếu kinh nghiệm và kỹ năng nghề. Các trường đào tạo Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 24 nghề cũng trong quá trình chuyển đổi, tạo gắn kết đào tạo với doanh nghiệp đào tạo theo nhu cầu xã hội và hoàn thiện các tiêu chuẩn đào tạo nghề là điều kiện thuận lợi để người lao động học nghề, tìm việc mới hoặc tái đào tạo nghề gắn nhu cầu việc làm. 2.3 Các chính sách đãi ngộ của Thành phố về việc sử dụng lao động Chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Nhằm đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, giai đoạn tới Thành phố sẽ tập trung đầu tư vào các nhóm đối tượng đặc biệt, có vai trò quyết định và tạo sự đột phá trong phát triển nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2010 đến 2015 sẽ ưu tiên phát triển nhân lực đủ để cung cấp cho những ngành có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao. Xuất phát từ thực tiễn, nhu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật nghiệp vụ trung cấp phải đạt đến nửa triệu người vào năm 2020. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo phải đạt 70% vào năm 2015 và 80% vào năm 2020 trong đó lao động ở bốn ngành công nghiệp và chín ngành dịch vụ trọng điểm phải đạt 100%. Ông Nguyễn Thành Tài - Phó Chủ tịch Thường trực UBND Thành phố Hồ Chí Minh cho biết để đạt được mục tiêu trên, Thành phố sẽ có những chính sách ưu đãi riêng để thu hút nhân tài, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để người lao động phát huy năng lực của mình. Chính sách đãi ngộ đối với người tài là một chính sách lâu dài, cần có lộ trình cụ thể, từng bước để họ gắn bó lâu dài với Thành phố và ra sức cống hiến. Một giải pháp quan trọng trong công tác đào tạo nhân lực có trình độ, chuyên môn là phải tăng cường hợp tác, liên kết giữa các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và các trung tâm dạy nghề với các đơn vị sản xuất, tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố nhằm nâng dần tính tương thích giữa đào tạo và sử dụng lao động. Để tăng cường sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ xem xét và tiến tới tổ chức hội chợ đào tạo. Đây sẽ là cầu nối để các doanh nghiệp gặp gỡ trực tiếp với trường, nhằm hướng tới chương trình đào tạo mà xã hội cần chứ không đào tạo cái các trường có. Phó Giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh Trần Anh Tuấn cho rằng, để hạn chế tình trạng thiếu hụt Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 25 lao động và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp yêu cầu phát triển Thành phố, cần tiếp tục phát triển chương trình tái cấu trúc kinh tế gắn tái cấu trúc nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển. Đối với công tác đào tạo cần chú trọng định hướng các trường dạy nghề xây dựng và tổ chức thực hiện chuẩn đầu ra chung cho từng ngành đáp ứng được yêu cầu xã hội. Tăng cường sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa công tác hướng nghiệp, tuyển sinh, đào tạo, thực tập với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp và xã hội. Quan trọng hơn, trong chiến lược phát triển bền vững và lâu dài nguồn nhân lực chất lượng cao, Thành phố Hồ Chí Minh phải nhanh chóng cải cách hệ thống giáo dục đào tạo từ cấp quận cho tới cơ sở, nhất là về mặt nội dung phương pháp đào tạo. Nhận thức được tầm quan trọng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã trở thành một trong sáu chương trình đột phá đã được Ðại hội Ðảng bộ Thành phố lần thứ 9 thông qua nhằm đưa Thành phố Hồ Chí Minh phát triển lên một tầm cao mới, xứng đáng là đầu tàu mạnh mẽ cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như cả nước. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 26 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 3.1 Các giải pháp, chính sách của Chính Phủ nhằm phát triển ổn định thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh 3.1.2 Nhận định về thị trường lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 Thị trường lao động khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, chủ lực là Thành phố Hồ Chí Minh với nhu cầu nhân lực nhiều về số lượng và yêu cầu cao về chất lượng trình độ chuyên môn kỹ thuật. Với nhu cầu nhân lực ngày càng yêu cầu cao về số lượng và chất lượng trình độ chuyên môn kỹ thuật, trong năm 2010 và giai đoạn 2011-2015; dự kiến tốc độ tăng bình quân chỗ làm việc từ 3% đến 5%/ năm cho thấy Thành phố sẽ có nhu cầu cung về nhân lực là 280.000 đến 300.000 chỗ làm việc/năm. Có thể nhận định những nhóm ngành nghề có nhu cầu lao động nhiều, chiếm tỷ lệ trên 80% tổng nhu cầu nhân lực tại Thành phố bao gồm:Quản lý kinh tế -Kinh doanh - Quản lý chất lượng, Du lịch- Nhà hàng - Khách sạn, Bán hàng - Marketing - Nhân viên Kinh doanh, Dịch vụ và phục vụ, Tài chính - Ngân hàng - Kế toán - Kiểm toán, Tư vấn - Bảo hiểm, Pháp lý - Luật, Nghiên cứu - Khoa học, Quản lý nhân sự - Tổ chức, Hành chánh văn phòng, Giáo dục - Đào tạo - Thư viện, Ngoại ngữ - Biên phiên dịch, Xây dựng - Kiến trúc, Công nghệ thông tin -Viễn thông - Truyền thông , Cơ khí, sửa chữa ô tô, xe máy, Điện - Điện tử - Điện công nghiệp - Điện lạnh, Giao thông -Vận tải-Thủy lợi-Cầu đường, Dầu khí - Địa chất, Môi trường- Xử lý chất thải, Thiết kế - Đồ họa - In ấn - Bao bì - Xuất bản, Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu, Công nghệ cao trong Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản, Y tế - Chăm sóc sức khỏe - Mỹ Phẩm, Dược - Công nghệ sinh học, Hóa-Hóa thực phẩm- Hóa chất-Hóa dầu, Chế biến tinh thực phẩm, Dệt - May - Giày da. 3.2 Các kiến nghị đề xuất Nhân lực quyết định thành bại của nền kinh tế. Nhân lực tốt là tiền đề để phát triển doanh nghiệp một cách bền vững. Vì vậy, nhóm mình mong muốn các chuyên gia lao động, các nhà quản lý doanh nghiệp... phân tích, đánh giá và đưa ra những ý kiến xác Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 27 đáng, thiết thực, góp phần tìm ra phương cách để giải bài toán nhân lực cho Thành phố Hồ Chí Minh. Qua đó, tạo sự chuyển biến tích cực trong việc hoạch định chính sách đầu tư cũng như chính sách lao động phù hợp để Thành phố Hồ Chí Minh không đánh mất vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, luôn là nơi có môi trường sống và làm việc tốt nhất của người lao động; góp phần hoàn thành mục tiêu đi trước, về đích trước vào năm 2015. Chính quyền cần chung tay: Phải có sự thay đổi từ doanh nghiệp , trên cơ sở nâng cao năng lực quản trị, tích cực đổi mới công nghệ, nâng cao đào tạo tay nghề cho công nhân nhằm giảm tỉ lệ sử dụng lao động đồng thời tăng thu nhập cho người lao động. Chính quyền Thành phố cần chung tay, hỗ trợ để các doanh nghiệp thực hiện điều này. Không thể cạnh tranh bằng lao động giá rẻ: Thành Phồ Hồ Chí Minh là nơi có mức sống cao nhất và các chi phí sinh hoạt cũng cao nên doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển tại Thành Phố Hồ Chí Minh cần chọn quy trình sản xuất hiện đại, tiên tiến, năng suất cao để đạt hiệu quả cao, trả lương cao; từ đó mới tuyển được người. Không thể cạnh tranh bằng lao động giá rẻ và công nghệ thấp... Giải bài toán nhân lực cho Thành phố Hồ Chí Minh: “Hiến kế hoạch định chính sách. Phải tái cấu trúc nhân lực, phân bổ nguồn lao động hợp lý theo xu hướng phát triển tập trung nền kinh tế công nghệ cao gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.” Từ nhiều năm qua, vấn đề thiếu hụt lao động đã được đặt ra, tuy nhiên, chưa bao giờ Thành phố phải đối mặt với tình trạng thiếu lao động một cách nghiêm trọng như hiện nay. Sự thiếu hụt đang diễn ra ở tất cả các cấp độ: lao động quản lý, lao động kỹ thuật, đặc biệt là lao động phổ thông . Các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thấy rõ hơn lúc nào hết các tác động tiêu cực do thiếu hụt nhân lực gây ra. Thực tế nó đã, đang và sẽ gây ảnh hưởng nặng nề cho doanh nghiệp và môi trường đầu tư: Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị trì trệ, nhiều doanh nghiệp không thể đầu tư mở rộng sản xuất; các nhà đầu tư tiềm năng không dám đến Thành phố Hồ Chí Minh vì không tìm được nguồn lao động. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 28 Có 4 nguyên nhân đã được đúc kết: -Thứ nhất, đó là do việc hoạch định chính sách đầu tư của Thành phố chậm chuyển đổi, chủ yếu vẫn là các ngành thâm dụng lao động, công nghệ lạc hậu, giá trị gia tăng thấp. -Thứ hai, do việc thực hiện chính sách lao động không đầy đủ, trả lương thấp, xâm hại quyền lợi người lao động , tiền lương không đủ sống so với giá sinh hoạt đắt đỏ...Từ đó, đông đảo người lao động đã rời bỏ Thành phố , trở về các địa phương nơi đã bắt đầu công nghiệp hóa. -Thứ ba, trong một thời gian dài, Thành phố phụ thuộc gần như hoàn toàn vào lực lượng lao động nhập cư, chủ yếu lao động trình độ thấp dẫn đến thiếu tính cạnh tranh, lao động giá rẻ nhưng không có chất lượng khiến doanh nghiệp nản lòng. -Thứ tư, vấn đề đào tạo và sử dụng lao động bị “lệch pha”. Doanh nghiệp và cơ sở đào tạo không kết nối được “đầu vào” và “đầu ra”, dẫn đến lãng phí nhân lực, tài lực, vật lực vì đào tạo không đáp ứng nhu cầu sử dụng. ‘ Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 29 Những nhận định của nhà doanh nghiệp về tuyển dụng người lao động đào tạo nghề. • Nhận định về ưu điểm - Nắm vững kiến thức cơ bản của nghề được đào tạo 40% - Nắm vững chuyên môn kỹ thuật của công việc thực tế 12% - Khả năng thích nghi thực tế 12% - Thái độ cầu tiến 10% - Tác phong năng động 7% - Có kỹ thuật cao 4% - Có ý thức trách nhiệm 4% - Dám nghĩ dám làm 3% - Khác (sự sáng tạo, khả năng giao tiếp, ứng xử…) 8% • Nhận định đánh giá về những hạn chế - Thiếu kinh nghiệm, bí quyết chuyên môn và kỹ năng mềm 38% - Thiếu hiểu biết về các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản xuất kinh doanh 20% - Kiến thức ngoại ngữ và tin học chưa đáp ứng yêu cầu 20% - Kiến thức kỹ thuật hạn chế 8% - Kiến thức xã hội hạn chế 5% - Lý do khác (ít động lực làm việc, năng suất lao động thấp, không có tinh thần trách nhiệm) 9% • Tiêu chí quan trọng để chọn lọc tuyển dụng - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ khả năng xử lý thực tế, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm 30% - Trình độ văn hóa và kiến thức cơ bản 10% - Có kỷ luật đạo đức 20% - Trình độ ngoại ngữ và tin học 20% - Sức khỏe 10% - Quan hệ xã hội, lý lịch rõ ràng 10% Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 30 Sử dụng lao động là gốc của vấn đề: Trong các nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt lao động, sự thiếu coi trọng con người được xác định là nguyên nhân cốt lõi nhất. Đa phần ý kiến của giới chuyên môn cho rằng nếu không gỡ được vấn đề này thì trong tương lai, khủng hoảng hay thiếu hụt lao động vẫn cứ đeo đuổi doing nghiệp. Mục đích tối thượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận.Để tối đa hóa lợi nhuận, họ sẵn sàng cắt giảm lương, thưởng, khẩu phần ăn, bồi dưỡng độc hại, trang bị an toàn lao động, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội bên cạnh việc trả lương thấp cho người lao động . Thực trạng với khoảng trên 80% công nhân trực tiếp sản xuất hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh là người đến từ các vùng miền khác. Thế nhưng, cuộc sống của họ lâu nay không được quan tâm đúng mức. Những khó khăn, thiếu thốn từ chỗ ở, ăn uống, giải trí đến nhu cầu tình cảm vẫn không được cải thiện rõ rệt. Một khi những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng thì người lao động không thể gắn bó với doanh nghiệp. Vấn đề sử dụng lao động là cái gốc của mọi vấn đề. Các doanh nghiệp không nên chạy theo “cơn sốt ảo” về thiếu lao động mà phải đặt vấn đề là hiện nay mình đã đối xử với người lao động như thế nào để điều chỉnh chính sách sử dụng lao động. Các doanh nghiệp cần giải quyết tốt lao động nội tại. Giải quyết tốt bài toán cung – cầu lao động là giải quyết vấn đề giá nhân công, vấn đề tái cấu trúc nhân lực, phân bổ nguồn lao động hợp lý theo xu hướng Thành phố Hồ Chí Minh phát triển tập trung nền kinh tế công nghệ cao gắn với yêu cầu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 1. Thay đổi nhận thức về thị trường lao động: -Coi sức lao động là hàng hóa. -Không nên có thái độ phân biệt người lao động trong -ngoài khu vực nhà nước, thành thị- nông thôn. -Các chế độ, chính sách phải bình đẳng với mọi người lao độn 2. Phát triển cung lao động : Phát triển giáo dục đào tạo,nâng cao trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật cho người lao động. Đào tạo nghề cần phù hợp với nhu cầu thực tiễn, cần có sự liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo. Giảm sức ép về cung lao động : Thực hiện dân số-kế Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 31 hoạch hóa gia đình, giáo dục đạo đức, kỉ luật, tác phong lao động. Bảo đảm tính linh hoạt của thị trường lao động. 3. Phát triển cầu lao động : Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội cho người lao động có việc làm. Phát triển kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia. 4. Thúc đẩy lao động trên thị trường : Phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm. Thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động cấp quốc gia. Tiến tới thiết lập các sán giao dịch việc làm. Phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động. Đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường lao động. Tăng cường quản lí nhà nước, thanh tra, kiểm tra các hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động. 5. Nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước : Cải cách hệ thống tiền lương, tiền công, chính sách, chế độ đối với người lao động. Hoàn thiện hệ thống thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp lí, đảm bảo bình đẳng hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động. Phê chuẩn các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế liên quan đến thị trường lao động. Cải cách, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lí nhà nước về lao động. Xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo đúng lộ trình. Để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cần phải tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là mục tiêu mà chúng ta đang vươn tới. Hy vọng trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, dồi dào, lành mạnh. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 32 Riêng đồi với học sinh – sinh viên, vấn đề chọn ngành nghề bao gồm nhiều yếu tố mà người sinh viên, học sinh cũng như gia đình cần chú ý: - Cần tìm hiểu năng lực kiến thức bản thân, công việc đang quan tâm, khả năng gia đình để xác định rõ mục tiêu nghề nghiệp. - Tìm hiểu thị trường lao động; nhà trường, cơ sở đào tạo để biết nhu cầu việc làm, điều kiện việc làm, ngành nghề đào tạo. Chú trọng tìm hiểu kỹ các nguồn thông tin để chọn lọc. - Nếu cảm thấy “nghi ngờ” lựa chọn ngành học, việc làm của bản thân nên tìm đến các nhà tư vấn tại các trường đào tạo nghề; các tổ chức hỗ trợ sinh viên học sinh, tổ chức tư vấn đào tạo- giới thiệu việc làm. Tuy nhiên việc tư vấn thị trường lao động chỉ là vấn đề tham khảo, vấn đề là bản thân phải xác định được tâm huyết học nghề theo sở trường cá nhân, chọn ngành học phù hợp năng lực, sức khỏe và phù hợp sự phát triển của thị trường lao động. - Tự rèn luyện kỹ năng nghề và ngoại ngữ trong quá trình học văn hóa, học nghề. - Xác định nghề nghiệp là yêu cầu học tập suốt đời. Việc làm là quá trình hoàn chỉnh nghề nghiệp và thăng tiến. Ngành nghề và công việc nhiều tiền không phải là yếu tố quan trọng quyết định; yếu tố cần thiết là xây dựng được giá trị năng lực ngành nghề của bản thân để phát triển sự nghiệp gắn với phát triển kinh tế và nhu cầu xã hội . Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 33 NHỮNG VẤN ĐỀ LƯU Ý KHI CHỌN NGHỀ STT Sai lầm cần tránh Nên làm 1 Chọn nghề một cách đơn giản Cần nhiều bước từ tìm hiểu bản thân, công việc đang quan tâm, khả năng gia đình. 2 Hoàn thành tin tưởng vào những người đi trước, các nhà tư vấn chuyên nghiệp Đây là nguồn thông tin, tư vấn để quyết định chọn nghề 3 Không thể kiếm sống từ những đam mê sở thích Chọn nghề theo sở thích khả năng làm được 4 Chọn công việc tốt nhất Việc tư vấn thị trường lao động chỉ là vấn đề tham khảo 5 Chọn công việc nhiều tiền để hạnh phúc Tiền bạc quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định 6 Làm xáo trộn những thiên hướng Tâm huyết theo sở trường cá nhân 7 Nếu đã tham gia nghề thì gắn bó suốt đời Nên thay đổi, nếu công việc đang làm không thoải mái 8 Chọn nghề theo mong muốn, nguyện vọng của cha mẹ, người yêu Chỉ là yếu tố tham khảo 9 Kiếm được một việc thì coi như ổn định Việc làm là quá trình hoàn chỉnh nghề nghiệp và thăng tiến 10 Không biết thông tin về nghề, công việc chọn Chú trọng tìm hiểu kỹ các nguồn thông tin và chọn lọc Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 34 KẾT LUẬN Từ những phân phân tích và nhận định ở chương II, chương III ta có thể nhận thấy tuy năm 2010 được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt hơn năm 2009, nhưng thị trường lao động Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại nhiều nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động luôn là một bài toán khó cho Thành phố nói chung và các doanh nghiệp trong việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của mình. Nhìn chung, các ngành nghề thu hút lao động nhiều nhất vẫn là dệt may - da giày, nhựa - bao bì, dịch vụ - phục vụ, điện tử - viễn thông , marketing, nhân viên kinh doanh, tư vấn - bảo hiểm, kế toán - kiểm toán .... với nhu cầu tuyển dụng trình độ lao động phổ thông chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động thời vụ như: Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Mộc – Mỹ nghệ, Tư vấn – Bảo hiểm, Marketing Nhân viên Kinh doanh, kế tiếp là trình độ trung cấp nghề .... Đặc biệt, trình độ đại học và trên đại học lĩnh vực quản lý có nhu cầu tuyển cao nhất như: Quản lý điều hành, Kế toán - Kiểm toán, Marketing - Nhân viên Kinh doanh, Xây dựng - Kiến trúc, Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng. Qua đó thấy được tuy sở hữu nhiều thuận lợi để phát triển mạnh nguồn nhân lực, tuy vậy nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố . Dự báo trong những năm tới, tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng có thể sẽ càng trở nên trầm trọng hơn nếu không đưa ra được những giải pháp hợp lý, nhất là giải pháp gắn kết giữa tuyển dụng và đào tạo. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể kể đến như: việc hoạch định chính sách đầu tư của Thành phố chậm chuyển đổi, chủ yếu vẫn là các ngành thâm dụng lao động, công nghệ lạc hậu, giá trị gia tăng thấp;do việc thực hiện chính sách lao động không đầy đủ, trả lương thấp, xâm hại quyền lợi người lao động , tiền lương không đủ sống so với giá sinh hoạt đắt đỏ; sự phụ thuộc gần như hoàn toàn vào lực lượng lao động nhập cư, chủ yếu lao động trình độ; vấn đề đào tạo và sử dụng lao động bị “lệch pha”. Vì vậy, để giải quyết các nguyên nhân trên, chúng cần thay đổi nhận thức về thị trường lao động, phát triển giáo dục đào tạo; nâng cao trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật cho người Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 35 lao động; phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài; phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, hệ thống thông tin thị trường lao động cấp quốc gia. Và quan trọng hơn hết là nâng cao hiệu quả quản lí của nhà nước: cải cách hệ thống tiền lương, tiền công, chính sách, chế độ đối với người lao động. Hoàn thiện hệ thống thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp lí, đảm bảo bình đẳng hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động… Để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cần phải tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là mục tiêu mà chúng ta đang vươn tới. Hy vọng trong tương lai không xa, Thảnh phố sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, dồi dào, lành mạnh ngang tầm khu vực và trên thế giới. Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo Trình Thống Kê Kinh Doanh – Chủ Biên: TS Nguyễn Minh Tuấn – Trường Đại Học Công Nghiệp TP HCM – Xuất Bản Năm 2010 2. Thời báo Kinh tế Việt Nam – KINH TẾ 2010 - 2011 VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI – Xuất bản ngày 16/04/2011 3. Trang web của Tổng Cục Thống Kê TP. Hồ Chí Minh 4. Trang web của Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP. Hồ Chí Minh www.dubaonhanluchcmc.gov.vn 5. Trang web kênh truyền hình kinh tế tài chính FBNC 6. Trang chủ liên đoàn lao động TP. Hồ Chí Minh 7. Trang web Viện nghiên cứu nhân tài nhân lực Tiểu luận: Tình hình sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 37

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdflao_dong_6239.pdf