Tìm hiểu 3 vụ việc cụ về hình thức giao dịch dân sự

Lời nói đầu 1. Khái quát chung 1.1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự . 1.2 Hình thức giao dịch dân sự . 2. Tìm hiểu các vụ việc cụ thể có tranh chấp liên quan 2. 1 Vụ việc thứ nhất 2.1.1. Tóm tắt vụ án . 2.1.2 Giải quyết của tòa án . 2.1.3. Nhận xét quyết định của Tòa án 2.2 Vụ việc thứ hai 2.2.1. Tóm tắt vụ án . 2.2.2 Giải quyết của tòa án . 2.2.3. Nhận xét quyết định của Tòa án 2.3 Vụ việc thứ ba 2.3.1. Tóm tắt vụ án 2.3.2 Giải quyết của tòa án 2.3.3. Nhận xét quyết định của Tòa án . 3. Một số bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự Kết luận

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 2153 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tìm hiểu 3 vụ việc cụ về hình thức giao dịch dân sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC Lời nói đầu ……………………………………………………….. 1. Khái quát chung …………………………………………….. 1.1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự …………………....... 1.2 Hình thức giao dịch dân sự ……………………………………. 2. Tìm hiểu các vụ việc cụ thể có tranh chấp liên quan … 2. 1 Vụ việc thứ nhất ……………………………………………….. 2.1.1. Tóm tắt vụ án………………………………………………............. 2.1.2 Giải quyết của tòa án ………………………………………………. 2.1.3. Nhận xét quyết định của Tòa án……………………………….. 2.2 Vụ việc thứ hai…………………………………………………….. 2.2.1. Tóm tắt vụ án………………………………………………............. 2.2.2 Giải quyết của tòa án ………………………………………………. 2.2.3. Nhận xét quyết định của Tòa án……………………………….. 2.3 Vụ việc thứ ba…………………………………………………… 2.3.1. Tóm tắt vụ án……………………………………………….............. 2.3.2 Giải quyết của tòa án ………………………………………………… 2.3.3. Nhận xét quyết định của Tòa án………………………………. 3. Một số bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự ………………… Kết luận …………………………………………………………… Pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng nằm trong kiến trúc thượng tầng, luôn bị tác động bởi cơ sở hạ tầng. Điều này pháp luật luôn phải biến đổi hằng ngày theo những yêu cầu của xã hội. có thể nói rằng, các vụ việc có tranh chấp liên quan đến hình thức của giao dịch ngày nay được giải quyết đúng trình tự, thủ tục và nhìn chung là hợp pháp. Tuy nhiên, sự phức tạp của các vụ án, và một số yếu tố khách quan khác đôi khi tác động làm cho việc giải quyết các vụ việc liên quan đến các hình thức giao dịch dân sự chưa thể làm các bên thảo mãn thậm chí còn những thiếu xót chưa hợp pháp. Qua việc tìm hiểu một số vụ việc nhóm chúng tôi xin đưa ra 3 vụ việc cụ thể để phân tích và đưa ra những ý kiến nhận xét riêng để hiểu thêm về hình thức giao dịch dân sự. * * * * * * * * * * 1. Khái quát chung 1.1 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự       Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, (điều 121,BLDS năm 2005). Đặc điểm chung của giao dịch dân sự: Thứ nhất, phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia. Khi tham gia giao dịch dân sự chủ thể muốn đạt được mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng. Thứ hai, chế tài giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt nguyên tắc thỏa thuận, tự do cam kết và xây dựng chế tài. Đây là nguyên tắc cơ bản của luật dân sự nói chung, của giao dịch dân sự nói riêng. Thứ ba, các bên tham gia phải giao dịch tự nguyện. Đây là sự phản ánh thống nhất ý chí của các bên, là nguyên tắc quan trọng để thiết lập giao dịch. Thứ tư, nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.( điều 123, BLDS năm 2005)   Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 1.2 Hình thức giao dịch dân sự Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch. Thông qua phương tiện này bên đối tác cũng như người thứ ba có thể biết được nội dung của giao dịch đã xác lập. Hình thức của giao dịch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự. Nó là chứng cứ xác nhận các quan hệ đã đang tồn tại giữa các bên, qua đó xác định trách nhiệm dân sự khi có hành vi vi phạm xảy ra. Các hình thức giao dịch dân sự: Hình thức bằng miệng (bằng lời nói): Hình thức miệng được coi là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay, mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất. Hình thức miệng này thường được áp dụng với các giao dịch được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó ( mua bán trao tay) hoặc giữa các chủ thể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng cũng có trường hợp giao dịch dân sự nếu được thực hiện bằng hình thức miệng phải đảm bảo tuân thủ những điều kiện luật định mới có giá trị (di chúc miệng – Điều 654 BLDS).     Hình thức văn bản bao gồm: Văn bản thường và có công chứng. Với văn bản thường các bên tham gia giao dịch dân sự thỏa thuận hoặc pháp luật quy định giao dịch phải thể hiện theo hình thức văn bản. Nội dung giao dịch được thể hiện trên văn bản có chữ ký xác nhận của chủ thể, cho nên hình thức này là chứng cứ xác thực chủ thể đã tham gia vào một giao dịch dân sự rõ ràng hơn nhiều trường hợp giao dịch được thể hiện bằng lời nói. Văn bản có Công chứng chứng nhận, UBND cấp có thẩm quyền chứng nhận: được áp dụng trong những trường hợp pháp luật có quy định giao dịch bắt buộc phải được lập thành văn bản hoặc các bên có thỏa thuận phải chứng nhận, chứng thực, đăng kí hoặc xin phép thì khi xác lập các bên phải tuân thủ hình thức, thủ tục.     Hình thức bằng hành vi: Giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua những hành vi nhất định theo quy ước định trước. Đây là hình thức giản tiện nhất của giao dịch. Giao dịch có thể được xác lập thông qua hình thức này mà không nhất thiết phải có sự hiện diện đồng thời của tất cả các bên tại nơi giao kết. 2. Tìm hiểu các vụ việc cụ thể có tranh chấp liên quan 2. 1 Vụ việc thứ nhất Dựa trên bản án “QUYẾT ĐỊNH SỐ 18/2003/HĐTP-DS NGÀY 30-05-2003 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ” 2.1.1. Tóm tắt vụ án Nguyên đơn:  Bà Trần Thị Ngọc Hiền, sinh năm 1957 và các con bà Hiền là Trần Thị Ngọc Diệp; Trần Thị Ngọc Chi; Trần Thị Ngọc Hiếu; Trần Thị Bích Trâm (đều do bà Hiền giám hộ); cùng trú tại số 4 khu phố II, phường Tân Thuận Tây, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Lý; Trần Thanh Bình; Trần Văn Nghĩa; Trần Thị Giàu; Trần Văn Hùng; tất cả đều uỷ quyền cho bà Trần Thị Lệ trú tại số 11/4B khu phố 1, phường Phú Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Trần Văn Thọ và vợ là bà Phan Thị Hồng Hoa; cùng trú tại số 1B khu A khu phố 1, phường Tân Phú, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Thanh Xuân và chị Mai Lan Robetts cư trú tại Australia, ủy quyền cho anh Thọ. Diện tích 120m2 nhà trên diện tích 1.199m2 đất tại số 2/7 khu phố 3, đường liên tỉnh lộ 15 (nay là đường Huỳnh Tấn Phát), phường Bình Thuận, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh là sở hữu của ông Trần Văn Lung. Ông Lung có vợ là bà Trần Thị Ngọc Hiền. Trong diện tích nhà đất nói trên mới chỉ có 120m2 nhà trên 170m2 đất là có giấy tờ, phần đất còn lại chưa được hợp thức hoá quyền sử dụng do ông Lung mua lại của người khác, nhưng chưa hoàn tất thủ tục mua bán. Ngày 24-09-1999, ông Lung thoả thuận bán căn nhà 2/7 khu phố 3 nói trên cho vợ chồng ông Thọ, bà Hoa với giá 2,4 tỷ đồng. Dù chưa lập hợp đồng, nhưng ông Thọ đã giao cho ông Lung 360 triệu đồng. Ngày 26-09-1999, ông Lung giao toàn bộ nhà đất cho ông Thọ sử dụng. Việc giao nhà hai bên có làm “tờ giao nhận” trong đó có nội dung: “trong thời gian ông Lung chưa nhận đủ số tiền còn lại (theo hợp đồng bán nhà), mọi chi phí sửa chữa ông Lung hoàn toàn không bồi thường gì cả”. Sau đó, phía ông Thọ tiếp tục trả thêm cho phía ông Lung tổng cộng là 1,08 tỷ đồng (trong đó có số tiền 51.000USD do em ông Thọ là anh Xuân và chị Mai Lan gửi trả từ Australia). Tháng 12-1999, ông Thọ và ông Lung mới cùng nhau lập hợp đồng mua bán nhà đất nêu trên. Nội dung ông Lung bán nhà 2/7 khu phố 3 cho ông Thọ với giá 2,4 tỷ đồng, thanh toán tiền mua bán nhà làm 2 đợt: Đợt 1: 1,4 tỷ đồng. Đợt 2: Tính từ ngày 24-09-1999 đến ngày 24-12-1999, bên ông Thọ phải thanh toán tiếp số tiền còn lại là 1 tỷ đồng. Nếu đến hạn mà bên ông Thọ không đủ tiền thanh toán thì hai bên sẽ cùng nhau thế chấp căn nhà đang mua bán để vay 1 tỷ đồng trả cho ông Lung. Hợp đồng này chỉ có ông Lung, ông Thọ ký và Uỷ ban nhân dân phường Bình Thuận xác nhận chữ ký của hai ông, chứ chưa phải là xác nhận tình trạng tài sản chuyển dịch và chưa qua Công chứng theo quy định. Thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 04-12-1999, phía ông Thọ mới giao cho ông Lung 51.000USD và 430 triệu đồng (làm 3 lần). Phía ông Thọ cho rằng lần thứ 4 giao cho ông Lung 320 triệu đồng, nhưng không làm biên nhận. Điều này không được nguyên đơn thừa nhận. Sau đó, ông Thọ cũng không trả thêm tiền cho ông Lung, không thiết lập hợp đồng mua bán nhà đất theo quy định với lý do ông Lung không cùng ông Thọ lo thủ tục mua bán nhà đất đó. Ngày 18-04-2000, ông Thọ khởi kiện tại Toà án nhân dân quận 7 yêu cầu ông Lung phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà đất cho ông Thọ, sau đó, ông Thọ sẽ trả hết số tiền còn lại là 1 tỷ đồng. Ngày 01-11-2000, ông Thọ xin rút đơn khởi kiện ông Lung tại Tòa án để yêu cầu Uỷ ban nhân dân quận 7 giải quyết hợp đồng nêu trên. Sự việc chưa được giải quyết thì ngày 10-05-2000 ông Lung chết. Những người hưởng thừa kế của ông Lung gồm: bà Muội là mẹ ông Lung; bà Hiền là vợ cùng các con của ông Lung gồm: Trần Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Ngọc Chi, Trần Thị Ngọc Hiếu và Trần Thị Bích Trâm. Ngày 22-11-2000, bà Lệ khởi kiện ông Thọ tại Toà án yêu cầu ông Thọ tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà với ông Lung, yêu cầu ông Thọ phải trả số tiền còn lại và lãi suất chậm trả trên số tiền đó. Ông Thọ cho rằng nhà đất của ông Lung phần lớn chưa được hợp pháp hoá quyền sở hữu nên yêu cầu phía bà Lệ làm xong thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà đất, thì ông Thọ mới trả nốt số tiền còn lại; nếu không thì xin huỷ hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu phía bà Lệ trả lại ông số tiền 1,4 tỷ đồng cùng với lãi suất và tiền sửa chữa nhà hết 100 triệu đồng. Nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng thì số tiền còn lại là 1 tỷ đồng ông sẽ trả khi án có hiệu lực pháp luật. 2.1.2 Giải quyết của tòa án Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 151/DSST ngày 24-01-2002, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Hủy hợp đồng mua bán nhà ở lập tháng 12-1999 giữa ông Trần Văn Lung với ông Trần Văn Thọ và bà Phan Thị Hồng Hoa. Ông Lung chết tháng 05-2000, bà Muội mẹ ông Lung chết tháng 11-2001. Buộc ông Thọ, bà Hoa có trách nhiệm giao nhà 2/7 khu phố 3, đường liên tỉnh 15 (nay là đường Huỳnh Tấn Phát) phường Bình Thuận, quận 7 cùng khuôn viên đất cho các đồng thừa kế của ông Lung gồm: Trần Thị Ngọc Hiền, Trần Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Ngọc Chi, Trần Thị Ngọc Hiếu và Trần Thị Bích Trâm, Trần Thị Lý, Trần Thanh Bình, Trần Văn Nghĩa, Trần Thị Giàu, Trần Văn Hùng do bà Lệ đại diện nhận. Các đồng thừa kế của ông Lung, do bà Lệ đại diện có trách nhiệm giao trả ông Thọ 1.103.404.350 đồng, giao nhà và tiền thực hiện cùng một lúc, hạn chót ngày 24-04-2002. 2.1.3. Nhận xét quyết định của Tòa án Việc Toà án cấp sơ xác định hợp đồng mua bán nhà giữa ông Lung với ông Thọ, bà Hoa là hợp đồng vô hiệu là đúng. Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng đây là một hợp đồng mua bán nhà ở không hợp lệ. Bởi theo Điều 443 BLDS 1995 thì hình thức hợp đồng mua bán nhà ở được quy định rằng : “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng thực của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Như vậy, về mặt hình thức hợp đồng mua bán nhà giữ ông Lung và ông Thọ chưa được công chức bởi cơ quan có thẩm quyền nên hợp đồng này bị vô hiệu về mặt hình thức. Thứ hai, về xác định lỗi: Bên bán nhà tức ông Lung đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ của bên bán nhà. Đất của ông Lung tuy mới chỉ có 120m2 nhà trên 170m2 đất là có giấy tờ nhưng từ trước cho tới sau khi hợp đồng được kí kết cũng không xảy ra tranh chấp gì, bên ông Lung cũng tạo điều kiện để 2 bên có thể hoàn thành thủ tục chuyển nhượng. Nhưng ông Lung cũng có lỗi trong việc không tuân thủ đúng hình thức của hợp đồng mua bán nhà. Bên mua nhà tức ông Thọ là người có lỗi khi không thanh toán theo thỏa thuận và hợp đồng mua bán nhà giữa ông và ông Lung. Bởi các lý do sau: Tại hợp đồng mua bán nhà ở lập tháng 12-1999 quy định ông Thọ phải thanh toán cho ông Lung 1,4 tỷ đồng vào ngày 24-09-1999, số tiền còn lại thanh toán đợt 2 là 1 tỷ đồng vào ngày 24-12-1999. Tuy ông Thọ khai đã trả cho ông Lung 1,4 tỷ đồng, nhưng thực tế, ông Thọ mới chỉ giao cho ông Lung được 1,08 tỷ đồng, phần còn lại, ông Thọ không thanh toán. Đối với số tiền còn lại, ông Thọ cũng chưa thanh toán được do ngân hàng không đồng ý cho vay 1 tỷ. Như vậy, ông Thọ là người vi phạm thoả thuận về điều khoản thanh toán. Chính bởi những lẽ đó, theo điều 146 quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: 1. Giao dịch dân sự vô hiệu không là phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Tùy từng trường hợp, xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông Lung và ông Thọ, đồng thời yêu cầu ông Thọ, bà Hoa có trách nhiệm giao nhà 2/7 khu phố 3, đường liên tỉnh 15 (nay là đường Huỳnh Tấn Phát) phường Bình Thuận, quận 7 cùng khuôn viên đất cho các đồng thừa kế của ông Lung và các đồng thừa kế của ông Lung, do bà Lệ đại diện có trách nhiệm giao trả ông Thọ 1.103.404.350 đồng là hoàn toàn hợp lý. 2.2 Vụ việc thứ hai Dựa trên bản án “QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 30/2005/DS-GĐT NGÀY 06-12-2005 VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN”. 2.2.1. Tóm tắt vụ án Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng Giang Trú tại: Nhà số 31/9 Tân Hòa Đông, phường 13, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Trâm là người đại diện do nguyên đơn ủy quyền. Trú tại: DD9 cư xá Bắc Hải, phường 15, quận 10 thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Nghĩa. Trú tại: Nhà số 135/15D Hùng Vương, phường 6, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Tình. Trú tại: Nhà số 9 quốc lộ 1, khu phố 2, phường Tân Hiệp, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và Ông Trần Minh Đức (chồng bà Nghĩa). Trú tại: Nhà số 135/15D Hùng Vương, phường 6, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 19-10-1995, bà Nguyễn Thị Nghĩa đến cơ sở của ông Nguyễn Hoàng Giang đặt mua 13.800 túi xách, giá 10.500 đồng/cái, thành tiền là 144.900.000 đồng. Việc mua bán chỉ thỏa thuận miệng, nhưng khi nhận tiền và giao hàng đều có ghi sổ ký nhận. Bà Nghĩa đã trả nhiều lần được 80.000.000 đồng. Sau đó, bà Nghĩa không trả nữa và yêu cầu ông đến gặp bà Trần Thị Tình là người cầm tiền của bà Nghĩa để lấy tiền. Ngày 17-8-1996, ông đến gặp bà Tình để lấy tiền thì bà Tình trả 1.800 USD tương đương 19.800.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Nghĩa và bà Tình đã trả ông là 99.800.000 đồng. Nay ông Giang yêu cầu bà Nghĩa trả cho ông số tiền còn lại là 45.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của ngân hàng từ ngày 17-8-1996 đến nay. Theo các lời khai của bà Nguyễn Thị Nghĩa là bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì: bà Nghĩa và bà Tình là bà con họ hàng xa. Khoảng tháng 10-1995, bà cho bà Tình mượn nhà để làm văn phòng giao dịch. Ngày 25-10-1995 bà đi cùng bà Tình đến cơ sở của ông Giang để mua túi xách. Người mua túi xách là bà Tình. Khi thương lượng thì bà thương lượng với ông Giang và có nói khi nào nhận tiền thì gọi ông Giang đến nhà bà nhận tiền. Sau đó, bà đã nhận tiền từ bà Đỗ Hồng Nga, bà Tình và bạn hàng của bà Tình để trả tiền cho ông Giang. Tính đến ngày 15-2-1996, bà đã trả cho ông Giang tổng cộng là 80.000.000 đồng, bà có ký tên vào sổ của ông Giang. Tháng 4-1996, bà không cho bà Tình mượn nhà làm văn phòng nữa, bà có báo cho ông Giang biết số tiền còn lại ông Giang nên gặp trực tiếp bà Tình để thanh toán. Từ đó, ông Giang không liên hệ với bà. Nay ông Giang yêu cầu bà trực tiếp trả nợ, bà không đồng ý. 2.2.2 Giải quyết của tòa án Tại bản án dân sự sơ thẩm số 05/DSST ngày 10-3-2000, Toà án nhân dân quận 6 đã căn cứ vào Điều 10, 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; Điều 321, 322, 421, 431 Bộ luật dân sự; Nghị định 70/CP ngày 12-6 1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Toà án, quyết định: Bà Nguyễn Thị Nghĩa có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng Giang 45.100.000 đồng tiền mua túi xách còn thiếu tại thời điểm tháng 10 1995 và trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ ngày 17-8-1996 đến nay là 31.849.620 đồng, tổng cộng 76.949.620 đồng. Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày ông Giang có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nghĩa không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà Nghĩa còn phải chịu khoản tiền lãi tính theo lãi nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. 2.2.3. Nhận xét quyết định của Tòa án Trong nhóm chúng tôi có một số ý kiến cho rằng: “Trong vụ án nêu trên việc tòa án quyết định là phù hợp với các căn cứ pháp lý” và có cách lý giải như sau: Giao dịch dân sự là hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Giang và bà Nghĩa đã được thiết lập một hợp pháp bằng hình thức miệng, hai bên hoàn toàn tự nguyện. Theo quy định của điều 421 BLDS năm 1995 về hợp đồng mua bán tài sản: “…là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán ..” vì vậy trách nhiệm của bên mua là bà Nghĩa  là phải giao tiền đầy đủ cho bên bán (ông Giang) khi đã nhận đủ hàng (túi sách). Hai bên đã có sự thỏa thuận nên số tiền còn thiếu của ông Giang phải được bà Nghĩa hoặc bà Tình tiếp tục trả (bao gồm cả phần lãi do việc chậm thực hiện việc trả tiền) theo quy định tại khoản 2 điều 313 BLDS năm 1995. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Giang Tòa án yêu cầu bà Nghĩa.   Tuy nhiên ý kiến đưa ra cũng nhận định tòa án cũng cần xác định trách nhiệm của bà Tình trong việc có trách nhiệm cùng với bà Nghĩa trả tiền cho ông Giang hay không, vì bà Tình là người có liên quan trực tiếp, có mặt trong khi xác lập việc mua bán túi sách giữa ông Giang và bà Nghĩa, đã thực hiện nghĩa vụ trả một phần tiền cho ông Giang, để giải quyết triệt để vụ án. Và cả nhóm nhất trí với nhận định bản án sơ thẩm tuyên “Thời hạn thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật thi hành ” là không chính xác bởi vì pháp luật thi hành án không có quy định này. Đa số các ý kiến nhóm chúng tôi nhận thấy một số thiếu xót trong việc giải quyết vụ án này. Trước hết theo điều 400 BLDS năm 1995 về hình thức của hợp đồng dân sự “có thể được giao kết bằng lời nói bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định; Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân thủ các quy định đó; Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo các tài liệu trong vụ án thì việc mua bán này chỉ thỏa thuận bằng miệng nhưng khi nhận hàng và giao tiền đều có ghi sổ ký nhận. Đó cũng là một hình thức của giao dịch dân sự. Vì thế hợp đồng này hoàn toàn có hiệu lực. Xét lại vụ việc ta thấy khi đặt mua túi xách bà Nghĩa là người đứng ra trực tiếp thương lượng, nhận hàng và ký vào sổ ký nhận, thực tế bà cũng là người đã trả cho ông Giang được 80.000.000 đồng. Vì vậy có căn cứ xác định bà Nghĩa là người mua, thương lượng, đặt cọc, trả tiền cho nên bà Nghĩa phải có trách nhiệm đối với số tiền còn thiếu của ông Giang. Theo quyết định của tòa án thì bà Nghĩa cũng phải có trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ ngày 17/8/1996 cho đến nay. Vì căn cứ theo điều 431 BLDS năm 1995 về nghĩa vụ trả tiền: “Bên mua phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại địa điểm đã thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì phải trả đủ tiền vào thời điểm và tại điểm giao tài sản; Bên mua phải trả lãi kể từ ngày chậm trả theo quy định tại khoản 2 điều 313 của bộ luật này trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên quyết định của Tòa là chưa hợp lý vì trong vụ việc nêu trên bà Tình cũng là người có liên quan vì thế tòa án cần xác minh làm rõ về nguồn gốc của khoản tiền 80.000.000 đồng do bà Nghĩa trả cho ông Giang là ở đâu, lý do vì sao bà Tình lại trả cho ông Giang 1800 USD và tiến hành đối chất giữa ông Giang với bà Tình, bà Nghĩa. Từ đó mới có cơ sở xác định bà Tình có phải chịu trách nhiệm liên đới cùng bà Nghĩa trả số tiền còn thiếu cho ông Giang hay không. Qua vụ việc trên ta thấy hợp đồng mua bán giữa ông Giang và bà Nghĩa chỉ được thực hiện dưới hình thức giao dịch bằng miệng, một hình thức được coi là phổ biến trong xã hội hiện nay mặc dù hình thức này có độ xác thực thấp nhất. Tuy nhiên hình thức này vẫn hoàn toàn có hiệu lực pháp lý nên các bên tham gia vào hợp đồng vẫn có quyền và nghĩa vụ liên quan. 2.3 Vụ việc thứ ba Dựa trên bản án dân sự sơ thẩm số 09/DSST ngày 01-11-2002 Toà án nhân dân quận Tây Hồ về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà. 2.3.1. Tóm tắt vụ án Nguyên đơn: Ông Trần Tấn Hiệp, sinh năm 1943 và Bà Vũ Thị Thục Đức, sinh năm 1943 (vợ ông Hiệp). Cùng trú tại: Số 75 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Bị đơn: Ông Lê Trọng Đỉnh, sinh năm 1949 và Bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh, sinh năm 1952 (vợ ông Đỉnh). Cùng trú tại: Số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Tại đơn khởi kiện ngày 5-6-2002 và các lời khai tại Toà án ông Trần Tấn Hiệp và bà Vũ Thị Thục Đức trình bày: Ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội thuộc quyền sở hữu của vợ chồng chúng tôi. Từ tháng 3-2000 đến tháng 6-2000 vợ chồng chúng tôi đã vay ông Đỉnh nhiều lần tiền để kinh doanh; tháng 9-2000 vợ chồng chúng tôi đã cho vợ chồng ông Đỉnh vào ở nhờ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ. Khi đó hồ sơ về ngôi nhà vợ chồng chúng tôi đang thế chấp tại Ngân hàng Hàng Hải để vay tiền kinh doanh. Vợ chồng chúng tôi có vay ông Đỉnh một số tiền; sau này chúng tôi được biết số tiền ông Đỉnh cho chúng tôi vay thực chất là tiền của Công ty Bắc Sơn mà chúng tôi là đồng sở hữu, ông Đỉnh đã rút ra cho chúng tôi vay lại. Khoảng năm 2000 Ngân hàng Hàng Hải là nơi chúng tôi thế chấp ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ để vay tiền đã thúc ép chúng tôi phải thanh toán tiền cho Ngân hàng, do vậy vợ chồng tôi đồng ý để ông Đỉnh nộp một phần tiền với tư cách chúng tôi nợ ông Đỉnh để trả nợ Ngân hàng Hàng Hải và giải chấp ngôi nhà trên. Ngày 01-02-2001, Ngân hàng Hàng Hải đã trả toàn bộ giấy tờ nhà cho chúng tôi. Sau khi giải chấp ngôi nhà, do nghĩ là vợ chồng tôi đã nợ ông Đỉnh một số tiền lớn nên ngày 06-3-2001, vợ chồng chúng tôi đã viết giấy nhận nợ ông Đỉnh 5 tỷ đồng, cùng ngày chúng tôi đưa ông Đỉnh toàn bộ giấy tờ của ngôi nhà. Mục đích chúng tôi đưa giấy tờ nhà cho ông Đỉnh là tạo điều kiện cho ông Đỉnh thế chấp nhà để vay tiền Ngân hàng. Ngày 26-5-2001, vợ chồng chúng tôi và vợ chồng ông Đỉnh đã lập tờ khai mua bán ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội. Hai bên thống nhất giá 7,6 tỷ đồng, sau khi trừ số tiền chúng tôi còn nợ ông Đỉnh 5 tỷ đồng, số tiền vợ chồng ông Đỉnh còn phải thanh toán cho vợ chồng chúng tôi là 2,6 tỷ đồng. Vì vậy, tại bản khai mua bán ngày 26-5-2001 chúng tôi thống nhất chỉ ghi giá là 2,6 tỷ đồng, khi nào vợ chồng ông Đỉnh trả đủ tiền sẽ làm hợp đồng mua bán nhà đất. Sau đó, vợ chồng ông Đỉnh tự động mang bản khai mua bán nhà trên ra Uỷ ban nhân dân phường Quảng An để xác nhận. Ông Đỉnh đã “chạy chọt” để sang tên nhà đất nhưng chưa được. Chúng tôi khẳng định giữa vợ chồng chúng tôi và vợ chồng ông Đỉnh không có việc mua bán nhà đất trên và đề nghị huỷ thoả thuận mua bán nhà số 6 đường Âu Cơ, Hà Nội; buộc ông Đỉnh phải trả lại ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ cho vợ chồng chúng tôi. Ông Lê Trọng Đỉnh và bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh trình bày: Chúng tôi quen biết ông Hiệp từ năm 1989, đến tháng 02-2000, chúng tôi gặp lại nhau tại Hà Nội, qua trao đổi trò chuyện, chúng tôi được biết ông Hiệp cần một số tiền để kinh doanh phải cầm cố xe ô tô để vay tiền. Chúng tôi đã cho ông Hiệp vay tiền để trang trải công nợ từ tháng 3-2000 đến tháng 7-2001, ông Hiệp đã nợ chúng tôi số tiền là 417.900 USD và 2.601.527.400 đồng Việt Nam. Do ông Hiệp nợ nần quá nhiều và nhà số 6 đường Âu Cơ đang phải thế chấp Ngân hàng để vay tiền, trước tình hình đó ông Hiệp, bà Đức đã gợi ý bán nhà số 6 đường Âu Cơ cho chúng tôi và đây là lý do chúng tôi nộp tiền tại Ngân hàng Hàng Hải để thanh toán nợ cho ông Hiệp. Sau khi giải chấp được nhà số 6 đường Âu Cơ, ông Hiệp đã đưa toàn bộ giấy tờ của ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ cho vợ chồng chúng tôi. Sau đó giữa vợ chồng chúng tôi và vợ chồng ông Hiệp thoả thuận giá mua ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ là 5,5 tỷ đồng Việt Nam; số tiền này nhỏ hơn số tiền mà vợ chồng ông Hiệp nợ vợ chồng chúng tôi. Ngày 26-5-2001, ông Hiệp đã lập 4 bản khai mua bán quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất. Trong giấy tờ chuyển nhượng có tên chủ bán là vợ chồng ông Hiệp, bà Đức và người mua là vợ chồng chúng tôi, diện tích nhà đất là toàn bộ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ có diện tích mặt sàn là 160m2 trên thửa đất 108 rộng 626m2 với số tiền là 2,6 tỷ đồng Việt Nam. Giấy tờ chuyển nhượng có đầy đủ chữ ký của 4 người: Tôi, vợ tôi (Thịnh), ông Hiệp, bà Đức (vợ ông Hiệp). Bản kê khai mua bán nhà đất trên đã được Uỷ ban nhân dân phường Quảng An xác nhận vào ngày 04-7-2001. Đến tháng 7-2001, giữa tôi (Đỉnh) và ông Hiệp đã làm đơn đề nghị Sở Địa chính Hà Nội xin được làm sổ đỏ cho ông Hiệp và sau đó làm tiếp thủ tục sổ đỏ từ tên ông Hiệp sang tên tôi là Lê Trọng Đỉnh. Từ khi mua ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ đến nay, vợ chồng chúng tôi đã sửa chữa cải tạo lại như: Xây dựng mới từ gara ô tô lên 3 tầng, diện tích 45,5m2, phòng cạnh bếp làm thêm từ tầng 1 lên 3 tầng diện tích 48,7m2; sửa chữa cải tạo tôn nền sân, bếp, làm lại toàn bộ công trình phụ. Tổng số tiền sửa chữa hết hơn 700 triệu đồng. Nay ông Hiệp xin huỷ hợp đồng mua bán nhà vợ chồng chúng tôi không chấp nhận, vì việc mua bán chuyển nhượng giữa hai bên đã hoàn tất. 2.3.2 Giải quyết của tòa án Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/DSST ngày 01-11-2002 Toà án nhân dân quận Tây Hồ đã xử: 1- Bác yêu cầu xin huỷ hợp đồng mua bán nhà số 6 đường Âu Cơ giữa ông Trần Tấn Hiệp, bà Vũ Thị Thục Đức với ông Lê Trọng Đỉnh, bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh. 2- Ngôi nhà số 6 Âu Cơ diện tích 192m2 thuộc quyền sở hữu của ông Lê Trọng Đỉnh và bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh. Diện tích 434 m2 đất chưa hợp thức ông Lê Trọng Đỉnh và bà Nguyễn Thị Kim Hồng Thịnh phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà đất địa phương. 3- Án phí sơ thẩm ông Hiệp, bà Đức nộp 189.336.000đ, đã nộp 20.000.000đ, còn phải nộp 169.000.000đ. 2.3.3. Nhận xét quyết định của Tòa án Nhóm chúng tôi không đồng ý với quyết định trên của tòa án về việc bác yêu cầu xin hủy hợp đồng mua bán nhà giữa ông Hiệp, bà Đức với ông Đỉnh, bà Thịnh và ngôi nhà số 6 Âu Cơ diện tích 192m2 thuộc quyền sở hữu của ông Đỉnh và bà Thịnh, bởi lý do sau: Thứ nhất, cần phải khẳng định rằng đây là một hợp đồng mua bán nhà ở không hợp lệ. Bởi theo Điều 443 BLDS 1995 thì hình thức hợp đồng mua bán nhà ở được quy định rằng : “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có chứng thực của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền”. Mặc dù, có cơ sở xác định vợ chồng ông Hiệp đã bán nhà số 6 đường Âu Cơ cho vợ chồng ông Đỉnh nhưng việc mua bán hai bên không lập thành văn bản theo quy định của pháp luật (mới chỉ là bản khai mua bán nhà) , còn tranh chấp về giá bán nhà nên không thể khẳng định đây là một bản hợp đồng mua bán nhà hợp lệ được. Ngoài ra, theo Điều 444 BLDS năm 1995 quy định về thủ tục mua bán nhà ở “Các bên phải đăng kí trước bạ sang tên nhà ở tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm đăng kí quyề sở hữu”. Theo đó, 2 bên chưa là thủ tục đăng kí trước bạn sang tên như vậy không có căn cứ để khẳng định rằng ngôi nhà số 6 Âu Cơ diện tích 192m2 thuộc quyền sở hữu của ông Đỉnh và bà Thịnh. Bởi những lẽ trên nhóm xin đưa ra hướng giải quyết như sau: Đề nghị tòa tuyên giao dịch chuyển nhượng nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ giữa vợ chồng ông Hiệp, bà Đức với ông Đỉnh, bà Thịnh là hợp đồng vô hiệu. Căn cứ theo điều 139 BLDS năm 1995 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức “Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự vô hiệu, nếu không được thể hiện bằng văn bản, không được Công chứng nhà nước chứng nhận, không được chứng thực, đăng kí hoặc cho phép, thì theo yêu cầu của một bên thực hiện quy định về hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện, thì giao dịch vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch đó phải bồi thường thiệt hại.”. Như vậy, trong một thời hạn nhất định do Tòa án quy định, 2 bên có thể tiếp tục hòa thiện hợp đồng mua bán cho phù hợp với quy định của pháp luật. Còn trong trường hợp, trong thời gian tòa án cho phép để hai bên hoàn thiện quy định về hình thức của hợp đồng mà hai bên không hoàn thành thì theo căn cứ của điều 146 BLDS năm 1995 quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Giao dịch dân sự vô hiệu không là phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Tùy từng trường hợp, xét theo tính chất của giao dịch vô hiệu, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Tức là, Vợ chồng ông Đỉnh, bà Thịnh phải có trách nhiệm trả lại toàn bộ ngôi nhà số 6 đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội cho vợ chồng ông Trần Tấn Hiệp, bà Vũ Thị Thục Đức cũng như các giấy tờ có liên quan tới ngôi nhà. Ông Hiệp, bà Đức phải có trách nhiệm thanh toán trả ông Đỉnh bà Thịnh số tiền còn nợ. 3. Một số bất cập trong quy định của pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự Trong BLDS năm 2005, Điều 122 là quy định mang tính nguyên tắc chung: GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Hình thức của GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Tuy nhiên, Điều 127 BLDS Việt Nam lại quy định: “GDDS không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này, thì vô hiệu”. Thuật ngữ “không có một trong các điều kiện” làm cho người đọc hiểu theo một cách khuôn cứng là GDDS thiếu một trong bốn điều kiện nêu trên sẽ vô hiệu. Quy định này đã làm cho người đọc lầm hiểu điều luật 127 là một điều luật độc lập hay ngoại lệ với điều khoản khác. Để áp dụng điều luật một cách mềm dẻo theo đúng nghĩa của nó, chúng ta không nên quy định Điều 127. Vấn đề xác định giao dịch có đủ điều kiện hay vô hiệu chỉ cần căn cứ vào Điều 122 BLDS và các điều luật về những trường hợp GDDS vô hiệu cụ thể. Theo Điều 134 BLDS Việt Nam, hình thức giao dịch dân sự (GDDS) là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, trường hợp các bên không tuân theo, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn, quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu. Đây là quy định không hợp lý bởi lẽ hình thức giao dịch thực chất chỉ là sự thể hiện ý chí của các bên tham gia GDDS bằng mực đen trên giấy trắng “văn bản”. Pháp luật quy định vi phạm hình thức dẫn tới GDDS vô hiệu sẽ tạo nên một khoảng cách giữa sự thống nhất ý chí thực và hiệu lực của giao dịch. Quy định ở điều 134 đạt được hiệu quả áp dụng trong trường hợp cả hai bên tham gia giao dịch vẫn giữ nguyên cam kết ban đầu, nhưng một trong hai bên không thực hiện các quy định về hình thức, chứ không áp dụng trong trường hợp mà một trong hai bên không thiện chí thực hiện những cam kết mua bán với nhau nữa. Bởi lẽ trong thực tiễn giải quyết của toà án cho thấy, nếu một hoặc các bên mà đã yêu cầu huỷ hợp đồng vì một lý do nào đó thì dù toà án có quy định thời gian dài đến đâu đi chăng nữa họ vẫn không thay đổi quan điểm. Còn những trường hợp các bên tham gia giao dịch chỉ nhằm thực hiện những quy định về hình thức thì rất ít trên thực tế. Do đó, quy định tại Điều 134 BLDS là không thiết thực trong quá trình giải quyết giao dịch dân sự vô hiệu. Có thể sửa đổi Điều 134 theo hướng, khi có tranh chấp mà đương sự yêu cầu tòa án giải quyết thì xem xét từng trường hợp để công nhận hay hủy bỏ giao dịch. Nếu GDDS đáp ứng 3 điều kiện: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và đã thực hiện các nghĩa vụ chủ yếu, đối phương chấp thuận, thì giao dịch đó được công nhận. Sự không tuân thủ các quy định về hình thức không phải là điều kiện dẫn tới GDDS vô hiệu. Đoạn 2 khoản 2 Điều 401 viết : “ hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên tại khoản 2 điều 122 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dấn sự có viết “hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật quy đinh” và các điều khoản khác. Các quy định về bản chất không có sự xung đột nhưng nếu đặt vào một số tình huống cụ thể khi mổ sẻ sẽ rất dễ gây mâu thuẫn với các quy định tại khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 134 và Điều 136. BLDS Việt Nam tại Điều 137 lại quy định: “…Khi GDDS vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”. Quy định trên rõ ràng là rất chung chung trong khi thực tiễn tài sản được hoàn trả không phải lúc nào cũng còn nguyên giá trị của nó tại thời điểm giao kết, nó thường bị biến đổi do tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội làm cho không còn nguyên giá trị ban đầu. Nếu chúng ta áp dụng điều luật này sẽ không phù hợp, không công bằng nhất là trong tình huống ở thời điểm tuyên bố GDDS vô hiệu giá cả của đối tượng giao dịch có tăng hoặc giảm so với thời điểm giao kết. Trên đây là một vài vấn đề còn hạn chế, hi vọng trong thời gian sắp tới, những quy định được xem xét sửa đổi để phù hợp với yêu cầu chung của xã hội. * * * * * * * * * * Làm mới, sửa đổi hệ thống pháp luật chỉ đáp ứng đúng và kịp thời một phần những yêu cầu chung, còn lại là sự bất hợp lí trong việc áp dụng. Vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật liên quan đến hình thức của giao dịch dân sự. Ba vụ việc trên đây khá phức tạp về các tình tiết liên quan, nhóm chúng tôi đã lược bỏ đi một số nội dung để làm bật về hình thức giao dịch. Đồng thời cũng mạnh dạn đưa ra những ý kiến riêng của nhóm về cách giải quyết các vụ án đưa ra và một số bất cập về vấn đề này. Do gặp nhiều khó khăn về tìm hiểu, hạn chế về mặt thời gian, tài liệu … nên chắc hẳn bài viết còn nhiều thiết xót, nhóm chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía độc giả! Xin chân thành cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc(85 đ) Tìm hiểu 3 vụ việc cụ về hình thức giao dịch dân sự (15 trang).doc
Luận văn liên quan