[Tóm tắt] Luận án Chính sách đối với Đông Nam Á của chính quyền tổng thống Barack Obama (2009-2016)

Dựa trên cơ sở lý luận là học thuyết đối ngoại Obama, cơ sở thực tiễn là tầm quan trọng của khu vực ĐNA và những bất cập của CSĐN đối với ĐNA trước năm 2009; CQ TT Obama trong giai đoạn 2009 - 2016 tiếp tục theo đuổi mục tiêu đưa nền kinh tế Mỹ phát triển và tái xác lập vị thế kinh tế của Mỹ ở địa bàn chiến lược này, nhất là sau khi vị thế của nước này bị lung lay dữ dội bởi sức mạnh kinh tế, chính trị của Trung Quốc sau CTL; đặc biệt là thời G. W. Bush (2001-2008). Sự can dự của Mỹ đối với khu vực dưới thời vị TT da màu này đã, đang và sẽ tiếp tục tác động, ảnh hưởng đến cấu trúc an ninh khu vực, kéo theo sự điều chỉnh chính sách của các nước, làm cho sự cạnh tranh ảnh hưởng diễn ra quyết liệt hơn và tác động theo chiều hướng thuận, nghịch tới môi trường, an ninh ở ĐNA. Rất khó để đưa ra dự báo chính xác về sự thay đổi CQ của Nhà Trắng sau năm bầu cử 2016, nhưng một điều chắc chắn là, dù ĐDC hay ĐCH lên nắm quyền thì việc điều chỉnh chính sách xoay trục là điều khó tránh khỏi. Sự điều chỉnh này sẽ không lớn bởi tân TT thứ 45 khó có đủ can đảm phá vỡ những giá trị mang tính truyền thống trong chính sách ĐNA của Mỹ. Quan trọng hơn cả, dù vẫn tồn tại không ít điểm yếu, nhưng nhìn chung, chính sách xoay trục của CQ Obama đã giúp nước Mỹ duy trì được vai trò tại ĐNA trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

doc28 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 01/08/2018 | Lượt xem: 84 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu [Tóm tắt] Luận án Chính sách đối với Đông Nam Á của chính quyền tổng thống Barack Obama (2009-2016), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trong khi tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương cũ do ASEAN thành lập Mục đích của Mỹ là chi phối và hướng lái chính sách của các cơ chế này phục vụ cho lợi ích của Mỹ, lôi kéo, tập hợp lực lượng, hướng tới thành lập một “cấu trúc an ninh” toàn diện phục vụ cho chiến lược của Mỹ ở khu vực; làm đối trọng với Trung Quốc trên diễn đàn quốc tế; phối hợp với các nước đối phó với thách thức ở khu vực. Can dự vào vấn đề biển Đông Tranh chấp trên Biển Đông cũng là một vấn đề quan trọng khi Hoa Kỳ quay trở lại châu Á trong năm 2010. Những hành động của Trung Quốc trong những năm qua khiến các nước ĐNA lo ngại và khiến cho Hoa Kỳ ngày càng quan tâm đến Biển Đông và coi đây là một cơ hội để khôi phục ảnh hưởng và giành lại vai trò chủ đạo ở ĐNA. 3.1.2.2. Về kinh tế Sau nhiều năm kiên trì đàm phán, ngày 05/10/2015, có 12 nước thuộc Vành đai Thái Bình Dương đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Đây là hiệp định thương mại quy mô lớn và được chính giới nhiều nước quan tâm trong vòng hai thập kỷ qua. Chủ trương của Washington tham gia TPP là sau khi Hiệp định được ký kết và thực thi, Mỹ sẽ nhanh chóng thiết lập các loại thị trường, từng bước xây dựng trật tự kinh tế chính trị theo hướng có lợi cho họ, tạo ra cục diện chính trị mới ở CA-TBD và thu hút sự tham gia của các nước ASEAN vào Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). 3.1.2.3. Văn hóa, xã hội Về hợp tác văn hóa xã hội, ASEAN khuyến khích Mỹ tăng cường quan hệ hợp tác về khoa học công nghệ, giáo dục và cấp học bổng cho các sinh viên ASEAN; thúc đẩy hợp tác đối phó dịch bệnh, hợp tác khu vực Mekong, an ninh năng lượng, quản lý thiên tai và biến đổi khí hậu; giao lưu nhân dân và đẩy mạnh hợp tác đa dạng sinh học. 3.2. Quá trình triển khai chính sách 3.2.1. Đẩy mạnh hợp tác toàn diện với ASEAN 3.2.1.1. Tích cực ủng hộ ASEAN xây dựng Cộng đồng ASEAN Các hoạt động hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng an ninh chính trị (APSC) Mỹ tích cực thông qua việc lợi dụng cơ chế hợp tác đa phương khu vực để nắm vững, chỉ đạo tiến trình và phương hướng phát triển hợp tác an ninh khu vực. Mỹ đã đạt được việc xây dựng cơ chế bảo đảm chắc chắn “Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN” phù hợp với giá trị và lợi ích của mình bằng phương thức tham gia Hội nghị các bộ trưởng ASEAN mở rộng lần thứ nhất (10+8), từ đó nắm quyền chủ đạo trong trật tự an ninh ĐNA và khu vực CA-TBD.  Các hoạt động hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng kinh tế (AEC) Sự thành công của Tuyên bố chung Mỹ - ASEAN sẽ là cơ sở bảo đảm điều kiện và sự ổn định cho các nước ASEAN phát triển. Mỹ và ASEAN theo Tuyên bố chung có thể hợp tác trong rất nhiều lĩnh vực quan trọng khác, đặc biệt là về kinh tế thương mại. Sự hợp tác tích cực từ phía Mỹ, sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong tiến trình xây dựng cộng đồng, thu hẹp khoảng cách phát triển, thúc đẩy phát tiển kinh tế trong khu vực khu vực. Các hoạt động hỗ trợ ASEAN xây dựng Cộng đồng văn hóa - xã hội (ASCC) Sự hỗ trợ và giúp đỡ của Mỹ được thể hiện cụ thể hóa thông qua các chương trình hợp tác như Kế hoạch hành động Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC POA) năm 2004, Chương trình Hành động Vientiane (VAP) năm 2004; Kế hoạch tổng thể ASCC 2009 - 2015 và hiện nay, Quốc hội Hoa Kỳ mới đây đã phê chuẩn thành luật cho phép sử dụng ngân sách 20 triệu đô la Mỹ để Hoa Kỳ hỗ trợ việc thành lập và phát triển một trường ĐH hàng đầu ở Việt Nam. 3.2.1.2. Nâng cấp quan hệ với ASEAN lên tầm đối tác chiến lược Hội nghị cấp cao Mỹ -ASEAN tại Sunnylands (California) vào ngày 15-16/2/2016 nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Thông qua, Kế hoạch hành động ASEAN - Hoa Kỳ giai đoạn 2016 - 2020, Mỹ-ASEAN gia tăng các hoạt động hợp tác, đầu tư, chia sẻ kinh nghiệm khởi nghiệp, tri thức, công nghệ giữa các doanh nghiệp ASEAN và Hoa Kỳ. 3.2.1.3. Chủ động tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương do ASEAN sáng lập và dẫn dắt Tham gia tích cực hơn vào EAS Đối với EAS, Mỹ xác định đây là diễn đàn chính trị - an ninh chính ở khu vực do ASEAN làm nòng cốt cùng với 8 quốc gia trọng yếu khác ở khu vực CA - TBD. Mục tiêu của Mỹ trong việc can dự vào EAS là hướng lái cơ chế này mở rộng thảo luận các vấn đề an ninh và chiến lược rộng lớn, biến EAS thành một cơ chế hợp tác ở cấp hoạch định chính sách trong việc đối phó với các vấn đề liên khu vực và toàn cầu. Tham gia vào APEC một cơ chế kinh tế lớn của khu vực Tham vọng của CQ B. Obama trong một cấu trúc khu vực đang định hình là củng cố, tăng cường vai trò của APEC như một trụ cột kinh tế còn EAS sẽ là trụ cột an ninh - chính trị và là “cửa ngõ” tiến vào khẳng định địa vị lãnh đạo, dẫn dắt trước mắt về kinh tế của Mỹ, với công cụ phù hợp nhất cần được đầu tư, thúc đẩy mạnh mẽ là Hiệp định TPP, thực chất là một hiệp định khu vực tự do mậu dịch thế hệ mới với tiêu chuẩn cao và tham vọng bao phủ toàn bộ tất cả các nền kinh tế APEC, góp phần hiện thực hóa tư tưởng tự do hóa thương mại của Mỹ. Tham gia ARF và ADMM + Mỹ chú trọng can dự vào hai cơ chế quan trọng là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị ADMM+ có sự tham gia của nhiều nước lớn ở CA-TBD. Mục tiêu của Mỹ là sử dụng hai diễn đàn này để lên tiếng về các vấn đề mà Mỹ quan tâm, đồng thời lôi kéo các nhóm nước khác nhau đưa ra quan điểm về vấn đề nổi cộm của khu vực, kể cả các vấn đề mang tính nhạy cảm như tranh chấp chủ quyền biển, đảo và tranh chấp lãnh thổ. 3.2.1.4. Ủng hộ vai trò trung tâm ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình TT B. Obama khẳng định Hoa Kỳ coi trọng quan hệ hợp tác với ASEAN cũng như từng quốc gia thành viên, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình ở khu vực, mong muốn phối hợp cùng ASEAN xử lý các thách thức toàn cầu và khu vực như chống khủng bố, bạo lực cực đoan, buôn người, ứng phó với biến đổi khí hậu. Các nước ASEAN đánh giá cao quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, mong muốn hợp tác sâu rộng trên nhiều mặt, tranh thủ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ - nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhằm xây dựng các nền kinh tế năng động, cởi mở, cạnh tranh và liên kết chặt chẽ, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo công ăn việc làm, thu hẹp khoảng cách phát triển, đổi mới, tinh thần kinh doanh, đổi mới và sáng tạo. 3.2.1.5. Xúc tiến đối thoại quốc phòng với ASEAN Trao đổi các vấn đề an ninh quốc phòng là một trọng tâm trong quan hệ đối thoại ASEAN -Mỹ, nhất là vai trò của Mỹ đối với việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực. Mỹ tiến hành tham vấn với ASEAN thông qua các cơ chế như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng, Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm giữa ASEAN và Mỹ (PMC) và các cuộc họp Đối thoại cấp Thứ trưởng ngoại giao. ASEAN và Mỹ đã ký Tuyên bố chung ASEAN-Mỹ về hợp tác chống khủng bố quốc tế vào ngày 1/8/2002 tại Bandar Seri Begawan khẳng định cam kết chính trị và an ninh của Mỹ đối với khu vực. 3.2.1.6. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng với các nước ĐNÁ Mỹ đang tích cực triển khai các biện pháp, tăng cường trao đổi các chuyến viếng thăm của các quan chức quân sự và tàu chiến; đẩy mạnh hợp tác quân sự với các đồng minh và tìm kiếm xây dựng các đối tác mới tại khu vực thông qua các biện pháp thăm viếng, ký kết, chia sẻ thông tin, viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật, giúp huấn luyện, đào tạo. Mục tiêu bao trùm của Mỹ là thiết lập một cơ cấu an ninh khu vực mới đáp ứng chiến lược quốc phòng - an ninh của Mỹ ở ĐNA. 3.2.2. Thúc đẩy quan hệ với các quốc gia ĐNÁ 3.2.2.1. Khởi động lại quan hệ an ninh - quốc phòng với các đồng minh cũ Với Thái Lan, trước tình hình chính trị nội bộ của Thái Lan diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nguy cơ nghiêm trọng, Đại sứ quán Mỹ tại Thái Lan đưa ra một số ưu tiên, trong đó có mục tiêu đầu tiên là tăng cường hợp tác với Thái Lan trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị đến an ninh quốc phòng nhằm giúp thiết lập hòa bình và an ninh tại Thái Lan và khu vực ASEAN. Với Philippines, CQ B. Obama đánh giá, chính phủ Philippines luôn có cái nhìn rất thiện cảm đối với Mỹ trong quá trình hợp tác; do đó, Mỹ có thể dùng Philippines như một con bài chiến lược làm đối trọng với Trung Quốc. 3.2.2.2. Thúc đẩy quan hệ với các nước hải đảo Với Singapore và Malaysia: Đây hai đối tác quan trọng và đáng tin cậy. Việc tiếp cận với các cơ sở của hai nước này giúp Mỹ có cơ hội tăng cường sự ổn định và tạo ra sự cân bằng chiến lược ở ĐNA, đồng thời, phục vụ cho các hoạt động của Mỹ ở ĐNA và nhiều nơi khác. Singapore và Malaysia sẵn sàng cho Mỹ thuê các cơ sở làm căn cứ quân sự phục vụ các đơn vị tại khu vực Tây Thái Bình Dương, do đó, Mỹ có thể sử dụng các cơ sở không quân và hải quân tại đây làm điểm trung chuyển nhằm kết nối các cơ sở của Mỹ tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Với Indonesia: Sức mạnh về tăng trưởng kinh tế đã nâng vị thế của Indonesia lên tầm toàn cầu, Indonesia rõ ràng là quan trọng đối với Hoa Kỳ. Hơn nữa, quốc gia này có một số tuyến đường biển chiến lược quan trọng nhất thế giới như eo biển Malacca, Sunda và Lumbok-gần như một nửa tàu thuyền thương mại của thế giới đi qua hàng năm, cũng là nơi chuyên chở phần lớn nguồn cung cấp nhiên liệu cho Đông Bắc Á. 3.2.2.3. Mở rộng quan hệ với các nước CLV - Với Campuchia, sự tăng cường can dự của Mỹ vào Campuchia ngày càng trở nên nổi bật. Mỹ sẽ hỗ trợ các lực lượng gìn giữ hòa bình Campuchia để nước này từ bước được ổn định, trở thành một đối tác khu vực có hiệu quả. Mỹ đang đẩy mạnh hợp tác quân sự với quân đội Hoàng Gia Campuchia thông qua tăng cường trao đổi đoàn cấp cao, thăm viếng của tàu chiến Mỹ, giúp huấn luyện các ngành quân sự, viện trợ quân sự, tập trung cho hải quân Campuchia và lĩnh vực hợp tác chống khủng bố. - Với Lào, Mỹ sẽ hỗ trợ mọi mặt cho Lào để quốc gia này phát triển và xích lại gần hơn với Mỹ, từ đó xây dựng mối quan hệ Mỹ Lào như một đối trọng trong quan hệ giữa Lào và Trung Quốc. Quan hệ Mỹ - Lào trên lĩnh vực hợp tác quốc phòng sẽ được triển khai từng bước, bắt đầu bằng việc thống kê số quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh, hỗ trợ quân đội Lào rà phá bom mìn còn sót lại trong chiến tranh, hợp tác chống buôn bán và vận chuyển ma túy. - Với Việt Nam được xem là một nhân tố quan trọng trong chính sách cân bằng chiến lược ở ĐNA và quan hệ với Việt Nam sẽ phục vụ lợi ích chiến lược lâu dài của Mỹ ở CA-TBD. Mỹ cho rằng, Việt Nam là nước nằm sát Trung Quốc kiểm soát hầu như suốt một cạnh của Biển Đông và đặc biệt có vai trò ngày càng tăng trong ASEAN, tạo nên một đối trọng sức mạnh trong khu vực tương lai đối với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực. 3.2.2.4. Đề xuất và triển khai Sáng kiến hợp tác Mỹ - Hạ lưu Mekong CQ B. Obama đã bày tỏ mối lo ngại đối với sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và vấn đề an ninh nguồn nước trên sông Mekong. Nhằm giúp các nước ĐNA lục địa đối phó với các nguy cơ an ninh lương thực, Mỹ đã hợp tác với các nước hạ nguồn sông Mekong, thành lập cơ chế Sáng kiến hạ nguồn sông Mekong (LMI). Cơ chế này đã được các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam hưởng ứng. Nguyên nhân chính khiến CQ B. Obama can dự vào vấn đề sông Mekong là ba mục tiêu nằm trong tổng thể chính sách “quay trở lại ĐNA” của Mỹ. 3.2.2.6. Can dự vào Myanmar Việc Hoa Kỳ thay đổi chính sách trong quan hệ với Myanmar đã mở ra con đường cho mối quan hệ với ASEAN. Đây là một thay đổi quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Myanmar sau nhiều thập kỷ theo đuổi chính sách trừng phạt đối với Myanmar. Tuy nhiên, dấu hiệu cải cách đã bắt đầu ở Myanmar từ năm 2008 sau cuộc trưng cầu hiến pháp mới. Tháng 11/2011, Ngoại trưởng Clinton lần đầu tiên đặt chân đến Myanmar mở đầu cho loạt động thái tái khởi động quan hệ hai nước. Chuyến viếng thăm mang tính lịch sử này là một sự kiện cho thấy ngoại giao Hoa Kỳ quyết đoán hơn khi đưa ra các sáng kiến giải quyết các hồ sơ nóng nhằm thực hiện can dự sâu và toàn diện hơn vào khu vực. 3.2.3. Can dự vào vấn đề biển Đông 3.2.3.1. Lợi ích của Mỹ ở biển Đông Lợi ích về hàng hải: Mỹ đang ngày càng tỏ ra quan tâm hơn đến diễn biến của các tranh chấp trên biển Đông, và việc giải quyết hòa bình các tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng khác trên Biển Đông. Lợi ích về an ninh, kinh tế: Biển Đông được xác định là một trong 10 vùng biển có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Vì thế, dầu mỏ càng trở nên quan trọng đối với Mỹ hơn bao giờ hết và nguồn năng lượng lớn từ Biển Đông này cũng có thể sẽ là mục tiêu mà Mỹ luôn hướng tới. Lợi ích về quân sự: Đối phó với các thách thức về vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống luôn là một trong những ưu tiên quốc gia hàng đầu của Mỹ từ trước đến nay, và Biển Đông là tuyến đường giao thông quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Mỹ trong việc chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển Malacca. 3.2.3.2 CS của Mỹ đối với cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông trước 2009 CSĐN của Mỹ tại Biển Đông tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, Mỹ muốn có sự phát triển thuận lợi tại Biển Đông chứ không phải là xung đột vũ trang xảy ra. Mỹ cũng muốn duy trì quan hệ cân bằng với các nước ven biển ở khu vực. Tuy nhiên, chính sách của Mỹ tại Biển Đông đã có ít nhiều thay đổi khi so sánh giữa hai giai đoạn trước và sau năm 2009. 3.2.3.3 Những hoạt động can dự vào vấn đề Biển Đông của Mỹ từ 2009 tới nay Thay đổi lập trường về vấn đề Biển Đông của Mỹ được thể hiện trên bốn điểm sau: - Không đồng tình với việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực để khẳng định yêu sách quốc gia của bất kỳ nhà nước nào ở Biển Đông và sử dụng đó như một vấn đề quan trọng; - Không có quan điểm về giá trị pháp lý của các yêu sách chủ quyền có tính cạnh tranh với nhau và sẵn sàng giúp đỡ cho một giải pháp hòa bình về các yêu sách có tính cạnh tranh nếu được các bên yêu cầu; - Thúc giục giải pháp hòa bình cho vấn đề của các nhà nước liên quan, theo phương cách tăng cường hòa bình, thịnh vương và an ninh trong khu vực; - Mỹ có lợi ích chiến lược trong việc duy trì các con đường liên lạc trong khu vực và xem đó là cơ bản để không đồng tình với bất kỳ yêu sách về biển đảo, vượt ngoài sự cho phép của Công ước LHQ về Luật Biển. Ủng hộ Philippines, Việt Nam ứng phó với các hoạt động gây hấn của Trung Quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược quân sự ở khu vực thông qua các hoạt động của hải quân Mỹ ở Biển Đông để khẳng định quyền tự do hàng hải, mở rộng và tăng cường ngoại giao quốc phòng và hỗ trợ xây dựng năng lực cho các quốc gia ĐNA như Philippines và Việt Nam nhằm ngăn ngừa căng thẳng ở Biển Đông tăng lên. Ngoại trưởng H. Clinton cho rằng cần thiết phải xây dựng lòng tin và thiết lập quy tắc chỉ đường cho các lực lượng quân sự hoạt động thuận lợi hơn. Điều này chứng tỏ Mỹ thấy DOC năm 2002 là chưa đủ, chưa cụ thể và chưa ràng buộc. 3.2.4. Đối phó với một Trung Quốc đang “trỗi dậy” Chính sách “trỗi dậy” của Trung Quốc được thể hiện rõ trong Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu rõ: “Trung Quốc tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, phát triển, hợp tác, cùng thắng, kiên định duy trì thế giới hòa bình, thúc đẩy cùng phát triển”. Trung Quốc sử dụng các biện pháp: (i) Tiếp tục phát huy vai trò to lớn có trách nhiệm, tham gia tích cực vào các công việc quốc tế; (ii) Thực hiện chiến lược kinh tế đối ngoại mở của, cùng có lợi, cùng thắng; (iii) Tăng cường sức mạnh mềm, đẩy mạnh ngoại giao nhân dân; (iv) Củng cố quan hệ với các nước láng giềng và các nước đang phát triển; (v) Không nhượng bộ, không thỏa hiệp trong những vấn đề liên quan đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. 3.2.5. Lôi kéo các nước ASEAN tham gia TPP Để đẩy nhanh chiến lược quay trở lại khu vực ĐNA, CQ B. Obama đã tích cực lôi kéo các nước ASEAN tham gia Hiệp định TPP với mục đích: Thứ nhất, mở rộng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ và đầu tư của Mỹ, mở rộng quan hệ kinh tế với các quốc gia CA-TBD. Như vậy, Hiệp định TPP sẽ mang lại cho nền kinh tế Mỹ lợi ích rất lớn và sẽ tăng cường các cam kết chính trị và kinh tế của Mỹ đối với khu vực CA-TBD trong nhiều thập kỷ tới. Thứ hai, cải thiện cán cân thương mại với các nền kinh tế TPP. Mỹ có nhiều lợi ích để tham gia tích cực vào đàm phán TPP. Quan trọng nhất là Mỹ mong muốn gia tăng các lợi ích thương mại và đầu tư của Mỹ ở khu vực CA-TBD, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang nổi lên có tiềm năng tăng trưởng dài hạn và là một thị trường hấp dẫn nhất thế giới. Can thiệp vào một số vấn đề nội bộ của các nước tham gia dưới hình thức thực hiện các cam kết đối với TPP Đến ngày 5/10/2015, Hiệp định TPP được ký kết sau những cuộc đàm phán cam go và nhiều lần trì hoãn nghẹt thở được xem là một thành công lớn đối với chiến lược chuyển hướng trọng tâm của Mỹ vào CA-TBD. Đây là một đối trọng kinh tế lớn của Mỹ với Trung Quốc. Mặc dù, TPP là trụ cột về kinh tế trong chiến lược “tái cân bằng”, song Mỹ cũng không hề trực tiếp đưa ra quan điểm cản trở sự tham gia của Trung Quốc vào khối này. Các quan chức Mỹ dã vài lần nhắc lại sự chào đón Trung Quốc tham gia khối này một khi Bắc Kinh đã chuẩn bị sẵn sàng chấp nhận các tiêu chuẩn của TPP và hướng Bắc Kinh có cái nhìn hòa nhã hơn về TPP. Tiểu kết Chương 3 Có thế cho rằng, mối quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia ĐNA trong những năm qua đã có nhiều thay đổi tích cực, ASEAN cần Mỹ để đẩy mạnh các lợi ích chiến lược của mình trong khu vực. Ngược lại, Mỹ cần ASEAN như là đối tác chiến lược quan trọng ở CA-TBD. Việc lựa chọn và thực thi chính sách đối ngoại mới của Mỹ trong thời gian qua đối với ASEAN đã mang lại những kết quả nhất định cho cả hai phía trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa và giáo dục. Qua đó, phần nào cho thấy hình ảnh một nước Mỹ ôn hòa hơn trên chính trường quốc tế. Sự điều chính sách của CQ TT B. Obama đối với ĐNÁ đã có những cải thiện đáng kể theo hướng tích cực hơn, năng động hơn. Chương 4: ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐNÁ CỦA CQ OBAMA THỜI GIAN QUA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 4.1. Đánh giá chính sách ĐNÁ của CQ TT Obama 4.1.1. Một số đặc điểm cơ bản trong CS ĐNA của CQ Obama 4.1.1.1. CS ĐNÁ của CQ Obama triển khai trong sự cạnh tranh quyết liệt của TQ Cạnh tranh chiến lược Mỹ Trung tại ĐNA được thể hiện trên các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng đến vấn đề Biển Đông. Như vậy, xu thế quan hệ của Trung Quốc và Mỹ trong thời gian tới vẫn sẽ là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và sẽ đạt được cân bằng chiến lược ổn định vì lợi ích của cả hai nước, đặc biệt là vì lợi ích kinh tế. Cả Mỹ và Trung Quốc sẽ không dễ dàng từ bỏ những lợi ích to lớn về mặt kinh tế để đổi lấy sự đối đầu không cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề tranh chấp Biển Đông dường như đang lâm vào bế tắc và cần có sự tích cực của các bên. 4.1.1.2. Linh hoạt và thực dụng hơn so với CS ĐNA của CQ tiền nhiệm - CQ B. Obama với thông điệp xoay trục châu Á, hiện đã có những bước điều chỉnh chiến lược và triển khai CSĐN mới theo phương châm linh hoạt, mềm dẻo, coi trọng chủ nghĩa đa phương, sức mạnh tập thể tạo ra một mô hình quan hệ đối tác mở rộng với sự lãnh đạo của Mỹ. - Thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với nhân quyền: khẳng định phát triển KT - XH, thúc đẩy quyền con người vẫn là một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ. - Sử dụng các công cụ đối ngoại: tận dụng đàm phán, thuyết phục gắn với các công cụ đòn bẩy để tăng cường hợp tác giữa các đối tác, các cơ quan chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế. - Đánh giá, sắp xếp các ưu tiên chính sách: dựa trên mức độ tác động giữa các lợi ích của Mỹ và khả năng thành công của chính sách. 4.1.1.3. Nhịp độ triển khai CS có chiều hướng đi xuống, đặc biệt từ 2014 tới nay Sự kém hiệu quả của chính sách “xoay trục” thể hiện rõ nhất tại biển Đông với sự bành trướng của Trung Quốc. Những gì mà Trung Quốc thể hiện cho thấy đây một đối thủ chiến lược của Mỹ trên thực tế, có khả năng thách thức uy quyền tối cao của Mỹ trên toàn cầu, đặc biệt là ở khu vực CA-TBD. Suốt từ năm 2013 đến nay, các cơ quan quốc tế liên tục đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ mục đích quân sự ở Biển Đông. Trước những hành động của Trung Quốc, dường như CQ TT Obama chưa có những biện pháp cứng rắn nhằm răn đe trước sức mạnh của Trung Quốc. 4.1.2. So sánh chính sách của chính quyền B. Obama với G. W. Bush 4.1.2.1. Sự giống nhau trong chính sách - CS ĐNA của CQ G.W Bush và B. Obama vẫn là phục vụ lợi ích quốc gia. - CQ TT G. W Bush và B. Obama đều tập trung vào việc đối phó với những thách thức an ninh tại khu vực ĐNA, đặc biệt quan tâm tới những thách thức từ sự “trỗi dậy” của Trung Quốc. - Dân chủ nhân quyền là hành động chủ chốt của Mỹ tại khu vực ĐNA. 4.1.2.2. Sự khác biệt - Về vị trí, vai trò và tác động, ảnh hưởng của Mỹ trong quan hệ quốc tế. CQ B. Obama từ bỏ cách tiếp cận đơn phương của CQ G.W Bush, đề cao tính đa phương và ôn hòa, đồng thuận trong giải quyết các vấn đề quốc tế. - CQ B. Obama đã điều chỉnh hàng loạt chính sách, tiến hành mọi biện pháp sử dụng mọi sức mạnh, nguồn lực và CSĐN để đạt được các mục tiêu mà mình đã đề ra. - CQ B. Obama thiết lập một cục diện quan hệ khu vực cân bằng. - Mục tiêu của CQ B. Obama mang tính thực dụng cao, không chỉ nhằm củng cố vị thế lâu dài của Mỹ ở khu vực mà còn phục vụ mục tiêu tìm kiếm sự ủng hộ và hỗ trợ cụ thể đối với các vấn đề khu vực và toàn cầu mà Mỹ có lợi ích. - CQ B. Obama coi trọng, thúc đẩy vai trò và ảnh hưởng trong các cơ cấu KV. - Những điều chỉnh chính sách mạnh nhất của CQ B. Obama là đối với tổ chức ASEAN và các nước ĐNA. - Về sự tôn trọng giá trị chung của thế giới và đặc điểm riêng của từng quốc gia. Trong suốt 2 nhiệm kỳ lãnh đạo nước Mỹ, CSĐN này đã bước đầu đạt được mục tiêu duy trì sự hiện diện của Mỹ tại khu vực và vẫn giữ được lợi ích của Mỹ và đồng minh. 4.2. Thành tựu và hạn chế trong chính sách của Mỹ đối với ĐNA dưới thời TT B. Obama 4.2.1. Thành tựu - Bảo vệ và gia tăng lợi ích của Mỹ trong khu vực. Việc tăng cường tham gia của Mỹ trong các tổ chức khu vực đã góp phần củng cố niềm tin của các quốc gia châu Á vào sự tái can dự của Mỹ trong khu vực. - Đẩy lùi được ảnh hưởng của Trung Quốc ở các nước đồng minh truyền thống và ở Myanmar. Như vậy, mức độ đối đầu giữa Washington và Bắc Kinh tại khu vực sẽ tăng lên nhưng để đẩy lùi được ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực này cũng không phải là chuyện dễ. - Quan hệ giữa Mỹ và các nước ĐNA khác phát triển mạnh - Gia tăng quan hệ mậu dịch đầu tư với các nước ĐNA - Thu hút thêm một số nước ĐNA tham gia Hiệp định TPP. 4.2.2. Hạn chế - Không kiềm chế được các hoạt động gây hấn của TQ ở biển Đông. - Uy tín của Hoa Kỳ đối với khu vực ĐNA chưa được cải thiện và sự phân tâm của các quốc gia châu Á về vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ. - Nhận thức về CA-TBD nói chung và ĐNA nói riêng của Mỹ chưa rõ ràng. Hoa Kỳ chưa sẵn sàng chấp nhận những thay đổi cân bằng quyền lực đối với khu vực CA-TBD và vì vậy, các chiến lược của Hoa Kỳ suy cho cùng cũng hướng vào việc khẳng định vị thế độc tôn của Hoa Kỳ. Nếu không chấp nhận sự thay đổi thì không thể có một chiến lược phù hợp, do đó khó có thể khẳng định chiến lược CA-TBD của Hoa Kỳ có tính khả thi cao. 4.3. Tác động chính sách ĐNA của CQ TT Obama 4.3.1. Đối với Mỹ Trong hai nhiệm kỳ cầm quyền (2009-2016), TT B. Obama đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược và triển khai chính sách đối ngoại mới theo hướng linh hoạt, mềm dẻo, thực dụng. Các kết quả thu được từ chính sách ĐNA góp phần quyết định vào sự thành công của chính sách xoay trục về châu Á của Mỹ Thành công lớn nhất mà vị Tổng thống thứ 44 của lịch sử nước Mỹ đã làm được là chỉ trong một thời gian hết sức ngắn ngủi ông đã thay đổi được đáng kể hình ảnh nước Mỹ trong con mắt cộng đồng quốc tế. Chính sách xoay trục châu Á của CQ Obama thể hiện những bước đi mới khi đặt ĐNA vào vị trí trung tâm của chiến lược toàn cầu. Đây vừa là sự kế thừa linh hoạt những chính sách hợp lý và hiệu quả từ chính quyền tiền nhiệm, vừa cho thấy những tư duy, chiến lược mới phù hợp với thực trạng của nước Mỹ. Châu Á được Mỹ quan tâm nhiều hơn, thể hiện qua chính sách “xoay trục” của CQ Obama với sự vận dụng “sức mạnh thông minh”, trong nhiệm kỳ tiếp theo, Mỹ sẽ tiếp tục có những động thái vừa nhằm “trấn an” các đồng minh của mình trên cơ sở thực hiện các hiệp ước phòng thủ chung đã ký kết, vừa đưa ra những cam kết theo sau đó trong những lĩnh vực chủ chốt. 4.3.2. Đối với ASEAN 4.3.2.1. Tác động tích cực Chính sách xoay trục châu Á với trọng tâm là khu vực ĐNA của CQ TT B. Obama đã tạo ra những thời cơ mang giá trị tích cực, đó là (i) việc tạo thuận lợi cho ASEAN xây dựng thành công AC vào cuối năm 2015; (ii) giúp ASEAN duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực đang định hình ở Đông Á; (iii) buộc Trung Quốc phải điều chỉnh lập trường giải quyết vấn đề biển Đông và (iv) nâng cao vị thế của ASEAN trong quan hệ với các nước lớn khác. 4.3.2.2. Tác động tiêu cực - Làm tăng thêm cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. - Mặc dù có những điều chỉnh trong chính sách, song Mỹ vẫn gia tăng sức ép về chính trị đối với ASEAN ảnh hưởng đến an ninh chính trị và chủ quyền quốc gia trong khu vực. - Cuộc tấn công khủng bố gần đây ở các quốc gia ĐNA và cuộc tấn công đẫm máu tại thủ đô Paris vào đêm ngày 13/11/2015 khiến cả thế giới bàng hoàng. Như vậy, sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với ĐNA đã gây tác động không nhỏ đến hòa bình, ổn định, an ninh và phát triển của khu vực. Chính sách này tạo ra nhiều thuận lợi, nhưng đồng thời cũng khiến cho các nước trong khu vực lo ngại về khả năng can thiệp, kiểm soát và khống chế của Mỹ. 4.3.3. Đối với quan hệ quốc tế ở ĐNA 4.3.3.1. Phản ứng của Trung Quốc đối với chính sách ĐNA của Mỹ Tích cực Thái độ của Trung Quốc đối với chính sách ĐNA của CQ B. Obama được thể hiện thông qua các nội dung cơ bản sau: (i) Củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nga để đối phó với liên minh Mỹ-Nhật và việc Mỹ chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực ĐNA; (ii) Hóa giải quan hệ với Ấn Độ, không để Ấn Độ ngả theo Mỹ và Nhật Bản; (iii) Dùng kinh tế để lôi kéo, phân hóa ASEAN, không để các nước này ngả theo Mỹ; (iv) Xâm nhập sâu vào Trung Á, giành ảnh hưởng với Nga và Mỹ tại khu vực này; (v) Tạm hòa hoãn với Mỹ nhưng tìm cơ hội có thể lẫn Mỹ cả về kinh tế và chính trị-an ninh. Giữ quan hệ Trung Quốc-Mỹ ổn định qua đề nghị xây dựng “quan hệ nước lớn kiểu mới” với Mỹ. Tiêu cực Với chiến lược ngoại giao mềm mỏng, khéo léo, tại cuộc gặp Thượng đỉnh không chính thức giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Tập Cận Bình tại California (6/2013), Mỹ tỏ ra thiện chí tái ổn định quan hệ Mỹ-Trung Quốc, hai nước thỏa thuận thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các vấn đề và lĩnh vực có chung lợi ích như đối phó với biến đổi khí hậu và quan hệ thương mại. Đối với vấn đề biển Đông, mục tiêu chính trong sự trỗi dậy quân sự của Trung Quốc đối với khu vực biển Đông là nhằm giải quyết hai vấn đề: Một là khẳng định chủ quyền trên Biển Đông; Hai là răn đe những nước bị coi là xâm phạm chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc. 4.3.3.2. Phản ứng của Nga đối với chính sách ĐNA của Mỹ Tích cực Trước chiến lược quay trở lại Châu Á của Mỹ, Nga chú trọng cải thiện và phát triển quan hệ song phương với các nước CA-TBD. Đối với Nhật Bản, Tổng thống V. Putin đã thay đổi chính sách cứng rắn của người tiền nhiệm, thể hiện nguyện vọng hợp tác mạnh mẽ với nước này. Sau khi tái đắc cử, Tổng thống Nga V. Putin tiếp tục thực hiện nguyên tắc vừa đấu tranh vừa hợp tác, thúc đẩy cân bằng chiến lược và hợp tác thiết thực với Mỹ. Đồng thời, Nga tăng cường hiện đại hóa quân đội với trọng tâm là tăng cường sức mạnh cho Hạm đội Thái Bình Dương. Nga cũng tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng trên đảo Kuril, nơi đang diễn ra tranh chấp với Nhật Bản. Tiêu cực Những nguy vơ bất ổn do tranh chấp lãnh thổ, mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo, nạn khủng bố, cướp biển, buôn lậu vũ khí...đặc biệt là tranh chấp lãnh hải giữa các nước đang diễn biến căng thẳng. Các cặp cạnh tranh chiến lược Mỹ-Nga, Trung-Nhật, nhất là cặp cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt. Thêm vào đó, sự gia tăng về hiện đại hóa quốc phòng của các nước có thể tạo ra một vòng xoáy chạy đua vũ trang mới giữa Nga-Mỹ trong khu vực. Vì vậy, các nước ĐNA cần tích cực hợp tác, xây dựng một thể chế an ninh KV linh hoạt nhằm gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển cho khu vực trọng tâm địa chính trị toàn cầu. 4.3.3.3. Các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, EU  Trước chiến lược đối với ĐNA với chủ trương “Chúng ta sẽ tăng cường hiện diện ở ĐNA” của TT Obama khi tuyên bố chiến lược này tại Nhà trắng. Nhiều nhà khoa học chính trị và là chuyên gia về CSĐN Mỹ đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc và một số quốc gia khác nhận định Mỹ đang xây dựng một liên minh gồm những nước châu Á để ngăn chặn Trung Quốc mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ở ĐNA. Một số nhà phân tích Pháp lại cho rằng, hệ thống đồng minh của Mỹ từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Singapore kéo dài xuống tận Australia, một vành đai trải dài từ Bắc xuống Nam theo hình vòng cung đang hình thành vây quanh Trung Quốc. 4.4. Triển vọng của chính sách ĐNA của Mỹ hậu Obama 4.4.1. Cơ hội Các kết quả chính sách ĐNA của chính quyền B. Obama tạo thuận lợi cho chính phủ kế tiếp ở Mỹ tiếp tục thúc đẩy hợp tác với ASEAN và hoan nghênh sự can dự tiếp tục của Mỹ Như vậy, kết quả CS ĐNA của CQ Obama tạo thuận lợi cho chính phủ kế tiếp ở Mỹ tiếp tục thúc đẩy hợp tác với ASEAN và các nước thành viên . Từ những hợp tác này, các nước ĐNA hoan nghênh sự can dự tiếp tục của Mỹ nhằm duy trì hoa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. 4.4.2. Thách thức 4.4.2.1. Thách thức từ bên ngoài Chính sách mới của Trung Quốc đối với ĐNA và tác động của nó tới quan hệ Mỹ - ASEAN - Trung Quốc biết rõ vai trò và ảnh hưởng của Indonesia trong ASEAN. Các sáng kiến hợp tác do các đối tác bên ngoài đưa ra với ASEAN, nếu nhận được sự ủng hộ của Jakatar rất dễ được các nước thành viên khác chấp nhận. - Quan hệ Trung Quốc - Indonesia đã và đang phát triển rất tốt đẹp. Năm 2005, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với nhau. Trong chuyến thăm Indonesia của Chủ tịch Tập Cận Bình lần nay, Trung Quốc và Indonesia, một lần nữa, đã quyết định nâng quan hệ của họ lên tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nghị viện Indonesia, một nhà lãnh đạo nước ngoài được mời như vậy. Cạnh tranh của các nước lớn khác Với vị thế và tầm quan trọng của khu vực ĐNA, không chỉ các nước trong khu vực gia tăng ảnh hưởng mà các nước ngoài khu vực cũng tích cực can dự nhằm tìm kiếm lợi ích chính trị, kinh tế ở khu vực này. Cuộc tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc khác tại CA-TBD khiến khu vực vốn đã tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn lại càng phức tạp hơn. Bên cạnh sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt giữa Mỹ - Trung tại khu vực, còn có sự cạnh tranh của các nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản, Nga, EU. Bận rộn đối phó với IS và cuộc khủng hoảng Ukraine Thứ nhất, Mỹ đã thành công trong việc lôi kéo Ukraine ra khỏi tầm ảnh hưởng của Nga bằng cách khuấy động “cuộc cách mạng Maidan”. Thứ hai, cuộc khủng hoảng Ukraine dẫn đến quan hệ giữa Nga và châu Âu đã trở nên căng thẳng, do đó đã tăng cường các mối quan hệ của Mỹ với các đồng minh châu Âu. Để đối phó với IS, TT Obama đã đề ra chiến lược chống khủng bố với mục tiêu làm suy yếu rồi cuối cùng tiêu diệt IS hoàn toàn thông qua một chiến lược toàn diện và bền vững: (i) Mỹ sẽ tiến hành chiến dịch không kích có hệ thống nhằm vào những tên khủng bố này; (ii) tăng cường hậu thuẫn các đơn vị chiến đấu mặt đất chống lại bè lũ khủng bố; (iii) tiếp tục nâng cao khả năng chống khủng bố của bản thân; (iv) viện trợ nhân đạo cho dân thường vô tội. 4.4.2.2. Thách thức từ bên trong Thay đổi quyền lực ở Mỹ Khi lên cầm quyền Tổng thống B. Obama phải thừa hưởng một loạt những khó khăn đẻ lại cho nước Mỹ sau 8 năm cầm quyền của đản Cộng hòa. Thứ nhất, nước Mỹ đang trải qua một cuộc suy thoái kinh tế trầm trọng và còn phải đương đầu cùng một lúc với hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan, vào thời điểm này, lòng tin của người dân Mỹ đối với chính quyền giảm sút nghiêm trọng. Thứ hai, uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới không còn được như trước do sự sa lầy trong cuộc chiến ở Iraq và CSĐN của CQ TT G. W. Bush. Trong 4 năm cầm quyền vừa qua, CSĐN của CQ Obama cũng đã có những dấu ấn nhất định, song song với kế hoạch tiếp tục cuộc chiến ở Afghanistan, Mỹ sẽ đẩy mạnh chính sách can dự toàn diện khu vực CA-TBD, đặc biệt là ở ĐNA, để ngăn chặn ảnh hưởng và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Các vấn đề trong nước cần tập trung giải quyết Tổng thống B.Obama ghi dấu ấn với hàng loạt những thành tựu đối ngoại quan trọng khác như đạt được Quyền đàm phán nhanh của Quốc hội để tiến tới việc ký kết Hiệp định TPP, nỗ lực chiến dịch chống lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, hay củng cố các mối quan hệ đồng minh của Mỹ, cải thiện quan hệ với thế giới Hồi giáo. CQ Obama cũng phải đối mặt với tình hình bất ổn của nước Mỹ. Sự kiện một số cơ quan của chính phủ Mỹ phải ngừng hoạt động vừa qua vì lý do ngân sách cho thấy sự suy yếu sức mạnh Mỹ từ chính cơ cấu cạnh tranh hai đảng Dân chủ và Cộng hòa trong hệ thống chính trị Mỹ. 4.4.3. Các kịch bản về chính sách ĐNA của Mỹ hậu Obama Kịch bản thứ nhất: Mỹ quan tâm hơn đến ĐNA Kịch bản thứ hai: Mỹ giảm bớt quan tâm đến ĐNA Kịch bản thứ ba: Chính sách của Mỹ đối với ĐNA vẫn tiếp tục như hiện nay 4.5. Tác động của chính sách đối với ĐNA của CQ TT Obama đến Việt Nam 4.5.1. Tác động 4.5.1.1. Tích cực - Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, quan hệ Việt-Mỹ cũng đã có những tiến triển theo hướng cởi mở hơn, trên cả cấp độ song phương và đa phương. Đối với vấn đề biển Đông, chính sách đối ngoại Mỹ tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, vì thế Mỹ muốn thấy sự hợp tác cùng phát triển chứ không phải xung đột vũ trang xảy ra tại biển Đông. - Trong lĩnh vực kinh tế thương mại, Mỹ muốn quan hệ với Việt Nam để phục vụ cho chiến lược CA-TBD và dành lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp Mỹ. Đây sẽ là cơ hội tốt cho Việt Nam để tranh thủ những ưu thế của Mỹ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, thông qua việc đàm phán thành công Hiệp định TPP đã mở ra một cơ hội mới cho Việt Nam trong quan hệ kinh tế thương mại với Hoa Kỳ. - Về giáo dục đào tạo, văn hóa xã hội, Mỹ đẩy mạnh liên kết, hợp tác giáo dục đào tạo với mục tiêu: tạo sự liên kết giữa các trường đại học và cao đẳng của hai nước; tăng số lượng người Việt Nam sang học tập đào tạo ở Hoa Kỳ theo các chương trình khác nhau; chú trọng đẩy mạnh hỗ trợ và phát triển hệ thống giáo dục đào tạo tư nhân ở nhiều cấp học tại Việt Nam. 4.5.1.2. Tiêu cực - Thách thức với giữ vững độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và định hướng XHCN. - Sức ép trong quan hệ ngoại giao, cân bằng quan hệ giữa các nước lớn. Các nước lớn xác định Việt Nam có vai trò quan trọng trong chiến lược tại khu vực nhưng giữa các nước lớn lại có sự cạnh tranh quyết liệt tranh giành ảnh hưởng, nổi bật lên là sự cạnh tranh Mỹ -Trung. Việc Mỹ quay trở lại CA-TBD cũng nằm trong mục tiêu kiềm chế sự “trỗi dậy” của Trung Quốc. 4.5.2. Khuyến nghị đối với Việt Nam 4.5.2.1 Về an ninh quân sự Việt Nam một nước nhỏ trong khu vực và trên thế giới, cần hết sức cảnh giác với cả âm mưu, thủ đoạn của các nước lớn; đề phòng các nước lớn lại chơi trò mua bán, thỏa hiệp về lợi ích đối với các nước nhỏ. Trong thời gian tới, nhiều khả năng có thể xảy ra xung đột quân sự lớn. Những động thái mới của Mỹ và các nước trên biển Đông làm cho nhiều nước trong khu vực lo ngại, điều này sẽ tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Việt Nam cần phải hết sức cảnh giác, luôn tỉnh táo, tập trung phát triển đất nước một cách hài hòa. 4.4.2.2. Về mặt kinh tế Mỹ sử dụng kết hợp nhiều chính sách xoay quanh việc vừa đánh đổi lợi ích kinh tế, vừa sử dụng nhiều biện pháp thúc ép Việt Nam đẩy mạnh đổi mới kinh tế, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật, hội nhập khu vực và quốc tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Mỹ. CQ Obama tập trung thực hiện mục tiêu đưa kinh tế Mỹ ra khỏi khủng hoảng thông qua tăng cương hợp tác kinh tế quốc tế. Ngoại trưởng H. Clinton đã nêu rõ: Mỹ coi quan hệ kinh tế-thương mại là nền tảng và động lực của quan hệ Việt - Mỹ. Điều này cũng phù hợp với chủ trương và chính sách của Việt Nam trong phát triển quan hệ kinh tế-thương mại với Mỹ. 4.4.2.3. Về quan hệ chính trị ngoại giao CQ Obama coi Việt Nam là nhân tố có thể hợp tác để thúc đẩy lợi ích của Mỹ tại khu vực. Theo đó, chính sách đối với Việt Nam của CQ Obama về cơ bản tiếp tục chiều hướng chính sách của CQ Bush, đó là tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhiều mặt với Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục-đào tạo, khoa học-kỹ thuật, an ninh quốc phòng trong khi vẫn tìm cách gây sức ép đối với Việt Nam thông qua các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo. Điểm mới trong chính sách của CQ Obama đối với Việt Nam là Mỹ coi trọng hơn vai trò khu vực của Việt Nam và có sự phối hợp chặt chẽ hơn trước trong các vấn đề quốc tế và khu vực. Tiểu kết Chương 4 Với những phân tích nêu trên về chính sách của Mỹ đối với khu vực ĐNA, chúng ta có thể nhận thấy Mỹ đang định hình dần một cách hiệu quả hơn, các mối quan hệ của Mỹ trong khu vực trên nguyên tắc quan hệ song phương và đa phương phù hợp với lợi ích của cường quốc số một thế giới. Trong thời gian tới, việc điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với ĐNA không chỉ nằm trong chiến lược toàn cầu mới của Mỹ mà còn nằm trong sự thay đổi tư duy, nhìn nhận một cách sáng suốt hơn của chính quyền Mỹ đối với khu vực. KẾT LUẬN Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, đã tác động mạnh mẽ đến các quốc gia nói chung và nước Mỹ nói riêng. Sự kiện khủng bố 11/9/2001 đã tác động sâu sắc tới đời sống chính trị nước Mỹ và làm đảo lộn tình hình chính trị-an ninh thế giới bởi sau sự kiện này CQ TT G. W. Bush phát động cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu với trọng tâm là Iraq, Afghanistan và đưa một số quốc gia vào danh sách các nước “trục ma quỷ” và không thân thiện với Mỹ như: Iraq, Iran, Bắc Triều Tiên, Sudan, Lybia, Syria...Toàn cầu hóa trở thành xu thế chủ đạo của thế giới, lôi cuốn tất cả các quốc gia vào vong quay của nó, tác đông sâu sắc đến mọi quốc gia trong đó có Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu với khởi nguồn từ sự sụp đỗ của thị trường nhà đất Mỹ đã và đang để lại nhiều hệ lụy tiêu cực đối với nền kinh tế thế giới trong đó có kinh tế Mỹ. Trung Quốc với thực lực chính trị, quân sự, kinh tế vững mạnh sau gần 3 thập kỷ tiến hành “cải cách mở cửa” đã từ bỏ CSĐN “dấu mình chờ thời” được Đặng Tiểu Bình đề ra tại Đại hội XIV (1992) để chuyển sang chiến lược “ngoại giao nước lớn” tại Đại hội XVII (12/2007), sẵn sàng tranh giành ảnh hưởng với các cường quốc và các nước láng giềng ở nhiều “điểm nóng” và khu vực mà nước này coi là có “ảnh hưởng” hoặc “lợi ích cốt lõi” như biển Đông; sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết các tranh chấp ở vùng biển này nếu thấy đó là cần thiết. Các quốc gia ASEAN sau hơn 4 thập kỷ hình thành và phát triển đã trở thành tổ chức có tốc độ phát triển năng động hàng đầu thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế: 7% (1993-2008), nhiều nước đã trở thành những quốc gia công nghiệp mới (NICs) như Singapore, các con hổ kinh tế như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến chống khủng bố đã góp phần làm suy giảm sức mạnh tổng hợp của nước Mỹ, tốc độ tăng trưởng kinh tế dưới 0% (2007-2009), nợ nước ngoài tăng cao trên 12.000 tỷ USD (2009) [4, tr. 59-67]. Bên cạnh đó, các vấn đề xã hội nảy sinh đe dọa đến sự ổn định của xã hội: biểu tình chiếm lấn phố Wall, tệ phân biệt chủng tộc. Mỹ không còn đủ sức để ngăn chặn bành trướng quân sự của Trung Quốc ở CA-TBD, Mỹ Latinh, biển AĐD. Những nhân tố trên đã làm cho chính quyền Mỹ dưới thời Bush, một là, không có nhiều điều kiện và thời gian để giàn trải các mối quan tâm đến những địa bàn chiến lược của mình; đặc biệt là ĐNA, khu vực vốn là địa bàn ảnh hưởng truyền thống của Mỹ trong nhiều thế kỷ. Hai là, không có các biện pháp răn đe về chính trị, kinh tế với Trung Quốc sau khi nước này mở rộng ảnh hưởng ở khu vực ĐNA và xây dựng mối quan hệ đồng minh với nhiều quốc gia trong khu vực như: Campuchia, Myanmar. Điều này, tạo cơ hội để Trung Quốc gia tăng sức mạnh ở khu vực chiến lược này. Đứng trước bối cảnh quốc tế, khu vực và nước Mỹ có nhiều biến động theo chiều hướng phức tạp khó lường, nhất là khi sức mạnh, ảnh hưởng của Mỹ ở ĐNA đã bị suy giảm dưới thời G. W. Bush. Sau khi lên nắm quyền ở Mỹ (1/2009), TT Obama và nội các đã thực hiện chiến lược “xoay trục sang châu Á” nhằm từng bước lấy lại vị thế của Mỹ ở địa bàn chiến lược này. Chiến lược này của CQ B. Obama thể hiện những bước đi mới khi đặt ĐNA vào vị trí trung tâm của chiến lược toàn cầu. Đây vừa là sự kế thừa hết sự linh hoạt trong những chính sách hợp lývà sự hiệu quả trong các CQ tiền nhiệm, vừa cho thấy những tư duy, chiến lược mới phù hợp với thực trạng và sức mạnh của nước Mỹ. Thông qua chiến lược này, nước Mỹ tiếp tục duy trì sự quan tâm mạnh mẽ đến khu vực ĐNA và cho dù ĐCH hay ĐDC lên nắm chính quyền, siêu cường này vẫn sẽ theo đuổi chính sách tăng cường sự can dự vào khu vực như CQ B. Obama đã làm trong hai nhiệm kỳ vừa qua với các hướng trọng tâm chính là: quan hệ với Trung Quốc, quan hệ với các nước đồng minh, với tổ chức ASEAN và hoạt động tại các cơ chế đa phương trong khu vực. Quan hệ của Mỹ với các quốc gia ĐNA nói chung và ASEAN nói riêng được hình thành từ trong lịch sử. Mỹ và ASEAN đã thiết lập quan hệ ngoại giao ngay sau khi tổ chức này ra đời vào ngày 8/8/1967 tại Bangkok (Thái Lan). Trong những năm qua, quan hệ hai bên đã có những bước phát triển hết sức tích cực. Hai bên đã ký nhiều Hiệp định hợp tác song phương quan trọng như Hiệp định hữu nghị hợp tác và thân thiện (TAC) tại Hội nghị cấp cao ASEAN và Mỹ (lúc đó là một đối tác của ASEAN) tại Phuket (Thái Lan) vào năm 2009. Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) chính thức được 12 nước ký kết vào ngày 5/10/2015, trong đó gồm có 4 nước ASEAN là Brunei, Việt Nam, Singapore và Malaysia tham gia. Đây là thành công lớn, một trụ cột về kinh tế trong chính sách “xoay trục sang châu Á” của Mỹ vào CA-TBD. Việc Mỹ sử dụng TPP làm công cụ kinh tế không chỉ giúp Washington duy trì vị thế siêu cường số 1 thế giới mà còn giúp chính quyền B. Obama kiềm chế Trung Quốc. Vì vậy, sự tham gia của Mỹ trong TPP đóng vai trò là đối tác lớn nhất và quan trọng trong suốt quá trình đàm phán. Tháng 10/2010, Mỹ trở thành kênh đối thoại chính thức của ASEAN tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 44 ở Việt Nam. Hai bên đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Sunnylands, California, Mỹ vào ngày 15-16/2/2016. Đặc biệt, ASEAN cần Mỹ để đẩy mạnh các lợi ích chiến lược của mình trong khu vực. Ngược lại, Mỹ cần ASEAN như một đối tác chiến lược quan trọng ở CA-TBD. Việc lựa chọn và thực thi chính sách đối ngoại mới của Mỹ trong thời gian qua đã mang lại những kết quả nhất định cho cả hai phía trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa và giáo dục. Qua đó, phần nào thấy một hình ảnh của nước Mỹ thân thiện, ôn hòa hơn trên chính trường quốc tế. Sự điều chỉnh chính sách của CQ TT B. Obama với ĐNA đã có những cải thiện đáng kể theo hướng tích cực hơn, năng động hơn. ASEAN vẫn sẽ nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ phía Mỹ trong tương lai bởi Mỹ vẫn coi đây là địa bàn chiến lược để mở rộng ảnh hưởng và kiềm chế sức mạnh của Trung Quốc đang ngày càng gia tăng ở khu vực chiến lược này. Thông qua việc phân tích quan hê giữa Mỹ với các nước ĐNA, có thể nhận thấy, nước Mỹ đang dần định hình một cách có hiệu quả hơn các mối quan hệ và đường lối đối ngoại với các quốc gia trong khu vực dựa trên các nguyên tắc quan hệ song và đa phương phù hợp với lợi ích của siêu cường số một thế giới này. Quá trình này không chỉ nằm trong chiến lược toàn cầu mới của Mỹ mà bắt nguồn từ sự thay đổi tư duy, nhận thức một cách sáng suốt hơn của chính quyền Obama với khu vực chiến lược này trong suốt hai nhiệm kỳ làm Tổng thống của ông. Những điều chỉnh chiến lược đối với khu vực ĐNA qua chính sách “xoay trục” sang châu Á của chính quyền Obama đã góp phần củng cố bền chặt mối quan hệ của Mỹ với các nước trong khu vực, duy trì thế cân bằng chiến lược với Trung Quốc ở đây. Đồng thời, tạo sơ sở quan trọng để duy trì, thúc đẩy môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác ở khu vực này. Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ với khu vực ĐNA cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực như thúc đẩy đối đầu Trung-Mỹ lên cao, kích thích các cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, nhất là những nước có tranh chấp chủ quyền với TQ ở trên biển Đông nhưng là đồng minh của Mỹ; kích động và gia tăng các mâu thuẫn, xung đột sắc tộc và tôn giáo trong khu vực; nền độc lập dân tộc và sự ổn định chính trị ở nhiều nước sẽ bị ảnh hưởng do Mỹ vẫn coi “dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo” là vũ khí quan trọng để xác lập ảnh hưởng và duy trì giá trị Mỹ ở khu vực; nguy cơ các nước ĐNA bị lôi cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh ảnh hưởng Trung-Mỹ tăng cao; tính độc lập của ASEAN bị đe dọa bởi sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài; những diễn biến phức tạp trong tình hình biển Đông trước các động thái gây hấn của Trung Quốc và đối đầu giữa TQ và Mỹ, ASEAN và các đồng minh Mỹ ở Đông Á là những nhân tố có thể đe dọa trực tiếp đến quá trình triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ tới các quốc gia ĐNA trong giai đoạn 2009 - 2016. Là một quốc gia ĐNA, thành viên của khối ASEAN, quá trình triển khai chiến lược đối ngoại của Mỹ với khu vực chiến lược này ít nhiều đều có tác động tích cực đối với Việt Nam trên các mặt kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội như: (i) Mâu thuẫn Trung - Mỹ gia tăng sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam xây dựng những quan hệ có lợi cho mình với Mỹ và các đồng minh của họ, các nước này bằng cách này hay cách khác vì lợi ích quốc gia của họ sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam, không để nước ta trở thành “con tốt” trong chiêu bài chính trị của Trung Quốc và Mỹ; (ii) Giúp hiện đại hóa nền kinh tế và đưa Mỹ trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như quan hệ thương mại với Mỹ đạt khoảng 25 tỷ USD (2015) và xuất siêu thường nghiêng về phía Việt Nam; (iii) Tạo thế cân bằng với Trung Quốc ở khu vực và giúp cho Việt Nam thuận lợi hơn trong giải quyết các tranh chấp với Trung Quốc ở biển Đông; (iv) Tạo cơ sở đưa quan hệ Việt - Mỹ có những bước phát triển mạnh mẽ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, văn hóa giáo dục, khoa học kỹ thuật; góp phần nâng quan hệ song phương từ “quan hệ hợp tác hữu nghị” lên “đối tác hợp tác toàn diện” (2013) và có thể nâng cao trong thời gian tới nhất là sau chuyến thăm đầu tiên của Tổng thống Mỹ B. Obama tới Việt Nam vào tháng 5/2016 tới. Bên cạnh đó, chiến lược đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Đông Nam Á ít hay nhiều đều có tác động không tốt tới Việt Nam như: đe dọa đến sự toàn vện lãnh thổ trong vấn đề biển Đông; nền độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa bị ảnh hưởng bởi chiến lược “Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”, cùng các chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, dân tộc và tôn giáo” của Mỹ; nguy cơ bị lôi cuốn vào vòng cạnh tranh ảnh hưởng Trung-Mỹ; nền kinh tế có sức cạnh tranh yếu dễ bị tổn thương trước sự xâm nhập mạnh của hàng hóa Mỹ, Trung Quốc; các doanh nghiệp Việt Nam vốn chưa có nhiều kinh nghiệm trong các sân chơi thương mại quốc tế, thiếu hiểu biết pháp luật quốc tế, sức hấp dẫn kém sẽ dễ dàng bị thua ngay tại sân nhà. Do đó, việc lựa chọn chính sách phù hợp trong quan hệ với Mỹ ngày càng có tầm quan trọng với Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Do vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của Mỹ trong cục diện chính trị, an ninh và kinh tế nên Việt Nam cần chú trọng hơn nữa cấc biện pháp thúc đẩy hợp tác với Mỹ trên mọi phương diện thông qua kênh đối ngoại, bất chấp những khó khăn, thách thức giữa hai bên vẫn còn tồn tại trên một số vấn đề: Dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, sự khác biệt về ý thức hệ và con đường phát triển. Trong quan hệ với ĐNA, Việt Nam cần tăng cường hợp tác nhiều mặt với các nước trong khu vực nói chung và ASEAN nói riêng, phát huy vai trò trung tâm của tổ chức này, phấn đấu xây dựng một ASEAN đoàn kết, phát triển, sau khi Cộng đồng ASEAN ra đời vào ngày 31/12/2015; nhằm giúp Việt Nam phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng với thế giới, bảo đảm an ninh quốc gia và nâng cao khả năng xử lý thành công những biến động phức tạp trong quan hệ quốc tế hiện nay. Đồng thời, thúc đẩy môi trường hòa bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác, tạo điều kiện cho sự phát triển chung của khu vực ĐNA, khối ASEAN và hóa giải thành công điểm nóng tranh chấp trên biển Đông, một chủ thể đang thu hút sự chú ý, quan tâm của cộng đồng quốc tế, do nó đã trở thành điểm đối đầu, xung đột lợi ích không chỉ giữa khối ASEAN với Trung Quốc mà còn giữa các nước lớn (đặc biệt là Mỹ) với cường quốc châu Á này trong những năm qua. Dựa trên cơ sở lý luận là học thuyết đối ngoại Obama, cơ sở thực tiễn là tầm quan trọng của khu vực ĐNA và những bất cập của CSĐN đối với ĐNA trước năm 2009; CQ TT Obama trong giai đoạn 2009 - 2016 tiếp tục theo đuổi mục tiêu đưa nền kinh tế Mỹ phát triển và tái xác lập vị thế kinh tế của Mỹ ở địa bàn chiến lược này, nhất là sau khi vị thế của nước này bị lung lay dữ dội bởi sức mạnh kinh tế, chính trị của Trung Quốc sau CTL; đặc biệt là thời G. W. Bush (2001-2008). Sự can dự của Mỹ đối với khu vực dưới thời vị TT da màu này đã, đang và sẽ tiếp tục tác động, ảnh hưởng đến cấu trúc an ninh khu vực, kéo theo sự điều chỉnh chính sách của các nước, làm cho sự cạnh tranh ảnh hưởng diễn ra quyết liệt hơn và tác động theo chiều hướng thuận, nghịch tới môi trường, an ninh ở ĐNA. Rất khó để đưa ra dự báo chính xác về sự thay đổi CQ của Nhà Trắng sau năm bầu cử 2016, nhưng một điều chắc chắn là, dù ĐDC hay ĐCH lên nắm quyền thì việc điều chỉnh chính sách xoay trục là điều khó tránh khỏi. Sự điều chỉnh này sẽ không lớn bởi tân TT thứ 45 khó có đủ can đảm phá vỡ những giá trị mang tính truyền thống trong chính sách ĐNA của Mỹ. Quan trọng hơn cả, dù vẫn tồn tại không ít điểm yếu, nhưng nhìn chung, chính sách xoay trục của CQ Obama đã giúp nước Mỹ duy trì được vai trò tại ĐNA trong giai đoạn hiện nay và tương lai.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docchinh_sach_doi_voi_dong_nam_a_cua_chinh_quyen_tong_thong_barack_obama_2009_2016_3045.doc
Luận văn liên quan