[Tóm tắt] Luận văn Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

1. Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người đã mở ra một thời đại mới vẻ vang và hiển hách nhất cho lịch sử dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh vinh quang. Người là tấm gương tuyệt vời về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người được cán bộ và nhân dân tuyệt đối tin tưởng, bạn bè kính trọng, kẻ thù kinh sợ, lối phê phán của Người có sức mạnh lớn lao. Người có vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt, có tâm hồn nhạy cảm, có khả năng phản ứng nhanh chóng, sắc bén trước mọi tình hình. Cả cuộc đời Bác là sự đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do của dân tộc, một người suốt đời hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. 2. Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Những sáng tác của Người hết sức phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật. Trong đó ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp thơ văn của Người nói riêng và trong lịch sử văn học, trong đời sống tinh thần của dân tộc nói chung. Trong quá trình sáng tác, Người đã vận dụng nhiều bút pháp khác nhau như châm biếm, trào lộng, chất trữ tình, tính uyên bác trí tuệ cùng với sự đa dạng phong phú về giọng điệu và ngôn từ như giọng giễu nhại, hài hước, cợt mỉa thú vị v.v.Tất cả những bút pháp nghệ thuật đặc sắc trên đã góp nên sự thành công xuất sắc trong các tác phẩm văn học nói chung và trong tác phẩm ký của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói riêng.

pdf26 trang | Chia sẻ: builinh123 | Ngày: 03/08/2018 | Lượt xem: 121 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu [Tóm tắt] Luận văn Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN ĐẶC ĐIỂM KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 60.22.34 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN TPHCM- 2010 Công trình được hoàn thành tại trường Đại Học Vinh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Trí Dũng Phản biện 1: ................................................................. Phản biện 2: ................................................................. Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Họp tại:............................................................................... Vào lúc giờ ngày tháng năm 2010 Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện: Đại học Vinh, Đại học Sài Gòn -TPHCM 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trên con đường hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã nhận ra văn nghệ là một thứ vũ khí vô cùng sắc bén và lợi hại. Người dùng thơ văn nhằm đấu tranh chính trị, tiến công kẻ thù và theo sát những nhiệm vụ của cách mạng trên từng chặng đường lịch sử của dân tộc và tất cả đều thống nhất trên tinh thần “thép” của một người chiến sĩ cách mạng vĩ đại. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người bước đầu đặt nền móng và mở đường cho nền văn học cách mạng. 1.2. Sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một khối đa dạng: phong phú về thể loại, đa dạng về bút pháp, phong cách sáng tạo đặc sắc, ngôn ngữ sáng tác bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và cả tiếng Hán, chủ yếu trên các lĩnh vực: Văn chính luận, Truyện và ký, Thơ ca. Nhưng những tác phẩm ký của Người được viết vào những năm 20 của thế kỉ XX bằng tiếng Pháp và được đăng trên báo Nhân đạo (Hu manite), Người cùng khổ (Le Parie) và một số tác phẩm sau này đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống. 1.3. Văn thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nói chung và một số tác phẩm ký của Người nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình dạy ở các trường học. Do vậy đề tài Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sẽ góp phần nhỏ vào quá trình giảng dạy ký trong nhà trường đạt hiệu quả cao hơn. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2.1. Cuộc đời, sự nghiệp và con người Hồ Chí Minh luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Thống kê theo danh mục trong cuốn Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, 2007 cho đến nay các công 2 trình nghiên cứu, phê bình lớn, nhỏ về thơ văn của Người có đến gần 300 công trình. Có thể thấy các công trình nghiên cứu về thơ văn của Người thường theo các nội dung cơ bản: Thứ nhất, là những công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp thơ văn, phong cách và quan điểm văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Tiêu biểu là của các tác giả Hà Huy Giáp, Trần Thanh Mại, Đái Xuân Ninh, Phạm Huy Thông, Cù Đình Tú, Thứ hai, là những bài nghiên cứu, phê bình về thơ Hồ Chí Minh như Vài suy nghĩ nhỏ về tư tưởng mĩ học Hồ Chí Minh qua sáng tác thơ của Nguyễn Đăng Mạnh, bài Tư duy nghệ thuật trong thơ Hồ Chí Minh của Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, bài Từ nguyên tác đến bản dịch Nhật kí trong tù của Lê Trí Viễn... Thứ ba, là các công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của các bạn nước ngoài như Haririson S.Salisbury với bài Nhà thơ có tâm hồn một con rồng, Anilenđu Sa cơra bôrôty với bài Hồ Chí Minh, con người giản dị và ý chí sắt thép, Viên Ưng với bài Bác Hồ một nhà thơ lớn, Thứ tư, là những công trình nghiên cứu, phê bình những tác phẩm văn xuôi của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hiện nay có khoảng 55 công trình. Trong đó Truyện và ký là đối tượng nghiên cứu của luận văn thì có khoảng trên 30 bài viết về các tác phẩm tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp, Nhật ký chìm tàu, Con người biết mùi hun khói, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,Các tác giả viết về những tác phẩm này phải kể đến Phạm Huy Thông với Nghệ thuật viết văn của Hồ Chủ Tịch qua Truyện và Ký; Hà Minh Đức với Tác phẩm văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục, 1997; Nguyễn Đăng Mạnh, 3 Phong Lê, Phùng Văn Tửu với Vị trí Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc trong văn học Việt Nam, 2.2. Phong cách nghệ thuật trong thơ văn của Người là sự phản ánh người thật, việc thật với sự độc đáo, đa dạng và thống nhất, kết hợp sâu sắc và nhuần nhị giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. Tác giả Nguyễn Nghiệp đã nhận xét trong bài Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc mở ra một giai đoạn mới trong văn học như sau: “Sự cô đọng, súc tích, nét bút mô tả chắc mà hoạt cũng là một đặc điểm chung của truyện và ký Hồ Chủ tịch. Khó mà tìm thấy được một đoạn thừa, một chi tiết thừa nào trong tác phẩm của Người”. Tác giả Hoàng Dung thì lại cho rằng: “Người đã viết những truyện và ký như một ngòi bút phương Tây sắc sảo, điêu luyện rất Pháp. Không hiểu điều đó, chúng ta sẽ hết sức ngỡ ngàng. Ngòi bút của Người vốn giản dị. Giản dị vốn là phong cách hàng đầu của thơ văn Người” (Mấy suy nghĩ về giảng văn và giảng thơ văn Bác Hồ). Phạm Huy Thông trong Mấy lời nói đầu của tác phẩm Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Bút pháp sở trường của Người ở đây là châm biếm. Trong chừng mực nào nụ cười của Người xuất phát từ phong cách trào lộng của Người, trong chừng mực nào từ tính hài hước của người Pháp, mà phương châm sáng tác của Người vốn gọn, nhẹ, cho nên cách viết của Người đã dễ chinh phục bạn đọc. Lối chỉ trích của Người sắc sảo nhưng không đao to búa lớn mà bằng cười ruồi, nói mát càng làm cho văn Người thu hút cảm tình” [47,14-15]. Sách Văn học 12 (Tập 1), trong bài Phong cách nghệ thuật cũng cho rằng những tác phẩm Truyện và ký của Người rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén. 4 Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Ái Quốc tuy nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thuý, sâu cay. Phạm Huy Thông nhận xét: “Văn tiếng Pháp của Nguyễn Ái Quốc có đặc điểm nổi bật là dí dỏm, là hài hước. Điều đó không ngăn Người đã viết nên những lời thắm thiết trữ tình khi xúc động” [5,28]. Xích Điểu trong bài Văn châm biếm, đả kích địch qua một số bài viết của Bác Hồ đã viết: “Tiếng cười đả kích châm biếm của Bác Hồ bao giờ cũng thanh nhã, dí dỏm nhưng vẫn rất mạnh mẽ sâu cay. Đó là tiếng cười của kẻ mạnh, của người có lòng tin sắt đá vào thắng lợi của chính nghĩa. Nhờ vậy tác phẩm của Bác Hồ không những gây được lòng căm thù cho người đọc, làm họ khinh miệt kẻ địch mà còn giúp họ ý thức được sức mạnh của mình” [62,311]. Nói tóm lại, khi nhận xét về ký Nguyễn Ái Quốc có rất nhiều ý kiến hay, xác đáng, tinh tế và nhìn chung thì tất cả những nhận xét đó đều cho rằng ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện được bản lĩnh, nghị lực và bút pháp rất riêng của con người Bác. 3. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. 3.2. Phạm vi tƣ liệu khảo sát Về phạm vi tài liệu: Luận văn dựa vào Bản án chế độ thực dân Pháp - Nguyễn Ái Quốc, Nxb Sự thật Hà Nội(1975); Pari(1922); Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (2008), Trần Dân Tiên, Nxb Nghệ An; Vừa đi đường vừa kể chuyện (2007), TLan, Nxb Trẻ; Nhật ký chìm tàu (1930),Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin; Truyện và ký (1974), Nguyễn Ái Quốc, Nxb Văn học Hà Nội, 5 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Thực hiện đề tài này chúng tôi đặt ra 3 nhiệm vụ chủ yếu: 4.1. Xác định vai trò, vị trí của thể loại ký trong sự nghiệp thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. 4.2. Tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. 4.3. Tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Cuối cùng rút ra một số kết luận về đặc điểm ký nói riêng trong toàn bộ phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nói chung. Khẳng định thêm về tính hiện đại, tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sắc bén trong các tác phẩm ký của Người. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp lịch sử - lôgic; Phương pháp tiếp cận thi pháp học; Phương pháp phân tích - tổng hợp; Phương pháp so sánh - đối chiếu. 6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn 6.1. Đóng góp của luận văn Luận văn góp phần một phần nhỏ làm rõ hơn đặc điểm nội dung và hình thức ký của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trên một cái nhìn hệ thống, toàn diện. Hi vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo cho những người giảng dạy và quan tâm đến thể loại ký. 6.2. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: 6 Chương 1. Thể loại ký trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Chương 2. Nội dung ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Chương 3. Nghệ thuật ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Chƣơng 1 THỂ LOẠI KÝ TRONG SỰ NGHIỆP THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 1.1. Khái niệm ký và các đặc trƣng cơ bản của ký 1.1.1. Khái niệm ký Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về ký, để có một định nghĩa tương đối chính xác về ký thì chúng ta cần giới hạn phạm vi phản ánh của nó. Chúng ta có thể liệt kê một số phạm vi giới hạn ký qua các hệ thống phân loại như: *Theo hệ thống Thơ - tiểu thuyết - kịch – ký: Theo hệ thống này, ký bao hàm các loại văn xuôi còn lại, và nếu chấp nhận hệ thống trữ tình - tự sự - kịch thì có thể một số tác phẩm giàu chất trữ tình mà từ trước đến nay thường được gọi là ký tuỳ bút cần phải được xếp vào loại trữ tình. *Theo hệ thống trữ tình - tự sự - kịch: Hệ thống này đúng cho văn chương thẩm mỹ mà không bao gồm hầu hết các loại, vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao đó là các loại văn chính luận. Các giới thuyết trên cho thấy ký có thể phân biệt được với kịch, trữ tình và chính luận. Vì vậy, ký chỉ còn liên quan đến loại tự sự. Tóm lại, khi đưa ra khái niệm về ký thì theo xu hướng chung hiện nay có các ý kiến như sau: 7 Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong “Từ điển thuật ngữ văn học”: Ký (tiếng Nga: ocherk, tiếng Pháp: essai, reportage) là “Loại hình trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký. Đối tượng nhận thức của thể ký thường là “Một trạng thái đạo đức – phong hoá xã hội”, hay “Một trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng”. Ký mang tính thời sự, phản ánh chân thực cuộc sống, phơi bày hiện thực xã hội. Ký có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu. Theo Hà Minh Đức, ký văn học có thể chia làm 3 loại: ký tự sự (phóng sự, ký sự, hồi ký, truyện ký,); ký trữ tình (tuỳ bút, nhật ký,); ký chính luận (các dạng tiểu phẩm văn học, tạp văn, tạp ký,). Từ điển Tiếng Việt định nghĩa ký là một “Thể văn tự sự viết về người thật, việc thật, có ý nghĩa thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao nhất”. Trong Thuật ngữ nghiên cứu văn học, thể loại ký được xem là “Một loại hình văn học tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả người thật, việc thật Hình tượng của ký có địa chỉ của nó trong cuộc sống. Do đó, tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của nó”. 1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của ký *Tính chân thực (tiếng Pháp: véridicité) Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) thì tính chân thực là khái niệm để chỉ “Phẩm chất tạo nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn học, thể hiện ở sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học với đối 8 tượng phản ánh của nó, ở sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống, giữa sự sáng tạo nghệ thuật với tất yếu lịch sử. *Tính hiện thực (tiếng Pháp: réalité) Là một hình thái ý thức xã hội, tất cả các yếu tố, các chỉnh thể văn học, từ nội dung đến hình thức, từ trào lưu văn học đến phương pháp sáng tác, thể loại văn học đều bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, từ đời sống xã hội. Do vậy tính hiện thực là một thuộc tính tất yếu có ý nghĩa quy luật. Điều này gần như là một điều kiện bắt buộc không thể thiếu trong một tác phẩm ký. *Tính hấp dẫn: Ký hấp dẫn người đọc ở nội dung phản ánh vì đó là những vấn đề mà xã hội quan tâm và bên cạnh đó ký đã sử dụng bút pháp, kết cấu, ngôn ngữ đa dạng, sinh động. Ký với cách sử dụng các biện pháp châm biếm, giọng điệu hài hước pha lẫn sự giễu cợt nhằm phê phán, lên án một con người, một hiện tượng xấu nào đó trong xã hội. Ký cũng thể hiện thái độ xót xa thương cảm, đầy tinh thần trách nhiệm của người viết đối với những bất công, ngang trái trong cuộc đời. Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm ký. 1.2. Thể loại ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 1.2.1. Những tác phẩm ký sáng tác trước Cách mạng tháng Tám Khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt những bài ký có giá trị, vốn tri thức uyên bác, hành văn biến hoá, dựng cảnh, dựng người gây ấn tượng đậm nét, nghệ thuật châm biếm sắc sảo, tinh thần chiến đấu mãnh liệt. Các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp, hàng loạt các bài báo in trên các tờ báo Người cùng khổ (Le Paria), Nhân đạo ( L’humanite’), Đời sống thợ thuyền 9 (La vie ouvrìere), Thư tín quốc tế (La correspondance internationale), Sự thật (Pravđa), Tiếng còi, Công nhân Ba-kin-ski,v.v Tác phẩm quy mô nhất là tập phóng sự điều tra Bản án chế độ thực dân Pháp viết bằng tiếng Pháp được xuất bản năm 1925 với hình thức nghị luận xen thể loại ký, là bản án nhằm kết án, phán xét, tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của dân tộc thuộc địa. Tác phẩm Pari được Nguyễn Ái Quốc viết năm 1922, đăng trên báo Nhân đạo là câu chuyện thực về những cảnh đời ở một địa phương nhưng lại mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Nhật ký chìm tàu đã được lưu hành bí mật ở Việt Nam vào khoảng từ năm 1934 và được lưu hành khá phổ biến ở một số tỉnh nhất là Nghệ Tĩnh. Tác phẩm đã thắp sáng trong lòng người đọc niềm tin vững chắc vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng Việt Nam. 1.2.2. Những tác phẩm ký sáng tác sau Cách mạng tháng Tám Tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện (bút danh T Lan), được tác giả viết năm 1950, trên đường ra mặt trận trong chiến dịch Biên giới. Trong cuốn sách này Hồ Chí Minh hoá thân thành một cán bộ trong đoàn tuỳ tùng (T Lan), đi công tác cùng với Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và được Hồ Chí Minh kể chuyện cho nghe nhiều chuyện về đời hoạt động của Người ở nước ngoài, từ khoảng 1923 đến 1945. Tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (bút danh Trần Dân Tiên) là những trang viết xúc động và chân thực, tác giả đã nói về những chặng đường gian nan mà ông Nguyễn trải qua cùng hai bàn tay trắng, ở những xứ sở xa lạ nhưng đó là một chặng đường vinh quang và tự hào. 10 Giấc ngủ 10 năm (1948): Với bút danh Trần Lực, Người đã mượn một cốt truyện, một đường dây sự kiện được xây dựng theo hư cấu tưởng tượng để diễn đạt những tư tưởng và yêu cầu đấu tranh cách mạng. Giấc ngủ 10 năm kể về cuộc đời của một nông dân miền núi ở cả hai chặng đường trước và sau cách mạng. Như vậy, chúng ta đều nhận thấy dù ở bất cứ cương vị nào, dù ở bất cứ thời điểm nào, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đều có những tác phẩm ký có giá trị, ký có vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn học của Người có lẽ vì Người “có nhiều duyên nợ với báo chí” là như vậy. 1.2.3. Đánh giá chung về ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất đa dạng và phong phú. Tuỳ từng hoàn cảnh khác nhau mà Người viết tác phẩm khi là hồi ký, khi viết phóng sự, khi lại ghi chép và có khi là hồi ký xen nghị luận. Chính đặc điểm đa dạng ở thể ký mà Người được coi là một cây bút rất tài hoa và độc đáo. Chƣơng 2 NỘI DUNG KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 2.1. Đả kích, phê phán sâu cay bọn cƣớp nƣớc và bè lũ bán nƣớc Đầu tiên phải nói đến Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc, đây là một tác phẩm viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari năm 1925, được in lại bằng tiếng Pháp tại Hà Nội năm 1994. Năm 1960, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội in bản dịch ra tiếng Việt. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục, với cách hành văn ngắn gọn, súc tích, cùng với những sự kiện đầy sức thuyết phục đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những 11 con người yêu tự do, bình đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường của Cách Mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác – Lê nin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Bản án chế độ thực dân Pháp với những tài liệu và chứng cớ xác thực, Nguyễn Ái Quốc đã viết lên một thiên phóng sự điều tra sinh động, đạt tới mức nghệ thuật cao. Với tác phẩm này, Người đã phơi bày những sự thật tàn nhẫn ở các nước thuộc địa và đồng thời đã gây được lòng căm phẫn trong lòng người đọc phương Tây. Qua tác phẩm, Người đã phơi bày cho người đọc thấy bộ mặt của bọn thực dân khi đặt bộ máy cai trị ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX. Cùng với bọn địa chủ phong kiến tay sai trong nước tiếp tay, thực dân Pháp đã ra sức bóc lột hết sức tàn ác, dã man nhân dân ta khiến đất nước rơi vào cảnh nước mất nhà tan, đời sống bần cùng. Bản án chế độ thực dân Pháp có tác động lớn về nhiều mặt, trước hết, tác phẩm này ra đời giữa lúc mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và đạt tới điểm bùng nổ, tinh thần và ý chí chống đế quốc của nhân dân ta và nhân dân bị áp bức ở các nước khác lên cao, đòi hỏi một ngọn cờ hướng đạo đúng đắn để đi vào một cuộc chiến đấu quyết định vận mệnh lịch sử của dân tộc. Bản án chế độ thực dân Pháp trước hết là một bản cáo trạng. Nó tố cáo tội ác của thực dân không chỉ ở Đông Dương, ở Việt Nam mà ở khắp các thuộc địa như An-giê-ri, Tuy-ni-di, Tây Phi,Bản án đã lột mặt nạ của chủ nghĩa đế quốc bằng những chứng cớ, tang vật không thể chối cãi được. Bằng những lý lẽ đanh thép và như những quan toà, tác phẩm đã lôi lũ thực dân, lũ cướp nước ra xét xử. Tác 12 phẩm vạch trần bản chất bóc lột tàn ác, dã man của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân. Bản án chế độ thực dân Pháp đã giáng vào đầu bọn thực dân và tay sai một đòn tấn công ác liệt, luận tội bọn chúng, tác giả đứng hẳn vào hàng ngũ những người vô sản tiên tiến bênh vực cho quần chúng lao khổ và các dân tộc bị áp bức. Đó là một phương thức cơ bản trong sách lược tấn công của cách mạng lúc ấy và tác phẩm trở thành tiếng nói tiêu biểu cho cái thế tấn công của thời đại. Tác phẩm Pari đã phê phán, phủ định triệt để chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, đạo đức, xã hội, tôn giáo, vạch trần những tội ác vô cùng dã man của bọn thực dân, giáo hội Thiên chúa giáo, bọn phong kiến tay sai. Tác phẩm lên tiếng kết án, nguyền rủa chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, những chính sách phân biệt đối xử, áp bức những người dân khác màu da trong các nước thuộc địa Châu Phi. Qua tác phẩm của mình, Nguyễn Ái Quốc đã lên án bản chất vô cùng tàn bạo, xấu xa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Người đã góp phần làm thức tỉnh nhân dân các nước thuộc địa cũng như làm cho dư luận của công chúng Pháp hiểu rõ sự thật của chính sách thuộc địa. 2.2. Phản ánh cuộc sống cơ cực của ngƣời dân thuộc địa Bọn thực dân và phong kiến tay sai đã làm giàu trên mồ hôi và xương máu của người dân thuộc địa. Bọn chủ đồn điền được cấp không ruộng đất, còn nhân công là người tù khổ sai. An-giê-ri đau khổ vì nạn đói, Tuy-ni-di cũng bị tàn phá vì nạn đói. Bên cạnh sự chịu hàng trăm thứ thuế vô lý thì tạp dịch, khổ sai lại là một sự bóc lột hà khắc khác mà chính quyền thực dân bày 13 ra. Hàng năm, người An Nam phải làm một số ngày không công cho nhà nước “bảo hộ”. Ngoài ra, người dân còn phải chịu sự phân biệt chủng tộc, màu da. Cùng làm việc trong cùng một xưởng nhưng những người thợ da trắng được trả lương cao hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da. Khi nói về công lý thì quả lại là một bức tranh châm biếm khác được nói đến trong tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc. Nói về công lý mà lại chẳng thấy công lý đâu mà chỉ thấy bất công, áp bức, cướp của, giết người. Những người dân bản xứ phải chịu đủ mọi hình phạt, đủ mọi bản án mà thực chất họ chẳng có tội gì cả. Nhân dân rên xiết dưới ách thống trị hết sức tàn bạo của bọn thực dân. Nỗi thống khổ của họ không thể kêu cùng ai, không ai nghe họ nói và họ chỉ còn một cách đó là tự cam chịu mà thôi. Cùng với sự mỉa mai của “công lý”, người dân nô lệ phải chịu một nỗi khổ nữa đó là sự tham ô, ăn hối lộ của các quan cai trị nhưng công lý trong tay chúng nên dù là các quan cai trị có tham ô, tham nhũng thế nào thì cuối cùng “công lý” cũng đứng về phía họ. Ngoài sự đàn áp, bóc lột về sức người, sức của thì chính quyền thực dân còn thực hiện những chính sách hà khắc khác để dễ bề cai trị. Đó là chính sách ngu dân. Nhân dân ngày càng nghèo đói, do vậy, muốn có học thì trước hết họ phải chống đói. Nhưng càng nghèo khổ thì càng thất học nhiều. Thực dân Pháp đã thực hiện âm mưu thâm độc là làm cho dân ta càng thất học nhiều càng tốt, lúc đó tới 95% người dân Việt Nam mù chữ. Chúng muốn dùng mọi thủ đoạn để xâm lược và thống trị nước ta. Bản án chế độ thực dân Pháp là những chứng cứ cụ thể không thể chối cãi được khi nói về bản chất man rợ của bọn thực dân. Bằng trí tuệ sắc sảo và ngòi bút tấn công 14 mạnh mẽ, tác giả đã đánh thẳng vào thành trì của chế độ thực dân xâm lược. Trong tác phẩm Con người biết mùi hun khói Nguyễn Ái Quốc cũng nói: Bọn thực dân không từ một thủ đoạn dã man nào để vơ vét của cải. Điều đó thể hiện rõ nhất trong Hành hình kiểu Lin sơ, những người da đen là giống người bị áp bức và bóc lột nặng nề nhất trong xã hội loài người. Tác phẩm ký Pari viết về một thành phố hoa lệ của nước Pháp văn minh. Nguyễn Ái Quốc đã cho người đọc thấy mặt trái của cái xã hội được coi là thượng lưu ấy. Pari đã cho thấy cuộc sống của những người dân Pháp, của những người lao động nghèo khổ và bất hạnh qua câu chuyện kể về sự khác biệt của ba xóm của một vùng ở nước Pháp. Trong tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện Người cũng đã nói đến bộ mặt độc ác của các loại kẻ thù, từ bọn phát xít Ý, Đức đến bọn đế quốc Anh, bọn Tàu phản động, thực dân Pháp, phát xít Nhật. Nguyễn Ái Quốc nói về nỗi khổ nhục của người dân nô lệ, người dân bản xứ bằng những thước phim chân thực và sinh động, bằng những chứng cứ, những sự thật của cuộc sống cùng với thái độ vừa xót xa vừa căm phẫn. Tác phẩm ký của Người chính là lời tố cáo đanh thép chế độ thực dân xâm lược, đồng thời cũng là lời kêu gọi sự thức tỉnh của những người cùng khổ. 2.3. Những vấn đề khác của đời sống cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh là bậc thầy về phương pháp cách mạng Việt Nam. Phương pháp cách mạng của Người là vận dụng một cách sáng tạo phương pháp luận phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta để tìm ra những con 15 đường, hình thức, biện pháp phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tìm hiểu những tác phẩm ký của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chúng ta thấy hiện lên những phẩm chất cao đẹp của một người cộng sản. Hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc với trí tuệ tuyệt vời, sự hăng say và nhiệt tình cách mạng cùng với tính năng động cao, Người đã tiến công mạnh mẽ vào thành luỹ của chủ nghĩa thực dân Pháp. Tác phẩm Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin hiện lên hình ảnh một người chiến sĩ cách mạng đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc, tìm thấy kim chỉ nam, thấy mặt trời soi sáng con đường đi của chúng ta để cùng đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Tác phẩm Nhật ký chìm tàu nhằm giới thiệu đất nước Nga Xô Viết một cách sinh động, hấp dẫn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ của người lao động. Người viết dưới hình thức “hồi ký du lịch” để nói với người Việt Nam biết về nước Nga, biết về Tổ quốc của giai cấp vô sản thời kỳ trước cách mạng, quá trình diễn biến cách mạng, thời kỳ sau cách mạng, về tất cả những vấn đề như các tổ chức, từ chính quyền đến đoàn thể, từ tổ chức chính phủ Xô viết, đến tổ chức Đảng, công đoàn, thanh niên, phụ nữ, các tổ chức Quốc tế cộng sản, Quốc tế nông dân, những chính sách kinh tế, văn hoá xã hội và các kế hoạch năm năm. Trong những tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nhắc đến và nhấn mạnh về tính Đảng. Bởi lẽ, đây là phần quan trọng trong sự nghiệp của Hồ Chí Minh, là cống hiến cực kỳ to lớn của Người đối với dân tộc và đất nước. Từ khi Đảng ra 16 đời, dù hoạt động trong nước hay ngoài nước, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề xây dựng Đảng lên hàng đầu. 2.4. Phác thảo chân dung tinh thần ngƣời chiến sĩ cách mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hiện lên là một người chiến sĩ cách mạng, một người trung thành với lý tưởng của Đảng, một chiến sĩ gan dạ, kiên cường, suốt đời sống và chiến đấu cho sự nghiệp cứu dân cứu nước.Trong suốt chặng đường dài hoạt động cách mạng của mình, Người luôn gắn liền với Đảng và dân tộc, sự nghiệp của Người là sự nghiệp cách mạng Việt Nam của toàn Đảng, toàn dân. Vì vậy, các tác phẩm ký của Người đã thể hiện được chân dung tinh thần người chiến sĩ cách mạng một cách xuất sắc nhất. Trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, tác giả Trần Dân Tiên kể lại rằng, lúc bấy giờ ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hi sinh tất cả vì Tổ quốc, nhưng ông Nguyễn lúc đó “rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng”. Chính vì hiểu được điều nay mà Người bắt đầu nghĩ đến hoạt động báo chí, nhưng hoạt động thế nào khi: “Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết báo Pháp”. Chính vì vậy mà “nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu”. Ông Nguyễn làm báo với động cơ đầu tiên là tuyên truyền cách mạng, tố cáo tội ác của thực dân. Hình ảnh người cộng sản kiên cường vượt qua những thử thách gian truân của cảnh tù đày, người chiến sĩ cách mạng hoạt động bền bỉ và sáng suốt trong vòng vây của chủ nghĩa thực dân, nhà lãnh đạo thiên tài đã đưa con thuyền cách mạng vượt qua trăm ngàn khó khăn, nguy hiểm, một nhà tư tưởng lớn với tầm nhìn xa trông rộng trước những vấn đề của thời đại, là người Cha, người Bác nhân hậu, lạc quan, đằm thắm tình người,tất cả 17 đều kết tụ lên một hình ảnh rực rỡ về Bác Hồ kính yêu, một người chiến sĩ cộng sản vĩ đại của thời đại cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc. Ở Người luôn có tinh thần lạc quan, cao đẹp, thanh khiết, phong thái ung dung, cốt cách của một tâm hồn lớn. Người sống cuộc sống gần gũi với quần chúng lao động và rất giản dị. Nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là vẻ đẹp của một tâm hồn mang chất “thép” và giàu tình người. Tác phẩm của Người thể hiện cả một thế giới chiều rộng và chiều sâu, bao quát một phạm vi rộng lớn với sự phát hiện chân lý lớn lao của thời đại. 2.4.1. Hình tƣợng Hồ Chí Minh qua Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên Đáp ứng nhu cầu của đông đảo quần chúng với tấm lòng yêu mến và thành kính, quần chúng rất mong muốn được hiểu biết về cuộc đời vinh quang nhưng cũng đầy gian truân, sóng gió của Người, Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Trong tác phẩm hiện lên một Hồ Chí Minh với tấm lòng yêu nước thiết tha, với ý chí quyết tâm sắt đá chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bên cạnh hình ảnh một người chiến sĩ cộng sản ở ông Nguyễn, tác phẩm còn cho chúng ta thấy hình ảnh một con người không ngại khó, ngại khổ, chấp nhận cực khổ về mình mà hi sinh cho người khác. Tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch đã khắc hoạ được hình tượng một vĩ nhân, bộc lộ được phẩm chất cao đẹp, một nhân cách lớn vô vùng cao thượng, trong sáng và khiêm tốn của cuộc đời Hồ Chủ tịch. Đồng thời, tác phẩm cũng phác 18 hoạ được những giai đoạn cách mạng, với nhiều tư liệu, sự kiện, cách đánh giá đúng đắn, sâu sắc. Đây là một tác phẩm ký có giá trị lớn về nhiều mặt, tác phẩm đã để lại niềm xúc động xen lẫn tự hào không chỉ với nhân dân trong nước mà còn cho cả bạn bè trên thế giới. 2.4.2. Hình tƣợng Hồ Chí Minh trong Vừa đi đường vừa kể chuyện của T Lan Tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện với bút danh T Lan, xuất bản vào năm 1963, tái bản lần thứ nhất vào năm 1994. Tác phẩm này đã ghi lại một số mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh do chính Người kể trên đường ra mặt trận trong chiến dịch Biên giới 1950, Người đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của Chủ tịch đi hành quân, vừa đi vừa hỏi chuyện Chủ tịch và ghi chép lại. Hồ Chí Minh kể về mình như là một câu chuyện tâm tình để cho con đường ngắn bớt và xua tan mọi mệt mỏi, khó khăn. Đồng thời vừa minh họa các diễn biến của công cuộc cách mạng vô sản thế giới, không quan trọng hoá một cá nhân nào ngoài dòng chảy của cách mạng đến với Việt Nam. Trong tác phẩm, Hồ Chí Minh kể lại rất rõ những câu chuyện trong hành trình vất vả của mình nhằm thực hiện Chiến dịch giải phóng Biên giới Việt - Trung vào tháng 9/1950, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954). Chƣơng 3 NGHỆ THUẬT KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 3.1. Hình thức thể loại Ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng với truyện là những tác phẩm mở đầu và góp phần đặt nền móng đầu tiên cho văn xuôi cách mạng. Ký của Người đã ghi lại những điều mắt thấy tai 19 nghe, những sự thật phơi bày trước mắt nên lối kể rất chân thực, tạo không khí gần gũi. Toàn bộ tác phẩm của Người trước sau đều phục vụ cách mạng và chỉ một đề tài là đấu tranh cách mạng. Vì vậy, về giọng điệu, lúc thì châm biếm thâm thuý, sắc sảo, lúc là giọng giễu nhại, trào lộng nhưng có lúc lại rất trữ tình, hài hước, dí dỏm, vui tươi. 3.2. Bút pháp 3.2.1. Giới thuyết khái niệm Bút pháp (tiếng Pháp: écriture) vốn là “Một thuật ngữ của thư pháp - nghệ thuật viết chữ Nho, chỉ cách cầm bút lông, cách đưa đẩy nét bút để tạo dáng chữ đẹp”. Còn theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999: Bút pháp là cách thức hành văn, dùng chữ, bố cục, cách sử dụng các phương tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật nào đó, bút pháp cũng tức là cách viết, lối viết. 3.2.2. Bút pháp trào lộng Trào lộng là một trong những bút pháp đặc trưng cho nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Tác phẩm của Người luôn mang dũng khí tiến công với lối viết nhẹ nhàng, bình dị, sinh động, với bút pháp sở trường là châm biếm nên tác phẩm ký của Người đạt được hiệu quả giao tiếp cao nhất, có tác dụng tích cực nhất, mang tính tố cáo mạnh mẽ và thôi thúc, lôi cuốn mọi người đứng lên đấu tranh. Bằng bút pháp trào lộng, các tác phẩm ký của Người đã đả kích, tố cáo mạnh mẽ, vạch trần bộ mặt tàn bạo của bọn thực dân và bè lũ tay sai phong kiến. Nguyễn Ái Quốc viết Bản án chế độ thực dân Pháp theo hình thức tiểu phẩm từ đầu đến cuối, hay ta có thể gọi đây là một “Tiểu phẩm dài”, đúng hơn là một tác phẩm gồm nhiều tiểu phẩm 20 được sắp xếp theo một chủ đề thống nhất. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã sử dụng tài tình tiếng cười như một thứ vũ khí vô cùng lợi hại và sắc bén. Hài hước (tiếng Anh: humour) hài hước mang tính chất kín đáo, thâm trầm không lộ liễu, hài hước khéo léo, nhẹ nhàng, vạch ra các mâu thuẫn, tạo ra cái cười bất ngờ, giúp người ta nhận ra sự trớ trêu của tình huống, mỉm cười mà phân biệt đúng sai. Tiêu biểu cho bút pháp này phải nhắc đến Bản án chế độ thực dân Pháp. Đây là một tác phẩm chính trị, đồng thời là một áng văn châm biếm đầy sức mạnh tấn công, đầy sức mạnh chiến thắng. Qua những câu chuyện dí dỏm, hài hước, tác phẩm đã có giá trị tố cáo mạnh mẽ thực dân Pháp và bọn vua quan bù nhìn phong kiến, tay sai. Ngòi bút đả kích châm biếm của Người vạch trần bản chất tham lam, tàn bạo, hiếu chiến nhưng cũng hết sức hèn hạ, đê tiện của chủ nghĩa đế quốc làm cho nhân dân ta thêm khinh ghét bộ mặt xấu xa, nhơ nhớp của kẻ thù đồng thời tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. 3.2.3. Bút pháp trữ tình Trữ tình (tiếng Pháp: Lyrique): “Là phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh”. Ký Pari tác giả dùng lối viết thư với tựa Bức thư gửi cô em họ đã góp phần khẳng định tính xác thực cho câu chuyện nhưng đồng thời lại làm thay đổi nhịp điệu câu chuyện làm cho người đọc thấy rằng câu chuyện không bị đơn điệu, khô khan mà rất sinh động, hấp dẫn. Nhờ lối viết thư mà tác giả có thể dùng giọng trữ tình thân mật khi tâm sự với cô em họ. Lối viết thư cho phép thay đổi các tình 21 huống rất linh hoạt, cho phép di chuyển không gian, thời gian một cách thoải mái. 3.3. Giọng điệu và ngôn từ 3.3.1. Giọng điệu Giọng điệu nghệ thuật là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là một phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm văn học. Là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của hình thức tác phẩm vào một chỉnh thể. Trong quá trình sáng tác văn học của mình, mỗi nhà văn đều có một giọng điệu riêng, đều có những nét riêng, là sự tổng hợp những cảm hứng sáng tạo, mục đích sáng tạo được trình bày theo một phong cách riêng không lẫn với tác giả khác. 3.3.1.1. Giọng triết lý, tranh luận Cảm hứng xuyên suốt trong sáng tác của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là tình yêu nước, thương dân, là lòng thương những con người cùng khổ. Người đau nỗi đau của nhân loại, những người dân đang phải sống trong vòng nô lệ của chế độ thực dân. Người nói lên tiếng nói căm thù và lên án sự tàn bạo của thực dân và bọn tay sai. Chính những điều đó đã giúp Người viết những tác phẩm với giọng điệu mang đậm tính triết lý và tranh luận. Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin là một áng văn chính luận xuất sắc đồng thời có những đoạn pha hồi ký. Pari sử dụng ngòi bút phóng sự rất linh hoạt, giọng văn đi từ mỉa mai chua chát đến căm giận, xót xa. 3.3.1.2. Giọng giễu nhại Bút pháp châm biếm được sử dụng rộng rãi với nhiều cung bậc và giọng điệu khác nhau: khi thẳng thừng bốp chát, khi giễu cợt nhẹ nhàng, khi mỉa mai chua chát, khi cười đấy mà cay đắng, đau xótNhìn chung, Người không dùng lối đao to búa lớn, nhưng 22 những đòn châm biếm thường rất sâu sắc, thấm thía. Khi nhằm phê phán, thái độ của Người là giễu cợt, dùng ngòi bút để tả thực cái xã hội thực dân nửa phong kiến. Ký của Người thể hiện thái độ châm biếm, đều xuất phát và được sáng tác từ tình huống thực: bản chất xấu xa của bọn thống trị và chế độ xã hội cũ. Những biếm họa sắc sảo về bọn quan lại, những bức tranh tương phản nhiều hài hước, xót xa trong tù cũng như ngoài xã hội vẫn là hướng đả kích chủ yếu trong tác phẩm của Người. Châm biếm trong ký của Người giàu chất trí tuệ và cảm xúc, xen lẫn sự thông minh, hóm hỉnh, sâu sắc và ý nhị. 3.3.2. Ngôn từ Ngôn từ là lời văn, là chất liệu cơ bản, là điều kiện bắt buộc cần có của một tác phẩm. Chính ngôn từ sẽ tạo ra hiệu quả ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật của một tác phẩm. Trong tác phẩm, ngôn từ thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách và tài năng nhà văn. Do mục đích: viết cho ai, viết để làm gì mà Người viết ngắn gọn, cô đúc. Cùng với việc viết ngắn gọn Bác cũng đặt ra yêu cầu viết sao cho dễ hiểu với đại đa số quần chúng, viết sao cho tất cả mọi người đều đọc được, hiểu được, nhớ được, tránh bệnh nói chữ hay dùng quá nhiều tiếng nước ngoài. Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin mở đầu bằng một lối văn nhại lại giọng Tây và tự trào nên đã đạt được hiệu quả cao. Ngôn từ trong tác phẩm ký của Người đơn giản, gần gũi và rất đỗi tinh tế, giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm khiến người đọc có thể hiểu được ngay những điều Người muốn nói. Hồ Chủ tịch rất chú trọng cách viết, về hình thức hấp dẫn, sinh động, văn phong của Người bao giờ cũng giản dị, gọn gàng, thiết thực. Người dùng nhiều 23 thể loại, lời lẽ dung dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, vận dụng một cách sinh động, mới mẻ cho nên văn của Người có tác dụng tuyên truyền giáo dục lớn. Hồ Chí Minh rất chú trọng việc khai thác lối so sánh, ví von trong dân gian để tạo tính sinh động, dễ hiểu, thấm thía ở người nghe. Trong ký, Người sử dụng khá phổ biến những thành ngữ, tục ngữ, ca dao làm cho nội dung và ý tứ của văn cảnh thêm linh hoạt, gần gũi, đậm đà phong vị dân tộc. Tóm lại, ngôn từ trong tác phẩm ký của Người rất phong phú, thể hiện những sắc thái đa dạng trong những bối cảnh khác nhau. Ngôn từ là một trong những phương tiện giúp cho Người có thể giãi bày, bộc lộ, miêu tả tâm trạng của nhân vật trữ tình đạt hiệu quả cao. KẾT LUẬN 1. Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người đã mở ra một thời đại mới vẻ vang và hiển hách nhất cho lịch sử dân tộc: thời đại Hồ Chí Minh vinh quang. Người là tấm gương tuyệt vời về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Người được cán bộ và nhân dân tuyệt đối tin tưởng, bạn bè kính trọng, kẻ thù kinh sợ, lối phê phán của Người có sức mạnh lớn lao. Người có vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều mặt, có tâm hồn nhạy cảm, có khả năng phản ứng nhanh chóng, sắc bén trước mọi tình hình. Cả cuộc đời Bác là sự đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập, tự do của dân tộc, một người suốt đời hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. 2. Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người. Những sáng tác của Người hết sức phong phú, đa dạng về phong 24 cách nghệ thuật. Trong đó ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh có một vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp thơ văn của Người nói riêng và trong lịch sử văn học, trong đời sống tinh thần của dân tộc nói chung. Trong quá trình sáng tác, Người đã vận dụng nhiều bút pháp khác nhau như châm biếm, trào lộng, chất trữ tình, tính uyên bác trí tuệ cùng với sự đa dạng phong phú về giọng điệu và ngôn từ như giọng giễu nhại, hài hước, cợt mỉa thú vị v.v...Tất cả những bút pháp nghệ thuật đặc sắc trên đã góp nên sự thành công xuất sắc trong các tác phẩm văn học nói chung và trong tác phẩm ký của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói riêng. 3. Thông qua những tác phẩm ký của mình, Nguyễn Ái Quốc đã lên tiếng tố cáo, đả kích tội ác của thực dân, đế quốc, của bọn tay sai phong kiến, những kẻ đã bóc lột, áp bức nhân dân thuộc địa khiến họ trở thành nô lệ ngay trên đất nước mình. Ký cũng đã lên tiếng thức tỉnh hàng trăm triệu quần chúng bị chế độ thuộc địa áp bức suốt một thời gian dài, kêu gọi mọi người cùng nhau hành động và chỉ ra hướng giải thoát khỏi ách áp bức của những người cùng khổ (Bản án chế độ thực dân Pháp, Truyện và ký, Pari). Qua những mẩu chuyện trong tác phẩm ký, chúng ta hiểu được phẩm chất, nghị lực, ý chí kiên cường của một người chiến sĩ cộng sản (Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Vừa đi đường vừa kể chuyện). Những trang viết của Người thấm sâu tinh thần đấu tranh cho những lẽ sống cao đẹp, những trang viết giản dị như chân lý cuộc sống, giàu tính thuyết phục, giàu chất trí tuệ, đầm ấm tình cảm, đã đến với mọi người, nuôi dưỡng sức mạnh tinh thần của một dân tộc và cả những người bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_hoan_chinh_2515.pdf
Luận văn liên quan