Tóm tắt Luận văn Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng một đội ngũ công chức cấp xã vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới trong tình hình hiện nay vừa có tính lý luận và thực tiễn cấp bách. Luận văn đã nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu với những kết quả chủ yếu như sau: Thứ nhất, Nghiên cứu, hệ thống làm rõ khung lý thuyết về công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, những khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức, đặc điểm công chức cấp xã, vai trò cán bộ, công chức cấp xã khái quát hệ thống căn cứ pháp lý về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và về đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã. Thứ hai, Hệ thống những lý luận cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng, đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, khái quát hệ thống căn cứ pháp lý về đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã. Thứ ba, Hệ thống kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về đào tạo, bồi dưỡng công chức và rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Việt Nam và tỉnh Kiên Giang, cũng như thành phố Rạch Giá. Thứ tư, Tổng quan giới thiệu vị trí địa lý, kinh tế - xã hội thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, những nhân tố tác động đến đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch24 Giá, tỉnh Kiên Giang. Mặc dù, đã có rất nhiều cổ gắng trong việc hoàn thành luận văn, song do năng lực bản thân còn hạn chế, cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế nhất định.

pdf26 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 20/08/2021 | Lượt xem: 48 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO / BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN VĂN NHỰT ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60 34 04 03 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017 Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: TS. Đào Đăng Kiên Phản biện 1: PGS. TS. Lương Thanh Cường Phản biện 2: PGS. TS. Vương Đức Hoàng Quân Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp 210, Nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Số 10 - Đường 3/2 - Quận 10 – TP. Hồ Chí Minh Thời gian: vào hồi 16 giờ 30, ngày 23 tháng 7 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cơ sở, cấp gần dân nhất và là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tầng lớp nhân dân. Đội ngũ công chức cấp xã là những chủ thể quản lý rất quan trọng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, là “bộ mặt” hành chính tại địa phương. Công chức cấp xã là cánh tay nối dài của hệ thống chính trị, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, hành chính, khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch và thương mại của tỉnh Kiên Giang. Do đó, lãnh đạo Thành phố cũng rất quan tâm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ, có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên trong thời gian qua, đội ngũ công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá nhìn chung còn hạn chế, bất cập nhiều mặt, phần lớn chưa được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ và còn hạn chế về các kỹ năng quản lý như: giao tiếp, nhận dạng và thực thi các văn bản qui phạm pháp luật, điều hành, thanh kiểm tra và giám sát trong quản lý nhà nước. Xuất phát từ yêu cầu trên và thực trạng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá hiện nay, học viên lựa chọn đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn tốt nghiệp cao học 2 ngành quản lý công, vừa có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Cho đến nay có nhiều công trình, đề tài, giáo trình, bài báo nghiên cứu của các nhà khoa học về đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng như: - Vũ Xuân Khoan (2010): “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn khu vực đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010 - 2015, Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính. Nội dung và kết quả nghiên cứu có tính khoa học và thực tiễn tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu của học viên, giúp cho học viên có cách tiếp cận phù hợp cả về không gian và phương pháp tiếp cận về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. - Cao Trọng Tuệ (2014): “ Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại Tỉnh Lâm Đồng”. Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện hành chính quốc gia. - Hoàng Thị Hoài Thương (2016): “ Tiêu chí và giải pháp đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã”. Tạp chí quản lý nhà nước - Học viện Hành chính quốc gia số 247, tr.27. - TS. Đào Đăng Kiên (2012): “Các giải pháp đổi mới chế độ, chính sách tiền lương cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã”, Tạp chí khoa học Chính trị số 5 - 2012, Học viện chính trị - Hành chính quốc gia Khu vực II. Nội dung bài nghiên cứu cho biết các kết quả khảo sát chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức cấp xã, những hạn chế, bất cập về chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ công chức cấp xã, 3 nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động đến chế độ tiền lương và các nhóm giả pháp nâng cao chế độ tiền lương cho đội ngũ công chức cấp xã cho công chức yên tâm thực thi nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay ở nước ta. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở khung lý thuyết, phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 3.2. Nhiệm vụ - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã. - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Nghiên cứu công tác đào tạo, bồi dưỡng 4 công chức cấp xã từ năm 2010 đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025. - Về không gian: nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn - Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã và một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. - Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp thu thập thông tin: + Về thu thập thông tin thứ cấp: Tác giả nghiên cứu, tham khảo trong các công trình đề tài, luận văn, các bài nghiên cứu khoa học và các báo cáo tổng kết có liên quan đã công bố như: Giáo trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức của Học viện Hành chính quốc gia, Chương trình bồi dưỡng ngạch của Bộ nội vụ, luận văn thạc sỹ quản lý công ở Học viện Hành chính quốc gia, các bài nghiên cứu trên các tạp chí Quản lý nhà nước và Tổ chức nhà nước, các báo cáo tổng kết của Bộ nội vụ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. + Về thu thập thông tin sơ cấp: Khảo sát thực tế ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, có tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học và quản lý đòa tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. 5 - Phương pháp xử lý thông tin: Tác giả kết hợp phân tích định tính và định lượng (chủ yếu bằng phần mềm Excel). Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp: thống kê, tổng hợp, so sánh, dự báo và báo cáo . . . 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Về lý luận: trên cơ sở hệ thống hóa về lý luận và cơ ở pháp lý, luận văn đã làm rõ được nội hàm của các khái niệm cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng. Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho việc nghiên cứu, học tập hoặc cho những ai quan tâm đến lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã. - Về thực tiễn: Các kết luận cũng như các giải pháp được đề xuất trong luận văn là căn cứ khoa học có thể có hữu ích cho các nhà quản lý để hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay ở nước ta. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo, bồi dường công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, Tỉnh Kiên Giang. 6 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1. Khái quát về công chức cấp xã 1.1.1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức cấp xã bao gồm công chức phường, công chức xã, công chức thị trấn. Ở Việt Nam, khái niệm công chức cấp xã lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức (năm 1998) được ban hành ngày 29/4/2003, trước đó khái niệm công chức cấp xã chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật. Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 29/4/2003 sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức (năm 1998) quy định công chức cấp xã là “...những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã”. 1.1.2. Đặc điểm công chức cấp xã Có thể nói trong đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước ta hiện nay đội ngũ công chức cấp xã thực sự là công bộc, là đầy tớ của nhân dân. Vì đây là lực lượng tiếp súc với nhân dân nhiều nhất và giải quyết thỏa đáng tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của nhân dân. So với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản như sau: 7 - Công chức cấp xã phần lớn là những người được sinh ra và lớn lên ở địa phương, là những người cùng sinh sống, có quan hệ tình cảm với bà con nhân dân tại địa phương. Do đó họ có thể nắm bắt, hiểu rõ đặc điểm, tình hình địa phương cũng như mối quan hệ tình làng, nghĩa xóm của nhân dân địa phương từ đó có thể xem xét những vụ việc chuyên môn cụ thể do người dân địa phương đưa ra và tư vấn cho cán bộ lãnh đạo ở địa phương giải quyết vụ việc hợp tình, hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật. - Công chức cấp xã là cầu nối giữa chính quyền địa phương và nhân dân tốt nhất, vì họ trực tiếp xem xét công việc và trình lãnh đạo giải quyết những công việc đó. Chính vì vậy họ luôn phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân địa phương. 1.1.3. Vai trò công chức cấp xã Công chức cấp xã là những người làm việc trong bộ máy chính quyền ở địa phương, là cánh tay nối dài của hệ thông chính trị, là người gần dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân. Với vai trò to lớn như thế, việc đào tạo, bồi dưỡng công chức xã luôn luôn là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ bộ máy chính quyền địa phương nào. Nếu đội ngũ công chức cấp xã có kiến thức cơ bản về lĩnh vực chuyên môn, cũng như nắm rõ những quy định, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì mới có thể tuyên truyền, chuyển tải đến người dân địa phương, giúp họ hiểu những yêu cầu của Nhà nước đối với từng vấn đề cụ thể; từ đó người dân địa phương sẽ chấp hành tốt những quy định của pháp luật, đảm bảo được trật tự quản lý xã hội cũng như đảm bảo được 8 tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. 1.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 1.2.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Trong hoạt động của bất kỳ bộ máy nhà nước nào, muốn nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước thì cần phải tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng. Đây là hoạt động vô cùng quan trọng của Nhà nước vì đội ngũ cán bộ, công chức mạnh thì tất yếu bộ máy nhà nước sẽ hoạt động đạt hiệu quả cao. “Đào tạo” và “bồi dưỡng” là các thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật, cũng như trong các tài liệu nghiên cứu ở nước ta, tuy nhiên về cách tiếp cận cũng theo nhiều cách khác nhau. 1.2.2. Đặc điểm của đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã So với quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã có những đặc điểm sau: - Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là công chức cấp xã. Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, liên hệ trực tiếp với nhân dân và tham mưu cho lãnh đạo chính quyền địa phương giải quyết những công việc có liên quan trực tiếp với nhân dân địa phương. Do vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cần trang bị cho công chức cấp xã những kiến thức chuyên môn, những kỹ năng nhất định để giải quyết công việc và giao tiếp với nhân dân. 1.1.3. Cơ sở pháp lý của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 9 Cán bộ, công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động công vụ, trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Với vai trò quan trọng ấy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải nâng cao việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là công chức cấp xã nhằm trang bị cho đội ngũ này những kiến thức cơ bản để phục vụ cho công việc chuyên môn của mình góp phần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương ngày càng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước cũng như đáp ứng yêu câu cơ bản của người dân ngày càng tốt hơn. 1.3. Sơ lược kinh nghiệm một số nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức 1.3.1. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Singapore Năm công đoạn này có liên quan chặt chẽ tới cuộc đời chức nghiệp của công chức, liên quan đến chỉ định người công chức vào công việc, chứ không liên quan tới thâm niên công tác. Việc đào tạo được tổ chức theo các hình thức chính quy hay tại chức (vừa học vừa làm). Tùy theo yêu cầu của từng loại đối tượng, có thể có những phần họp nhất giữa một vài công đoạn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cá nhân người công chức. Để làm được như vậy, Singapore đã và đang tiến hành xác lập kế hoạch phát triển và phương hướng đào tạo, bồi dưỡng cho từng công chức mới vào làm việc. 1.3.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Nhật Bản Đào tạo bồi dưỡng công chức của Nhật Bản chú trọng nhiều hơn vào việc tạo điều kiện cho công chức tích luỹ kinh nghiệm. Nếu 10 chỉ dựa vào bằng cấp và kiến thức được học trong nhà trường thì chưa đủ để công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thực tiễn cho thấy giữa người có bằng cấp cao như bằng thạc sĩ nhưng không có kinh nghiệm công tác do học thẳng cao học sau tốt nghiệp đại học và người chỉ có bằng đại học nhưng đã có kinh nghiệm công tác ở vị trí cần tuyển thì ở Nhật Bản thông thường người có kinh nghiệm sẽ được chọn. 1.3.3. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Hàn Quốc Ở Hàn Quốc, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hướng đến mục tiêu, trước hết giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, đồng thời đẩy mạnh đào tạo căn bản, toàn diện, nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phong cách làm việc của mỗi công chức. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, bên cạnh chú trọng nâng cao chất lượng các khóa đào tạo dài hạn 9 tháng, Hàn Quốc đẩy mạnh các khóa bồi dưỡng ngắn hạn nhằm giúp công chức cập nhật kịp thời những kiến thức và thông tin mới, nâng cao năng lực làm việc và khả năng cạnh tranh quốc tế. 1.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Indonesia Nội dung đào tạo công chức ở Indonesia gồm hai phần chính: - Đào tạo tiền công vụ: dành cho tất cả những người sẽ vào làm công chức nhằm giúp họ hiểu rõ loại hình công việc họ sẽ làm và cách thức làm việc. Đây là loại hình đào tạo bắt buộc và học viên phải qua một kỳ kiểm tra cuối khóa. Chỉ khi nào đạt kiểm tra mới 11 được nhận chính thức làm công chức sau một năm làm việc tại cơ quan. - Đào tạo qua công việc (tại chức): nhằm nâng cao kiến thức và nâng cao năng lực của công chức thực thi công việc của mình một cách có hiệu lực, hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, đây cũng được xem là điều kiện để đề bạt lên các chức danh quản lý cao hơn. 1.3.5. Đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Pháp Pháp là một trong những nước có kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng công chức. Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức được thực hiện theo hai hình thức: - Đào tạo ban đầu: công chức sau khi thi đỗ trong các kỳ thi tuyển, trước khi được bổ nhiệm chính thức, được gửi đên các trường đào tạo, đi thực tập một năm. Các trường cung cấp những môn học nhằm hoàn thiện kiến thức cho công chức: kiến thức về thực hành dành cho những người đã có bằng cấp và kiến thức về lý thuyết dành cho những người đã có kinh nghiệm nghề nghiệp. Nội dung học có tính chất luân phiên giữa lý thuyết và thực hành. Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài từ đó rút ra các bài học có thể vận dụng vào Việt Nam và các tỉnh trong cả nước. 1.3.6. Bài học kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã có thể vận dụng ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Thứ nhất, việc đào tạo bồi dưỡng được thực hiện theo từng lĩnh vực, chuyên ngành cụ thể chứ không đào tạo mang tính chất cào bằng và đào tạo, bồi dưỡng công chức của các nước trên thế giới bao giờ cũng được thực hiện trên cơ sở kế hoạch, quy hoạch cụ thể. 12 Thứ hai, Chương trình và nội dung đào tạo, bồi dưỡng là yêu cầu bắt buộc và được sử dụng chung cho mọi đối tượng công chức theo ngạch, bậc và chức danh. Thứ ba, cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên và có bổ sung nội dung, cập nhật kiến thức trong từng giai đoạn cụ thể, theo hướng bổ sung hàng năm khi đã tích lũy đủ kiến thức theo ngạch, bậc trong bộ máy. Phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới hạn chế tính lý thuyết, tăng cường nghiên cứu và phân tích tình huống và lấy người học làm trung tâm. Thứ tư, Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng được trang bị cơ sở vật chất, các phương tiện, máy móc, thiết bị giảng dạy hiện đại, đảm bảo cung cấp dầy đủ các tài liệu, giáo trình, sách chuyên khảo và các công trình khoa học đã công bố làm tài liệu tham khảo cho người học. Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 2.1.1. Về điều kiện tự nhiên Thành phố ạch Giá thuộc tỉnh Kiên Giang được thành lập theo Nghị định số 97/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 07 năm 2005 của 13 Chính phủ. Thành phố Rạch Giá ở vị trí trung tâm của tỉnh Kiên Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Hòn Đất, phía Đông Bắc giáp huyện Tân Hiệp, phía Đông Nam giáp huyện Châu Thành, phía Tây Nam giáp Biển Tây. 2.1.2. Về điều kiện kinh tế - xã hội Thành phố Rạch Giá được công nhận là đô thị loại II năm 2014 và được thành lập thành phố năm 2005, sau 10 năm xây dựng và phát triển, thành phố đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hạ tầng đô thị, diện mạo thành phố ngày một khang trang và hiện đại. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 2010- 2015 đạt 15,1%, tăng 0,85% so nhiệm kỳ trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ từ 69,52% năm 2010 lên 78,46% năm 2015, giảm công nghiệp - xây dựng từ 17,74% năm 2010 còn 13,45%, nông nghiệp từ 12,74% năm 2010 còn 8,09%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 69,51 triệu đồng (tương đương 3.278 USD), gấp 2,3 lần so năm 2010. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 25.244 tỷ đồng và tăng 3,15 lần. 2.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Từ khi Luật Cán bộ, Công chức ra đời năm 2008 và có hiệu lực thi hành vào năm 2010, đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc cho công chức cấp xã hoạt động, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho các địa phương xây dựng, củng cố việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã theo tiêu chuẩn chức danh 14 đã được quy định.Thực hiện quy định của pháp luật về số lượng các chức danh, chế độ chính sách đối với công chức ở xã, phường, thị trấn, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND về số lượng công chức cụ thể: Số lượng cán bộ, công chức Số lượng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã, cụ thể như sau: 1. Xã, phường, thị trấn loại 1: không quá 25 người; 2. Xã, phường, thị trấn loại 2: không quá 23 người; 3. Xã, phường, thị trấn loại 3: không quá 21 người. 2.2.1. Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 2.2.1.1. Về công tác đào tạo công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước theo tinh thần Nghị quyết trung ương 8 (khóa VII) ngày 23/11/1995 với mục tiêu xây dựng nền hành chính trong sạch, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong đời sống xã hội. Kết quả đã đào tạo được 379 lượt người, trong đó: - Chuyên môn: 97 người trong đó: + Đại học: 46 người là công chức chuyên môn cấp xã tập trung một số ngành như Luật, Hành chính, Quản lý đất đai, Tài chính 15 - Kế toán, Lao động-Xã hội, Kinh tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn + Trung học: 51 người, tập trung đào tạo các ngành: Hành chính, Văn thư lưu trữ, Quản trị văn phòng, Quản lý đô thị, Quản lý văn hóa, Lao động-xã hội, Kế toán, Địa chính... + Đào tạo Trung cấp cho chức danh Trưởng Công an xã:12 người là Trưởng Công an của các xã, phường. + Đào tạo trung cấp cho Chỉ huy Trưởng Quân sự xã: 12 người là chỉ huy Trưởng Quân sự các xã, phường. - Lý luận chính trị: trung cấp lý luận chính trị 44 người. - Tin học: 62 người, chủ yếu đào tạo tin học văn phòng. - Ngoại ngữ: 45 người tham gia các lớp anh ngữ trình độ A và B. (Nguồn: Phòng Nội vụ) Như vậy, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân các xã, phường đã rất quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ công chức cấp xã, đội ngũ công chức được đào tạo với nhiều trình độ. So với công chức cấp xã hiện tại là 131 người thì số lượng đào tạo như vậy là khá cao, về chuyên môn, thành phố Rạch Giá đào tạo đến năm 2015 là: 97/131 chiếm tỷ lệ 35,11%, trong đó đào tạo với trình độ đại học là 46 người, chiếm tỷ lệ 35,11%, đào tạo với trình độ trung học là 51 người, chiếm tỷ lệ 38,93%, 100% Trưởng Công an xã, phường và 100% Chỉ huy Trưởng Quân sự xã, phường đã được đào tạo với trình độ trung cấp. 2.2.1.2. Về công tác bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành 16 phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Như đã đề cập ở phần lý luận chung, bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho cán bộ, công chức nhằm mục đích củng cố tri thức cũ, mở mang kiến thức mới giúp họ có thể công tác tốt hơn và hoàn thành chức năng nhiệm vụ được giao. Đối với công chức xã ngoài việc được đào tạo chuyên môn, họ còn được bồi dưỡng kiến thức trong các lĩnh vực khác như kiến thức về lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức về pháp luật, an ninh quốc phòng...nhằm trang bị cho họ sự hiểu biết về tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội góp phần nâng cao tay nghề, kỷ năng sống và làm việc trong một tổ chức, tập thể nhất định. 2.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang-ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân 2.2.2.1. Về ưu điểm Thứ nhất, thành phố Rạch Giá đã xây dựng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo từng giai đoạn nhất định, như là kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã giai đoạn từ năm 2011-2016, trong giai đoạn này tỉnh chủ trương tập trung chuẩn hóa đối với công chức cấp xã theo Quyết định số 04/QĐ-BNV ngày 06/01/2004 của Bộ Nội vụ và đã đạt được một kết quả nhất định, như đã nêu ở phần thực trạng. Thứ hai, cơ sở đào tạo tỉnh Kiên Giang với trang thiết bị hiện đại cùng với đội ngũ giảng viên có đủ kinh nghiệm truyền đạt kiến thức cho học viên, công chức câp xã. Hiện nay, ở tỉnh Kiên Giang có 4 trường và 15 trung tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công 17 chức cấp xã. Thứ ba, công chức cấp xã sau khi được đào tạo, bồi dưỡng trở về đơn vị được bố trí công việc phù hợp với kiến thức chuyên ngành đã được học và được xếp vào bảng lương, thang lương phù hợp với trình độ đã được đào tạo. 2.2.2.2. Về hạn chế Ở thành phố Rạch Giá nói riêng còn thể hiện những điều bất cập, hạn chế như sau: Thứ nhất, công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện đồng bộ và khoa học, việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức hằng năm của từng đơn vị chưa sát với nhu cầu việc triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đơn vị còn chậm và thụ động. Thứ hai, đào tạo, bồi dưõng đội ngũ công chức cấp xã nhằm mục đích trang bị cho họ kiến thức cơ bản về lĩnh vực chuyên môn cần thiết để có thể giải quyết các công việc trong mối quan hệ với nhân dân tại địa phương. Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là nhằm nâng cao năng lực công tác của họ góp phần thực hiện thành công chức năng và nhiệm vụ của đơn vị, chính quyền địa phương. Thứ tư, chất lượng đội ngũ công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế hiện nay. Nguyên nhân: Một là, đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã là một lĩnh vực tương đối rộng cần phải có sự kết hợp của nhiều ngành, cơ quan, đơn 18 vị. Hai là, công tác quản lý công chức cấp xã chưa tốt, chậm đổi mới, chưa chủ động được nguồn cho việc bố trí thay thế khi có chức danh công chức được bầu cử vào các chức danh chủ chốt làm cho vị trí công chức chuyên môn bị khuyết. Ba là, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã với cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhưng chưa phát huy được tính chủ động và sáng tạo của chính quyền địa phương trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức chưa cao. Bốn là, cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chưa nhận thức được vai trò, ý nghĩa và trách nhiệm của đơn vị mình trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã. Năm là, chương trình đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp, chất lượng đội ngũ giảng viên còn thiếu về kiến thức và yếu về kinh nghiệm. Sáu là, chế độ chính sách của Nhà nước dành cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp, chưa kích thích họ làm việc tận tâm, tận lực. Bảy là, đội ngũ công chức cấp xã còn thiếu nhiều dẫn đến khó khăn cho chính quyền cấp xã trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hằng năm. Tám là, ý thức của một số công chức trong việc học tập nâng cao trình độ chưa cao. 19 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 3.1. Định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tầm nhìn đến năm 2025 Đào tạo, bồi dưỡng nhằm trang bị kiến thức về lý luận chính trị, kỹ năng quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác nhằm xây đựng đội ngũ công chức cấp xã thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương. - Mục tiêu cụ thể, 100% công chức cấp xã đạt chuẩn chức danh tối thiểu theo Quyết định số 04/QĐ-BNV ngày 06/01/2004 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức xã, phường, thị trấn, cụ thể như sau: + Giai đoạn 2016 - 2020: Chuyên môn: đào tạo 85% công chức cấp xã có trình độ trung cấp trở lên. Chính trị: bồi dưỡng 60% công chức cấp xã có trình độ trung cấp trở lên. Lập quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã cần quan tâm những nội dung sau: Một là, thống nhất giữa các cấp, cơ quan, ban, ngành là tổ chức đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức đồng thời để chuẩn hóa các chức danh công chức. 20 Hai là, nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Để nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Ba là, có kế hoạch đào tạo nguồn cho công chức cấp xã. Bên cạnh việc lập kế hoạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, vấn đề đào tạo nguồn cho công chức cấp xã cũng cần được quan tâm. Bốn là, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã do các cơ quan quản lý nhà nước đã đặt ra. 3.2.2. Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đối tượng công chức cấp xã Xây dựng chương trình, giáo trình phù hợp với đối tượng cần được đào tạo, bồi dưỡng là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng. Thứ nhất, Giáo trình, tài liệu không chỉ là tài liệu học tập mà còn là cẩm nang để công chức sử dụng khi cần thiết, khi thực thi công vụ. Do vậy, nội dung chương trình cần có sự cập nhật kiến thức mới, các kiến thức về kinh tế pháp luật, quản lý nhà nuớc, ... cần phải cập nhật kịp thời. Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình kiến thức quản lý nhà nước, đối với một công chức cấp xã, kiến thức quản lý nhà nhà nước nói chung và kiến thức quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực cụ thể. Thứ ba, đổi mới chương trình đào tạo trình độ chuyên môn cho công chức, mỗi một chức danh cụ thể công chức cấp xã cần phải được đào tạo một trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên. 3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 21 Để làm được điều này, đòi hỏi đội ngũ giảng viên có năng lực, trình độ cao, hiểu biết sâu sắc tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, các cơ sở đào tạo cần phải có kế hoạch nâng cao chất luợng đội ngũ giảng viên, thể hiện ở các mặt sau đây: Một là, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên bằng cách các cơ sở đào tạo hàng năm có kế hoạch đưa đi đào tạo sau đại học để giảng viên nâng cao kiến thức và trở thành lực lượng nồng cốt trong việc truyền đạt kiến thức cho học viên. Hai là, các cơ sở đào tạo thường xuyên tổ chức thao giảng, dự giờ nhằm mục đích nâng cao chất lượng giảng viên, tránh trường hợp giảng viên khi được công nhận đứng lớp có thái độ tự cao, tự đại. Ba là, các cơ sở đào tạo phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên cả về kiến thức chuyên môn và phương pháp sư phạm. Bốn là, cơ sở đào tạo cần phải xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức. 3.2.4. Hoàn thiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã chính là chế độ, chính sách của Nhà nước dành cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chưa phù hợp, chưa kích thích họ làm việc tận tâm, tận lực, do đó không tạo được động lực khuyến khích họ học tập nâng cao trình độ. Trong điều kiện thực tế hiện nay, đời sống, thu nhập của 22 công chức cấp xã luôn gặp khó khăn do đồng lương eo hẹp, họ không thể trang trải các chi phí trong gia đình ở mức tối thiểu. 3.2.5. Hoàn thiện cơ chế đánh giá năng lực công chức cấp xã Có thể dựa vào các tiêu chí chủ yếu để đánh giá công chức cấp xã nhằm có thể đánh giá khách quan và đúng đắn như sau: Thứ nhất, về phẩm chất chính trị, đây là phẩm chất đầu tiên của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, thể hiện thái độ tích cực và tinh thần gương mẫu phục vụ nhân dân với phẩm chất chính trị vững vàng. Thứ hai, về phẩm chất đạo đức, cán bộ, công chức phải có đạo đức cách mạng, thể hiện hội đủ 5 đức tính : nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm (lời Bác Hồ dạy). Thứ ba, về trình độ năng lực, đây là tiêu chí quan trọng quyết định tới hiệu quả công việc. Thứ tư, về khả năng vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước một cách có hiệu quả nhất nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn háo, xã hội của nhân dân địa phương. Thứ năm, về phương pháp đánh giá cán bộ, công chức áp dụng phương pháp phù hợp với đặc trưng của mỗi địa phương, thí điểm và tiến tới đánh giá cán bộ, công chức cấp xã trên cơ sở có sự tham gia của người dân, phát huy qui chế dân chủ và thu hút sự phản biện từ xã hội giám sát hoạt động đánh giá cán bộ, công chức cấp xã. 23 KẾT LUẬN Nghiên cứu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng một đội ngũ công chức cấp xã vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới trong tình hình hiện nay vừa có tính lý luận và thực tiễn cấp bách. Luận văn đã nghiên cứu hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu với những kết quả chủ yếu như sau: Thứ nhất, Nghiên cứu, hệ thống làm rõ khung lý thuyết về công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, những khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức, đặc điểm công chức cấp xã, vai trò cán bộ, công chức cấp xã khái quát hệ thống căn cứ pháp lý về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và về đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã. Thứ hai, Hệ thống những lý luận cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng, đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, khái quát hệ thống căn cứ pháp lý về đào tạo bồi dưỡng công chức cấp xã. Thứ ba, Hệ thống kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về đào tạo, bồi dưỡng công chức và rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào đào tạo, bồi dưỡng công chức ở Việt Nam và tỉnh Kiên Giang, cũng như thành phố Rạch Giá. Thứ tư, Tổng quan giới thiệu vị trí địa lý, kinh tế - xã hội thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, những nhân tố tác động đến đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Rạch 24 Giá, tỉnh Kiên Giang. Mặc dù, đã có rất nhiều cổ gắng trong việc hoàn thành luận văn, song do năng lực bản thân còn hạn chế, cũng như thời gian nghiên cứu có hạn nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế nhất định.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_van_dao_tao_boi_duong_cong_chuc_cap_xa_tren_dia.pdf
Luận văn liên quan