Tư tưởng triết học của rené descartes và ảnh hưởng của nó đến nền văn minh phương tây hiện đại

Giống như Nhà triết học M artin Heidegger đã nhận xét rằng không có Descartes, “thì sẽ không thể nào có thế giới hiện đại” đặc biệt đối với nền văn minh phương Tây hiện đại. Triết học D escartes đã giải quyết hậu quả không hay cho quan hệ giữa con người với nhau do sự phát triển mạnh về văn hoá và kinh tế. Descartes đã thật sự đề cao con người và trong con người, coi trọng cái theo ông là tiêu biểu nhất, làm con người khác với cây cỏ và động vật khác, là tư duy, lý trí. Tư tưởng duy lý D escartes không chỉ tỏa sáng lúc ông đang sống mà ảnh hưởng về lâu dài đến toàn bộ triết học nước Pháp, đến triết học nói chung «Triết học Pháp bắt đầu từ D escartes bởi vì triết học nói gọn bắt đầu từ D escartes». Chủ nghĩa duy lý Descartes là xu hướng triết học lấy lý trí làm cơ sở cho nhận thức và ứng xử của con người, nó ảnh hưởng đến chủ nghĩa duy lý Kant, chủ nghĩa duy lý Hegel, chủ nghĩa duy lý M arx và chủ nghĩa duy lý hiện nay. N ó đối lập với chủ nghĩa phi lý và chủ nghĩa duy cảm. Chủ nghĩa duy lý là một trong những nguồn gốc triết học của hệ tư tưởng khai trí với những ý niệm về tự do, dân chủ, giải phóng con người.

pdf29 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 26/08/2014 | Lượt xem: 5234 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tư tưởng triết học của rené descartes và ảnh hưởng của nó đến nền văn minh phương tây hiện đại, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tư tưởng mới lạ, chính xác mà các triết gia sau này chỉ cần bổ túc cho hoàn hảo hơn. 3. Tư tưởng triết học chủ đạo: Descartes đã chú ý đến nghiên cứu phương pháp nhận thức khoa học để tạo nên khả năng đi sâu vào nghiên cứu những bí mật của giới tự nhiên. Ông tin tưởng rằng, với phương pháp mới có thể đạt đươc những tri thức có ích cho cuộc sống. Triết học của ông có tính chất nhị nguyên. Ông cho rằng, hai thực thể t inh thần và vật chất tồn tại độc lập với nhau, nhưng cả hai thực thể này đều phục tùng nguyên thể thứ ba – nguyên thể tối cao là thần linh. Nhị nguyên luận của Descartes biểu hiện tính chất thoả hiệp của hệ tư tưởng tư sản. Gạt bỏ những đạo lý kinh viện của tôn giáo, Descartes đưa lý trí lên vị trí hàng đầu trong lý luận về nhận thức. Gống như Bacơn, ông cho rằng nhiệm vụ của thí nghiệm không phải là phát minh ra các quy luật của tự nhiên mà là khẳng định những tri thức, những quy luật mà lý trí phát hiện ra. Nếu Bacơn cho rằng điều kiện cần thiết đầu tiên để xây dựng một khoa học chân chính về khoa học tự nhiên là tẩy rửa được mọi ảo Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 6/29 tưởng, thì Descartes thừa nhận rằng sự nghi ngờ là điểm xuất phát của phương pháp khoa học. Ông nhấn mạnh rằng, dù anh nghi ngờ mọi cái nhưng không thể nghi ngờ rằng anh nghi ngờ. Descartes nói: Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại, và ông cho đó là nguyên lý cơ bản bất di bất dịch. Ý nghĩa tiến bộ của nguyên lý trên là ở chỗ nó đề cao vai trò của lý trí, phủ nhận một cách tuyệt đối những gì mà người ta mê tín. Những nguyên lý ấy lại thể hiện tính chất duy tâm, vì Descartes đã không nhìn thấy rằng không thể đi tìm tiền đề xuất phát của nhận thức ở ngay trong nhận thức mà phải tìm từ bản thân đời sống thực t iễn xã hội. Descartes là người sáng lập ra chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy lý của Descartes ở một mức độ khá lớn có liên hệ với chủ nghĩa duy tâm, vì ông cho rằng trong lý trí của con người có “những tư tưởng bẩm sinh”, độc lâp với kinh nghiệm. Ông đã thừa nhận một cách sai lầm rằng, những nguyên tắc cơ bản của logic học và toán học là những cái “bẩm sinh”, không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Trong học thuyết về tự nhiên, Descartes là một nhà duy vật, ông coi vật chất là một thực thể duy nhất, là cơ sở duy nhất của tồn tại và nhận thức. Quảng tính là thuộc tính cơ bản của vật chất , nhưng ông lại đi đến đồng nhát vật chất với quảng tính, và ngược lại, ở đâu không có quảng tính thì không có vật chất. Vật chất choán đầy vũ trụ, không có không gian trống rỗng. Descartes thừa nhận tính vĩnh cửu của vật chất. Vạn động cơ học được ông xem như là một biểu hiện sức sống của vật chất. Vận động được chuyển từ vật này đến vật khác và không bao giờ bị tiêu diệt. Luận điểm của Descartes về tính không bị tiêu diẹt của vận động được Ph.Ăngnhen đánh giá như một thành tựu khoa học vĩ đại. Descartes thừa nhận sự xuất hiện của thế giới thực vật và động vật trong quá trình vận động. Nhưng ông chưa thấy sự khác nhau về chất giữa thế giới sinh vật, coi cơ thể sống là một cỗ máy phức tạp. Ông cho rằng, sự khác biệt giữa con người và con vật là ở chỗ: con người không chỉ là một cơ thể vật chất mà còn là một thực thể có lý trí. Nhưng lý trí, theo ông không phụ thuộc vào qúa trình vật chất. Điều này thể hiện tính chất duy tâm t rong triết học của Descartes. 4. Ảnh hưởng của triết học trong việc nghiên cứu các môn khoa học khác: Triết học Descartes, có khi được gọi là Cartesianism (tiếng Anh), đã khiến cho ông có nhiều giải thích sai lầm về các hiện tượng vật lý. Tuy nhiên, các giải thích đó cũng có một giá trị nhất định, vì ông đã dùng những giải thích cơ học thay cho những Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 7/29 quan điểm tinh thần mơ hồ của các tác giả đi trước. Ban đầu Descartes đã công nhận thuyết Copernic về hệ thống vũ trụ trong đó các hành tinh xoay quanh Mặt Trời, nhưng ông đã từ bỏ nó chỉ vì giáo hội Thiên Chúa La Mã phán rằng thuyết đó tà đạo. Thay vào đó ông đưa ra lý thuyết dòng xoáy – cho rằng vũ trụ được lấp đầy vật chất, ở các t rạng thái khác nhau, xoáy quanh mặt trời. Trong lĩnh vực sinh lý học, Descartes giữ quan điểm rằng máu là một chất lỏng tinh tế mà ông gọi là hồn của động vật. Ông tin rằng hồn động vật t iếp xúc với chất suy nghĩ ở trong não và chảy dọc theo các dây thần kinh để điều khiển cơ bắp và các phần khác của cơ thể. Về quang học, Descartes đã khám phá ra định luật cơ bản của sự phản xạ: góc tới bằng góc phản xạ. Tiểu luận của ông là văn bản đầu tiên trình bày đề cập đến định luật này. Việc Descartes xem ánh sáng như một thứ áp lực trên môi trường chất rắn đã dẫn đường cho lý thuyết sóng của ánh sáng. Về toán học, đóng góp quan t rọng nhất của Descartes là việc hệ thống hóa hình học giải tích, hệ các trục tọa độ vuông góc được mang tên ông. Ông là nhà toán học đầu tiên phân loại các đường cong dựa theo tính chất của các phương trình tạo nên chúng. Ông cũng có những đóng góp vào lý thuyết về các đẳng thức. Descartes cũng là người đầu tiên dùng các chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái để chỉ các ẩn số và dùng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái để chỉ các giá trị đã biết. Ông cũng đã sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số (chẳng hạn trong biểu thức x²). Mặc khác, chính ông đã thiết lập ra phương pháp, gọi là phương pháp dấu hiệu Descartes, để tìm số nghiệm âm, dương của bất cứ phương trình đại số nào. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 8/29 PHẦN II. SƠ LƯỢC CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN VĂN MINH PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI Nền văn minh phương Tây hiện đại kéo dài từ năm 1500 đến nay với các giai đoạn hình thành và phát triển như sau: 1. Giai đoạn từ năm 1500 – 1789: a. Cách mạng thương nghiệp và xã hội mới (1400 – 1700) Ảnh hưởng của Cách mạng thương nghiệp trong việc đặt nền tảng cho chủ nghĩa tư bản hiện đại: Có thể nói rằng Cách mạng thương nghiệp là một trong những phát triển có ý nghĩa nhất trong lịch sử thế giới phương Tây. Toàn bộ hình thái đời sống kinh tế hiện đại không thể thực hiện được nếu không có cuộc cách mạng này, vì nó thay đổi nền tảng thương mại từ bình diện cục bộ, địa phương, trong vùng của thời Trung cổ sang phạm vi toàn cầu. Ngoài ra, cách mạng làm tăng sức mạnh của tiền bạc, thúc đẩy kinh doanh có lợi, tán thành việc tích lũy tài sản, hình thành xí nghiệp cạnh tranh làm nền tảng cho sản xuất và mậu dịch. Tóm lại, Cách mạng thương nghiệp là nguyên nhân tạo ra hầu hết các yếu tố cấu thành chế độ tư bản. Hầu hết đầu cơ điên cuồng. Nhưng những điều này không phải là kết quả duy nhất. Cách mạng thương nghiệp là nguyên nhân tạo ra những hoạt động đầu cơ điên cuồng đầu tiên, giống hệt như các cuộc đầu cơ trong thế giới hiện đại mà chúng ta thường gặp. Dòng chảy kim loại quý, giá cả tăng nhanh, và chú trọng đến sự giàu có, xem đó là mục tiêu trong đời sống, khuyến khích tinh thần mạo hiểm may rủi trong kinh doanh vốn không hề có trong nền kinh tế tĩnh ở thời Trung cổ. Sự mở rộng hoạt động kinh doanh nhanh chóng trong những ngày đầu cách mạng đã khuyến khích mọi người nghĩ rằng chỉ qua đêm là có thể phát tài. Vô số dự án được đề ra với mọi loại mục đích kỳ dị - làm cho nước biển ngọt hoặc sản xuất các máy chuyển động vĩnh cửu - và hàng ngàn nhà đầu tư mù quáng lao vào. Thậm chí có nhiều người khuyến mãi quỷ quyệt bán cổ phần trong một công ty với mục đích được mô tả rất hấp dẫn “sẽ tiết lộ Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 9/29 công việc kinh doanh vào đúng thời điểm”. Người ta ước đoán rằng có hàng trăm triệu đôla được đầu tư vào những dự án này vào những năm đầu thế kỷ 18. Ảnh hưởng của Cách mạng thương nghiệp trong việc dọn đường cho cuộc Cách mạng kỹ nghệ: Cách mạng thương nghiệp vô cùng quan trọng trong việc dọn đường cho cuộc Cách mạng công nghiệp. Thật ra có nhiều lý do. Thứ nhất, Cách mạng thương nghiệp tạo ra một giai cấp các nhà tư bản luôn tìm cơ hội mới để đấu tư lợi nhuận thặng dư của mình. Thứ hai, chính sách trọng thương, chú trọng việc bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ và sản xuất hàng hóa xuất khẩu, kích thích tăng trưởng sản xuất. Thứ ba, tài nguyên của các đế quốc thuộc địa với nhiều nguyên liệu mới tràn ngập châu Âu và làm gia tăng lượng hàng hóa trước đây được cho là xa xỉ. Hầu hết những hàng hóa này cần phải sơ chế trước khi tiêu thụ. Do đó, nhiều ngành công nghiệp mới hoàn toàn không bị lệ thuộc vào một quy định phường hội bất kỳ vẫn còn tồn tại. Minh họa nổi bật là việc sản xuất hàng dệt bông, và một trong những ngành công nghiệp đầu tiên được cơ khí hóa. Sau cùng, đặc điểm của Cách mạng là có xu hướng chấp nhận phương pháp nhà mây trong một số tuyến sản xuất, cùng với những cải tiến công nghệ như phát minh bánh xe quay tơ, khung dệt tất và tìm ra các quá trình hiệu quả hơn trong tinh luyện quặng. Sự kết hợp giữa những sự phát triển này và tiến bộ cơ khí trong Cách mạng kỹ nghệ không phải là điều khó nhận thấy. b. Thời kỳ chính thể chuyên chế (1485 – 1789) Khởi đầu của hệ thống nhà nước hiện đại: Thời kỳ chính thể chuyên chế mang ý nghĩa quan trọng không những đối với sự hình thành chính thể quân chủ chuyên chế, thậm chí còn có ý nghĩa quan trọng hơn đối với ảnh hưởng của nó trong các mối quan hệ quốc tế. Hệ thống nhà nước hiện đại ra đời thời kỳ này. Trong thời kỳ khoảng 1.000 năm sau khi Rome sụp đổ, nhà nước, theo ý nghĩa ngày nay chúng ta hiểu về từ này, hầu như đế quốc Byzantine không tồn tại ở Tây Âu. Thật ra, ở Anh và Pháp có nhiều ông vua, nhưng đến cuối thời Trung đại, mối quan hệ của họ với thần dân về cơ bản là mối quan hệ giữa lãnh chúa với chư hầu. Họ có dominium nhưng không có quyền tối cao. Nói cách khác, họ có quyền sở hữu cao nhất đối với ruộng đất được quy vào thái ấp của mình Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 10/29 nhưng không có được uy quyền chính trị cao nhất đối với những người sống trên đất của họ. Chỉ bằng cách mở rộng quyền đánh thuế, quyền hành pháp, và thành lập các đạo quân chuyên nghiệp, những nhà cầm quyền như Philip Augustus của Pháp, Henry II của Anh, và Frederick II thuộc. Đế quốc La Mã thần thánh từng bướu trở thành quốc chủ theo nghĩa hiện đại. Cho dù như thế, lãnh địa của họ về cơ bản vẫn còn mang đặc điểm phong kiến trong nhiều thế kỷ nữa. Tuy nhiên trong khía cạnh khác, những nhà cầm quyền này không phải là quốc chủ, họ không được kiểm soát bên ngoài. Theo lý thuyết, họ là thần dân của Hoàng đế La Mã thần thánh, người được cho là có uy quyền thế tục rộng khắp các nước theo đạo Cơ Đốc phương Tây. Quan trọng hơn, họ có trách nhiệm đối với hạnh kiểm cá nhân và thậm chí đối với mối quan hệ giữa họ với thần dân trước uy quyền tinh thần của Giáo hoàng. Chẳng hạn, Giáo hoàng Innocent III ép buộc Vua Philip Augustus của Pháp, bằng cách khai trừ vương quốc của ông, nếu ông không đưa người vợ mình đã từ bỏ trở về cung. Cũng Giáo hoàng này buộc Vua John nước Anh phải công nhận nước Anh và Ireland là thái ấp của chức Giáo hoàng. Nguyên nhân ra đời hệ thống nhà nước: Theo một số sử gia, khởi đầu của hệ thống nhà nước hiện đại bắt đầu từ cuộc xâm chiếm ý năm 1494 của Vua Charles VIII nước Pháp. Tham gia cuộc chiến này để tranh giành lãnh thổ nước ngoài là những cân nhắc uy tín của vương triều, cán cân quyền lực, quan hệ ngoại giao phức tạp, và liên minh cũng như liên minh đối kháng. Không hề mang nghĩa của cuộc chiến tôn giáo hoặc ý thức hệ mà là cuộc chiến tranh giành quyền lực và mở rộng lãnh thổ. Các sử gia khác xem cuộc Cải cách là nguyên nhân chính của hệ thống nhà nước hiện đại. Cách mạng Tin Lành phá vỡ sự thống nhất của các nước theo đạo Cơ Đốc phương Tây, tạo điều kiện cho các nhà vua và hoàng thân khẳng định quyền lực của chính mình bằng cách không công nhận uy quyền của Giáo hội phổ biến. Đầu 1555 Hòa ước Augsburg trao cho mỗi hoàng thân Đức quyền quyết định đạo Luther hoặc Cơ Đốc là đức tin trong dân chúng. Có lẽ Hiệp định Westphalia đóng vai trò quyết định trong việc làm cho hệ thống nhà nước hiện đại trở thành một thực thể chính trị. Hiệp định này, kết thúc Cuộc chiến 30 năm vào năm 1648, chuyển các lãnh thổ từ nhà cầm quyền này sang nhà Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 11/29 cầm quyền khác không màng đến quốc tịch của cư dân. Hiệp định công nhận độc lập của H à Lan và Thụy Sĩ, và thu nhỏ Đế quốc La M ã thần thánh thành một điều hư cấu. Mỗi hoàng thân Đức được công nhận là nhà cầm quyền có chủ quyền tối cao, có quyền tuyên chiến và hòa bình cũng như cai trị lãnh địa theo ý muốn. Sau cùng, Hiệp định giới thiệu nguyên tắc tất cả nhà nước, bất kể diện tích hoặc quyền lực, đều bình đẳng theo luật quốc tế, được quyền kiểm soát hoàn toàn đối với lãnh thổ và cư dân của mình. Yếu tố trong hệ thống nhà nước hiện đại: Cho dù nguồn gốc từ đâu đi nữa, hệ thống nhà nước hiện đại có thể bao gồm các yếu tố sau: 1) Tính bình đẳng và độc lập của các nhà nước; 2) Quyền của mỗi nhà nước theo đuổi chính sách đối ngoại của riêng mình, hình thành liên minh và liên minh đối khảng, phát động chiến tranh vì lợi thế của riêng mình; 3) Sử dụng quan hệ ngoại giao thay cho chiến tranh, thường bao gồm vận động, hoạt động gián điệp, và phản bội ở mức độ cần thiết giành được lợi thế chính trị; 4) Cán cân quyền lực là một công cụ ngăn ngừa chiến tranh hoặc đảm bảo sự hỗ trợ của liên minh nếu chiến tranh là điều cần thiết. Hầu hết các yếu tố trong hệ thống nhà nước này vẫn còn cho đến nay. Thậm chí việc hình thành Hội Quốc liên và Liên hợp quốc cũng không có sự thay đổi đáng kể, việc cả hai được hình thành trên nguyên tắc sự bình đẳng chủ quyền của các nhà nước độc lập. M ột số nhà quan sát cho rằng không có triển vọng hòa bình thế giới nếu hệ thống các nhà nước độc lập chủ quyền không được thừa nhận lỗi thời, và thay bằng một cộng đồng quốc gia thế giới được tổ chức trên cơ sở liên bang. 2. Giai đoạn từ năm 1789 – 1799: a. Cuộc cách mạng Pháp (1789 – 1914) Kỷ nguyên cách mạng: Những thay đổi sâu sắc trong lịch sử chính trị dẫn ra ở thế giới phương Tây trong nửa sau thế kỷ 18. Giai đoạn này chứng kiến những cơn giãy chết dữ dội của hệ thống chính quyền và xã hội khác thường đã phát triển trong thời kỳ của kẻ chuyên quyền. Ở Anh, hệ thống này phần lớn đã bị sụp đổ từ năm 1689, nhưng các nước khác ở châu Âu vẫn còn nấn ná chưa chịu vứt bỏ, ngày càng trở nên cứng nhắc qua thời gian. Trong mỗi nước lớn ở Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 12/29 châu Âu, sự cứng nhắc này phát triển mạnh dưới sự ảnh hưởng kết hợp giữa chủ nghĩa quân phiệt và tham vọng của các quốc vương muốn củng cố quyền lực bằng cái giá phải trả của giới quý tộc. Nhưng không có nơi nào tồn tại một hình thức đáng kinh tởm như ở Pháp trong thời gian trị vì của ba ông vua sau cùng thuộc dòng họ Bourbon. Louis XIV là thể hiện của sự cai trị chuyên chế ở mức cao nhất. Những người kế vị ông, Louis XV và Louis XVI, đẩy chính phủ trượt dài vào thái độ vô trách nhiệm và phung phí ở mức tận cùng. Ngoài ra, thần dân trong nước cũng nhận thức rõ sự thất thế của mình. Vì những lý do này, không có gì lạ khi nước Pháp là nơi diễn ra sự biến động mãnh liệt dẫn đến sự lật đổ một chế độ từ lâu đã bị những công dân thông minh nhất nước thù ghét và khinh miệt. Chúng ta không sai lầm khi hiểu rằng Cách mạng Pháp là sự kiện đáng chú ý nhất trong một thế kỷ phản đối chính thể chuyên chế ngày càng tăng trong thời gian dài và sự vượt trội của một giới quý tộc suy tàn. b. Thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn và phản động (1800 – 1830) Thế kỷ tiếp theo sau Cách mạng Pháp là một giai đoạn thay đổi nhanh chóng và lớn lao. Bằng cách so sánh, cuộc sống trong các thế hệ trước trông có vẻ tĩnh tại. Trước đó chưa bao giờ diễn ra sự thay đổi cách sống cơ bản hoặc sự sụp đổ toàn bộ các truyền thống đáng kính như thế. Như một đòn can thiệp, tốc độ sinh hoạt được tăng tốc đến một tiến độ có lẽ khiến Leonardo da Vinci hoặc Huân tước Isaac Newton phải giật mình. Dân số châu Âu tăng từ 180 triệu khi Cách mạng Pháp kết thúc lên con số hầu như không thể tin được 460 triệu năm 1914. Trong hơn một thế kỷ trước đó chưa có chuyện gia tăng dân số như thế xảy ra. Do những thay đổi này và những thay đổi tương tự, cuộc sống đối với người hiện đại mang một mức độ phức tạp và đa dạng chưa từng có. Quan điểm chính trị, xã hội mới làm tăng thêm sự nhầm lẫn, bối rối, hoang man. Cả thế kỷ là một quá trình thay đổi liên tục, với các khuynh hướng mâu thuẫn và sự bất đồng sâu sắc về các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, chúng ta phải giả định rằng thế kỷ 19 hoàn toàn không liên quan với các giai đoạn trước đó. Đối với những năm 1800 – 1830 trường hợp không phải thế. Những năm này chủ yếu là do kết quả của Cách mạng Pháp - qua chính sách phản động chống lại tự do và bình đẳng, nổi loạn chống lý trí và khoa học và nỗ lực buộc con người phải tuân thủ uy quyền. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 13/29 c. Cách mạng kỹ nghệ trong thế kỷ 19 và 20 Ý nghĩa của Cách mạng kỹ nghệ. Trong giai đoạn từ năm 1400 đến khoảng 1700, nến văn minh hiện đại trải qua sự biến động kinh tế quan trọng đầu tiên. Đây không phải là Cách mạng thương nghiệp, thủ tiêu nền kinh tế nửa tĩnh của thời Trung cổ và thay bằng chủ nghĩa tư bản năng động do giới thương nhân, chủ ngân hàng và chủ hãng tàu chi phối. Nhưng Cách mạng thương nghiệp chỉ là sự khởi đầu cho những thay đổi nhanh, mang tính quyết định trong lĩnh vực kinh tế. Ít lâu sau là Cách mạng công nghiệp không những mở rộng phạm vi kinh doanh khổng lồ trong lĩnh vực thương mại mà còn mở rộng sang lĩnh vực sản xuất. Trong chừng mực có thể rút gọn thành một công thức cô đọng, Cách mạng kỹ nghệ có thể bao gồm những đặc điểm sau: 1) Cơ khí hóa kỹ nghệ và nông nghiệp; 2) Sử dụng điện trong công nghiệp; 3) Sự phát triển hệ thống nhà máy; 4) Tăng tốc giao thông vận tải ở mức độ lạ thường; 5) Sự gia tăng đáng kể của sự kiểm soát tư bản đối với hầu khắp hoạt động kinh tế. Mặc dù Cách mạng công nghiệp bắt đầu vào khoảng năm 1760 nhưng vẫn chưa có được đầy đủ xung lượng trong thế kỷ 19. Nhiều sử gia chia phong trào này thành hai giai đoạn chính, lấy năm 1860 làm mốc phân định tương đối. Giai đoạn từ 1860 đến nay thường được gọi là Cách mạng công nghiệp thứ hai. d. Uy thế của chế độ dân chủ và chủ nghĩa dân tộc (1830 – 1914) Sự tái sinh của chế độ dân chủ: Sau các cuộc cách mạng những năm 1830, nhiều nước phương Tây trải qua giai đoạn tái sinh của chế độ dân chủ. Ở châu Âu, nước Anh là nước đi đầu, kế đến là Pháp, Đức, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ và Ý. Sau cùng, ngay cả Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và các vương quốc trên bán đảo Balkan ít nhất cũng thông qua một số hình thức cai trị dân chủ. Những gì hầu hết những quốc gia này quan tâm là chế độ dân chủ chính trị hoặc chính phủ, thể hiện qua nghị viện, quốc hội, chế độ phổ thông đầu phiếu và hệ thống nội các. Cho đến cuối thời kỳ này, vẫn còn nhiều quan ngại đối với chế độ dân chủ xã hội hoặc kinh tế. Có sự e ngại tự nhiên rằng điều này sẽ tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với vị thế của giới quý tộc cha truyền con nối, hoặc thế lực của trùm tư Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 14/29 bản công nghiệp và tài chính nhả một phần của cải của mình vì phúc lợi của những kẻ không hưởng đặc quyền. Ý nghĩa của chế độ dân chủ chính trị: Để hiểu chế độ dân chủ đúng nghĩa, chúng ta cần xét đến nguồn gốc lịch sử. Trong vai trò quan điểm chính trị, chế độ dân chủ bắt nguồn từ triết lý của Rousseau. Chính học thuyết của Rousseau về chủ quyền tối cao thuộc về đa số, cùng với sự tôn sùng thường dân của ông và những người theo chủ nghĩa lãng mạn khác, cung cấp cho chúng ta quan điểm xem tiếng nói của dân không gì khác hơn ý Chúa. Về mặt lịch sử, chế độ dân chủ chính trị trên hết có nghĩa là đa số nhân dân được quyền đại diện cho toàn bộ dân tộc, và trong khi hình thành đa số, lá phiếu của tất cả công dân phải bình đẳng với nhau. Cơ cấu nhà nước dân chủ vì thế bao gồm quyền phổ thông đầu phiếu và những vấn đề chẳng hạn như bầu cử thường xuyên và kiểm soát của quần chúng đối với quan chức chính phủ. Để cơ cấu này hoạt động hiệu quả, công dân phải có quyền tổ chức các đảng phái chính trị và tự do chọn giữa các đảng phái chính trị này. Tự do ngôn luận và tự do báo chí cũng được xem là thành phần cơ bản trong quan điểm dân chủ. Nhưng không có quyền nào trong số này được xem là tuyệt đối và hơn cả sự kiểm soát của đa số. Quả thật, nếu còn tất cả những quyền này, thì chế độ dân chủ sẽ không còn tồn tại, nhưng đa số chắc chắn phải hạn chế chúng khi có nguy cơ trực tiếp và chắc chắn đối với sự an toàn quốc gia. Vì thế thông lệ đối với các chính phủ dân chủ là ngăn cấm những bài diễn văn trước quần chúng ủng hộ cách mạng bạo lực và đàn áp báo chí nào tán thành học thuyết được cho là đặc biệt nguy hiểm. Nhiều nhân vật xuất sắc ngày nay tự xem mình là những người dân chủ tốt nhấn mạnh rằng những người phát xít và cộng sản đều ngăn cấm bày tỏ quan điểm trước quần chúng. Về mặt lịch sử, tất cả những gì đòi hỏi ở chế độ dân chủ là mọi quan điểm không đi kèm với mối đe dọa bạo lực đều được chấp nhận và thiểu số hòa bình được phép trở thành đa số. Quan điểm chính trị khẳng định quyền tuyệt đối của công dân được viết hoặc nói hoặc sống theo ý muốn, với điều kiện công dân ấy không gây hại cho hàng xóm, đều không phải là chế độ dân chủ mà là chủ nghĩa cá nhân. Ý nghĩa của chủ nghĩa dân tộc: Sự tiến bộ của chế độ dân chủ từ 1830 đến 1914 đi kèm với sự bùng phát chủ nghĩa dân tộc và kết quả của nó, chủ nghĩa đế Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 15/29 quốc và cuội tranh giành quyền lực giữa các nước. Chủ nghĩa dân tộc có thể được xem như một chương trình hoặc quan điểm trên cơ sở ý thức về tính chất dân tộc. Cảm nghĩ hoặc ý thức về tính chất dân tộc có thể tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Một người có thể tự xem mình thuộc dân tộc nào vì những điểm cụ thể của chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc văn hóa. Trong hầu hết các trường hợp, yếu tố hàn gắn các nhóm khác nhau lại với nhau là một lịch sử chung và khát vọng chung hướng về tương lai hoặc một niềm tin tuyệt đối vào vận mệnh chung. Những thành phần như thế có thể giải thích nước Bỉ, Thụy Sỹ, Canada và M ỹ được xem là các quốc gia, vì trong tất cả bốn nước này có những khác biệt quan trọng về ngôn ngữ, tín ngưỡng hoặc cả hai - chứ đừng nói đến nền tảng dân tộc khác nhau. M ặc dù chủ nghĩa dân tộc trong một số khía cạnh là một tác động từ tâm, nhất là trong thời kỳ đầu khi chủ nghĩa dân tộc thường mang hình thức đấu tranh vì tự do, nhưng nói chung vẫn là một ảnh hưởng có hại. Đặc biệt nguy hại khi được thể hiện thành chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến, chủ nghĩa quân phiệt với tham vọng xâm lược và thống trị. Sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc: Không còn nghi ngờ gì nữa, chủ nghĩa dân tộc là một trong những tác động mạnh nhất định hình lịch sử thế giới phương Tây trong những năm từ 1830 đến 1914. Từ một quan điểm mơ hồ trong các thế kỷ đầu kỷ nguyên hiện đại, chủ nghĩa dân tộc phát triển thành một thứ tín ngưỡng phổ biến. Đối với hàng triệu người bị đánh lừa, chủ nghĩa này trở thành một lực lượng còn mạnh hơn tôn giáo, vượt qua đạo Kitô trong sức hấp dẫn cảm xúc và tinh thần hy sinh trong sự nghiệp thiêng liêng. Người ta chết vì vinh quang của lá cờ cũng vui vẻ như một người tử đạo bất kỳ đã hy sinh mạng sống của mình cho Thập giá. M ặc dù thường đồng tồn tại với chế độ dân chủ và chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa dân tộc quân phiệt còn mạnh hơn cả hai, cũng như thường xuyên cản trở hoặc kiềm chế cả hai. Được nuôi dưỡng bởi quan điểm Bác ái của Cách mạng Pháp, chủ nghĩa dân tộc hiện đại phát triển qua hai giai đoạn. Từ đầu thế kỉ 19 đến khoảng năm 1848, chủ nghĩa dân tộc không gì khác hơn lòng trung thành xúc cảm với một nhóm văn hóa và ngôn ngữ và khao khát thoát khỏi sự áp bức của nước ngoài. Sau năm 1848, chủ nghĩa dân tộc phát triển thành một phong trào xâm lược vì sự vĩ đại của quốc gia và quyền của mỗi người kết hợp Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 16/29 qua những quan hệ văn hóa và dân tộc để xác định nhận dạng của riêng mình. Thể hiện cực đoan hơn của chủ nghĩa dân tộc được minh họa qua sự tôn sùng điên cuồng quyền lực chính trị và mù quáng trung thành học thuyết chủng tộc vượt trội và ảo tưởng danh dự quốc gia, trong những hình thức như thế, hầu như chủ nghĩa dân tộc đồng nghĩa với chủ nghĩa sô vanh, loại tinh thần ái quốc dương dương tự đắc được thể hiện qua quan điểm, “Dù đúng sai gì cũng là quốc gia của tôi”. e. Tiến bộ tri thức và nghệ thuật trong Thời kỳ đại Chế độ dân chủ và Chủ nghĩa dân tộc Đặc điểm của cách mạng tri thức mới: Nói chung thường ám chỉ tiến bộ tư tưởng trong các thế kỷ 17 và 18 là Cách mạng tri thức. Thật chính xác khi áp dụng từ này cho sự tiến bộ tri thức trong thời gian từ năm 1830 đến năm 1914. Trước đó chưa hề có chuyện trong một khoảng thời gian ngắn như thế trí tuệ con người lại có được những khám phá và quan điểm gợi mở nhiều như thế. Và chắc chắn một phần lớn trong số này hoàn toàn mang tính cách mạng trong ảnh hưởng của chúng cũng như mọi ảnh hưởng khác bất kỳ được lưu truyền từ quá khứ. Nhưng trong một số khía cạnh, cách mạng tri thức tư tưởng trong những năm 1830 - 1914 khác với cách mạng tri thức trong thế kỷ 17 và 18. Vì một lẽ, truyền thống duy lý hoặc suy diễn lúc này gần như đã chết hẳn. Sự sụp đổ của Chủ nghĩa duy lý được phản ánh trong sự giảm sút đáng kể tầm quan trọng của triết học tương đối. Ngoài ra, trong một kỷ nguyên mới, triết học thường được xem là một môn khoa học phụ. Vấn đề vũ trụ sau cùng vẫn chưa được giải quyết hoặc con người mất đi khả năng suy nghĩ, nhưng đúng ra các môn khoa học phải được chấp nhận như các nguồn kiến thức đáng giá. Thật ra, có một số người tìm kiếm tri thức phản đối khuynh hướng mới, nhưng cũng có một ít người dũng cảm ủng hộ sự hồi sinh phép suy diễn thuần túy hoặc quan điểm thần bí trong việc khám phá chân lý. Nói cách khác, thắng lợi của chủ nghĩa kinh nghiệm, hoặc triết học rút ra chân lý từ kinh nghiệm cụ thể hơn là từ lập luận trừu tượng, gần như hoàn toàn. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 17/29 3. Thời kỳ chiến tranh và cách mạng toàn diện từ năm 1914: a. Thế chiến thứ I Nguồn gốc chiến tranh trong các xu hướng chính trị thế kỷ 19: Thời kỳ huy hoàng của khoa học, chế độ dân chủ, và cải cách xã hội được đề cập trong các chương trước kết thúc bằng một trong những cuộc chiến hãi hùng nhất xưa nay chưa từng xảy ra. Lúc đầu, mặc dù kết quả này trông có vẻ nghịch lý. Nhưng phải nhớ rằng giai đoạn từ 1830 đến 1914 có những đặc điểm hoàn toàn không liên quan với sự tiến bộ chính trị, xã hội hoặc tri thức. Ngoài thời kỳ chế độ dân chủ ra, đây còn là thời kỳ chủ nghĩa đế quốc. Trong khi tiền bạc chi cho phúc lợi xã hội nhiều hơn trước đây, thì ngân sách dành cho hải quân và quân đội cũng tăng ở mức khổng lồ tương tự. Mặc dù có những tiến bộ đáng kể trong khoa học giáo dục, mê tín điên cuồng, tàn ác vẫn tiếp tục ẩn nấp trong nhiều nơi không ngờ. Chủ nghĩa dân tộc sôvanh hiếu chiến phát triển mạnh như bệnh dịch hạch. Các lãnh đạo tri thức ở Pháp, trong đó có tiểu thuyết gia Zola, khuấy động thái độ thù ghét nước Đức. Giới thi sĩ và giáo sư ở vùng sông Rhine xem thường tinh thần Đức và có thái độ khinh miệt đối với người Slav. Người Anh được dạy phải tin rằng mình là dân tộc văn minh nhất hành tinh và quyền xâm chiếm “thuộc địa trên khắp đồi cọ và đồi thông” chỉ kém hơn uy quyền của Thiên Chúa. Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ, đang học ở các đại học Tây Âu, phải trở về quê để giết “gia súc Kitô” của vua Hồi Sultan ở Macedonia. b. Chế độ độc tài và chế độ dân chủ giữa hai cuộc chiến Ảnh hưởng của chiến tranh đối với chế độ dân chủ và chủ nghĩa tự do. Ít nhất hậu quả bi kịch của Thế chiến I không phải là sự xuống cấp của các quan điểm tự do và dân chủ. Có lúc, nhiều người bị lừa gạt bằng cách suy nghĩ ngược lại mới là đúng. Những người nhiệt tình ủng hộ sự nghiệp Đồng minh đều tuyên bố cuộc chiến chống Đức là cuộc thập tự chinh thần thánh nhân danh quyền lợi của nhân loại, đánh đổ chế độ quân phiệt và “chính phủ vô trách nhiệm”, bản thân chiến tranh không có vẻ như chỉ thực hiện một số mục đích này. Không những chế độ quân phiệt bị tiêu diệt ở các nước bại trận mà danh sách các nước Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 18/29 cộng hòa ở châu Âu ngày càng dài ra do có thêm Đức, Áo, Ba Lan, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Tiệp Khắc Thậm chí nước Nga độc đoán nhất có lúc cũng chấp nhận một chính phủ theo quan điểm tự do. Tuy nhiên, cho đến khi thấy được hầu hết những tiến bộ dân chủ thì một thời gian dài chỉ là ảo tưởng. Di sản cuồng loạn, oán giận, và thù ghét do chiến tranh để lại là bầu không khí tệ hại nhất có thể nghĩ đến vì còn sót lại thái độ tôn trọng dành cho cá nhân hoặc thái độ tin tưởng sự cai trị của quần chúng. Đau khổ do sự khắc nghiệt của hòa ước, các nước thua trận tuyệt vọng không tin vào giá trị của tự do và phải tuân thủ lời kêu gọi của chính phủ, xem đó là cách thoát khỏi những gì mà họ cho là nô dịch. Nhưng chế độ dân chủ và tự do cũng không được bảo đảm thậm chí trong các nước chiến thắng. Những năm chiến tranh hãi hùng phá vỡ hoàn toàn trật tự kinh tế đến mức chính phủ Anh, Pháp bị lung lay tận gốc. Ngoài ra, sự hỗn loạn và khó khăn do chiến tranh gây ra cùng với sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ tự do ở Nga, mở đường cho chủ nghĩa phát xít giành chiến thắng ở Ý và chủ nghĩa quốc xã ở Đức. Hơn 20 năm sau khi ký thỏa thuận ngừng bắn, số phận của chế độ dân chủ ở thế cân bằng hơn các giai đoạn khác từ giữa thế kỷ 19. c. Sự trở về tình trạng vô chính phủ quốc tế Những kết quả đầy thất vọng của chiến thắng và thịnh vượng. Không có chiến thắng nào của phe Đồng minh năm 1918, cũng như sự thịnh vượng trong thập niên 1920, mang lại hòa bình và tự do cho một thế giới thống khổ. Có lẽ, trong phân tích sau cùng, cả hai đều là rào cản đối với một bất kỳ kết quả đáng mong muốn nào như thế. Phe Đồng minh không để ý đến bài học thử thách khủng khiếp dẫn mình đến thắng lợi. Do sự cám dỗ và lòng tham khuất phục, người ta vứt bỏ chiến thắng. Thịnh vượng trong thập niên 1920 dựa trên những nền tảng quái đản như thế và được phân phối xấu đến mức thảm họa kinh tế gần như không tránh khỏi. Năm 1939 văn minh hiện đại đối mặt với một thử thách quan trọng khác: khả năng tồn tại trong cuộc chạy đua với thảm họa. d. Thế chiến thứ II Tháng 9/1939, châu Âu một lần nữa bên bờ vực thẳm. Hòa ước 1919 - 1920 hóa ra chỉ là thỏa thuận ngừng bắn, lúc này hàng triệu người rơi vào cuộc Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 19/29 xung đột với mức chưa từng có. Tên gọi cuộc xung đột này theo nhiều người là một tên gọi không chính xác. Đây không phải là chiến tranh thế giới lần thứ hai trong lịch sử mà là một loạt cuộc chiến từ khi hệ thống nhà nước hiện đại ra đời. Giáo sư Arthur M . Schlesinger ở đại học Harvard phát biểu rằng thật ra đây là Thế chiến thứ 9. Chắc chắn một số cuộc xung đột như Chiến tranh 30 năm, Chiến tranh 7 năm, và những Cuộc chiến Napoléon đều là chiến tranh thế giới, với các đặc điểm giống hệt, chỉ khác tên gọi. Thế chiến I và II lôi kéo nhiều nước, nhưng phần lớn đây là kết quả Â u hóa toàn cầu thực hiện trên một khu vực rộng hơn, do đó hệ thống nhà nước châu Âu mở rộng hơn. e. Chiến thắng tạo nên thế giới Đặc điểm bi kịch của thế giới sau chiến tranh. Thế giới sau cuộc thử thách gắt gao trong Thế chiến II không giống với giấc mơ của những người theo chủ nghĩa lý tưởng đưa ra trong những ngày đầu xảy ra xung đột. Trên một diện tích rộng bao la, là một thế giới đói khổ, sợ hãi, tro tàn và gạch vụn, thất vọng, đau khổ và bạo lực. Hầu như không nơi nào tìm thấy chứng cứ Bốn tự do hoặc điều khoản trong Hiến chương Đại Tây Dương được thực hiện. Hy vọng của quần chúng ở các nước nghĩ rằng an ninh và hòa bình tự động sẽ đến khi cuộc tàn sát kết thúc, lúc này hoàn toàn thất vọng. Sự phục hồi hoạt động chính trị sức mạnh và sợ một cuộc chiến mới, sử dụng vũ khí hạt nhân và chất độc vi trùng, so với thập niên 1930 gần như thanh bình và trật tự. Tuy nhiên, thế giới thời hậu chiến không phải hoàn toàn thất vọng với thái độ bi quan. Một số chủ nghĩa lý tưởng vẫn đang tồn tại, và đến lúc ấy vẫn còn hy vọng, kiên nhẫn và nỗ lực của nhiều người có thiện chí sẽ chữa lành một số vết của quá khứ và có thể khởi đầu một tương lai xán lạn hơn. Mức sống ở nhiều nơi trên thế giới được nâng cao, tiến bộ ngoạn mục trong khoa học, và thành tựu tự quản của những “thuộc địa” trước đây như Ấn Độ, Indies thuộc Hà Lan, và các nước châu Phi mới khuyến khích nhiều người nghĩ rằng hy vọng ít nhất cũng có khả năng trở thành hiện thực phần nào. f. Văn hóa đương đại từ năm 1918 Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 20/29 Sự tương quan giữa văn hóa với các yếu tố chính trị và kinh tế. Các năm tiếp theo sau Thế chiến I tạo thành một trong những giai đoạn quan trọng nhất từ sau Cách mạng Tin Lành. Thể chế và lý tưởng trông có lẻ vững chắc thì bị đứt khỏi dây neo và có nguy cơ vỡ vụn. Chế độ dân chủ, chủ nghĩa tự do, thuyết duy lý và chủ nghĩa cá nhân gần như bị tàn phá bởi trận hồng thủy hành vi man rợ và thiếu lý trí. Chắc chắn các xu hướng văn hóa cũng phản ánh xu hướng chính trị và kinh tế này. Vì thế, chúng ta nên nghĩ rằng triết lý văn học và nghệ thuật mang đặc điểm bi quan và lúng túng, trong một số trường hợp đi kèm với sự thất vọng và trong một số trường hợp khác là bước đi dò dẫm cố tìm đường thoát. Đồng thời, cũng nên nêu rõ bản thân một số ảnh hưởng văn hóa một phần là nguyên nhận gây ra sự xáo trộn đang thịnh hành. Chẳng hạn, nhiều học thuyết khoa học, thường làm cho con người mất niềm tin vào lý trí, một công cụ để tiếp thu kiến thức. Nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng của một số nhà lý thuyết phát triển sự sùng bái sự phi lý, phủ nhận khả năng của chế độ dân chủ và biện minh cho cách cai trị bằng vũ lực. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 21/29 PHẦN III. ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC DESCARTES ĐẾN NỀN VĂN MINH PHƯƠ NG TÂY HIỆN ĐẠI 1. Tư tưởng triết học Descartes ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề của nền văn minh phương Tây hiện đại Những nước tiên tiến phương Tây phải thực hiện được ba cuộc cách mạng: xã hội, văn hóa và khoa học kỹ thuật. Năng suất cao trong sản xuất do nắm được khoa học từ công nghệ tiên tiến mà ra. Quan niệm được thành tựu khoa học kỹ thuật phải dựa trên tư duy Descartes. Chính nhờ Descartes, ngay cả khi ông ta dành rất nhiều trang cho việc chứng minh cho sự tồn tại của thượng đế, chính nhờ Descartes mà ta có khả năng phân biệt cái đúng với cái sai, có khả năng đấu tranh chống lại sự cuồng tín dưới mọi hình thức tôn giáo, chính trị, học thuật và từ bỏ mọi định kiến. Một thế giới hiện đại theo đúng nghĩa được mọi người chấp nhận phải là một thế giới duy lý. Người Phương Tây đã trải qua một giai đoạn phát triển mạnh về kinh tế, văn hoá. Đỉnh cao phát triển nằm vào khoảng cuối những năm sáu mươi đầu những năm bảy mươi trước cuộc khủng hoảng năng lượng. Sự phát triển mạnh về văn hoá và kinh tế ấy kéo theo nhiều hậu quả không hay cho quan hệ giữa con người với nhau, chẳng hạn sự lu mờ về nhân cách, sự thiếu trí tưởng tượng, sự bần cùng về trí tuệ, sự sùng bái hàng tiêu dùng Mỹ - Nhật vân vân…Cuối cùng người ta tìm ra kẻ đưa đầu chịu báng, đó là chủ nghĩa duy lí. Trước tình hình đó người ta chê trách Descartes, gán cho ông đủ thứ tôi, kỳ thực người ta sai lầm to. Thực vậy, Descartes cũng như các nhà triết học tạo ra các hệ tư tưởng riêng chỉ đại diện cho một cách ứng xử giữa muôn vàn cách ứng xử khác nhau của nhân loại. Lối ứng xử kiểu Descartes là lối ứng xử quan trọng nhất nhưng không duy nhất. Bị bão hoà trong lối ứng xử Descartes, người Phương Tây có thể cho phép mình tản mạn đôi tí, hướng theo chủ nghĩa tình cảm hơn là lí trí, lãng mạn đôi tí, tóm lại là phản duy lí đôi tí. M ột số kẻ muốn “lùi về với thiên nhiên”, trào lưu “xanh” vì môi trường phát triển Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 22/29 mạnh. Nhưng ta chớ quên qui luật muôn đời đúng cho cả lĩnh vực tự nhiên lẫn xã hội: một xã hội con người giống như một cơ thể sống, luôn có nhu cầu tự điều chỉnh. Nơi nào có gì thái quá sẽ có cái hãm. Thế giới tiến hoá không tuỳ thuộc ý chí người này người nọ, thế giới tiến lên phía trước với những khúc quanh và những điểm dừng. Có người muốn thế giới tụt lùi nhưng sẽ toi công. Đối với xã hội chúng ta hiện nay, hướng đi là theo con đường duy lý. Ảnh hưởng về ngôn ngữ học với công trình nổi tiếng của Noam Chomsky có tên là “Ngôn ngữ học theo xu hướng Descartes”. Cuộc cách mạng của Saussure vào đầu thế kỷ 20 làm thay đổi phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học, từ chỗ nghiên cứu tản mạn dựa trên so sánh lịch sử đến chỗ trở thành một khoa học thực sự ngôn ngữ dựa trên chủ nghĩa cấu trúc. Cách tiếp cận mới về ngôn ngữ này cho phép tạo ra nhiều phát kiến. Nhưng rồi cũng bị bế tắc. Thay vào đó là môn tâm lý học hành vi với tư tưởng Descartes Chomsky nghiên cứu ngôn ngữ qua một số vấn đề khái quát trên cơ sở lý thuyết tạo sinh – chuyển đổi. Từ đó ông tìm tòi cái phổ quát của ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Chomsky tuyên bố “…Có một hố ngăn cách giữa một bên là hệ thống các ý niệm mà ta có được một cách đầy đủ và bên kia là bản chất trí tuệ con người… Nắm được một ý kiến tương tự là nhờ triết học Descartes. Descartes cũng sớm nhận ra rằng nghiên cúu tư duy đặt chúng ta đối mặt với tính chất phức tạp chứ không phải đối mặt với các mức độ phức tạp”. Năm 1637 lần đầu tiên cuốn “Phương pháp luận” ra đời, cuốn sách đó được coi như bản tuyên ngôn của chủ nghĩa duy lí. M ốc lịch sử này luôn làm ta ghi nhớ bởi lẽ nó là mốc quan trọng nhất của triết học Descartes. Chúng ta nhớ lại rằng vào thời Descartes do những cản trở về dân trí mọi mưu toan chủ trương thuyết duy lí được xem như thách thức trật tự xã hội, thách thức giáo hội. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Descaertes, đi vòng quanh trước khi đạt đến đích. Đằng sau câu nói nổi tiếng “Cogito ergo sum” (Tôi nghĩ. Vậy tôi tồn tại) và sự tồn tại của thượng đế ẩn chứa nhiều điều mà may thay những kẻ giáo điều không nhìn thấy. Về sự hồi sinh của tư tưởng Descartes trong trong thời đại hiện nay, nó Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 23/29 được biểu hiện bằng sự khôi phục mạnh mẽ phẩm chất con người. Tất cả muốn nói lên rằng lương tri không hoàn toàn rời bỏ con người. Chủ nghĩa duy lý và thuyết nhị nguyên của René Descartes: Có lẽ không cần phải tưởng tượng quá nhiều, chúng ta cũng có thể cho rằng Cách mạng tư tưởng là một mối quan hệ của ba cha đẻ, René Descartes, Huân tước Isaac Newton và John Locke. Sau này có nhiều phần nói về Newton và Locke. Bây giờ chúng ta cần khảo sát lời dạy René Deseartes, người lính của tương lai, nhà toán học, kiêm nhà vật lý, là người luôn ủng hộ chủ nghĩa duy lý trong triết học. Dĩ nhiên, ông không phải là người đầu tiên cho rằng lý trí là con đường dẫn đến kiến thức nhưng chủ nghĩa duy lý của ông khác với chủ nghĩa duy lý của các nhà tư tưởng ban đầu - chẳng hạn những người thuộc trường phái triết học kinh viện - ở chỗ là các nhà kinh viện ngăn chặn uy quyền cứng nhắc. Tin rằng cả quan điểm truyền thống lẫn kinh nghiệm thông thường của nhân loại là những hướng dẫn không đáng tin, ông quyết định thông qua một phương pháp mới hoàn toàn khách quan. Phương pháp này là công cụ suy luận thuần túy trong toán học, bao gồm khởi đầu bằng những sự thật đơn giản, tự nó đã hiển nhiên, hoặc được xem như tiên đề, như trong hình học, rồi sau đó lập luận từ những tiên đề này để đi đến kết luận cụ thể. Descartes cho rằng mình đã tìm thấy một tiên đề như thế trong nguyên tắc nổi tiếng của ông: “Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại” (cogsto ergo sum). Từ tiên đề này, ông cho rằng có thể suy luận ra một tập hợp kiến thức phổ thông vững chắc - chẳng hạn để chứng minh rằng Chúa đang tồn tại rằng con người là động vật biết suy nghĩ, và trí tuệ khác với vật chất. Ông tuyên bố rằng, những chân lý này là đúng, không thể sai lầm được cũng như những chân lý trong hình học không bao giờ sai lầm, vì chúng là kết quả của cùng một phương pháp không phạm sai lầm. Quan niệm vũ trụ theo thuyết cơ giới của Descartes: Nhưng Descartes có vai trò quan trọng không những là cha đẻ ra chủ nghĩa duy lý mới, ông còn là người đưa ra quan niệm vũ trụ theo thuyết cơ giới. Ông cho rằng toàn bộ thế giới vật chất, hữu cơ cũng như vô cơ, đều có thể được định nghĩa bằng sự mở rộng và chuyển động. Có lần ông tuyên bố: “Hãy cho tôi sự mở rộng và chuyển động, tôi Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 24/29 sẽ kiến tạo thế giới”. Ông khẳng định, toàn bộ khối vật chất tự nhiên luôn di chuyển không ngừng theo một loạt xoáy nước hay cơn lốc, một số nhỏ vô hạn và số khác đủ lớn đến mức mang được cả hành tinh xoay quanh mặt trời. Mỗi sự vật riêng biệt - một thái dương hệ, một vì sao, bản thân trái đất – là một cỗ máy tự vận hành do một lực đẩy phát sinh từ chuyển động nguyên thủy do Chúa ban cho vũ trụ. Descartes thậm chí không loại trừ thể xác của động vật và con người ra khỏi mẫu thuyết cơ giới chung này. Toàn bộ thế giới tự nhiên là một. Hành vi của động vật và phản ứng cảm xúc của con người tự động tuôn trào từ kích thích bên trong ra kích thích bên ngoài. Tuy nhiên, ông khẳng định con người khác với mọi sinh vật khác ở chỗ có được khả năng lập luận. Trí tuệ không phải là một hình thức vật chất, mà là một thực thể hoàn toàn tách biệt do Chúa cấy vào cơ thể người. Trí tuệ nằm ở tuyến yên, trong vùng phía trên sọ não. Cùng với thuyết nhị nguyên trí tuệ và vật chất này, Descartes cũng tin vào các ý tưởng bẩm sinh. Ông cho rằng chân lý hiển nhiên không có mối quan hệ nào vôi kinh nghiệm nhận cảm phải mang tính cố hữu trong bản thân trí tuệ. Người ta không học chúng bằng cách sử dụng giác quan, nhưng nhận thức chúng theo bản năng vì chúng là một bộ phận trong công cụ trí tuệ từ lúc mới sinh. 2. Ảnh hưởng của triết học Descartes đối với tư tưởng của các nhà triết học khác Con đường của một chủ thuyết duy lý tân thời do Descartes vạch ra như thế, đã được các triết gia nối gót, từ M alebranche, Leibniz, Spinoza và Kant mãi cho tới chủ nghĩa duy tâm lý của Brentano và vì thế đã biến Descartes trở thành cha đẻ của nền triết học về ý thức trong thời tân đại. Điều đó cũng muốn nói lên rằng chính trong sự nổ lực phát huy một nền triết học vô chủ quan tính như chúng ta tìm gặp trong Hiện Tượng Luận của Edmund Husserl, luôn luôn lại phải tìm đến nương tựa nơi đường lối tư tưởng Descartes. Nhưng ngay cả đến những nổ lực khác tìm cách vượt qua quan điểm duy lý của Descartes, như chủ nghĩa thực dụng hay sự chối bỏ sự nhận thức chắc chắn của Popper và Derrida cũng sẽ chỉ là một điều không tưởng nếu không có Descartes. Bởi vì vấn nạn còn để ngỏ chưa được giải đáp là trong mức độ nào Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 25/29 hay đến điểm nào thì trong những tranh cãi hiện thời về sự phê bình lý trí hay về sự tự quyết của con người (gợi lên bởi sự khảo cứu về thần kinh học) dưới lớp vỏ mang màu sắc của ý niệm mới như nhị nguyên luận: “Nảo bộ-tinh thần” (một điều xem ra không có gì khác với nhị nguyên luận của Descartes: “Thể xác-linh hồn”) thì không phải là sự tái xuất hiện vấn nạn cũ mà Descartes đã nêu lên hay sao? Nếu sự thật của vấn đề hoàn toàn đúng như vậy, thì bấy giờ rất đáng cho chúng ta phải suy nghĩ lại về điều đó, cả đến việc phải chấp nhận những câu giải đáp mà Descartes đã tiên đoán trước với sự trân trọng. Ở phương Tây, cho đến nay người vẫn trung thành với định nghĩa của nhà khoa học, nhà triết học lớn Descartes về siêu hình học. Trong nhưng nguyên lý của triết học Descartes viết: "Toàn thể triết học như một cái cây mà rễ là siêu hình học, thân là hình nhi hạ học". Trước hết, đó là những sự vật như bản thể nói chung, nhất là Thượng đế, là những bản thể tinh thần được làm ra từ hình ảnh của Người (Bossuet), đó là toàn thể những tri thức do năng lực nhận thức a priori đưa lại (Kant), đó là tri thức trực giác của cái tuyệt đối và một cách ưu tiên của cái tinh thần (Bergson). Còn có thể kể tiếp nhiều ý tưởng tương tự. Tất cả các chân lý của siêu hình học, nói như Husserl, đều là cái bất biến, nói như J.P. Sartre, là cái vô bằng, nó là nguyên nhân của chính nó. Chủ nghĩa duy lý là một chủ nghĩa rộng lớn thâm nhập vào nhiều dòng tư tưởng và trải qua nhiều thế kỷ : có chủ nghĩa duy lý Descartes, có chủ nghĩa duy lý Kant, chủ nghĩa duy lý Hegel, chủ nghĩa duy lý Marx và chủ nghĩa duy lý hiện nay. Ở đây chỉ xét chủ nghĩa duy lý trong thế kỷ XVII, ở Tây Âu (nhất là ở Pháp), trên phương diện nó nối tiếp chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng và mở đường dần cho chủ nghĩa dân chủ sau này. Chủ nghĩa duy lý (từ chữ Latinh rationalis-hợp lý, ration, lý trí) là xu hướng triết học lấy lý trí làm cơ sở cho nhận thức và ứng xử của con người. Nó đối lập với chủ nghĩa phi lý và chủ nghĩa duy cảm. Chống lại chủ nghĩa kinh viện và giáo điều tôn giáo thời Trung cổ, chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVII xuất phát từ tư tưởng về trật tự tự nhiên- chuỗi nguyên nhân khách quan chi phối toàn thế giới. Theo chủ nghĩa duy lý, sự hiểu biết khoa học (tức là khách quan, tổng quát, tất yếu) chỉ có thể đạt được nhờ lý trí. Lý trí- chứ không phải thực tiễn và kinh nghiệm, không phải thần thánh- là nguồn gốc Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 26/29 của tri thức và tiêu chuẩn chân lý của nó. Chủ nghĩa duy lý về sau bị phê phán ở hai nhược điểm : tách nhận thức khỏi cảm giác, tách nhận thức lý tính khỏi nhận thức cảm tính ; chưa triệt để duy vật mà quan niệm duy tâm về nguồn gốc các tư tưởng, coi tư tưởng xuất phát từ những tư tưởng bẩm sinh. Chủ nghĩa duy lý là một trong những nguồn gốc triết học của hệ tư tưởng khai trí với những ý niệm về tự do, dân chủ, giải phóng con người. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 27/29 KẾT LUẬN Giống như Nhà triết học M artin Heidegger đã nhận xét rằng không có Descartes, “thì sẽ không thể nào có thế giới hiện đại” đặc biệt đối với nền văn minh phương Tây hiện đại. Triết học Descartes đã giải quyết hậu quả không hay cho quan hệ giữa con người với nhau do sự phát triển mạnh về văn hoá và kinh tế. Descartes đã thật sự đề cao con người và trong con người, coi trọng cái theo ông là tiêu biểu nhất, làm con người khác với cây cỏ và động vật khác, là tư duy, lý trí. Tư tưởng duy lý Descartes không chỉ tỏa sáng lúc ông đang sống mà ảnh hưởng về lâu dài đến toàn bộ triết học nước Pháp, đến triết học nói chung «Triết học Pháp bắt đầu từ Descartes bởi vì triết học nói gọn bắt đầu từ Descartes». Chủ nghĩa duy lý Descartes là xu hướng triết học lấy lý trí làm cơ sở cho nhận thức và ứng xử của con người, nó ảnh hưởng đến chủ nghĩa duy lý Kant, chủ nghĩa duy lý Hegel, chủ nghĩa duy lý M arx và chủ nghĩa duy lý hiện nay. Nó đối lập với chủ nghĩa phi lý và chủ nghĩa duy cảm. Chủ nghĩa duy lý là một trong những nguồn gốc triết học của hệ tư tưởng khai trí với những ý niệm về tự do, dân chủ, giải phóng con người. Descartes cũng là người mở đường cho phương pháp khoa học hiện đại với bốn nguyên lý của lý trí: tính hiển nhiên, rõ ràng; phân tích; tổng hợp; tính đến tất cả các yếu tố, không bỏ sót cái nào. Đối với ông, chỉ được thừa nhận là chân lý cái gì đã thật là hiển nhiên, rõ ràng, không bắt bẻ được. Mà tính hiển nhiên, rõ ràng ấy được cho ta không phải bởi kinh nghiệm, cuộc sống, nó do trời phú, do bẩm sinh. Thời nay, bốn nguyên lý này có vẻ bình thường nhưng ở thời Descartes, đó là cả «một cuộc cách mạng tư duy chấm dứt thời đại giáo điều»: người ta không còn xét tính chân lý bằng cách so nó với các kinh kệ, với lý lẽ các nhà hiền triết cổ Hy-La hay Trung cổ. Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng do sự hạn chế về chủ quan cũng như khách quan nên chắc chắn tiểu luận này chưa thể giải quyết được mọi vấn đề như mong đợi. Tác giả xin được sự góp ý của Thầy giáo. Trân trọng cảm ơn./. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Trương Quang Khánh – Lớp Đêm 1 K 19 Trang 28/29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình giảng dạy “Khái lược lịch sử triết học phương Tây” của TS. Bùi Văn Mưa; 2. Sách “Lịch sử triết học Phương tây” của tác giả Nguyễn Tiến Dũng do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí M inh phát hành; 3. Tài liệu về “Nền văn minh phương Tây hiện đại” đăng trên website Bách khoa tri thức (www.bachkhoatrithuc.vn); 4. Bài viết của ông Phạm Minh Tuấn đăng trên website www.vietsciencies.org; 5. Tài liệu về triết gia René Descartes trên Bách khoa toàn thư mở Kiwipedia; 6. Bài viết về “Descartes, tổ triết học nước Pháp” của ông Phạm Quỳnh đăng trên website www.chungta.com.vn; 7. Và một số tài liệu sưu tập trên mạng khác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdt13_truongquangkhanh_d1k19_6826.pdf
Luận văn liên quan