Vai trò và nội dung của hoạt động xuất nhập khẩu của Doanh nghiệp

CHƯƠNG I VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP I . HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.Khái niệm xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện so sánh. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia và phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này và thực tế cũng cho thấy nếu một quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của mìh, áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì không bao giờ có cơ hội vươn lên để khẳng định vị trí của mình và nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển, tuy hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước nhưng hiện nay xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực. Mọi điều kiện kinh tế xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị đơn giản đến những máy móc có công nghệ cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài nhiều năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay của nhiều quốc gia khác nhau. 1. Vai trò của xuất khẩu. Phương thức cơ bản nhất để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài là thông qua xuất khẩu. Kinh doanh xuất khẩu cũng là một hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của doanh nghiệp . Hoạt động này tiếp tục cả khi doanh nghiệp đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của mình. Có được vị trí như vậy là do xuất khẩu có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Trước hết xuất những nước kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp nằm trong tình trạng khẩu giải quyết vấn đề ngoại tệ cho doanh nghiệp , tạo nguồn vốn để nhập khẩu. Ở những nước kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp nằm trong tình trạng thiếu vốn, công nghệ, thừa lao động phổ thông thiếu lao động đã qua đào tạo. Để giải quyết tình trạng này thì buộc họ phải nhập từ bên ngoài vào những yếu tố mà trong nước chưa có khả năng đáp ứng nhưng làm được điều đó phải có một khối lượng ngoại tệ rất lớn.

doc24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 30/01/2013 | Lượt xem: 10370 | Lượt tải: 29download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vai trò và nội dung của hoạt động xuất nhập khẩu của Doanh nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG I VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP I . HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.Khái niệm xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện so sánh. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia và phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này và thực tế cũng cho thấy nếu một quốc gia chỉ đóng cửa nền kinh tế của mìh, áp dụng phương thức tự cung tự cấp thì không bao giờ có cơ hội vươn lên để khẳng định vị trí của mình và nâng cao đời sống nhân dân. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu đời và ngày càng phát triển, tuy hình thức cơ bản đầu tiên là trao đổi hàng hoá giữa các nước nhưng hiện nay xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực. Mọi điều kiện kinh tế xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị đơn giản đến những máy móc có công nghệ cao. Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể kéo dài nhiều năm, có thể tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia hay của nhiều quốc gia khác nhau. Vai trò của xuất khẩu. Phương thức cơ bản nhất để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài là thông qua xuất khẩu. Kinh doanh xuất khẩu cũng là một hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của doanh nghiệp. Hoạt động này tiếp tục cả khi doanh nghiệp đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh của mình. Có được vị trí như vậy là do xuất khẩu có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trước hết xuất những nước kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp nằm trong tình trạng khẩu giải quyết vấn đề ngoại tệ cho doanh nghiệp, tạo nguồn vốn để nhập khẩu. Ở những nước kém phát triển, phần lớn các doanh nghiệp nằm trong tình trạng thiếu vốn, công nghệ, thừa lao động phổ thông thiếu lao động đã qua đào tạo. Để giải quyết tình trạng này thì buộc họ phải nhập từ bên ngoài vào những yếu tố mà trong nước chưa có khả năng đáp ứng nhưng làm được điều đó phải có một khối lượng ngoại tệ rất lớn. Thiếu vốn Công nghệ lạc hậu Khả năng sản xuất kém Có thể nói đây là “vòng luẩn quẩn” mà các doanh nghiệp tại các nước này gặp phải. Nếu thiếu vốn doanh nghiệp không thể nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ hiện đại, tăng khả năng sản xuất, tạo thế cạnh tranh trên thị trường và cái “vòng luẩn quẩn” đó sẽ ngày càng khép chặt hơn, thiếu sẽ càng thiếu hơn, yếu sẽ càng yếu hơn. Vốn? Đây là cấu hỏi hóc búa nhất không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn rất nan giải đối với chính phủ và các nhà hoạch định chính sách. Vì vậy, một trong những vật cản chính trong quá trình phát triển của doanh nghiệp là thiếu tiềm lực về vốn. Thực tế cho thấy để có vốn một doanh nghiệp có thể huy động nội lực và ngoại lực. Nguồn vốn huy động từ bên ngoài là vô cùng quan trọng, song để huy động được nguồn vốn này doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Mọi cơ hội doanh nghiệp được đầu tư hay vay nợ chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng trả nợ của công ty, trong đó họ rất chú ý đến hoạt động xuất khẩu. Và cuối cùng, thì bằng cách này hay cách khác doanh nghiệp cũng phải hoàn lại vốn cho đối tác. Như vậy, nguồn vốn quan trọng nhất chỉ có thể trông chờ vào xuất khẩu. Với đặc điểm của đồng tiền thanh toán phần lớn là ngoại tệ đối với một bên hoặc hai bên, xuất khẩu làm tăng ngoại tệ cho doanh nghiệp, tạo vốn để đổi mới máy móc thiết bị công nghệ , nhập công nghệ mới hiện đại từ các nước dang phát triển nhằm hiện đại hoá và tạo năng lực sản xuất mới. Vì vậy xuất khẩu thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển làm tăng C, gía trị máy móc thiết bị và làm giảm V, giá trị lao động cấu thành trong giá trị của hàng hoá chuyển dịch cơ cấu tư bản. Từ đó xuất khẩu tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và giúp doanh nghiệp tăng khả năng khai thác lợi thế so sánh của quốc gia. Có thể nói, xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của doanh nghiệp. Tóm lại, xuất khẩu là phương tiện quan trọng thu hút lượng ngoại tệ tạo vốn giúp doanh nghiệp thực hiện tái đầu tư mở rộng sản xuất không những về chiều rộng mà còn về chiều sâu. Thứ hai, xuất khẩu là bước quan trọng để doanh nghiệp xâm nhập và hội nhập vào thị trường thế giới, một thị trường rộng lớn và đa nhu cầu luôn là một thị trường nhiều triển vọng của doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Mục tiêu cuối cùng và bao trùm của mỗi daonh nghiệp là lợi nhuận song lợi nhuận sẽ chỉ đạt được thông qua thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Vì vậy hiểu đầy đủ nhu cầu của khách hàng là cơ sở để doanh nghiệp tìm cách thoả mãn tói đa nhu cầu đó. Điều này lại phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, vĩ mô và vi mô. Song một thực tế không thể phủ nhận là việc vuơn ra thị trường quốc tế làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô khách hàng, cung cấp sản phẩm cho một thị trường rộng lớn đa dân tộc, đa nhu cầu. Đặc biệt, tại thị trường quốc tế sức mua của khách hàng rất phong phú, da dạng. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có sức mua khác nhau tuỳ theo điều kiện như: Thu nhập, sức mua của đồng tiền, tập tính, thói quen tiêu dùng. Và đây chính là căn cứ giúp doanh nghiệp lựa chọn những đoạn thị trưòng phù hợp nhằm tối ưu hoá kết quả kinh doanh. Tham gia hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp có hể giảm đựoc chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng sản xuất nhờ quy mô. Chi phí Sản lượng Tuy nhiên, lý thuyết này cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp chỉ có lợi thế nhờ quy mô khi tăng sản lượng tới một giới hạn cho phép. Và những sản phẩm này phải được thị trường chấp nhận, tiêu thụ. Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu của khách hàng, cùng như mức độ chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp, từ đó áp dụng hiệu quả lý thuyết nhờ quy mô. Đặc biệt thông qua hợp đồng xuất khẩu, khả năng vượt trội của doanh nghiệp có thể khai thác được. Bởi có những sản phẩm doanh nghiệp không chỉ cung cấp cho thị trường trong nước mà còn có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường nước ngoài, hoặc thị trường trong nước không thể tiêu thụ được những sản phẩm của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tận dụng khả năng vượt trội về chất lượng, uy tín sản phẩm của doanh nghiệp, vươn ra chiếm lĩnh thị trường thông qua hoạt động xuất khẩu. Như vậy, doanh nghiệp sẽ khắc phục quy mô nhỏ bé của thị trường nội địa hay tình trạng trì trệ, giảm sút của nó trong những giai đoạn kinh doanh nhất định. Đồng thời khả năng phân tán rủi ro cũng là một ưu diểm rất lớn mà xuất khẩu khuyến khích doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này. Nói tóm lại hoạt động giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu cuối cùng và bao trùm của mình là tăng lợi nhuận bằng việc giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tăng doanh số bán hạn chế rủi ro. Thứ ba, thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới (về giá cả, uy tín, chất lượng). Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường, tạo ra những sản phẩm được tiêu chuẩn hoá cao nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trưòng quốc tế. Thực hiện marketing quốc tế với những nỗ lực về chính sách giá cả, phân phối, xúc tiến nhằm tăng khả năng thu nhập vào các thị trường lớn. Đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất với giá thị trường của nước mình nhằm tăng khả năng phát triển sản phẩm của mình trên thế giới. Từ đó tái đầu tư phát triển sản xuất đặc biệt, xuất khẩu cũng buộc các doanh nghiệp luôn phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đây là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Và cuối cùng, một vai trò đặc biệt quan trọng nữa của hoạt động xuất khẩu đó là thông qua xuất khẩu doanh nghiệp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của mình. Con người luôn là chủ thể trong các quan hệ xã hội, vì vậy doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đặt ra trong kinh doanh. Hoạt động xuất khẩu giúp thu hút nhiều lao động có khả năng đáp ứng nhu cầu công việc có chất lượng và hiệu quả. Đặc biệt doanh nghiệp tham gia xuất khẩu còn nâng cao đời sống của mọi cá nhân trong doanh nghiệp- đây chính là động lực để người lao động làm việc có chất lượng- nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Hơn thế nữa, do các diều kiện tiếp xúc thị trường mới, phương thức quản lý mới, khoa học công nghệ hiện đại. Nếu trình độ của người lao động của toàn doanh nghiệp nói chung và trình độ nghiệp vụ của cán bộ quản lý nói riêng được nâng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế. Tuy nhiên, song song với cơ hội là những thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt. Những thách thức này không thể làm nản lòng và hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài, ngược lại điều đó buộc các doanh nghiệp phải nhận thức sự cần thiết, hiệu quả để thâm nhập thị trường nước ngoài. Tóm lại, hoạt động xuất khẩu có vai trò vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp chuyên doanh XNK. II NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU. Nội dung cơ bản của hoạt động xuất khẩu thực tế cũng tương tự như một hoạt động mua bán trong nước nhưng có nhiều yếu tố cơ bản và phức tạp hơn do có yếu tố nước ngoài, bởi vậy doanh nghiệp xuất nhập khẩu muốn hoạt động có hiệu quả thì cần: 1.Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt các thủ tục và kỹ thuật được đề ra để giúp các nhà kinh doanh có đầy đủ thông tin cần thiết về thị trường của mình từ đó có thể ra quyết định kinh doanh chính xác và hiệu quả. Do vậy, nghiên cứu thị trưòng ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp chuyên doanh xuất nhập khẩu. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp thì thị trường của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp đó, tức là những khách hàng đang mua hoặc có thể sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp đó. Khi vận dụng khái niệm trên cho thị trường thế giới thì những điểm nêu trên càng rõ nét hơn, sự khác biệt và đa dạng càng trở nên sâu sắc hơn. Do vậy, thị trường quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng quốc tế tiềm năng của doanh nghiệp đó. Theo khái niệm trên thì số lượng và cơ cấu nhu cầu của khách hàng nước ngoài đối với sản phẩm cuả doanh nghiệp cũng như sự biến động của các yếu tố đó theo không gian và thời gian là đặc trưng cơ bản của thị trường quốc tế của doanh nghiệp. Số lượng và cơ cấu nhu cầu chiụ ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, vĩ mô và vi mô đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiên cứu tỷ mỷ. Thật vậy, thị trường chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau, thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa các nhân tố này có trường hợp được thể hiện rõ ràng song cũng có trường hợp rất tiềm ẩn, khó nắm bắt. Việc định dạng các nhân tố này này cho phép các doanh nghiệp xác định rõ những nội dung cần đến ngành nghiên cứu trên thị trường quốc tế. Nó cũng là căn cứ để lựa chọn thị trường, cách thức xâm nhập thị trường và các chính sách marketing khác, một cách khái quát nhất việc nghiên cứu thị trường quốc tế được tiến hành theo các nhân tố ảnh hưởng sau: Nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu Đó là các yếu tố thuộc về hệ thống thương mại quốc tế. Mặc dù xu hướng chung trên thế giới là tự do mậu dịch và các nỗ lực chung để giảm bớt các hàng rào ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, nhưng các nhà kinh doanh luôn phải đối diện với các hạn chế thương mại khác như thuế quan, hạn ngạch, cấm vận hay hàng rào phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu những sự quản lý điều tiết định hình như phân biệt đối xử tiêu chuẩn sản phẩm đối với doanh nghiệp nước ngoài. Mặt khác các liên kết kinh tế vừa tạo lên những cơ hội song cũng tạo nen những thách thức đối với doanh nghiệp tham gia xuất khẩu định thâm nhập vào thị trường đó. Như vậy nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu bước đầu sẽ cho doanh nghiệp một cái nhìn tổng quát trứơc khi đưa ra các quyết định kinh doanh của mình. Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường kinh tế Khi xem xét các thị trường nước ngoài các nhà kinh doanh phải nghiên cứu nền kinh tế của từng nước với ba đặc tính phản ánh sự hấp dẫn của một nứơc như xét một thị trường: Trước hết là cấu trúc công nghiệp của nước đó, cấu trúc công nghiệp của một nước định hình các yêu cầu về sản phẩm và dịch vụ, mức lợi tức và mức độ sử dụng nhân lực, có thể phân biệt các nứóc thành bốn loại cấu trúc như sau: + Nền kinh tế tự cấp tự túc: ở đó tuyệt đại dân cư làm nông nghiệp đơn giản. Họ tiêu thụ hầu hết các sản phẩm làm ra và trao đổi số còn lại để lấy những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ khác. Đây là thị trưòng ít hấp dẫn đối với các nhà xuất khẩu + Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu thô: các nước này có một hay nhiều loại tài nguyên phong phú nhưng lại nghèo ở phương diện khác, phần lớn thu nhập là nhờ xuất khẩu tài nguyên. Đây là thị trưòng rất hấp dẫn đối với trang thiết bị khai thác dụng cụ và nhiên liệu, thiết bị xử lý và phương tiện vận chuyển. +Nền kinh tếđang công nghiệp hoá: tại các nứoc này công nghiệp chế biến chiếm từ 10-20% tổng sản phẩm quốc dân. Khi phát triển công nghiệp chế biến các nước này cần nhập khẩu nguyên liệu dệt, thép, cơ khí nặng, công nghiệp hoá tạo ra một tầng lớp giàu có mới và trung lưu đang phát triển có nhu cầu về các loại hàng hoá mới, chủ yếu là hàng nhập khẩu. +Nền kinh tế công nghiệp hoá: Đây là những nứoc xuất khẩu nhiều hàng xuất khẩu chế biến và vốn đầu tư. Họ mua bán sản phẩm hế biến và xuất khẩu sang các nước kém phát triển để đổi lấy nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế. Các hoạt động công nghiệp rộng lớn và da dạng cùng một tầng lớp trung lưu đông đảo tạo nên những thị trường hấp dẫn đối với mọi lợi sản phẩm. Đặc tính thứ hai về kinh tế là phân bố thu nhập: Sự phân phối thu nhập của một nước bị chi phối bởi cấu trúc công nghiệp song còn chịu tác động của nhân tố chính trị. Thu nhập bình quân đầu người của một nước sẽ phản ánh khả năng thanh toán của quốc gia đó cho những sản phẩm tiêu dùng mà họ nhập khẩu. Đặc tính thứ ba là động thái của các nền kinh tế. Các nước trên thế giới đã trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau được đặc trưng bằng các tốc độ tăng trưởng khác nhau. Tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưỏng đáng kể tới tổng mức nhu cầu của thị trường và tổng mức nhập khẩu của sản phẩm Nghiên cứu các nhân tố từ môi trường chính trị luật pháp Các quốc gia rất khác nhau về môi trưòng chính trị, luật pháp, do đó khi xem xét khả năng mở rộng hoạt động sang một thị trườngnước ngoài cần chú ý tới một số nhân tố cơ bản sau: Thái độ đối với các nhà kinh doanh nước ngoài: Một số nước rất khuyến khích thực sự đối với các nhà đầu tư nước ngoài, còn một số nứơc khác lại có thái độ thù địch. Do vậy, daonh nghiệp có thể gặp nhiều thuận lợi với luật khuyến khích đầu tư, tinh giảm về các luật, về cấp giấy phép và các quy định liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Song cũng có thể gặp nhiều trở ngại với những yêu cầu hạn ngạch, hạn chế sử dụng ngoại tệ, quy định về sự có mặt cao của người địa phương trong hội đồng quản trị.. Sự ổn định chính trị: Một đất nước với một chế độ chính trị ổn định là điều kiện căn bản sự tin tưởng cho các nhà kinh doanh nước ngoài có thái độ kinh doanh nghiêm túc. Sự điều tiết về tiền tệ: nhiều quy định về sử dụng ngoại hối cũng có thể gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trường hợp lý tưởng nhất là được tự do chuyển ngoại tệ. Trường hợp ít thuận lợi hơn là các nhà đầu tư là chỉ ra các hàng hoá mà họ cần hay họ xuất khẩu ra nước khác để thu ngoại tệ mà họ cần. Trường hợp xấu nhất là nhà kinh doanh buộc phải chấp nhận những sản phẩm khó bán mà chỉ có thể bán lỗ tại các thị trường khác. Bên cạnh những hạn chế về tiền tệ, tỷ giá hối đới biến động mạnh cũng tạo ra những rủi ro cho nhà kinh doanh xuất khẩu. Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền: Đó là mức độ chính quyền nước chủ nhà điều hành một hệ thống hữu hiệu để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước ngoài. Các quyết định mang tính chất quyết định về pháp luật và quản lý cũng cần được xem xét kỹ lưỡng như việc cấm vận hoặc cấm bán đối với số hàng hoá và doanhnghiệp, cấm một só phương thức và hoạt động thương mại, các kiểu kiểm soát về giá cả, các tiêu chuẩn bắt buộc đối với sản phẩm.. Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hoá Mỗi nước đều có những quy tắc, tập tục, điều kiện riêng. Chúng đựoc hình thành theo điều kiện truyền thống. Văn hoá của mỗi nước có ảnh hưởng to lớn đến tập tục tiêu dùng của khách hàng nước đó. Tuy sự giao lưu văn hoá giữa các nước đã xuất hiện khá nhiều tập tục tiêu dùng cho mọi chế độ. Song những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rất bền vững và có ảnh hưởng rất mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng. Đặc biệt chúng được thể hiện rất rõ trong sự khác biệt truyền thống giữa phương Đông và phương tây, giữa các tôn giáo và chủng tộc Cần chú ý rằng sự khác biệt về văn hoá có thể diễn ra ngay trong thị trường của một nứơc. Trên thế giới vẫn có những thị trường có bản sắc văn hoá thuần nhất (như Trung Quốc, Nhật..). Song cũng có những thị trường hết sức phức tạp về văn hoá (Hoa Kỳ). Vì thế, khi xem xét sự khác biệt về văn hoá không nhất thiết phải đóng khung trong ranh giới quốc gia Sự khác biệt về văn hoá sẽ ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh dược tiến hành, loại sản phẩm mà khách sẽ mua, những hình thức khuyếch trưong có thể chấp nhận được Nghiên cứ các nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh Sức hấp dẫn của môi trường nước ngoài còn chịu niều ảnh hưởng quan trọng của mức độ cạnh tranh trên thị trường đó Sử dụng mô hình chuỗi giá trị cho phép phân tích đánh giá được những diểm mạnh, điểm yếu của cạnh tranh. Việc phận tích những điểm mạnh, điểm yếu của cạnh tranh là một trong những nội dung quan trọng khi xem xét thị trường nước ngoài song lại có thể phức tạp hơn những vấn đề khác vì hế nó phải tiến hành trong sự nhận thức của khách hàng, trong tất cả sự méo mó trong ý thức. Khó khăn nữa trong việc xác định tình hình cạnh tranh trong một số nước là do thiếu thông tin đáng tin cậy Mô hình 5 sức mạnh của Micheal- Porter là mô hình được nhiều nhà phân tích sử dụng đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp Đối thủ mới - tiềm năng Sự đe doạ của đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh giữa các Công ty hiện tại Khả năng mặc cả của người mua Người mua Cạnh tranh giữa các Công ty hiện tại Khả năng mặc cả của người cung cấp Nhà cung cấp Sự đe doạ của các mặt hàng, dịch vụ thay thế Sơ đồ 1 : Mô hình 5 sức mạnh của Micheal-Porter Trước hết nhà kinh doanh phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh nội địa, ở đấy có thể xẩy ra 2 trường hợp theo vị thế cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh nội địa có thể được hưởng một ưu thế rất thuận tiện do những hỗ trợ của chính phủ và tinh thần dân tộc của khách hàng. Ở một số nước nhất là các nước đang phát triển thì ngựoc lại đối thủ cạnh tranh nội địa có thể phải ở thế bất lợi do sự tín nhiệm của khách hàng đối với uy tín của doanh nghiệp hoặc trở thành nạn nhân của thói chuộng hàng ngoại. Khi phân tích vị trí cạnh tranh các doanh nghiệp xuất khẩu phải xác dịnh được tâm lý thị trường nội địa ở đó và mức lan truyền của nó. Những diểm này có tầm quan trọng lớn trong việc xác định các chính sách Marketing của doanh nghiệp. Song song với các đối thủ cạnh tranh nội địa, thì doanh nghiệp phải dối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài khác hoạt động trong cùng lĩnh vực và mục tiêu thị trường vì vậy doanh nghiệp phải có biện pháp ứng phó trực tiếp, gián tiếp với các nguồn lực có thể rất đáng kể được chính phủ chi cho cạnh tranh. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với các dối thủ mới- tiềm năng, các mặt hàng và dịch vụ thay thế, sức ép từ phía ngưòi mua thậm chí từ phía nhà cung cấp. Như vậy, một đòi hỏi lớn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là phải nghiên cứu, nắm bắt và chế ngự những phần nào của môi trường cạnh tranh Nghiên cứu nhu cầu thị trường Một chỉ tiêu quan trọng nhất đặc trưng cho nhu cầu thị trưòng là lượng sản phẩm có thể tiêu thụ, doanh số và lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể hy vọng đạt dược trên thị trường đó: Dữ liệu cần thiết Dữ liệu kinh tế vĩ mô (Dân số, sức mua, hoạt động công nghiệp...) Tổng nhu cầu thị trường Nghiên cứu Ước lượng vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của nó Thông tin về cạnh tranh nội địa và nướcngoài Dự báo tổng lượng bán có thể đạt được Phản ứng của nhu cầu nội địa với giá cả Giá cạnh tranh Ước lượng doanh số tiềm năng Giá án dự kiến SƠ ĐỒ 2: ƯỚC LƯỢNG DOANH THU DỰ KIẾN VÀ LỢI NHUẬN CÓ THỂ ĐẠT ĐƯỢC Một khía cạnh của nghiên cứ thị trường cần được nghiên cứ là sự biến động theo thời gian của nó biểu hiện qua sự tăng giảm của tổng mức nhu cầu hoặc doanh số hay tốc độ tăng giảm của các chỉ tiêu đó. Nó sẽ phản ánh triển vọng phát triển của nhu cầu thị trường trong tương lai để doanh nghiệp có thể xác định sự thích ứng trong lượng cung cấp và các chính sách thương mại 1.7 Nghiên cứu cơ cấu của thị trường Mỗi thị trường nước ngoài không bao giờ là thị trương thuần nhất. Nó bao gồm những nhóm hàng rất khác nhau về mọi mặt đặc trưng kinh tế, dân số, xã hội, văn hoá. Vì thế doanh nghiệp cần phân tích tỷ mỷ cơ cấu tập hợp khách hàng tiềm năng theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, tôn giáo. Theo chủng loại sản phẩm tiêu dùng và mức độ tiêu dùng sản phẩm theo các dối thủ cạnh tranh chủ yếu và các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu. Việc xác định các loại cơ cấu thị trường trên cho phép doanh nghiệp định vị từng loại thị trương mục iêu với những tập tính tiêu dùng cụ thể nhằm xác định những đoạn thị trường có triển vọng nhất và khả năng chiếm lĩnh các đoạn thị trường dó. Nghiên cứu hành vi hiện thực và tập tính tinh thần của khách hàng Hành vi hiện thực của khách hàng được biểu hiện qua sự biến động của nhu cầu theo các nhân tố ảnh hưởng, những thói quen mua hàng và theo thông tin về sản phẩm. Hành vi hiện thực còn được biểu hiện qua mức độ co giãn của nhu cầu theo giá cả. Theo tập tính tinh thần của khách hàng là những điều khách hàng suy nghĩ, cách lựa chọn sản phẩm được biểu hiện qua mức độ tự chủ của khách hàng trong các quyết định nua hàng và mức độ ảnh hưởng của gia đình, các nhóm tham khảo đối với các yếu tố chất lượng của sản phẩm và mức giá được chấp nhận Nghiên cứ cách thức tỏ chức thị trương nước ngoài Các nhà phân phối và người chỉ dẫn là những nhân tố tạo nên sự khác biệt giữa các thị trường nước ngoài. Số lượng các trung gian phân phối trong chu trình sản phẩm và tầm quan trọng của mỗi trung gian trong chu trình thể hiện rất khác nhau giữa nước này với nước kia. Vì vậy ,cần tìm hiểu kỹ nó khi ra quyết định về cách thức thâm nhập thị trường. Như vậy, chín vấn đề cần quan tâm trong công tác nghiên cứu thị trường suy đến cùng là giúp cho doanh nghiệp trả lời những câu hỏi sau: + Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu (bán gì)? Đây là một trong những nội dung cơ bản và cần thiết đầu tiên mà doanh nghiệp tham gia thương mại quố tế cần xác định, mục đích của việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là để lựa chọn những mặt hàng kinh doanh thích hợp mang lại hiệu quả cao nhất. Việc lựa chọn mặt hàng ngoài yêu cầu phải đạt được tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng dược nhu cầu thị trường còn phải phù hợp với khả năng cũng như kinh nghiệm của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi phải có sự đánh giá phân tích cẩn thận những đặc điểm nội tại với diểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp cũng như thấyđược và dự đoán được những cơ hội hay những bất lợi của doanh nghiệp khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế. Đồng thời xu thế các loại mặt hàng đó trên thị trường cũng phải được xem xét và dự đoán một cách tương đối chính xác cụ thể doanh nghiệp phải trả lời những câu hỏi như: Mặt hàng thị trường đang cần là gì? Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào cuả chu kỳ sống? Tình hình sản xuất mặt hàng xuát khẩu đó như thế nào? Tỷ suất ngoại tệ của mặt hàng đó như thế nào? Từ đó, doanh nghiệp sẽ dưa ra những quyết định về hàng xuất khẩu sao cho có hiệu quả nhất + Lựa chọn thị trường xuất khẩu (bán đi đâu) Trả lời câu hỏi này nghĩa là doanh nghiệp đã tìm cho mình con dường đi tới mục tiêu hiệu quả và lợi nhuận. Vì vậy, việc lựa chọn thị trường nước ngoài cho hoạt động của doanh nghiệp là khởi đầu đầy khó khăn quyết định sự thành công trong tương lai của doanh nghiệp. Nó đòi hỏi những phân tích và cân nhắc kỹ càng trước khi ra quyết định Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến quyết định về lựa chọn chiến lược thị trường của doanh nghiệp.Nói chung khó có thể lựa chọn dứt khoát một hoặc hai chiến lược tập trung và phân tán vì sự ảnh hưởng của nhân tố theo những lượng khác nhau dẫn tới tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có được những phân tích cơ sở đánh giá những cơ hội mở rộng thị trường thì cũng sẽ tạo một bức tranh toàn cảnh giúp doanh nghiệp thấy rõ hiện trạng kinh doanh của doanh nghiệp thích hợp hơn với chiến lược tập trung hay phân tán. Ở đây cần thừa nhận rằng có những nhân tố quyết định khách quan song việc lựa chọn chiến lược thị trường của doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào phần lớn dánh giá chủ quan về cơ hội và những đe doạ liên quan đến hai chiến lựoc nói trên. Hiển nhiên những đánh giá chủ quan này cũng được hình thành từ thực tiễn quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm đã được đúc kết về môi trường kinh doanh, khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Tuy vậy, những căn cứ khách quan của những phân tích cơ sở giúp cho những đánh giá của doanh nghiệp có cơ sở vững chắc hơn, hạn chế những sai lầm khi ra quyết định + Lựa chọn bạn hàng kinh doanh (bán cho ai)? Một doanh nghệp có thể xuất khẩu sản phẩm của mình theo hai cách là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là một hình thức doanh nghiệp thông qua dịch vụ và các tổ chức độc lập đặt ngay tại các nước xuất khẩu để tiến hành hoạt động xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài. Hình thức xuất khẩu gián tiếp khá phổ biến ở những doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế. Trong hình thức này các doanh nghiệp có thể sử dụng trung gian phân phối như hãng buôn xuất khẩu, Công ty quản lý xuất khẩu, đại lý xuất khẩu, khách vãng lai, các tổ chức phân phối chính hợp. Nhưng dù tổ chức nào đi nữa thì cũng phải có kinh nghiệm và năng lực để đảm bảo cho hai bên kinh doanh một cách thuận lợi và hiệu quả. Hầu hết các nhà sản xuất chỉ sử dụng các trung gian phân phối trong những điều kiện cần thiết. Khi đã phát triển đủ mạnh để tiến tới thành lập tổ chức bán hàng riêngcủa mình để có thể kiểm soát trực tiếp thị trường do họ thích sử dụng hình thức xuất khẩu trực tiếp hơn. Trong tình trạng hiện nay các nhà xuất khẩu phải giao dịch trực tiếp với khách hàng nước ngoài và khu vực thị trường nứơc ngoài không qua tổ chức của mình. Tóm lại, việc lựa chọn một bạn hàng kinh doanh sáng suốt và chính xác là cơ sở vững chắc để tạo sự thành công cao nhất trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ 2.Xây dựng chiến lược, kế hoạch xuất khẩu Kế hoạch kinh doanh là phương án cụ thể của doanh nghiệp nhằm đạt đựơc các mục tiêu xây dựng trong kinh doanh. Dựa vào kết quả thu dược của việc nghiên cứu ở các khâu nêu trên, các đơn vị kinh doanh xuất khẩu cần xây dựng một kế hoạch kinh doanh cụ thể nhằm ứng phó với những dự doán về diễn biến của quá trình xuất khẩu hàng hoá cũng như mục tiêu sẽ đạt dựoc khi thựchiện được quá trình này. Nội dung của việc xây dựng kế hoạch kinh doanh gồm: Doanh nghiệp cần có một định hướng rõ ràng trên cơ sở phân tích các yếu tố về môi trưòng kinh doanh, đưa ra những dánh giá mang tính tổng quát về cơ hội và thách thức, diểm mạnh và diểm yếu của doanh nghiệp. Định hướng là một quá trình ấn định những nhiệm vụ, mục tiêu và các phương pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ đó. Thực chất việc định hướng là hoàn thành những mục đích và mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra xuất phát từ bản chất của một hệ thống có tổ chức đê thực hiện các hoạt dộng có mục đích chung của doanh nghiệp thông quá sự hợp tác chặt chẽ giữa mọi người trong doanh nghiệp Xây dựng các biện pháp, cách thức thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đặt ra trước đó. Cụ thể đó là những biện pháp về sản phẩm, sản xuất, tìm kiếm, bạn hàng,...với kế hoạch chi tiết trong từng lĩnh vực nếu bước này đòi hỏi phải được chuẩn bị đầy đủ, kỹ lưỡng cụ thể dựa trên cơ sở phân tích các thông tin có liên quan. Như vậy, có thể thấy rằng công tác xây dựng kế haọch kinh daonh là một công tác quan trọng và vô cùng cần thiết đối với hoạt động của một doanh nghiệp. Một kế hoạch kinh doanh khoa học và khéo léo dựa trên việc phân tích chuẩn xác các yếu tố môi trưòng có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp. 3 . Ký kết hợp đồng xuất khẩu và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu Đây là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong hợp đồng xuất khẩu. Nó đảm bảo tính pháp lý trong mỗi thương vu làm ăn của doanh nghiệp. Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành hay không phụ thuộc vào những diều khoản mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng. Mọi sự vi phạm đều có thể phá vỡ hợp đồng. Tóm lại hợp đồng xuất khẩu là một văn bản pháp lý quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên thực hiện hợp dồng xuất khẩu. Và việc tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu là cách thức mà các bên thựchiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Do vậy, ký kết hợp đồng xuất khẩu và tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu là khâu không thể thiếu trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp 4.Đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể sử dụng chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh . Hiệu quả kinh doanh = S doanh thu – Schi phí Tuy nhiên để đánh giá toàn diện hiệu quả ta dùng công thức: Hiệu quả kinh doanh = å Doanh thu å chi phí Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn xác định qua chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi. Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên lợi nhuận mà doanh nghiệp thu dược so với tổng vốn bỏ ra trong hoạt dộng kinh doanh xuất nhập khẩu: Bên cạnh dó còn có chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá tổng hợp hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng đối với doanh nghiệp chuyên doanh hoạt động xuất nhập khẩu để đánh giá một cách chi tiết hơn hiệu quả kinh doanh có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau: *Tỷ suất ngoại tệ đối với hàng xuất khẩu. Là lượng bản tệ (nội tệ) phải chi để có một đơn vị ngoại tệ: KXK =PX/TX Trong đó: KXK :tỷ suất ngoại tệ đối với hàng xuất khẩu PX: chi phí cho lo hàng xuất khẩu TX: Số ngoại tệ thu dược khi bán lô hàng này NếuKXK nhỏ hơn tỷ giá hối đoái thì hoạt động xuất khẩu có hiệu quả *Chỉ tiêu hiệu quả tương đối của xuất khẩu: chỉ tiêu này phản ánh % lợi nhuận trên chi phí đầu đủ để sản xuất lô hàng Trong đó: Dxk :doanh thu ngoại tệ thuần tuý Fkx :chính trị đâỳ đủ trách nhiệm đối với xuất khẩu (quy ra ngaọi tệ) Chỉ tiêu lợi nhuận trong xuất khẩu Px = q* (p-f) Trong đó: Px: lợi nhuận đối với mặt hàng xuất khẩu Q: Khối lượng hàng xuất khẩu P: Giá trị một đơn vị hàng F: Chi phí đầy đủ của một đơn vị hàng hoá Chỉ tiêu này giúp ta phân biệt được lợi nhuận của từng mặt hàng, lô hàng hay chuyến hàng. Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối ngưòi ta sử dụng chỉ tiêu tương đối như: Mức doanh lợi, chỉ tiêu về vốn kinh doanh, năng suất lao động. Ngoài các chỉ tiêu định lượng ở trên, để xác định hiệu quả hoạt động xuất khẩu còn có các chỉ tiêu định tính. Đây là chỉ tiêu gián tiếp rất khó lượng hoá nhưng không phải là không lượng được. Chẳng hạn chỉ tiêu thu hút các nguồn vốn đầu tư liên doanh, liên kết với các tổ chức tư thương nước ngoài. Chỉ tiêu mở rộng môi trường và bạn hàng kinh doanh, chỉ tiêu về uy tín do hoạt động xuất khẩu đem lại III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA MỘT DOANH NGHIỆP Trong hoạt dộng thương mại bất kỳ hình thức kinh doanh nào cũng đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của moi trường kinh doanh. Môi trường kinh doanh có thể tạo diều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh phát triển, song cũng có thể là vật cản mạnh mẽ đối với các hoạt động này. Đối với xuất khẩu, một nội dung quan trọng của thương mại quốc tế thì ảnh hưởng của môi trường kinh doanh phong phú và phức tạp hơn so với thương mại quốc tế trong nước. Ở đây, ta có thể phân chia những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt dộng kinh doanh xuất khẩu của một doanh nghiệp thành 2 nhóm nhân tố cơ bản nhân tố vĩ mô và nhân tố vi mô 1.Nhân tố vĩ mô Ở các nước khác nhau thường có chính sách thương mại khác nhau thể hiện ý chí và mục tiêu của Nhà nước trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh quốc tế có ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc dân. Để nền kinh tế quốc dân vận hành một cách có hiệu quả thì những chính sách thương mại thích hợp là điều cần thết. Trong lĩnh vực xuất khẩu, những công cụ chính sách chủ yếu thường dược Nhà nứơc sử dụng để điều tiết quản lý hoạt động này: Thuế quan: Trong hoạt động xuất khẩu, thuế quan là thuế đánh vào từng đơn vị hàng hoá xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý hoạt động xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho quốc gia mình và mở rộng kinh tế đối ngoại. Thuế quan cũnh gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng nên khong hiệu quả và do giảm mức tiêu dùng trong nước +Tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá sản phẩm: các quốc gia đặt những tiêu chuẩn về chất lượng hàng hoá hay về thông số kỹ thuật quy định cho hàng xuất khẩu hay nhập khẩu +Giấy phép xuất khẩu: Nhà ước cấp giấy phép xuất khẩu cho các doanh nghiệp kinh doanh nhằm theo dõi việc xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu. *Tỷ giá và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm khuýên khích xuất khẩu Đây là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đén quy mô và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu Một chính sách tỷ giá hối đoái thích hợp, thuận lợi cho xuất khẩu là chính sách duy trì tỷ giá tương đối ổn định ở mức thấp. Kinh nghiệm của các nước đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu là điều chỉnh tỷ giá hối đoái thưòng kỳ để đạt dựoc mức tỷ giá hối đoái cân bằng trên thị trừơng và mức tỷ giá tương quan với chi phí và giá cả trong nước. Trợ cấp xuất khẩu cũng là biện pháp có tác động thúc đẩy mạnh mẽ cho việc mở rộng xuất khẩu các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu. Biện pháp này dược nhiều nước áp dụng vì khi thâm nhập vào thị trường nứơc ngoài thì sự rủi ro cao hơn nhiều so với thị trường trong nước. Việc trợ cấp xuất khẩu cho các mặt hàng được khuyên khích xuất khẩu có thể dưới các hình thức như: miễn, giảm thuế xuất khẩu, hạ lãi suất cho vay vốn sản xuất hàng xuất khẩu, cho bạn hàng nước ngoài ưu tiên để họ có điều kiện mua sản phẩm của nước mình.. Bên cạnh dó, chính phủ muốn các nhà kinh doanh trong nước hứơng ra thị trường nứơc ngoài thì phải giảm bớt tính hấp dẫn tương đối cho việc sản xuất cho thị trường nội địa. Điều này đòi hỏi phải giảm thuế quan có tính chất bảo hộ đối với các ngành công nghiệp ưu đãi và tranh thủ quy định hạn ngạch khối lưọng nhập khẩu. Lợi nhuận sản xuất hàng thay thế nhập khẩu cũng phải giữ ở mức phù hợp với mức lợi nhuận xuất khẩu. Điều đó nghĩa là bảo hộ bằng thuế quan không được cao hơn mức trợ cấp xuất khẩu và cũng phải thống nhất với tất cả các mặt hàng *Các chính sách đối với cán cân thanh toán và thương mại Trong hoạt đông kinh doanh quốc tế nói chung giữ vững được cán cân thanh toán và cán cân thương mại có ý nghĩa quan trọng góp phần vào việc củng cố nền độc lập và tăng trưởng kinh tế nhanh. Đương nhiên, biện pháp để giữ cân bằng không phải là hạn chếnhập khẩu, cấm nhập khẩu hay vay vốn để giữ cho cán cân thanh toán đựoc cân bằng. Sự cân bằng theo kiểu đó là cân bằng tiêu cực. Vấn đề đặt ra là cần khuyên khích việc sản xuất hàng xuất khẩu. Song song với việc mở rộng quy mô xuất khẩu, da dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu trong đó chú trọng đến mặt hàng chủ lực, có nhiều quốc gia mới giảm nhập siêu, tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu. Như vậy, nhìn chung việc giữ cán cân thanh toán và cán cân thương mại đã chứa đựng trong đó những yếu tố thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của một quốc gia Các quan hệ kinh tế quốc tế Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, các mối quan hệ quốc tế có ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ. Đối với hoạt động xuất khẩu, khi xuất khẩu hàng hoá từ nứơc mình sang một nước nào đó tức là đưa hàng hoá thâm nhập vào một thị trường quốc gia khác, người xuất khẩu thường phải đối mặt với hàng rào thuế quan như thuế quan thu nhập (để tăng thu nhập cho quốc gia nhập khẩu), thuế quan bảo hộ (bảo hộ cho các ngành công nghiệp trong nước nhập khẩu) hay những hàng rào phi thuê quan sự phận biệt đỗỉ với các nhà kinh doanh nước ngoài, các tiêu chuẩn sản phẩm mang tính phân biệt đối xử hàng nước ngoài... và đặc biệt là hạn ngạch nhập khẩu. Các hàng rào này là chặt chẽ hay nới lỏng phụ thuộc chủ yêú vào quan hệ kinh tế song phuơng giữa các nứoc xuất khẩuvà nhập khẩu. Trong khi đó xu hưiớng toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay nhiều liên minh kinh tế ở mức độ khác nhau dược hình thành, nhiều hiệp dịnh song phưong, đa phương giữa cácnước, các khối kinh tế cũng đựơc ký kết với mục tiêu là giảm bớt thuế quan giữa các nước tham gia, giảm giá cả, thúc đẩy hoạt động thương mại trong khu vực và trên toàn thế giới. Nếu một quốc gia tham gia vào những liên minh kinh tế và những hiệp dịnh thương mại ấy thì nó sẽ là một tác nhân tích cực dẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của quốc gia đó. Nếu không chính nó trở thành rào chắn đối với việc thâm nhập thị trường nước đó. Tóm lại, có được những mối quan hệ quốc tế mở rộng, bền vững và tốt đẹp sẽ tạo ra những tiền đề thuận tiện cho việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của mỗi quốc gia *Trình độ phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng Hệ thống cơ sở hạ tầng có tác động rất lớn tới công tác xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Một quốc gia có hệ thống đường xá, cầu cống phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao khả năng tham gia của các doanh nghiệp vào vào các hoạt động kinh doanh quốc tế. Đặc biệt, các bến bãi, nhà ga, cảng biển có tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu hệ thống này đựơc đầu tư xây dựng phù hợp với yêu cầu chung của kinh doanh quốc tế sẽ là nhân tố có tác đông tích cực tới hoạt dộng xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống cảng biển, nhà ga, bến dỡ không đạt yêu cầu tối thiểu về kỹ thuật chắc chắn sẽ gây tâm lý nghi ngại từ phía đối tác nước ngoài và rất có thể doanh nghiệp mất cơ hội kinh doanh. Như vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia tuỳ thuộc vào trình độ phát triển có thể tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. 2.Những nhân tố vi mô Bên cạnh những nhân tố vĩ mô, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưỏng sâu sắc từ các nhân tố vi mô. Có thể nói đây là những nhân tố bên trong có tính chất quyết định đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp dó là: .Nguồn nhân lực Con người là chủ thể của mọi quan hệ xã hội và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp suy đến cùng cũng là do con người và vì con người. Bởi vậy, con người luôn dựoc dặt ở vị trí trung tâm, khi xem xét các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Một đội ngũ vững vàng về chuyên môn, có kinh nghiệm trong buôn bán quốc tế, có khả năng ứng phó linh hoạt trứơc biến động của thị trường và đặc biệt có lòng say mê nhiệt tình trong công việc luôn là đội ngũ lý tưởng trong hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiẹp. Ngược lại nếu nguồn nhân lực của doanh nghiệp yếu kém về chất lượng và hạn chế về số lượng thì doanh nghiệp sẽ luôn trong tình trạng bị động dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả. Như vậy nhân lực quyết định hoạt động của doanh nghiệp, nên doanh nghiệp muốn hoạt động xuất khẩu có hiệu quả thì nhất thiết phải quan tâm đào tạo, tuyển chọn các đội ngũ lao động thực sự có năng lực, đồng thời chú trọng tới công tác quản lý nhằm tạo động lực cho người lao động thực sự có hiệu quả 2.1.Khả năng tài chính Để kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp nhất thiết phải xây dựng chiến lựơc kinh doanh. Trong kinh doanh, thuật ngữ “chiến lược” được hiểu là hệ thống các đường lối và biện pháp chủ yếu nhằm đưa đến mục tiêu dã định. Chiến lựoc bao gồm: các đường lối tổng quát, các chủ trương mà doanh nghiệp sẽ thực thi trong một thời gian dài, các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, các nguồn lực, các tiềm năng được sử dụng để đạt được mục đích đó và các chính sách diều hành việc thu hút, phân bổ các nguồn lực, các tiềm năng cần thiết để đạt được mục tiêu này. Bên cạnh một số yếu tố khác, khả năng tài chính là nhân tố quyết định đến mục tiêu và chiến lựơc của doanh nghiệp Mô hình khả năng tài chính của doanh nghiệp Nếu có khả năng tài chính mạnh doanh nghiệp có thể đầu tư đổi mới công nghệ, thu hút lao động chất lượng cao, tăng quy mô kinh doanh từ đó tạo thế cạnh tranh vững chắc trên thị trường. Có thể nói, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưỏng rất lớn của khả năng tài chính doanh nghiệp. 2.3.Trình độ tiếp thu công nghệ của doanh nghiệp Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, nhiều công nghệ tiên tiến đã ra đời tạo ra những cơ hội, nhưng cũng gây lên nguy cơ đối với tát cả các ngành nghề nói chung và đơn vị sản xuất, kinh doanh mặt hàng xuất khẩu nói riêng. Nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, áp dụng những công nghệ mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm của chính mình trên thị trường Đối với lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, việc nghiên cứu và đưa ra ứng dụng những công nghệ mới, các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật sẽ giúp các dơn vị sản xuất tạo ra những sản phảm mới với chất lượng cao hơn. Nhờ đó chu kỳ sống của sản phẩm sẽ được kéo dài và có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Đồng thời nó cũng gíup cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có hiệu quả hơn thông qua việc tác động tới hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, ..Tuy vậy, hiệu quả công nghệ còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ tiếp thu công nghệ của doanh nghiệp. Hiện nay ở Việt nam không ít các doanh nghiệp chỉ quan tâm chạy theo khẩu hiệu “hiện đại hoá” đã dẫn đến tình trạng không khai thác hết hiệu quả công nghệ do sự hạn chế về khả năng sử dụng của người lao động. Vì vậy, nhập công nghệ hiện đại nhưng phải phù hợp với trình độ ngưòi lao động thì mới có hiệu quả. Đặc biệt trong quá trình chuyển giao công nghệ cần có cán bộ kỹ thuật có trình độ hoặc những chuyên gia giỏi để tránh bị thua thiệt trước “tiểu xảo” của đối tác nước ngoài. Tóm lại, trình độ tiếp thu công nghệ có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp 2.4.Vị trí dịa lý Nếu dựoc bố trí gần nơi cung cấp các yéu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc vùng gần nhà ga, cảng biển doanh nghiệp sẽgiảm được chi phí vận chuyển- đây là cơ sở dể doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. đặc biệt, với ưu thế về khoảng cách địa lý với nhà cung cấp yếu tố đầu vào, doanh nghiệp có thể thuờng xuyên xuống cơ sở sản xuất tạo lập mối quan hệ nhằm xây dựng chân hàng vững chắc phục vụ hoạt động xuất khẩu. Như vậy, để hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn vị trí tối ưu, phù hợp với khả năng và điều kiện của mình 2.5.Uy tín của doanh nghiệp Uy tín của doanh nghiệp được đo bằng nhữg “lá phiếu” mà khách hàng dành cho sản phẩm của doanh nghiệp. Quyết định mua hàng của người tiêu dùng ngoài một số nhân tố khách quan, phần lớn phụ thuộc vào chất lượng, giá cả sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp. Từ dó khách hàng tự xây dựng biểu tưọng về doanh nghiệp để làm “kim chỉ nam” cho hành động mua hàng của mình. Như vậy, uy tín của doanh nghiệp là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trưòng IV.KINH NGHIỆM VỀ TỔ CHỨC XUẤT KHẨU CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Trong thời gian qua, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam diễn ra khá sôi dộng và dạt dược nhiều thành tựu đáng kể, nhiều doanh nghiệp đã vươn lên chiếm lĩnh thị trường thế giới và kinh doanh có hiệu quả. Bài học kinh nghiệm từ những doanh nghiệp này rất nhiều, ở đây chỉ đưa ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong công tác tổ chức xuất nhập khẩu của công ty xuất nhập khẩu và đầu tư KonTum, Công ty xuất nhập khẩu An Giang, Xí nghiệp chế biến thuỷ hải sản Cần Thơ, công ty XNK Vĩnh Long 1.Công ty XNK và đầu tư Kon Tum vươn lên trong cơ chế thị trường nhờ mạnh dạn đầu tư cho sản xuất chế biến hàng xuất khẩu Thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tổng hợp, đa dạng, công ty đã thành lập các đội liên doanh trên từng lĩnh vực. Từ một trụ sở đặt tại 104Lê Hồng Phong thị xã Kon Tum, đến nay Công ty đã có 9 đơn vị trực thuộc gồm 5 xí nghiệp, 2 phân xưỏng và 2 chi nhánh kinh doanh xuất nhập khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Doanh số tăng lên đều hàng năm, năm 1995 giá trị tổng sản lượng đạt 80.7 tỷ đồng, năm 1996 đạt 97.17 tỷ đồng, năm 1997 đạt 110.28 tỷ đồng, năm 1998 con số này lên tới 125.3 tỷ đồng, năm 1999 tổng doanh số bán ra là 141.13tỷ đồng Đồng thời với mục tiêu kinh doanh, thực hiện chủ trương công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, được uỷ ban nhân dân tỉnh và các ban ngành chức năng ủng hộ, công ty dã mạnh dạn đầu tư máy móc thiết bị hiện đại vào công nghệ tính chế gỗ. Từ buổi đầu với nhiệm vụ chính là kinh doanh lâm sản ở dạng nguyên liệu và sơ chế, đến nay công ty đã tạo được những sản phẩm đa dạng, được thị trường nước ngoàii chấp nhận. Đến năm 2001, Công ty quyết tâm đầu tư theo chiều sâu vào các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp tạo vòng khép kín từ sản xuất đến chế biến hàng xuất khẩu. Công ty quyết tâm đầu tư hoàn chỉnh dự án phát triển vùng nguyên liệu sẵn có với vốn đầu tư trong 3 năm khoảng 12 tỷ đồng, nhằm tập trung thu mua xuất khẩu 16 nghìn tấn sắn lát khô và chế biến 20 nghìn tấn sắn tinh bột, hàng năm tạo ra nguyên liệu bán thành phẩm xuất khẩu. Nếu điều kiện cho phép, Công ty sẽ xây dựng nhà máy chế biến cà phê và cao su bán thành phẩm xuất khẩu hàng hoá, tạo thêm ngành nghề mới cho địa bàn Như vậy, hoạt động xuất khẩu của Công ty không những phát triển theo chiều rộng mà còn phát triển theo chiều sâu. Trong tổ chức xuất khẩu, công ty đã đầu tư cho sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu nhằm ổn định nguồn hàng dựa trên cơ sở nguồn lực của địa phương. 2.Công ty XNK An Giang phát triển nhờ gắn với địa phương và kinh doanh có hiệu quả Đến nay Côngty XNK An Giang đã có bề dày lịch sử hơn 20 năm phát triển. Đó là chặng đường đầu vất vả, có những thời kỳ tưởng chừng như không thể vượt qua nổi. Nhưng nhờ có sự đoàn kết nhất trí của cán bộ công nhân viên, sự lãnh đạo sâu sát của tỉnh uỷ và Bộ thương mại, công ty đâ đứng vững trong cơ chế thị trường, kinh doanh có hiệu quả, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước Công ty làm ăn có hiệu quả là nhờ sự đổi mới trong công tác tổ chức xuất khẩu. Công ty đã đầu tư vào lĩnh vực sản xuất gắn liền với kinh doanh xuất nhập khẩu. Ngay từ năm 1988, công y đã mở rộng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất chế biến nông sản, thực phẩm xuất khẩu, đầu tư công nghệ hiện đại với 5 cụm nhà máy chế biến xay xát lưong thực xuất khẩu với công suất 150 nghìn tấn/năm, hệ thống kho có sức chứa 25 nghìn tấn. Từ năm 1990 đén năm 1999 công ty đã trang bị 10 bộ máy vi tính và một số trang thiết bị hiện đại khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Phương thức sản xuất, chế biến, kinh doanh được khép kín từ khâu tổ chức thu mua đến khâu bảo quản chế biến, đóng gói bao bì và xuất khẩu trực tiếp, không thông qua trung gian nên chất lượng đảm bảo, giá thành hợp lý, hàng hoá có sức cạnh tranh và tiêu thụ được nhiều hơn trên thị trường quốc tế Ngoài ra, công ty còn góp vốn vào Công ty liên doanh ANGIMEX_KITOKU (Nhật bản) chế biến gạo và xuất khẩu và xí nghiệp liên doanh ANGIMEX-VIETSING (Hồng Kông) sản xuất chế biến bắp non, nấm rơm, đậu đỏ, mè đen xuất khẩu với tổng giá trị 738 nghìn USD vào năm 1999 Công ty luôn xác định con người là yếu tố quyết định trong công tác quản lý và sản xuất kinh doanh. Do vậy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ của cán bộ công nhân vien luôn được đảm bảo và đáp ứng yêu cầu của Công ty. Bài học kinh nghiệm cho công tác XNK ở dây là gắn sản xuất , chế biến với kinh doanh xuất khẩu tạo sức mạnh cạnh tranh về mọi mặt bằng cách liên doanh, liên kết với các đơn vị khác, coi con người là yếu tố trung tâm, quyết định sự thành công trong kinh doanh. 3. CAFATEX nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu Xí nghiệp chế biến thuỷ hải sản xuất khảu Cần Thơ thành lập tháng 7 năm 1992 trên cơ sở xí nghiệp cung ứng sản phẩm thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu cho hệ thống SEAPRODEX Việt Nam Đến nay CAFATEX đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều nước: Mỹ, Canađa, Hồng Kông.....năm 1997, kim ngạch xuất khẩu đạt 43 triệu USD, năm 1998 đạt 45.2 triệu USD, năm 1999 đạt49 triệu USD và năm 2000 đạt 50.6 triêu USD Năm 1996, công ty nhanh chóng đầu tư nâng cấp toàn bộ hệ thống nhà xưởng, máy móc, công nghệ, lắp đặt nhiều thiết bị hiện đại của Mỹ, Thuỵ Điển, Anh.. Xí nghiệp còn tiến hành xây dựng hệ thống công nghệ mới theo hướng nhằm tiếp nhận và phát triển kỹ thuật mới, nhanh chóng đạt đựoc trình độ chế biến hàng đầu xuất khẩu như các nước trong khu vực ASEAN Thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu công ty đặt cho mình 2 mục tiêu. Thứ nhất là tăng kim ngạch xuất khẩu bằng cách nâng cao công suất chế biến thuỷ hải sản cao cấp, giảm tỷ lệ hàng xuất khẩu chưa qua chế biến. Thứ 2 đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, khai thác thêm thế mạnh về hàng nông sản, rau quả sẵn có ở các địa phương Bài học kinh nghiệm về đứng vững trên thị trưòng thời gian qua của công ty là luôn nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên để nắm bắt kịp thời công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất kinh doanh.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVai trò và nội dung của hoạt động xuất nhập khẩu của Doanh nghiệp.doc
Luận văn liên quan