Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hoà - Thực trạng và giải pháp

Có thể nói khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có quan hệ thường xuyên với NHNo & PTNT Phục Hoà chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số khách hàng đến giao dịch. Ngoài khách hàng có tín nhiệm đến giao dịch thì còn rất nhiều khách hàng mới đến giao dịch lần đầu và những khách hàng chưa thực sự có tín nhiệm với Ngân hàng, do đó công tác thẩm định trước khi cho vay phải được tiến hành một cách chặt chẽ, mỗi món vay phải được tìm hiểu từ nhiều phía, nhiều luồng thông tin khác nhau để nắm chắc được tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng.

pdf45 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 15/11/2013 | Lượt xem: 1458 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hoà - Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t triển về số lượng cũng như quy mô hoạt động do đó nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này ngày càng lớn, cho nên để hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển, đáp ứng được khối lượng lưu thông hàng hoá ngày càng tăng thì hầu hết các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các NHTM, qua đó các NHTM huy động được một khối lượng tiền nhàn rỗi, tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, mặt khác do đòi hỏi của hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều khi nhu cầu về vốn cho hoạt động là rất lớn, vượt quá khả năng nguồn vốn tự có thì lúc này các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh lại tìm đến các NHTM để vay vốn, qua đó các NHTM có thể mở rộng đầu tư tín dụng vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. II. Ngân hàng thương mại và vai trò của NHTM đối với kinh tế ngoài quốc doanh: Trong nền kinh tế thị trường cùng với sự đổi mới của các ngành, ngành Ngân hàng Việt nam đã có nhiều đổi mới phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn xã hội. Vào năm 1990 pháp lệnh Ngân hàng ra đời hệ thống Ngân hàng được tách ra thành Ngân hàng TW (NH Nhà nước) và hệ thống Ngân hàng thương mại, khi đó ở nước ta hệ thống NHTM ra đời. NHTM được khái niệm như sau : “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. 1. Hoạt động kinh doanh của các NHTM Trong nền kinh tế thị trường các NHTM giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế bởi hoạt động của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc biệt, không giống với bất cứ loại hình kinh doanh nào, sản phẩm kinh doanh của NHTM là "Tiền tệ" và hoạt động của các NHTM gắn liền với mọi hoạt động SXKD. Hoạt động của các NHTM bao gồm: + Nghiệp vụ huy động vốn: Để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình các NHTM phải thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, vốn được huy động dưới các hình thức nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của các tầng lớp dân cư, phát hành chứng chỉ tiền gửi, ngoài ra còn có thể vay Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng khác + Nghiệp vụ cho vay của các NHTM: Đây là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu chiếm từ 70 % đến 80 % tổng thu của các NHTM. Các NHTM tiến hành cho vay vốn ngắn hạn, cho vay trung, dài hạn đối với mọi thành phần kinh tế, phương thức cho vay phong phú như cho vay theo từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng v.v... + Nghiệp vụ kinh doanh khác : NHTM là trung tâm thanh toán thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ, làm dịch vụ chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế, tham gia đầu tư vào các loại chứng khoán, làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty. v.v... Các Ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài chính và hoạt động của các Ngân hàng thương mại(NHTM) là tìm kiếm lợi nhuận, trong quá trình thực hiện mục tiêu kinh doanh của mình NHTM đã có những đóng góp không nhỏ trong việc ổn định tiền tệ, chống lạm phát và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, những đóng góp đó được thể hiện qua vai trò của nó trong nền kinh tế. 2. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế: 2.1. NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, tổ chức kinh tế do vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân tức là để mở rộng quy mô sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế thì cần thiết phải có một khối lượng vốn lớn, ngược lại nền kinh tế càng phát triển thì lại càng tạo ra nhiều vốn. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD. NHTM tổ chức huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, bằng nguồn vốn huy động được trong xã hội các NHTM đã đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho các tổ chức kinh tế thông qua nghiệp vụ tín dụng của mình, qua đó các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ, tăng năng xuất lao động nâng cao hiệu quả kinh tế 2.2. NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh... sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của thị trường, thoả mãn mọi nhu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, chủng loại... thì hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mới đạt hiệu quả cao và đứng vững trong cạnh tranh, để đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của thị trường thì các tổ chức kinh tế không những cần phải hoàn thiện cơ chế quản lý, chế độ hạch toán kinh tế. v.v... mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới dây chuyền công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi phải có một khối lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp, để giải quyết khó khăn về vốn thì các doanh nghiệp có thể vay vốn bổ sung từ các Ngân hàng thương mại, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường. 2.3. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, các NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành kinh tế NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô "Nhà nước điều tiết NH, NH dẫn dắt thị trường" 2.4. NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, vì vậy nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. NHTM thông qua hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, nghiệp vụ hối đoái... NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, buôn bán ngoại hối, quan hệ với các NHTM nước ngoài, NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, nền kinh tế càng phát triển ngày càng cần đến hoạt động của NHTM. Thông qua việc thực hiện các chức năng vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tài chính NHTM đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 3. Vai trò của NHTM đối với kinh tế ngoài quốc doanh: - NHTM tác động tích cực đến việc tăng khối lượng sản phẩm sản xuất ra và tăng nhịp độ sản xuất của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Sản phẩm sản xuất ra là những hàng hoá để sử dụng cho sản xuất hoặc phục vụ cho tiêu dùng khi nó được đem ra thị trường tiêu thụ, để việc tiêu thụ được thực hiện nhanh chóng đòi hỏi người mua tại thời điểm cần thiết phải có đủ tiền để thanh toán, tuy nhiên có những lúc người mua không có khả năng thanh toán, lúc này NHTM có thể đáp ứng vốn cho người mua. Qua đó NHTM tạo ra khả năng đảm bảo tính liên tục của tiêu thụ sản phẩm một yếu tố của quá trình tái sản xuất, điều đó nói lên vai trò quan trọng của NHTM đối với việc duy trì nhịp độ liên tục của quá trình tái sản xuất. Để đảm bảo tính liên tục của quá trình tái sản xuất cũng như mở rộng sản xuất trong những thời kỳ nhất định các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh cần bổ sung thêm vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, NHTM góp phần thoả mãn nhu cầu vốn tiền tệ tạm thời thiếu hụt cho các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh để thực hiện thanh toán khi có sự chênh lệch về mức vốn tiền tệ hiện có so với nhu cầu chi trả và khi khối lượng sản xuất tăng lên thì nhu cầu vốn bổ sung cũng được thoả mãn thông qua tín dụng NHTM. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, vai trò của NHTM ngày càng tăng lên trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, điều đó được thể hiện ở việc mở rộng phạm vi tín dụng đối với tất cả các tổ chức kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh, tăng các khoản cho vay đầu tư xây dựng cơ bản để mở rộng và hiện đại hoá tài sản cố định, tăng năng lực sản xuất kinh doanh. - NHTM với việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp ngoài quốc doanh: Hoạt động của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế đòi hỏi phải chấp hành nguyên tắc tự bù đắp, doanh nghiệp phải bảo đảm trang trải các khoản chi phí bằng thu nhập của mình và có lãi. Việc sử dụng tín dụng NHTM như là một nguồn hình thành vốn của các doanh nghiệp đòi hỏi phải tăng cường tiết kiệm. Trong hoạt động SXKD không có sự trùng khớp về mặt thời gian giữa số tiền nhận được từ doanh thu tiêu thụ sản phẩm với việc thực hiện trang trải các khoản chi phí, do đó trong quá trình hoạt động SXKD thường xuất hiện nhu cầu vốn bổ sung với điều kiện phải hoàn trả bằng chính thu nhập của mình, đã tạo ra sự kích thích mới nhằm thực hiện tốt hơn nguyên tắc tự bù đắp, mặt khác chỉ có kinh doanh có hiệu quả thì mới đáp ứng được điều kiện vay vốn của Ngân hàng, do đó tín dụng NHTM thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm hơn đến việc sử dụng vốn vay, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ vai trò, đặc điểm cả các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chúng ta thấy khu vực kinh tế này có một tiềm năng rất lớn, tuy nhiên để phát huy được vai trò to lớn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước để thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển. Kinh tế ngoài quốc doanh với đặc điểm là có quy mô hoạt động nhỏ, thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, thiếu máy móc thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu thốn. v.v... cho nên vốn tín dụng của NHTM lại càng có vai trò quan trọng đối với kinh tế ngoài quốc doanh. Trong những năm qua từ chỗ chỉ tập chung vốn đầu tư cho khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ít được quan tâm thì trong giai đoạn hiện nay, thực hiện công cuộc đổi mới phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã được quan tâm, đặc biệt là việc đầu tư vốn cho khu vực kinh tế này, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất. Trong những năm gần đây thông qua việc đầu tư tín dụng vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã phần nào khuyến khích các tổ chức kinh tế này phát triển cụ thể như: bằng các chính sách tín dụng của Nhà nước đã thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển đúng hướng đầu tư vào các ngành nghề SXKD thuộc lĩnh vực Nhà nước ưu tiên và tập chung phát triển, từ đó góp phần thúc đẩy các tổ chức kinh tế này tích tụ, tập trung vốn mua sắm máy móc thiết bị công nghệ hiện đại, mở rộng quy mô sản xuất, giảm được tình trạng sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, làm ăn kém hiệu quả, tạo ra thế cạnh tranh lành mạnh với kinh tế Nhà nước. Mặc dù trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước quan tâm, Ngân hàng đã có nhiều chính sách đổi mới, có những đầu tư đáng kể vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng hiện nay thực tế kết quả đầu tư tín dụng vào khu vực kinh tế này còn rất khiêm tốn so với nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế này và khả năng cung cấp vốn to lớn của các Ngân hàng thương mại. Chương II Thực trạng về cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại NHN0 & PTNT phục hoà, huyện Quảng hoà, Tỉnh Cao Bằng I. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục hòa. 1. Khái quát về NHNo & PTNT Phục Hoà. 1.1. Sự hình thành và phát triển Cùng Với sự ra đời và phát triển của hệ thống NHNo&PTNT Việt nam, đến năm 1990 NHNo Phục Hoà được hình thành, khi mới thành lập NHNo Phục Hoà có tên gọi là phòng giao dịch NH Phục Hoà trực thuộc NHNo Huyện Quảng hòa và có trụ sở tại Xã Hoà thuận, Huyện Quảng hoà, Tỉnh Cao bằng. Trong quá trình hoạt động, để phù hợp với sự phát triển chung trong giai đoạn hiện nay thì NHNo Phục Hoà đã có nhiều đổi mới : - 1/1997 Phòng giao dịch NHNo Phục Hoà được tách ra khỏi NHNo&PTNT Huyện Quảng hoà và nâng cấp lên thành NHNo loại IV trực thuộc NHNo&PTNT Tỉnh Cao bằng. - 4/1999 NHNo&PTNT Phục Hoà được nâng cấp lên thành NHNo loại III. 1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động. - NHNo Phục Hoà có Tất cả 13 cán bộ và nhân viên được bố trí vào các phòng ban như sau : + Ban giám đốc gồm có 3 người. + Phòng Tín dụng gồm có 5 người. + Phòng Kế toán Ngân quỹ gồm có 5 người. NHNo Phục Hoà là chi nhánh hạch toán phụ thuộc, trực thuộc NHNo&PTNT Tỉnh Cao bằng. 2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo Phục Hoà. 2.1. Khái quát về môi trường kinh doanh. NHNo Phục Hoà hoạt động trên địa bàn bao gồm 6 xã và 1 thị trấn, đây là khu vực miền núi do đó trong khu vực có tới 5 xã thuộc khu vực III là vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn. Trên địa bàn hoạt động chỉ có 1 doanh nghiệp nhà nước, còn lại là các hộ kinh doanh sản xuất nhỏ, các tổ chức kinh tế như công ty, doanh nghiệp ngoài quốc doanh không có trên địa bàn. Các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn gặp không ít khó khăn do điều kiện tự nhiên tác động tới. Trong những năm gần đây, thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, nhằm hỗ trợ nguồn lực cho cho các xã đặc biệt khó khăn, do đó nhiều chương trình phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương đã và đang được thực hiện, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển. Khu vực Phục hòa là vùng kinh tế mới của tỉnh do vậy được tỉnh tập chung nhiều nguồn lực hỗ trợ phát triển vùng công nghiệp mía đường, hơn nữa tại đây có cửa khẩu quốc gia rất thuận lợi cho việc mở rộng thông thương giao lưu hàng hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc. 2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục Hoà. NHNo & PTNT Phục Hoà là một Ngân hàng cấp III, địa bàn hoạt động hẹp, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng NHNo & PTNT Phục Hoà đã có nhiều biện pháp tích cực như kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động, thực hiện tốt chiến lược khách hàng, sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất. v.v... nên đã đạt được một số kết quả nhất định trong hoạt động kinh doanh. Biểu 1 : Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục Hoà trong một số năm gần đây : ĐV: Triệu VND Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000 1. Nguồn vốn huy động 2.097 2.226 3.397 - Tiền gửi TCTD 205 44 266 - Tiền gửi TCKT 328 318 62 - Tiền gửi TK 1.564 1.864 3.069 2. Sử dụng vốn. - Doanh số cho vay 7.370 21.893 16.751 T. đó : - DN nhà nước 5.760 19.095 15.899 - KT ngoài QD 1.610 2.798 852 - Doanh số thu nợ 3.526 16.916 20.489 T. đó : - DN nhà nước 1.569 13.541 19.485 - KT ngoài QD 1.957 3.375 1.004 - Dư nợ 9.319 14.296 10.558 T. đó : - DN nhà nước 7.116 12.669 9.084 - KT ngoài QD 2.023 1.627 1.474 3. Cho vay hộ nghèo - Doanh số cho vay 806 1.740 453 - Doanh số thu nợ 108 348 597 - Dư nợ 1.418 2.788 2.647 4. Kết quả kinh doanh - Tổng thu 1.094 2.091 1.583 - Tổng chi 1.650 1.801 1.171 - Chênh lệch Thu - Chi (+) 245 290 412 (Theo báo cáo tín dụng năm 1998 - 1999 - 9/2000 ) 2.2.1. Công tác huy động vốn Qua số liệu biểu 1 cho thấy nguồn vốn huy động qua các năm đều tăng năm 1999 so với năm 1998 tăng 129 triệu, đến 30/9/2000 so với năm 1999 tăng 1.171 triệu, trong tổng nguồn vốn huy động thì nguồn tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm 1999 TG tiết kiệm chiếm tới 83,7%, năm 2000 chiếm tới 90,4%, tuy nhiên nguồn vốn tự huy động chỉ đáp ứng được gần 20% nhu cầu sử dụng vốn. 2.2.2. Công tác sử dụng vốn. Cùng với việc đẩy mạnh công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn đầu tư tín dụng cũng được đặc biệt quan tâm, nó là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động kinh doanh bởi các khoản thu lãi cho vay ở đây chiếm gần 100% tổng thu, cho nên nếu không coi trọng công tác này sẽ ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh của đơn vị. Vì vậy NHNo Phục Hoà đã và đang thực hiện việc đẩy mạnh cho vay, quản lý tốt dư nợ, làm tốt công tác tín dụng. - Doanh số cho vay năm 1999 tăng 14.253 triệu đồng, doanh số cho vay tăng chủ yếu ở doanh nghiệp Nhà nước (tăng 13.335 triệu đồng), còn kinh tế ngoài quốc doanh tăng không đáng kể chỉ tăng 939 triệu đồng, đến 30/9/2000 doanh số cho vay đạt 16.751 triệu đồng, đạt 76,5% so với doanh số cho vay năm 1999. - Doanh số thu nợ: thu nợ năm 1999 tăng 13.390 triệu đồng, đặc biệt đến 30/9/2000 doanh số thu nợ đạt 20.489 triệu đồng tăng so với năm trước 3.573 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 21%. - Dư nợ năm 1999 tăng hơn so với năm trước nhưng đến 30/9/2000 chỉ đạt 10.558 triệu đồng, giảm so với năm 1999 là 3.738 triệu đồng, dư nợ giảm là do các nguyên nhân sau: đối với doanh nghiệp nhà nước dư nợ giảm là do hoạt động kinh doanh theo thời vụ, nhu cầu vay vốn chỉ tăng vào những tháng cuối năm và đầu năm. Còn đối với kinh tế ngoài quốc doanh thì 100% vay vốn là các hộ SXKD nhỏ mà hiện nay Ngân hàng phục vụ Người nghèo đang đẩy mạnh cho vay nên một bộ phận không nhỏ khách hàng là các hộ nghèo trước đây vay vốn NHNo đã trả nợ và chuyển sang vay vốn từ Ngân hàng phục vụ người nghèo, làm cho doanh số cho vay và dư nợ của kinh tế ngoài quốc doanh giảm đáng kể so với những năm trước. Ngoài nhiệm vụ cho vay thu nợ của mình NHNo Phục Hoà còn nhận làm dịch vụ tổ chức cho vay hộ nghèo cho NH phục vụ người nghèo. Công tác này được thực hiện từ khâu thành lập các tổ vay vốn hộ nghèo cho đến việc thẩm định trước khi cho vay, giải ngân đến tận tay các hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, kiểm tra việc sử dụng vốn sau khi cho vay và tổ chức thu nợ, thu lãi khi đến hạn, thực hiện tốt công tác này NHNo Phục Hoà đã thu được một khoản phí dịch vụ đáng kể làm tăng thêm kết quả hoạt động kinh doanh của mình. - Doanh số cho vay hộ nghèo năm 1999 tăng hơn năm trước là 934 triệu đồng, với tỷ lệ tăng là 115 %, số hộ được vay trong năm 1999 cũng tăng cao hơn so với năm trước là 195 hộ, tỷ lệ tăng là 46 %. đến 30/9/2000 doanh số cho vay được 453 triệu đồng, chỉ đạt 26 % so với doanh số cho vay năm trước. - Công tác thu nợ: doanh số thu nợ năm 1999 so với năm trước tăng 240 triệu đồng, đến 30/9/2000 doanh số thu nợ đạt 597 triệu đồng tăng so với năm trước là 249 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 71%. - Dư nợ năm 1999 tăng hơn so với năm 1998 là 1.370 triệu đồng, với tỷ lệ tăng hơn năm trước là 96%. Đến 30/9/2000 dư nợ đạt 2.647 triệu đồng, so với năm trước chỉ đạt 95%. 2.2.3. Công tác kế toán - Ngân quỹ. * Công tác kế toán. Với nhiệm vụ thực hiện hạch toán, phản ánh đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tham gia trực tiếp vào công tác huy động vốn, kế toán cho vay vốn. Mạng lưới phục vụ đã được tổ chức tốt và thực hiện chuyển tiền nhanh qua mạng máy vi tính, đưa giao dịch trực tiếp với khách hàng qua mạng máy tính cho nên dịch vụ chuyển tiền được thực hiện nhanh, chính xác, công tác huy động vốn cũng được thực hiện tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng đến gửi, rút tiền với phương châm vui lòng khách đến vừa lòng khách đi cho nên trong những năm qua nguồn vốn huy động đã không ngừng được tăng trưởng và đã tạo được lòng tin đối với khách hàng, số lượng khách có quan hệ giao dịch với đơn vị ngày càng gia tăng, làm cho lượng chứng từ giao dịch bằng tiền mặt cũng gia tăng. * Công tác ngân quỹ: Chấp hành nghiêm chỉnh chế độ an toàn kho quỹ, chế độ thu, chi tiền tiền mặt của Ngân hàng Nhà nước và NHNo, công tác thu chi tiền mặt đáp ứng được nhu cầu giao dịch của khách hàng, trong quá trình thu, chi tiền cho khách hàng đã tạo được uy tín đối với khách hàng do đó đã góp phần khơi tăng thêm nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm. 2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh Qua số liệu biểu 1 cho thấy kết quả kinh doanh năm 1999 tăng hơn năm trước là 1.285 triệu đồng, 9 tháng đầu năm 2000 thực hiện được 1.137 triệu đồng, đạt 69% so với năm 1999. điều đó cho thấy đơn vị đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của mình, cho nên năm 1999 và 9 tháng đầu năm 2000 không những tổng thu đủ bù đắp chi phí mà còn đảm bảo quỹ lương cho đơn vị, giúp cho CBCNV làm việc tự tin hơn, tăng được uy tín của đơn vị đối với khách hàng và Ngân hàng cấp trên, tạo đà cho việc hoàn thành nhiệm vụ năm 2000. II. Thực trạng về cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo & PTNT Phục Hoà. 1. Cơ chế tín dụng Việc cho vay đối với tất cả các tổ chức kinh tế nói chung và kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng đều phải được thực hiện theo những nguyên tắc và điều kiện cho vay nhất định: 1.1. Nguyên tắc cho vay: Nguyên tắc 1 : Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế:nguyên tắc này đặt ra nhằm đảm bảo cho việc thực hiện sử dụng tiền vay đúng mục đích đã đề ra ,khoản tiền mà NH cho vay ra phải có mục đích cụ thể gắn liền với phương án,dự án sản xuất kinh doanh đã đề ra, người vay không được sử dụng vốn vay cho những mục đích khác. Nguyên tắc 2 : tiền vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn. Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng. Tín dụng chỉ giao quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Nguồn vốn Ngân hàng để cho vay chính là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi mà Ngân hàng huy động được, hoạt động của Ngân hàng là “đi vay để cho vay”, do đó tính hoàn trả của tín dụng đảm bảo cho sự tồn tại của Ngân hàng, các khoản tín dụng phát ra phải được thu hồi đúng thời hạn cam kết để đảm bảo cho Ngân hàng có khả năng thanh toán cho những khoản tiền gửi của khách hàng khi đến hạn thanh toán. Nguyên tắc 3 : Việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo quy định của Chính phủ và của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Nguyên tắc này được thực hiện sẽ đảm bảo an toàn cho những khoản tiền vay của Ngân hàng, lời hứa trả nợ của khách hàng không có gì đảm bảo một cách chắc chắn 100% là họ trả nợ đúng hạn, vì việc kinh doanh của khách hàng có thể gặp bất trắc và họ sẽ không trả được nợ cho Ngân hàng, khi đó Ngân hàng sẽ gặp rủi ro, khi Ngân hàng gặp rủi ro, Ngân hàng có thể bị thiệt hại về thu nhập, mất uy tín với khách hàng hoặc có thể bị phá sản. Do đó để hạn chế rủi ro từ phía khách hàng có thể gây ra, Ngân hàng phải thực hiện tốt việc đảm bảo tiền vay theo quy định. 1.2. Điều kiện cho vay: Điều kiện 1 : Người vay vốn phải có đầy đủ tư cách pháp nhân, có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Điều kiện 2 : Người vay vốn phải có khả năng tài chính, đảm bảo khả năng trả nợ trong thời hạn đã cam kết. Điều kiện 3 : Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp. Điều kiện 4 : Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi, có hiệu quả kinh tế, cung cấp đầy đủ kịp thời cho Ngân hàng các báo cáo theo yêu cầu. Điều kiện 5 : Thực hiện các quy định về bảo đảm quyền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. 1.3. Hồ sơ cho vay : 1.3.1. Hồ sơ xin vay đối với hộ cá thể kinh doanh. - Giấy đề nghị vay vốn - Phương án, dự án sản xuất kinh doanh. - Giấy phép đăng ký kinh doanh (nếu là hộ kinh doanh). - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu là hộ sản xuất). - Các giấy tờ khác liên quan đến đảm bảo tiền vay. 1.3.2. Hồ sơ vay vốn đối với Công ty, doanh nghiệp, Hợp tác xã v.v... ngoài quốc doanh: Khi có nhu cầu vay vốn Ngân hàng, khách hàng phải gửi tới Ngân hàng hồ sơ xin vay vốn, bao gồm : - Giấy đề nghị vay vốn. - Các tài liệu thuyết minh cho việc vay vốn. + Kế hoạch sản xuất kinh doanh, hợp đồng mua bán vật tư hàng hoá. + Bảng tính toán hiệu quả kinh tế dự án sản xuất kinh doanh. - Các tài liệu liên quan đến thuyết minh tình hình tài chính. + Bảng tổng kết tài sản năm trước, quý trước. + Báo cáo tình hình tài chính đến ngày gần nhất. - Các tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng. + Bảng kê những tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. + Những giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu tài sản thế chấp cầm cố, bảo lãnh. - Các tài liệu văn bản pháp lý: + Quyết định thành lập doanh nghiệp, Công ty do cơ quan có thẩm quyền cấp. + Giấy chứng minh quyền điều hành hợp pháp doanh nghiệp, công ty.v.v... 2. Thực trạng công tác cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo & PTNT Phục Hoà. Với đặc điểm hoạt động trên địa bàn là miền núi, kinh tế xã hội kém phát triển cho nên thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ở đây chủ yếu là các hộ sản xuất kinh doanh còn các thành phần kinh tế khác như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân. v.v... không có trên địa bàn, mặt khác hộ SXKD ở đây chủ yếu là SXKD nhỏ lẻ cho nên việc cho vay kinh tế ngoài quốc doanh ở đây còn nhiều hạn chế, dư nợ cho vay chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng dư nợ cho vay. Việc cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo Phục Hoà được thực hiện đúng theo các nguyên tắc cho vay, các quy định về cho vay đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh:về công tác thẩm định tư cách khách hàng, khả năng tài chính, thực hiện đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Nhà nước. Biểu 2 : Dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh : ĐV: triệu VNĐ TT Khoản mục Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000 1 Dư nợ DNNQD 0 0 0 2 Dư nợ HTX 0 0 0 3 Dư nợ hộ SXKD 2. 023 1. 627 1. 474 T. đó : Nợ quá hạn 467 96 112 (Theo báo cáo tín dụng năm 1998-1999-9/2000) Qua số liệu biểu 2 cho thấy: Dư nợ cho vay kinh tế ngoài quốc doanh rất thấp, dư nợ năm sau lại giảm hơn năm trước, năm 1999 giảm so với năm 1998 là 396 triệu đồng, đến cuối quý III/2000 dư nợ chỉ đạt 90% so với năm 1999, nợ quá hạn đến 30/9/2000 chiếm tới 8%. từ những kết quả trên cho thấy đầu tư vào khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở các tỉnh miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn, và qua bảng số liệu trên thì dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh ở đây 100% là dư nợ của cá nhân, hộ sản xuất kinh doanh. còn về quan hệ tín dụng với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công ty, hợp tác xã đối với NHNo Phục Hoà không có món vay nào bởi các tổ chức kinh tế này không có trên địa bàn. Biểu 3 : Dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh phân theo thời hạn cho vay: Đơn vị : Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 1998 Năm1999 9/2000 Số Tiền T. trọng (%) Số tiền T. trọng (%) Số tiền T. trọng (%) I - Tổng dư nợ 2.023 100 1.627 100 1.474 100 1/DN ngắn hạn 1.447 72 924 57 544 40 2/DN trung hạn 576 28 703 43 930 60 (Theo báo cáo tín dụng năm 1998 - 1999 - 9/2000) Qua số liệu biểu 3 cho thấy: Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh qua các thời kỳ đều có sự tăng trưởng, năm 1998 dư nợ là 576 triệu đồng, năm 1999 là 703 triệu đồng, đến 30/9/2000 là 930 triệu đồng chiếm tới 60% trong tổng dư nợ, dư nợ ngắn hạn năm 1999 so với năm trước giảm 523 triệu đồng, đến 9/2000 dư nợ ngắn hạn là 544 triệu đồng so với năm 1999 giảm 380 triệu đồng và chiếm 40 % trong tổng dư nợ, dư nợ ngắn hạn giảm là do một số khách hàng trước đây vay NHNo là những hộ nghèo nên khi Ngân hàng phục vụ người nghèo đẩy mạnh cho vay thì họ đã chuyển sang vay tại Ngân hàng phục vụ người nghèo làm cho dư nợ Ngân hàng nông nghiệp giảm đáng kể, chỉ đạt 91% so với dư nợ năm 1999. Biểu 4 : Tình hình nợ quá hạn của kinh tế ngoài quốc doanh: Đơn vị : Triệu đồng TT Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000 1 Tổng dư nợ 2.023 1.627 1.474 2 Nợ quá hạn 468 96 112 3 NQH/ Tổng dư nợ 23% 6% 8% (Theo báo cáo tín dụng năm 1998,1999, 9/2000) Qua số liệu biểu 4 cho thấy: Nợ quá hạn năm 1999 của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh giảm đáng kể so với năm 1998 là 372 triệu đồng, nhưng thực tế nợ quá hạn giảm là do được sử lý nợ theo văn bản số 238 và văn bản số 140 của NHNo Việt nam, còn lại thực thu chỉ được 96 triệu đồng, nhưng tỷ lệ nợ quá hạn cuối năm 1999 vẫn còn chiếm tới 6% trên tổng dư nợ. Nợ quá hạn đến 9/2000 lại là 112 triệu đồng, so với tổng dư nợ thì chiếm tới 8%, so với tỷ lệ nợ quá hạn năm trước lại tăng 2%, qua đó cho thấy chất lượng tín dụng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn rất thấp. Biểu 5 : Nợ quá hạn phân theo thời hạn cho vay : Đơn vị : Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 9/2000 Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) I. Tổng số NQH 468 100 96 100 112 100 1. NQH ngắn hạn 210 45 23 24 36 32 2. NQH trung hạn 258 55 73 76 76 68 (Theo báo cáo tín dụng năm 1998 - 1999 - 9/2000) Qua số liệu biểu 5 cho thấy trong tổng số nợ quá hạn của kinh tế ngoài quốc doanh thì nợ quá hạn cho vay trung hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn: Năm 1998 chiếm 55%; năm 1999 là 76%, 9/200 là 68%. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá hạn trung hạn tăng là do những năm trước đây việc cho vay trung dài hạn thẩm định không kỹ. Cho vay tràn lan những dự án như khai thác cát, trồng cây ăn quả, không đem lại hiệu quả. Mặt khác, thời hạn cho vay trung hạn thường kéo dài nhưng ít có hợp đồng tín dụng trung hạn được phân kỳ trả nợ. Công tác kiểm tra sau không thường xuyên dẫn đến phát sinh nợ quá hạn. Nợ quá hạn trung hạn so với dư nợ trung hạn cũng chiếm tỷ trọng tương đối cao, năm 1999 là 10%, 9/2000 là 8%. Còn nợ quá hạn ngắn hạn so với nợ quá hạn trung hạn có phần thấp hơn. So với dư nợ ngắn hạn thì nợ quá hạn ngắn hạn năm 1999 chiếm 2%, tháng 9/2000 là 6%. Qua đó cho thấy để hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn thì ngoài công tác đôn đốc thu hồi nợ phải quan tâm đến việc xác định kỳ hạn trả nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và phân kỳ trả nợ theo khả năng trả nợ của Ngân hàng. Trong 9 tháng đầu năm 2000, NHNo & PTNT Phục Hoà đã đưa ra nhiều biện pháp tích cực để tổ chức thu hồi nợ như thành lập các tổ đi thu nợ quá hạn, kết hợp với chính quyền địa phương phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ v.v... Do đó đã thu được khá nhiều nợ quá hạn, nhưng số nợ quá hạn mới vẫn phát sinh bởi những khách hàng vay trước đây sản xuất kinh doanh thu lỗ hiện nay đến hạn không trả được nợ, nợ quá hạn đến 9/2000 không những không giảm mà còn có xu hướng tăng. Do vậy, để nâng cao chất lượng tín dụng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không những khi cho vay phải đúng theo quy trình nghiệp vụ. Trước khi cho vay phải thẩm định kỹ càng, xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng và hiệu quả kinh doanh của dự án mà công tác quản lý dư nợ cũng phải luôn được coi trọng, đặc biệt là công tác kiểm tra sau khi cho vay nhằm phát hiện và xử lý những trường hợp sử dụng vốn sai mục đích, những khoản nợ có vấn đề để ngăn chặn tình trạng phát sinh nợ quá hạn do những nguyên nhân chủ quan gây ra. 3. Những tồn tại, khó khăn trong trong quan hệ tín dụng giữa NHNo Phục Hoà với kinh tế ngoài quốc doanh. 3.1. Những tồn tại Đầu tư tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, tuy nhiên trong công tác cho vay trong thời gian qua vẫn còn một số tồn tại cần phải quan tâm chú ý: - Hiện nay vấn đề lớn nhất trong cho vay là vấn đề đảm bảo tiền vay tức là khi cho vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba. nhưng đối với các doanh nghiệp Nhà nước hầu hết được vay bằng tín chấp, và được vay với khối lượng lớn, còn việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định, khách hàng vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh phải có tài sản thế chấp nhưng lại không có tài sản thế chấp hoặc có tài sản thế chấp nhưng có giá trị thấp cho nên việc cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ở NHNo Phục Hoà chủ yếu là những món vay nhỏ dưới 10 triệu đồng chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng. - Chất lượng tín dụng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn rất thấp, tỷ lệ nợ quá hạn đến 9/2000 là 8% tỷ lệ nợ quá hạn cao là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ quan về phía Ngân hàng là khâu thẩm định chưa kỹ, việc thu thập thông tin, đánh giá năng lực khách hàng nhiều khi không chính xác cho nên nhiều khi cho vay rồi không có khả năng thu hồi nợ - Việc xác định kỳ hạn nợ đã được xem xét cho phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng trong thực tế vẫn còn tình trạng thời hạn cho vay nhỏ hơn hoặc lớn hơn chu kỳ sản xuất kinh doanh do đó nhiều khi đến hạn trả nợ khách hàng chưa thu hồi được vốn để trả nợ hay khi chưa đến hạn trả thì khách hàng lại tiếp tục đầu tư cho một chu kỳ sản xuất mới hoặc sử dụng vào những mục đích khác, khi đến hạn không trả được nợ, dẫn đến tình trạng phát sinh nợ quá hạn. - Một số khách hàng khi đến hạn trả nợ lại cố tình dây dưa trây ì không chịu trả nợ hoặc tình cách trốn tránh do đó cũng làm cho cán bộ tín dụng có tâm lý ngại đẩy mạnh cho vay. - Công tác kiểm tra sau khi cho vay đã được tổ chức thực hiện nhưng chưa thường xuyên, tỷ lệ khách hàng được kiểm tra sau khi cho vay chưa cao nên không phát hiện kịp thời những trường hợp sử dụng vốn sai mục đích để sử lý, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây phát sinh nợ quá hạn. 3.2. Những khó khăn tác động tới quan hệ tín dụng giữa NH với kinh tế ngoài quốc doanh Kinh tế ngoài quốc doanh ở trên địa bàn Phụ hòa chủ yếu là các hộ SXKD, còn các thành phần kinh tế khác như hợp tác xã, doanh nghiệp ngoài quốc doanh. v.v... không có nên các dự án đầu tư chủ yếu là những dự án nhỏ, không có những dự án sản xuất kinh doanh lớn, do đó những món vay đều là món vay nhỏ hiệu quả kinh tế thấp do đó việc đẩy mạnh cho vay, tăng trưởng dư nợ cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là rất khó khăn. - Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm đối với các hộ ở khu vực thị trấn nên cũng gây không ít khó khăn cho các hộ đó khi vay vốn NH - Các hộ SXKD không chấp hành đúng quy định của nhà nước. tiến hành hoạt động kinh doanh thiếu giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy phép hành nghề. v.v... nên khi cần vay vốn NH gặp không ít khó khăn do thiếu giấy tờ cần thiết. - Môi trường kinh doanh không có do điều kiện về kinh tế xã hội chưa phát triển nên việc thành lập các tổ SX, HTX ... để mở rộng hoạt động kinh doanh chưa có thể thực hiện được, hoạt động SXKD ở đây chủ yếu là nhỏ lẻ, chưa có những dự án lớn để NH có môi trường đầu tư tín dụng. Những khó khăn và tồn tại trên đây tác động rất lớn đối với việc mở rộng hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, cũng như ảnh hưởng tới việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng và cho mọi thành phần kinh tế nói chung. Trước tình hình này đòi hỏi NHNo Phục Hoà phải tìm ra biện pháp tích cực để thu hút khách hàng và tạo điều kiện cho kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, qua đó mới tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi. Chương III Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh I - Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của NHNo Phục Hoà 1 - Định hướng phát triển. Để phát huy vai trò của tín dụng NH đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện thắng lợi chương trình xoá đói giảm nghèo trong khu vực Phục Hoà. trong năm tới NHNo Phục Hoà phải tổ chức khai thác tốt nguồn vốn trên địa bàn, tăng cường đầu tư tín dụng cho tất cả các thành phần kinh tế đặc biệt là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, làm cho khối lượng tín dụng đầu tư vào khu vực kinh tế này tăng dần lên ngang tầm với sự phát triển của nó trong nền kinh tế Một số mục tiêu cơ bản của năm 2001 + Nguồn vốn huy động: đạt 5,6 tỷ đồng, tăng trưởng 60% so với năm 2000 + Sử dụng vốn phấn đấu đạt 22 tỷ đồng, tăng trưởng 20% so với năm 2000 Trong đó : - Tín dụng ngắn hạn đạt 16,5 tỷ đồng chiếm 75 % tổng dư nợ - Tín dụng trung, dài hạn đạt 5,5 tỷ đồng chiếm 25% tổng dư nợ + Tỷ lệ nợ quá hạn hạ thấp dưới 1% + Kết quả tài chính : Kinh doanh đạt kết quả cao 2. Một số giải pháp thực hiện 2.1. Giải pháp trước mắt: - Đẩy mạnh công tác huy động vốn, vận động khách hàng mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng, sử dụng công cụ lãi xuất huy động vốn linh hoạt để thu hút tiền gửi tiết kiệm của dân cư. - Tiếp tục đẩy mạnh cho vay, đặc biệt là cho vay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. đầu tư vào những dự án có hiệu quả để mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng đồng thời thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển. - Tăng cường công tác kiểm tra sau khi cho vay, thực hiện kiểm tra 100% những món nợ vay có mức dư nợ trên 10 triệu đồng, phát hiện, sử lý kịp thời những trường hợp sử dụng vốn sai mục đích. - Thành lập các tổ công tác tập trung sử lý các khoản nợ đến hạn, nợ quá hạn, nợ có vấn đề đặc biệt là ở các địa bàn có chất lượng tín dụng kém nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, làm trong sạch môi trường kinh doanh. 2.2. Giải pháp lâu dài: - Phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ qua có thẩm quyền định hướng cho chác thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư vào những ngành nghề được ưu tiên phát triển, những ngành nghề được coi là thế mạnh của địa phương, thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển làm tiền đề cho việc thành lập các tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã. v.v... xoá bỏ dần tình trạng sản xuất nhỏ lẻ phân tán, thực hiện chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Chú trọng đầu tư cho những mô hình kinh tế mới, mô hình kinh tế trang trại, tạo điều kiện cho họ vay vốn, giúp họ làm quen với cách thức tổ chức sản xuất kinh doanh lớn, nhân rộng những mô hình kinh tế mới hoạt động có hiệu quả thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển, tạo ra môi trường kinh doanh tín dụng nhằm mở rộng cho vay và nâng cao chất lượng tín dụng, phát huy vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế. - Chuyển dịch cơ cấu đầu tư, đầu tư có trọng tâm trọng điểm, đẩy mạnh cho vay trung, dài hạn, tạo điều kiện cho khách hàng có điều kiện đổi mới trang thiết bị nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô hoạt động, lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục tiêu phục vụ. - Hoàn thiện chính sách tín dụng, đặc biệt là chính sách tín dụng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, xoá bỏ những thủ tục vay vốn rườm rà gây khó khăn cho người vay vốn, tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn một cách thuận lợi nhất. - Tổ chức học tập rút kinh nghiệm, có chiến lược đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tín dụng nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất đạo đức. v.v... bởi chất lượng tín dụng cao hay thấp, tín dụng dược mở rộng hay bị thu hẹp phụ thuộc rất lớn vào khả năng tác nghiệp và năng lực của cán bộ tín dụng. II - Một số kiến nghị 1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền quảng cáo về chính sách chế độ tín dụng của Ngân hàng: Với đặc điểm là khu vực miền núi nên hầu hết trên địa bàn dân cư sống không tập trung, giao thông nội vùng đi lại khó khăn, người dân ít có điều kiện tiếp xúc với các thông tin tuyên truyền quảng cáo nói chung và những thông tin tuyên truyền về hoạt động của Ngân hàng nói riêng, cho nên nếu NHNo & PTNT Phục Hoà không tổ chức tốt công tác tuyên truyền thì người dân không hiểu được muốn vay vốn Ngân hàng phải có đầy đủ những điều kiện gì, thủ tục vay vốn ra sao, lãi suất vay vốn như thế nào v.v... dẫn đến khách hàng có nhu cầu vay vốn gặp khó khăn trong việc đặt quan hệ tín dụng với Ngân hàng, họ lại đặt quan hệ vay mượn với những đối tượng cho vay nặng lãi, chịu trả lãi với lãi suất cao, cho nên để ngăn chặn tình trạng này NHNo & PTNT Phục HoàNHNo & PTNT Phục Hoà cần phải sử dụng các phương tiện thông tin, tuyên truyền rộng rãi, đặc biệt là thông qua đội ngũ cán bộ tín dụng của mình phụ trách cho vay tại các xã tuyên truyền cho người dân hiểu rõ về chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, chính sách cho vay vốn của Ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với thủ tục vay vốn đơn giản, các hình thức tín dụng phong phú phù hợp với mọi đối tượng vay vốn, không để khách hàng lầm tưởng khi gửi tiền vào Ngân hàng thì dễ, khi rút tiền lại bị Ngân hàng gây khó khăn, hoặc khi muốn vay vốn Ngân hàng lại phải thực hiện những thủ tục vay vốn rườm rà, phải tốn kém những khoản chi phí bất hợp lý cho những khoản vay v.v... để cho khách hàng thấy rõ được quyền lợi cũng như trách nhiệm của họ trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng. 2. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khuyến khích đầu tư vào những mô hình kinh tế mới. Với điều kiện tự nhiên tại khu vực Phục Hoà là phù hợp với việc phát triển kinh tế trang trại, như chăn nuôi trâu, bò đàn, phát triển trồng mía phục vụ cho công nghiệp mía đường v.v... Đây là lĩnh vực đang được địa phương ưu tiên phát triển và là mô hình kinh tế có hiệu quả cao. Cho nên Ngân hàng cần ưu tiên đầu tư cho vay tạo điều kiện cho các hộ thực hiện phát triển mô hình kinh tế này. Những mô hình kinh tế này được thực hiện và nhân rộng trên địa bàn sẽ là điều kiện để xoá bỏ tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, là cơ sở để hình thành các tổ sản xuất lớn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn. Khi đó nhu cầu vốn cho các mô hình kinh tế này cũng tăng lên, Ngân hàng có điều kiện để mở rộng cho vay và nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. 3. Thực hiện phân loại khách hàng: Khách hàng thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đến giao dịch với Ngân hàng Phục Hoà chủ yếu là các hộ sản xuất. Đối tượng này rất nhạy cảm với những chính sách của Ngân hàng, do vậy để duy trì tốt mối quan hệ với khách hàng cũ đồng thời thu hút thêm những khách hàng mới, Ngân hàng Phục Hoà phải có chính sách riêng đối với từng loại khách hàng. Việc phân loại khách hàng nhằm mục đích xác định mức độ tín nhiệm của khách hàng trong quan hệ tín dụng với Ngân hàng, từ đó đưa ra chính sách mở rộng hay thu hẹp tín dụng đối với từng loại khách hàng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Đối với những khách hàng không có tín nhiệm, tức là những khách hàng chấp hành không nghiêm túc những quy định về chế độ tín dụng Ngân hàng, không trả nợ gốc và lãi theo đúng kỳ hạn đã thoả thuận, thì đó có thể là một trong những biểu hiện của việc sử dụng vốn sai mục đích, cố trình trây ì, không trả nợ, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả v.v... Với loại khách hàng này Ngân hàng phải có biện pháp thu hồi vốn trước thời hạn, chấm dứt quan hệ tín dụng, cần thiết có thể khởi kiện trước cơ quan pháp luật. Đối với khách hàng có tín nhiệm, tức là thường xuyên có quan hệ vay vốn, chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng của Ngân hàng, Ngân hàng phải tạo mọi điều kiện cho họ vay vốn khi họ có nhu cầu, bởi loại khách hàng này Ngân hàng có thể giảm bớt được chi phí thu thập thông tin, sàng lọc dễ dàng hơn, tránh được rủi ro đạo đức từ phái khách hàng. Với loại khách hàng này nếu Ngân hàng để cho họ đi vay tại các tổ chức tín dụng khác thì Ngân hàng mất đi người bạn hàng tin tưởng, mất đi cơ hội kinh doanh của mình. Đối với khách hàng có quan hệ vay vốn lần đầu phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho họ vay vốn nhằm tránh những suy nghĩ sai lệch của họ về Ngân hàng. Tuy nhiên, việc tạo điều kiện cho họ vay vốn phải trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc cho vay và điều kiện vay vốn của Ngân hàng. Việc thực hiện phân loại khách hàng là cơ sở cho việc đầu tư tín dụng, tránh được hiện tượng cho vay tràn lan dẫn đến thất thoát vốn. 4. Thường xuyên điều tra phân tích nợ, đánh giá tình hình sử dụng vốn của khách hàng: Qua công tác phân tích nợ đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng, khả năng trả nợ của khách hàng, cũng như mức độ rủi ro xảy ra đối với những khoản vay của khách hàng, từ đó xử lý kịp thời những khoản nợ có vấn đề, những khoản nợ có nhiều khả năng không thu hồi được. Như đã đề cập trong chương II, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tương đối cao (năm 1999 là 6%, đến tháng 9/2000 là 8%), do đó NHNo & PTNT Phục Hoà phải sớm đưa ra các biện pháp tích cực để cải thiện tình hình đó. Công tác điều tra phân tích được thực hiện dưới các hình thức : - Kiểm tra định kỳ, đột xuất tại cơ sở của khách hàng, đánh giá tình trạng và giá trị của tài sản thế chấp tại thời điểm kiểm tra. So sánh với giá trị khoản vay để đánh giá mức độ đảm bảo của khoản vay. - Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Bởi khoản vay có khả năng thu hồi nợ hay không phụ thuộc rất lớn vào tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nếu tình hình sản xuất kinh doanh tốt, khách hàng có khả năng trả nợ, còn ngược lại, tình hình sản xuất trì trệ, kinh doanh thua lỗ kéo dài thì đó là biểu hiện khoản vay này có thể khó thu hồi nợ. - Ngoài ra thông qua các thông tin thu thập được từ nhiều phía khác nhau để phân tích đánh giá tránh tình trạng chỉ phân tích nợ dựa vào thông tin một chiều từ phía khách hàng, như vậy việc đánh giá chất lượng tín dụng kém chính xác, không phản ánh đúng khả năng trả nợ của khách hàng. Việc phân tích nợ của khách hàng phải được tiến hành một cách thống nhất, thường xuyên và có hệ thống theo nội dung đã được quy định trong chế độ thể lệ tín dụng của Ngân hàng. 5. Về công tác thẩm định, tái thẩm định : Có thể nói khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có quan hệ thường xuyên với NHNo & PTNT Phục Hoà chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số khách hàng đến giao dịch. Ngoài khách hàng có tín nhiệm đến giao dịch thì còn rất nhiều khách hàng mới đến giao dịch lần đầu và những khách hàng chưa thực sự có tín nhiệm với Ngân hàng, do đó công tác thẩm định trước khi cho vay phải được tiến hành một cách chặt chẽ, mỗi món vay phải được tìm hiểu từ nhiều phía, nhiều luồng thông tin khác nhau để nắm chắc được tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Đặc biệt quan trọng là phải thẩm định về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân của khách hàng, ngoài ra phải thẩm định về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, hiệu quả kinh tế của dự án. Như ta đã biết, khi khách hàng đến đặt quan hệ vay vốn nhiều khi họ đưa ra những số liệu không chính xác, những thông tin sai lệch nhằm đạt được mục đích vay được vốn của Ngân hàng. Nhiều dự án đưa ra không có khả năng thực hiện, do đó nếu thẩm định không chặt chẽ mà vẫn cho vay thì đây sẽ là nguyên nhân làm phát sinh nợ quá hạn và khả năng mất vốn là rất cao. 6. Một số kiến nghị khác: Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện những chủ trương hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội ở miền núi nhưng hiện nay một số nơi đường giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, nhìn chung cơ sở hạ tầng còn kém phát triển cho nên gây không ít khó khăn cho các hoạt động kinh tế xã hội ở khu vực miền núi, do vậy để tạo ra môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi, phát triển kinh tế ở miền núi, thúc đẩy các tổ chức kinh tế mà đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển, hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao thì Nhà nước cần quan tâm tới những vấn đề sau: - Trú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở miền núi như đường giao thông, điện ở miền núi và nông thôn.v.v... xây dựng các cơ sở kinh tế tại các khu vực miền núi phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng phát huy được thế mạnh của địa phương. - Khuyến khích và có chính sách đãi ngộ đối với các nhà đầu tư hoạt động kinh doanh ở miền núi và đầu tư vào những lĩnh vực được ưu tiên phát triển. - Có chính sách hỗ trợ đào tạo các nhà doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực nâng cao trình độ quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh. thực, hiện chủ trương khuyến nông, khuyến lâm triệt để, tạo ra môi trường hoạt động SXKD thuận lợi cho khu vực miền núi. Kết luận Kinh tế ngoài quốc doanh trong những năm qua đã chứng minh được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường, trong giai đoạn hiện nay Kinh tế ngoài quốc doanh có những điều kiện thuận lợi do công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đem lại thì bên cạnh đó kinh tế ngoài quốc doanh còn phải đương đầu với những khó khăn, thử thách lớn. Cùng với sự cố gắng vươn lên của kinh tế ngoài quốc doanh thì cần phải có sự giúp đỡ của các cấp, các ngành để kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nền kinh tế. Trong mối quan hệ, giữa kinh tế ngoài quốc doanh và các Ngân hàng thương mại thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là thị trường đầu tư tín dụng lớn của các NHTM, sự phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng của mình, do đó các NHTM cần phải có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển. Phục Hòa, ngày 15 tháng 11 năm 2000. Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập. Tác giả chuyên đề (ký và ghi rõ họ tên) Nông Quốc Huy Cao Bằng, 11 - 2000

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBáo cáo tốt nghiệp- Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hoà - Thực trạng và giải pháp.pdf
Luận văn liên quan