Xử lý tình huống - Vi phạm và xử phạt hành chính về điều khiển phương tiện giao thông

LỜI MỞ ĐẦU GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1. Xác định các trường hợp H không phải chịu trách nhiệm hành chính, nêu căn cứ pháp lý 2. Trong trường hợp hành vi của H cấu thành vi phạm hành chính, phân tích các dấu hiệu trong cấu thành vi phạm hành chính của H và nêu căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với H 3. Chiến sĩ cảnh sát đã phát hiện vi phạm hành chính của H phải thực hiện những công việc gì để xử lý hành vi vi phạm hành chính đó 4. Xác định người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, nêu căn cứ pháp lý 5. Trong trường hợp vi phạm của H không có tình tiết tăng nặng và tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính người có thẩm quyền cần xử lý vi phạm hành chính đối với H như thế nào, phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính nào KẾT LUẬN

doc8 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/03/2013 | Lượt xem: 12987 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Xử lý tình huống - Vi phạm và xử phạt hành chính về điều khiển phương tiện giao thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG. 1. Xác định các trường hợp H không phải chịu trách nhiệm hành chính, nêu căn cứ pháp lý. Trách nhiệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước bắt buộc các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu. Các cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Tuy nhiên có những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hành chính được quy định tại khoản 6 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008) như sau: “Không xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.” Xem xét tình huống, H dù đã có hành vi vi phạm hành chính nhưng sẽ không phải chịu trách nhiệm hành chính trong những trường hợp sau: a. H vô ý lái xe vào đường cấm trong trường hợp tình thế cấp thiết. Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008 đã ghi rõ: “Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.” Ví dụ, H đang sống cùng mẹ. Tối hôm đó, mẹ H bị đau ruột thừa rất nguy kịch. H lấy xe máy chở mẹ đi viện. Gần đến bệnh viện thì xảy ra ùn tắc giao thông, H để ý thấy có con đường tắt nhưng không biết nó bị cấm (để phục vụ cho buồi diễu hành ngày hôm sau). Khi đi vào thì H bị chiến sỹ cảnh sát phát hiện. Trong trường hợp này, việc H vô ý đi vào đường cấm là vi phạm hành chính. Tuy nhiên, trong lúc đó sức khỏe, tính mạng của mẹ H đang bị đe dọa vì đau ruột thừa nếu không cấp cứu ngay. Việc xảy ra ùn tắc giao thông khiến cho H không còn cách nào khác là đi vào đường con đường tắt (H không biết đó là đường cấm). Do đó, đây là trường hợp thuộc vào tình thế cấp thiết. b. H vô ý lái xe vào đường cấm trong trường hợp sự kiện bất ngờ. Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó. (Theo khoản 3, Điều 4 Nghị định trên). Trường hợp này người đó sẽ không phải chịu trách nhiệm hành chính. Cụ thể, H đang điều khiển xe máy đi trên đường, đúng làn đường, tốc độ quy định. Tới gần đoạn rẽ vào đường cấm, đột ngột có một chiếc xe ô tô mất lái lao sang làn đường H đang đi, khiến A phải bẻ lái tránh va chạm. Kết quả là xe của A lao vào đoạn đường cấm. Sau đó thì H bị các chiến sĩ cảnh sát phát hiện là đi vào đường cấm. c. H điều khiển xe máy vô ý đi vào đường cấm trong tình trạng đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Theo khoản 4 Điều 4 nghị định số 128/2008/NĐ-CP nói trên, người mà vi phạm hành chính trong trường hợp đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì sẽ không bị xử lý vi phạm hành chính. Đối với trường hợp này vì lý do họ không có năng lực chủ thể nên vấn đề trách nhiệm hành chính không được đặt ra. Nhưng cũng cần lưu ý, không phải đối với tất cả các trường hợp mắc bệnh tâm thần đều không phải chịu trách nhiệm hành chính mà tùy vào mức độ ảnh hưởng của bệnh đối với khả năng nhận thức mà quy định xử phạt hay không. Ví dụ, H là bệnh nhân đang được quản lý và chữa trị tại bệnh viện tâm thần K. Do bệnh nặng, không làm chủ được suy nghĩ và hành vi của mình, một hôm H lẻn lấy một chiếc xe máy của nhân viên bảo vệ và phóng ra đường. Khi đi vào đường cấm thì bị chiến sĩ cảnh sát phát hiện. Ngoài ra, trong tình huống này không xem xét đến việc hành vi của H thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng. Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP thì: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.” Trong khi đó, rõ ràng hành vi vô ý đi vào đường cấm của H trong mọi tình huống đều không thể hiện tính chất “chống trả” như điều luật này quy định. 2. Trong trường hợp hành vi của H cấu thành vi phạm hành chính, phân tích các dấu hiệu trong cấu thành vi phạm hành chính của H và nêu căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với H. Có thể kết luận rằng, việc Nguyễn Văn H, 17 tuổi, điều khiển xe Dream đi vào đường cấm của H cấu thành hai vi phạm hành chính. Thứ nhất, H có hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới. Về mặt khách quan, việc H điều khiển xe Dream tham gia giao thông khi chưa đủ độ tuổi quy định đã vi phạm điểm a, khoản 2 Điều 24 Nghị định 146/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên.” Phương tiện vi phạm mà H sử dụng là chiếc xe máy Dream (mọi loại xe Dream đều có dung tích xi lanh lớn hơn 100 cm3). Về mặt chủ quan, rõ ràng có thể H thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý vì H biết rõ rằng mình không đủ 18 tuổi, chưa có bằng lái xe thì không được điều khiển xe máy trên 50 cm3 nhưng vẫn làm. Chủ thể vi phạm ở đây đương nhiên là H. Với độ tuổi 17, đương nhiên H sẽ phải chịu mọi bị xử phạt hành chính với mọi vi phạm hành chính mà mình gây ra (theo khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008). Về khách thể, hành vi này của H đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Thứ hai, H có hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô. Về mặt khách quan, hành vi vô ý đi vào đường cấm của H đã vi phạm vào điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP nêu trên. Cụ thể, theo quy định tại điều này thì sẽ xử phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy,… khi có hành vi “đi vào đường cấm, khu vực cấm”. Phương tiện vi phạm tương tự như trên là chiếc xe máy Dream mà H điều khiển. Xét về mặt chủ quan, hành vi đi vào đường cấm của H có lỗi vô ý. Trong tình huống đề ra, H có thể là vô tình hoặc thiếu thận trọng mà không nhận thức được mình đang đi vào đường cấm khi điều khiển xe máy. Chủ thể vi phạm ở đây là Nguyễn Văn H, 17 tuổi. Độ tuổi của H nằm trong khoảng pháp luật quy định là từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (tuổi vị thành niên). Cho nên, theo khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008, mức phạt tiền đối với H sẽ không quá một phần hai mức phạt với người đã thành niên, nếu trường hợp không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hay người giám hộ sẽ nộp thay. Về khách thể cũng tương tụ với hành vi vi phạm hành chính thứ nhất. Căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với H như sau: - Luật giao thông đường bộ 2008: Điều 58 quy định về Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông, Điều 60 quy định về Tuổi và sức khỏe của người lái xe. - Nghị định 146/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ: điểm a, khoản 2 Điều 24 quy định về Xử phạt hành vi vi phạm quy định của người điều khiển xe cơ giới; điểm c, khoản 3 Điều 9 quy định về Xử phạt hành chính với hành vi đi vào đường cấm. - Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008: Điều 6 quy định Đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính; Điều 7 quy định Xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính. 3. Chiến sĩ cảnh sát đã phát hiện vi phạm hành chính của H phải thực hiện những công việc gì để xử lý hành vi vi phạm hành chính đó. Chiến sĩ cảnh sát phải yêu cầu H dừng xe lại ngay khi phát hiện thấy H đi vào đường cấm theo quy định tại Điều 53 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008: “Khi phát hiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý phải ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính.” Sau đó sẽ tiến hành xử phạt hành chính đối với H. Theo như đã phân tích ở trên, việc H đi vào đường cấm đã cấu thành hai vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Thứ nhất, hành vi của H đã vi phạm vào điểm a, khoản 2 Điều 24 Nghị định 146/2007/NĐ-CP nói trên, H có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền là từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa với vi phạm này là 60.000 đồng (do trong điều luật đã quy định rõ độ tuổi người vi phạm). Thứ hai, H còn vi phạm điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP với mức phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Mức phạt tiền tối đa với H là không quá 150.000 đồng (theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008). Cả hai vi phạm thì mức phạt tối đa đều không quá 200.000 đồng nên theo Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008, người có thẩm quyền xử lý vi phạm sẽ xử lý vi phạm theo thủ tục đơn giản: “Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ…”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 146/2007/NĐ-CP thì chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ có thẩm quyền phạt tiền đến 100.000 đồng. Vì vậy, đối với trường hợp thứ nhất, hành vi vi phạm điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP của H có mức phạt tiền không quá 100.000 đồng thì chiến sĩ sảnh sát có quyền ra quyết định xử phạt ngay tại chỗ cả 2 vi phạm theo thủ tục tại Điều 54 Pháp lênh xử phạt vi phạm hành chính 2008. Trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt. H có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho chiến sĩ cảnh sát, nếu không có thì cha mẹ hay người giám hộ của H phải nộp thay. Chiến sĩ cảnh sát phải giao biên lai thu tiền phạt cho H. Trường hợp thứ hai, chỉ cần hành vi vi phạm điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP của H có mức phạt từ trên 100.000 đồng đến dưới 150.000 đồng, thì chiến sĩ cảnh sát đang thi hành công vụ không được phép xử phạt ngay tại chỗ vì nó vượt quá thẩm quyền người này. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 42 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008 hay khoản 2 Điều 46 Nghị định 146/2007/NĐ-CP: “Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt”, rõ ràng chiến sĩ cảnh sát phải chuyển vụ vi phạm của H đến Đội trưởng, Trạm trưởng của người này để xử lý theo thủ tục đơn giản như trường hợp trên. Bởi lẽ, theo khoản 2 Điều 44 Nghị định 146/2007/NĐ-CP thì Đội trưởng, Trạm trưởng của người được quy định tại khoản 1 (chiến sĩ công an nhân dân đang thi hành công vụ) thì có thẩm quyền phạt tiền tới 200.000 đồng. Căn cứ pháp lý cần được áp dụng như sau: - Những căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hành chính của H (nêu ở mục 2). - Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008: Điều 53 quy định về Đình chỉ hành vi vi phạm hành chính; Điều 54 quy định về Thủ tục đơn giản; Điều 42 quy định về Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. - Nghị định số 146/2007/NĐ-CP: Điều 44 quy định về Thẩm quyền xử phạt của Công an nhân dân (khoản 1 và 2); Điều 46 quy định về Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. 4. Xác định người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, nêu căn cứ pháp lý. Thứ nhất, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Trưởng công an các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định của Nghị định này trong phạm vi quản lý của địa phương mình (theo khoản 1 Điều 42 Nghị định 146/2007/NĐ-CP). Đối với trường hợp này thì chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp và Trưởng công an các cấp tại địa phương nơi xảy ra hành vi vi phạm của H có quyền ra quyết định xử phạt với H. Thứ hai, theo khoản 2 Điều 42 Nghị định trên thì lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm của H. Trong đó bao gồm: - Trưởng phòng cảnh sát giao thông. (thẩm quyền xử phạt quy định tại khoản 5 Điều 44 Nghị định này). - Giám đốc công an cấp tỉnh. (khoản 6 Điều 44 Nghị định này). - Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông đường bộ (khoản 7 Điều 44 Nghị định này). - Chiến sĩ cảnh sát giao thông đang thi hành nhiệm vụ (khoản 1 Điều 44 Nghị định này) và Đội trưởng, Trạm trưởng của chiến sĩ cảnh sát giao thông (khoản 2 Điều 44 Nghị định này). Thứ ba, đối với hành vi vi phạm phạm quy tắc giao thông đường bộ của H quy định tại điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định này thì lực lượng Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội có thẩm quyền xử phạt (theo khoản 3 Điều 42 Nghị định số 146/2007/NĐ-CP). Tuy nhiên với hành vi vi phạm điều kiện của người điều khiển xe cơ giới quy định tại điểm a khoản 2 Điều 24 Nghị định này thì không thuộc thẩm quyền xử phạt của những người này. Căn cứ pháp lý cần được áp dụng là: - Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008: Chương IV quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. - Nghị định 146/2007/NĐ-CP: các điều trong mục 1 Chương III quy định về thẩm quyền xử phạt. 5. Trong trường hợp vi phạm của H không có tình tiết tăng nặng và tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính người có thẩm quyền cần xử lý vi phạm hành chính đối với H như sau: Theo khoản 1 Điều 48 Nghị định 146/2007/NĐ-CP thì “Trình tự, thủ tục xử phạt phải tuân theo các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính”, như vậy ở đây những người có thẩm quyền cần tuân thủ các thủ tục trong pháp lệnh này khi xử lý vi phạm hành chính đối với H. Trước tiên, khi phát hiện ra H vô ý đi vào đường cấm của H thì người có thẩm quyền xử phạt phải yêu cầu H dừng xe lại ngay lập tức vì hành vi của H đã cấu thành hai vi phạm hành chính (như đã đề cập ở mục 2). Điều này được quy định tại Điều 53 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008, sau đó sẽ áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính đối với H. H không có tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhệm hành chính nào. Cho nên, với hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới (cụ thể, H chưa đủ tuổi để lái xe trên 50 cm3), theo khoản điểm a, khoản 2 Điều 24 Nghị định 146/2007/NĐ-CP chỉ có thể bị phạt tiền mà không thể phạt cảnh cáo. Mức phạt tiền là từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng, cho nên H sẽ bị phạt với mức trung bình cho vi phạm này là 50.000 đồng, theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008. Đối với vi phạm hành chính về quy tắc giao thông đường bộ đối với người điều khiển xe mô tô (H vô ý đi vào đường cấm) thì theo điểm c, khoản 3 Điều 9 Nghị định 146/2007/NĐ-CP mức phạt đưa ra ở đây là từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Pháp lệnh nói trên và khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, “…Khi phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên…” thì người có thẩm quyền có thể phạt tiền H là 75.000 đồng. Tổng tiền phạt mà H phải nộp là 125.000 đồng. Căn cứ vào mức phạt tiền đối với hai vi phạm trên của H đều dưới 200.000 đồng nên người có thẩm quyền hoàn toàn có thể áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản, quy định tại Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008. Theo đó, người có thẩm quyền xử phạt sẽ ra quyết định xử phạt ngay tại chỗ. Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ của người vi phạm (Nguyễn Văn H); địa điểm xảy ra vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng. Quyết định này phải được giao cho H một bản. H có thể nộp tiền phạt ngay tại chỗ cho người có thẩm quyền và người này sẽ giao lại biên lai xử phạt cho H hoặc trong thời hạn 10 ngày H phải nộp tiền phạt tại kho bạc nhà nước (theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008 quy định về Nơi nộp tiền phạt). Nếu H không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hay người giám hộ sẽ nộp thay. Ngoài ra, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp cướng chế hành chính khác đối với H như sau: - Biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính (Điều 43 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008): Tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính (Điều 46 Pháp lệnh). Biện pháp này được áp dụng ngăn chặn kịp thời không cho vi phạm tái diễn và đảm bảo việc thi hành quyết định xử phạt được hiệu quả. Theo điểm c, khoản 1 Điều 49 Nghị định 146/2007/NĐ-CP:“Người có thẩm quyền xử phạt được phép đình chỉ lưu hành phương tiện cơ giới đường bộ (bằng hình thức tạm giữ phương tiện …) trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các điều, khoản, điểm sau đây của Nghị định này: … c) Đình chỉ lưu hành phương tiện từ 30 (ba mươi) ngày đến 45 (bốn mươi lăm) ngày đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 24…”. H đã vi phạm vào điểm a, khoản 2 Điều 24 nên người có thẩm quyền sẽ tạm giữ chiếc xe máy Dream H đã điều khiển từ 30 đến 45 ngày theo quy định trên. - Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (Điều 66 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008). Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Trong tình huống, áp dụng khoản 2 Điều 50 Nghị định này, nếu trong thời hạn 10 ngày mà H không chịu nộp tiền phạt (hay cha mẹ, người giám hộ không nộp phạt thay cho H) theo như trong quyết định xử phạt của người có thẩm quyền thì sẽ bị cưỡng chế thi hành bằng một số biện pháp quy định tại khoản 1 Điều 66 Pháp lệnh nêu trên hay theo khoản 1 Điều 51 Nghị định 146/2007/NĐ-CP như sau: “…a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng; b) Kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá; c) Các biện pháp cưỡng chế khác để thực hiện tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính…” Theo đó, H có thể bị khấu trừ 125.000 đồng tại tài khoản của mình tại ngân hàng,… Căn cứ pháp lý cần được áp dụng là: - Những căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hành chính của H (nêu ở mục 2) - Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2008: Điều 53 quy định về Đình chỉ hành vi vi phạm hành chính; Điều 54 quy định về Thủ tục đơn giản; Điều 58 quy định Nơi nộp tiền phạt; Điều 46 quy định Tạm giữ phương tiện vi phạm hành chính; Điều 66 quy định Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Rossella Conti - Nghị định 146/2007/NĐ-CP: Điều 48 quy định về trình tự thủ tục xử phạt; Điều 49 quy định Đình chỉ lưu hành phương tiện vi phạm hành chính; Điều 50 quy định về Chấp hành quyết định xử phạt; Điều 51 quy định Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBT tình huống hành chính - Nguyễn Văn H, 17 tuổi điều khiển xe Dream vô ý đi vào đường cấm.doc