Báo cáo Thực tập tổng hợp tại ty giày Ngọc Hà

Lời nói đầu Phần I KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY GIÀY NGỌC HÀ 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG: 1.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CÔNG TY GIÀY NGỌC HÀ. 1.3. VỀ TÌNH HÌNH BỐ TRÍ LẮP ĐẶT DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT. 1.4. ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU TỔ CHỨC. 1.4.1. Đặc điểm cơ cấu tổ chức chung của Công ty. 1.4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất. 1.4.3. Cơ cấu tổ chức công tác kế hoạch và kho vận. Phần II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ 2.1. XUẤT KHẨU VÀ TIÊU THỤ: 2.1.1. Xuất khẩu theo mặt hàng: 2.1.2. Xuất khẩu theo thị trường mặt hàng giày dép các loại (USD). 2.2. GIÁ CẢ VÀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI. 2.3. ĐỐI THỦ CẠNH TRANH. 2.4. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VẬT TƯ TẠI CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ. 2.4.1. Các loại nguyên vật liệu và nguồn cung ứng. 2.4.2. Định mức nguyên vật liệu. 2.5. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY. 2.5.1. Vấn đề lao động tại Công ty. 2.5.2. Năng suất lao động 2.5.3. Tiền lương và lao động: 2.6. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH 2.6.1. Phân loại chi phí sản xuất 2.6.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất 2.6.3. Đối tượng tính giá thành sản xuất của công ty 2.6.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 2.6.5. Phương pháp tính chi phí theo các khỏan mục 2.7. MỘT SỐ CHỈ TIÊU QUAN TRỌNG ĐÁNH GÍ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ 2.7.1. Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty (đơn vị đồng) 2.7.2. Tổng kết kết quả kinh doanh Công ty Giầy Ngọc Hà. Phần 3 ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ 3.2. NHỮNG TỒN TẠI 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Kết luận

doc30 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5887 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Báo cáo Thực tập tổng hợp tại ty giày Ngọc Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Trong xu thế hội nhập hợp tác kinh tế toàn cầu mở rộng với những cơ hội và thách thức, thị trường luôn luôn biến động; việc tồn tại, ổn định và sản xuất kinh doanh và có lãi rất khó khăn đòi hỏi các đơn vị kinh tế luôn luôn phải sáng tạo, năng động, chủ động với các tình huống trên thương trường, huy động mọi nguồn lực thế mạnh của mình khai thác các điểm yếu của các đối thủ, tranh thủ các điều kiện thuận lợi chớp thời cơ kinh doanh. Cùng với xu thế đó các Công ty dệt may, giày da nói chung, Công ty Giày Ngọc Hà nói riêng đã có những chủ động trong việc hội nhập này bằng chứng là hoạt động sản xuất kinh doanh cuả Công ty các năm gần đây không ngừng tăng trưởng. Tuy vậy trong môi trường mới mẻ không thể tránh khỏi những khó khăn, nhưng đó chỉ là những chắc chở ban đầu để có được sự phát triển và ổn định lâu dài. Trong suốt thời gian thực tập tại Công ty Giày Ngọc Hà em đã có điều kiện tiếp xúc với các công việc sản xuất kinh doanh thực tế và tích luỹ được một số thông tin kinh nghiệm nhất định được phản ánh trong báo cáo thực tập tổng hợp dưới đây. Báo cáo gồm 3 phần: Phần I: Khái quát sự hình thành và phát triển Phần II: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Phần III: Đánh giá nhận xét chung về Công ty Giày Ngọc Hà và hướng đề tài tốt nghiệp. Trong quá trình viết bản báo cáo không thể tránh được những sai sót, em được sự quan tâm chỉ dẫn thêm của các thầy cô trong khoa đặc biệt là thầy Nghiêm Sỹ Thương. Qua đây em cũng xin được cảm ơn các cán bộ, nhân viên phòng Kế hoạch Công ty Giày Ngọc Hà về sự giúp đỡ tận tình để em hoàn thành bản báo cáo này. Phần I KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY GIÀY NGỌC HÀ 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG: Công ty Giày Ngọc Hà là một doanh nghiệp Nhà nước, do Nhà nước cấp vốn đầu tư ban đầu. Công ty có tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tiền gửi tại các ngân hàng và có con dấu riêng để giao dịch mang tên "Công ty Giày Ngọc Hà" vì thế Công ty hoàn toàn chủ động trong việc liên hệ, ký kết hợp đồng kinh tế với các bạn hàng trong và ngoài nước. Công ty Giày Ngọc Hà trước đây là cơ sở II của xí nghiệp Giày da Hà Nội, đặt tại Đội Nhân - Cống Vị - Ba Đình - Hà Nội. Ngày 12 tháng 4 năm 1991 theo Quyết định số 618/QĐ-UBND thành phố Hà Nội, đơn vị được chính thức tách ra thành một xí nghiệp sản xuất kinh doanh độc lập dưới sự quản lý của Sở Công nghiệp Hà Nội. Khi mới thành lập Công ty có tổng mặt bằng rộng 9.800m2, trong đó 4.397m2 là nhà xưởng sản xuất, kho tàng và 1.067m2 là nhà làm việc thuộc khu vực gián tiếp phục vụ sản xuất. Máy móc trang bị gồm 250 đầu máy, chủ yếu là máy công nghiệp và một số máy chuyên dụng khác như: máy định hình, máy cắt vòng... Tổng vốn kinh doanh được bàn giao từ Xí nghiệp Giày da Hà Nội là: 1.733.000.000 đ. Trong đó: - Vốn cố định: 1.072.000.000 đồng - Vốn lưu động: 169.000.000 đồng - Vốn khác: 492.000.000 đồng Số công nhân ban đầu của Công ty là 400 công nhân, trong đó nữ công nhân chiếm 85%, tay nghề sản xuất của phần lớn công nhân là yếu vì trong tổng số công nhân thì có gần 90% là học sinh mới vào làm ở Công ty từ năm 1988, số cán bộ có bằng cấp hạn chế dẫn đến sự tiếp cận với công nghệ hiện đại và thị trường gặp nhiều khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Ban Giám đốc Công ty và sự đoàn kết nhất trí của cán bộ công nhân viên, Công ty vừa thực hiện công tác bàn giao, vừa tìm kiếm việc làm và nâng cao tay nghề cho công nhân. Năm 1991, Công ty đã trang bị máy móc và sản xuất được một số sản phẩm có chất lượng cao và đã xuất khẩu sang các thị trường Cộng hoà Liên bang Đức, Angiêri như găng tay da, giày dép da phụ nữ, trẻ em. Công ty cũng liên kết với nhà máy bạn ở Hải Phòng sản xuất mẫu giày thể thao gửi đi chào hàng ở các nước Đông Âu và Angiêri. Sang năm 1992 sản xuất của Công ty đã dần đi vào ổn định, cơ sở vật chất được cải tạo hình thành nên những phân xưởng phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất thêm vào đó là sự đầu tư sửa chữa lớn một số công trình bảo vệ, vệ sinh môi trường, bảo đảm an toàn sức khỏe và vệ sinh cho cán bộ công nhân viên trong Công ty. Công ty tiếp tục cải tiến công nghệ, tay nghề của công nhân, nâng cao trình độ quản lý và bắt đầu nhận làm gia công các hàng da, vải, giày, mũ... cho các đối tác Đài Loan, Hàn Quốc. 1.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CÔNG TY GIÀY NGỌC HÀ. Trong tình hình chung của đất nước có sự chuyển đổi về cơ chế hạch toán khiến Công ty gặp không ít khó khăn nhưng cũng là cơ hội để Công ty tự khẳng định mình thông qua những thành tích mà Công ty đạt được trong những năm vừa qua. Công ty đã tìm và ký kết một số hợp đồng lâu dài với các đối tác nước ngoài thông qua việc thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu hàng da công chủ yếu là giày dép các loại, mũ đội và một số nguyên vật liệu và phụ liệu. Sau khi hoàn tất các công đoạn sản xuất để tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh, Công ty sẽ thực hiện nghiệp vụ xuất khẩu theo thị trường chỉ định của đối tác hoặc thông qua đối tác ký kết hợp đồng với bên thứ 3 để sản xuất và xuất bán hàng hóa. 1.3. VỀ TÌNH HÌNH BỐ TRÍ LẮP ĐẶT DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT. Hầu hết các máy móc, thiết bị, các cụm chi tiết trong dây chuyền công nghệ của Công ty đều được nhập từ Đài Loan và Hàn Quốc, một số các bộ phận còn lại được nhập từ Nhật Bản và Cộng hoà Liên bang Đức. Dây chuyền công nghệ của Công ty đều được nhập từ các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển cao và đều là các công nghệ tương đối mới mẻ tiên tiến, bên cạnh đó Công ty còn có bộ phận chuyên nghiên cứu dự báo công nghệ, kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật bảo đảm thường xuyên kiểm tra thay thế sửa chữa theo nhu cầu kinh tế kỹ thuật của Công ty vì thế sản lượng sản phẩm cũng như chất lượng sản phẩm luôn được đảm bảo. Qua được tiếp xúc làm việc với các máy móc thiết bị tiên tiến trình độ tay nghề của công nhân viên đều được nâng cao tạo thành một đội ngũ lao động đủ chất lượng đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện tại và các yêu cầu cao hơn trong tương lai. Sơ đồ bố trí mặt bằng bộ phận giày vải và các vùng phụ cận Máy chặt 1 Bàn trải vải Máy bồi vải Chuyền may 1 Phụ Phụ Phụ 2 Dây chuyền gò 1 Dây chuyền gò 2 Cửa Giá nguyên liệu chuẩn bị gò Bàn khâu đế 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Máy chặt 1 Bàn trải vải Máy bồi vải Chuyền may 1 Phụ Phụ 4 Phụ 6 Phụ 8 2 3 9 Phụ Phụ Phụ Phụ WC Văn phòng Phòng y tế Kho thành phẩm Hiện nay Công ty có 786 đầu máy các loại trong đó máy chuyên dụng là 177 đầu máy còn lại là các loại máy phục vụ khác. Qua đặc điểm, tính chất công nghệ và các bước công việc cụ thể của bộ phận sản xuất giày và mũ thì ở một số bước công việc của hai bộ phận này được ghép với nhau khá hợp lý giúp giảm thời gian sản xuất qua đó tăng năng suất lao động, giảm chi phí đầu tư tài sản cố định, đầu tư nhân lực đồng thời tiết kiệm được không gian sản xuất. Kết hợp hài hoà những điểm tương đồng trong công nghệ sản xuất giày và mũ thể hiện ở hai mặt chuyên môn hoá kết hợp đa dạng hoá ở các khâu như: Bôi keo, cắt chặt, bồi vải, tẩy.... Mặc dù vậy cách bố trí các khu vực sản xuất còn một số bất cập như khu vực nguyên liệu chuẩn bị sản xuất và khu vực thành phẩm, bao gói nên bố trí ở hai đầu của khu vực sản xuất để tạo thành hai đầu dây chuyền công nghệ với một đầu vào, đầu ra hay dây chuyền công nghệ hình chữ "U" để rút ngắn thời gian thực hiện công việc. Tuy nhiên, với một mặt bằng không phải là lớn với tổng diện tích khu vực sản xuất là 4.397m2 thì việc bố trí hai dây chuyền công nghệ như sơ đồ trên là hợp lý và khoa học. Sắp tới Công ty có nhu cầu mở rộng quy mô Công ty và diện tích sản xuất thì vấn đề trên sẽ được giải quyết một cách thoả đáng. Công ty có 3 phân xưởng: Phân xưởng giày, phân xưởng may 1 và phân xưởng may 2 gồm 26 tổ sản xuất trong đó phân xưởng giày gồm 11 tổ sản xuất phân xưởng mũ có 15 tổ sản xuất bao gồm cả một số tổ sản xuất của các sản phẩm khác như ủng da, va ni, túi sách... Sau đây là sơ đồ khối dây chuyền công nghệ sản xuất giày dép dán và dây chuyền công nghệ sản xuất mũ vải. Sơ đồ khối dây chuyền sản xuất giày ép gián Bồi nguyên liệu (Máy Đài Loan) Cắt chặt BTP (máy Đài Loan) Dãy da Kiểm tra bán thành phẩm cắt Thủ công (bôi keo, dập gấp) May (Máy Nhật - Hàn Quốc - ĐL) Kiểm tra BTP may mũ Gò mũi (Máy Đài Loan) ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan) Kiểm tra Vệ sinh CN đánh bóng (Máy ĐL) Nhổ phom (Máy Đài Loan) Làm lạnh (Máy Đài Loan) ép đế - ép cạnh (Máy Đài Loan) Định vị (Máy Đài Loan) Đóng hộp, thùng Bôi keo đế sấy (Máy Đài Loan) Hấp chân không (Máy Đài Loan) Mài chân gò (Máy Đài Loan) Xử lý mốc (Máy Đài Loan) Công đoạn 1 Công đoạn 2 Sơ đồ khối dây chuyền sản xuất mũ đội Công đoạn 1 Kiểm tra Vệ sinh công nghiệp Đóng hộp Là mũ (Máy Hàn Quốc) Là mếchoặc (Máy Hàn Quốc) Cắt chặt (Máy Đức - Đài Loan) May (Máy Nhật - Hàn - Đài Loan) Thêu tán (Máy Nhật - Hàn) Tán chóp (Máy Hàn Quốc) Công đoạn 3 Công đoạn 2 Dây chuyền công nghệ sản xuất giày ép gián gồm 3 công đoạn: - Công đoạn 1 gồm 4 bước công việc: Bồi nguyên liệu, cắt chặt, dây da và kiểm tra bán thành phẩm cắt. Ở công đoạn này chủ yếu là xử lý nguyên liệu chuẩn bị cho công đoạn 2. - Công đoạn 2 là công đoạn may, định hình thô sơ phan giày bằng việc dập và gập da vải, gián các miếng vải. Công đoạn này gồm ba bước công việc: Thủ công, may, kiểm tra bán thành phẩm may. - Công đoạn 3 là công đoạn kế tiếp các công đoạn trên để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh gồm 14 bước công việc từ việc sản xuất chính đến các bước công việc xử lý công nghệ bảo quản vệ sinh và kiểm tra chất lượng đến công việc cuối cùng là đóng thùng nhập kho thành phẩm. Dây chuyền công nghệ sản xuất mũ đội gồm 3 công đoạn. - Công đoạn 1 là các công đoạn chuẩn bị sản xuất, nguyên liệu thô được cắt chặt theo đúng kích cỡ và các định mức chỉ tiêu kỹ thuật về nguyên liệu. Công đoạn này gồm 2 bước công việc: Cắt chặt và là mếch. - Công đoạn 2 là các công đoạn sản xuất chính gồm 3 bước công việc: Nguyên liệu từ công đoạn 1 được may, thêu tán, tán chóp mũ. Công đoạn 3 gồm 4 bước công việc là các khâu sau cùng chuẩn bị nhập kho thành phẩm bao gồm: Vệ sinh, là và kiểm tra sai sót, kiểm tra sản phẩm hỏng, sau cùng là đóng hộp. Như vậy cả hai dây chuyền sản xuất mũ đội và giày da đều là các dây chuyền công nghệ khép kín từ khâu đaàu tiên là nguyên liệu cho đến khâu cuối cùng là nhập kho, thể hiện sự chuyên môn hoá cao trong các bước công việc, tạo ra các sản phẩm có chất lượng tốt. 1.4. ĐẶC ĐIỂM CƠ CẤU TỔ CHỨC. 1.4.1. Đặc điểm cơ cấu tổ chức chung của Công ty. Công ty Giày Ngọc Hà có mô hình quản lý rất gọn nhẹ được tổ chức bố trí khoa học phù hợp yêu cầu quản lý của Công ty trong tình hình chung. Đứng đầu bộ máy quản lý là Giám đốc Công ty giữ vai trò lãnh đạo chung toàn Công ty và chỉ đạo đến từng phân xươngr, tổ sản xuất. Giám đốc là người đại diện Công ty, chịu trách nhiệm trước Nhà nước, sở chủ quản về kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty. Giúp việc cho Giám đốc là hai Phó Giám đốc có trách nhiệm hoàn thành tốt công việc được giao, thay mặt giám đốc giải quyết công việc khi Giám đốc đi vắng. Công ty gồm 6 phòng ban được tổ chức như sau: - Phòng tổ chức hành chính: Theo dõi tình hình tăng, giảm số lượng công nhân viên trong toàn Công ty, quản lý hồ sơ nhân sự, cùng với ban Giám đốc quyết định xét duyệt, tuyển chọn công nhân, quản lý con dấu của Công ty, chịu trách nhiệm về văn thư, lưu trữ hồ sơ của toàn Công ty và tiếp nhận công văn giấy tờ khác. - Phòng kỹ thuật cơ điện: Theo dõi hệ thống điện phục vụ sản xuất, kiểm tra kỹ thuật, các thông số trên máy móc thiết bị bảo đảm sản xuất đúng mẫu mã; phòng kỹ thuật có nhiệm vụ cùng Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật sáng chế và cải tiến mẫu mã xây dựng và kiểm tra định mức vật tư, định mức lao động. - Phòng Kế hoạch và Kho vận: Lập kế hoạch sản xuất, khai thác nguồn và thu mua vật tư cho sản xuất, xây dựng kế hoạch sản xuất từng ngày, tháng, quý, năm, xây dựng chiến lược phát triển lâu dài cho Công ty, giúp Giám đốc theo dõi quá trình sản xuất, quản lý kho tàng, vận tải, phụ trách công tác hoạt động giữa Công ty và các đơn vị khác, thực hiện các nghiệp vụ xuất - nhập khẩu. - Phòng Tài vụ: Quản lý toàn bộ tài sản, vốn của Công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về chế độ hạch toán kinh tế của Nhà nước, thường xuyên kiểm tra việc chi tiêu của Công ty, tăng cường công tác quản lý vốn, sử dụng vốn có hiệu quả để bảo toàn và phát triển vốn cho kinh doanh. Phòng Tài vụ giúp cho Giám đốc nắm được toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, phân tích các hoạt động hàng tháng để chủ động sản xuất kinh doanh. - Phòng bảo vệ: Chịu trách nhiệm về toàn bộ tài sản, trật tự an ninh và tổ chức thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy cho toàn Công ty. - Phòng đời sống: Theo dõi các vấn đề về đời sống của cán bộ công nhân viên toàn Công ty, phối hợp với các phòng khác trực tiếp lắng nghe ý kiến của cán bộ công nhân viên để đề xuất ý kiến tổ chức phù hợp giữa công tác sản xuất và đời sống người lao động. Mỗi phòng ban có chức năng khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ để cùng thực hiện tốt công việc của Công ty. 1.4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy sản xuất. Công ty Giày Ngọc Hà có ba phân xưởng sản xuất chính hoạt động theo dây chuyền liên tục từ khâu đưa nguyên liệu vào đến khâu hoàn thành sản phẩm, ở mỗi phân xưởng đều có một quản đốc để chỉ đạo việc triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất đảm bảo đúng tiến độ, số lượng chất lượng theo đúng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quy định. Các phân xưởng được tổ chức dưới dạng nhiều tổ sản xuất tuỳ theo các bước chế tạo sản phẩm, phụ trách tổ sản xuất là tổ trưởng tổ sản xuất. - Phân xưởng giày: Chuyên sản xuất các loại giày vải, giày thể thao, giày da nữ gia công cho Đài Loan và tiêu dùng trong nước. Nguyên liệu sử dụng là vải, cao su, da hoá chất... chủ yếu nhập từ Đài Loan phân xưởng giày gồm 11 tổ sản xuất. - Phân xưởng may I: Gồm 9 tổ sản xuất với các máy móc thiết bị nguyên vật liệu và quy trình công nghệ do Hàn Quốc cung cấp, chuyên sản xuất các loại cặp, túi sách va li xuất khẩu sang Hàn Quốc. - Phân xưởng may II: Chuyên sản xuất các loại mũ lưỡi chai, găng tay phân xưởng gồm 6 tổ sản xuất. 1.4.3. Cơ cấu tổ chức công tác kế hoạch và kho vận. Phòng kế hoạch và kho vận có 7 người. - Trưởng phòng kế hoạch và kho vận: Chịu trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra các nhân viên trong phòng thực hiện công việc đồng thời là người lên kế hoạch cho hoạt động của phòng, trực tiếp tham gia đề xuất ý kiến lên Giám đốc các vấn đề về kế hoạch sản xuất tiêu thụ, phát triển thị trường... - Nhân viên thống kê tổng hợp: Thống kê toàn bộ các số liệu liên quan đến các kế hoạch đã thực hiện và đang thực hiện, cung cấp thông tin chủ yếu cho Trưởng phòng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. - Nhân viên thư ký - văn thư: Ghi chép và tiếp nhận các thông tin giúp trưởng phòng lên kế hoạch sản xuất, làm và kiểm tra các thủ tục, giấy tờ liên quan đến các hoạt động xuất nhập khẩu. - Nhân viên thủ quỹ phòng: Quản lý tiền mặt, căn cứ vào các chứng từ hợp pháp, hợp lệ tiến hành xuất quỹ, nhập quỹ và ghi sổ quỹ. - Nhân viên xuất - nhập khẩu: Nhận và làm các thủ tục hải quan xuất nhập khẩu hàng hóa, tiếp nhận và giải quyết các đơn hàng. - Nhân viên kho vận: Quản lý kho hàng, nguyên vật liệu, làm thủ tục xuất nhập - kho và tham gia công tác vận tải. Cơ cấu tổ chức phòng kế hoạch và kho vận Trưởng phòng kế hoạch và kho vận Nhân viên xuất - nhập khẩu I Nhân viên xuất - nhập khẩu II Thủ quỹ Thư ký văn thư Nhân viên thống kê tổng hợp Nhân viên kho - vận Phần II TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ Trong môi trường kinh tế cạnh tranh gay gắt, với nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên ban giám đốc Công ty Giầy Ngọc Hà đã có bước đi rất đúng đắn tìm cách đi riêng độc lập cho mình đã chủ động sáng tạo huy động mọi nguồn lực phục vụ sản xuất. Điều này chứng tỏ số lượng đơn hàng mà Công ty ký kết với các đối tác, sản lượng hàng hóa không ngừng tăng trong các năm gần đây. Với sự quan tâm đầu tư đúng đắn của Ban Giám đốc, để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Công ty đã không ngừng cải tiến mẫu mã, chất lượng, đổi mới dây chuyền công nghệ. Trong năm 1999 Công ty đã đầu tư mới 2 dây chuyền sản xuất giày da nữ xuất khẩu với tổng vốn đầu tư là: 5.868.737.386 đồng tính hết năm 1999 Công ty có tổng giá trị tài sản cố định nguyên giá là 20.568.380.760 đồng và không ngừng được cải tiến hoàn thiện để nâng cao hiệu suất. Với uy tín và chất lượng Công ty đã ký kết được một số hợp đồng lâu dài với các đối tác nước ngoài chủ yếu là Hàn Quốc và Nhật Bản, đưa sản lượng Công ty không ngừng tăng, tạo vị thế cạnh tranh và đà phát triển của Công ty trong các năm tới. 2.1. XUẤT KHẨU VÀ TIÊU THỤ: 2.1.1. Xuất khẩu theo mặt hàng: Khoản mục Giá trị xuất khẩu So sánh (%) Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 2002/2001 2003/2002 Giầy da 1491781,11 1928102,41 2716176,88 129,24 140,8 Giầy giả da 677045,15 875107,92 1068776,08 129,25 122,13 Giẩy vải 1394734,39 1802356,608 1741998,54 129,22 122,44 Dép 1080 1391 128,71 Mũ lưỡi trai 2419887,45 719722,86 1618046,55 29,74 210,21 Mũ phớt 5849,84 1731,49 16178,83 29,59 934,38 Qua biểu ta thấy giá trị sản lượng xuất khẩu của các loại giày đều tăng ở mức cao năm 2002 so với năm 2001 và đều đạt trên 129% so với năm trước sản lượng giày da tăng 436.321 USD sản lượng giày vải tăng 407.622 USD sản lượng giày giả da tăng 198.062 USD và sản lượng xuất khẩu này vẫn tăng trong năm 2003 so với năm 2002 đặc biệt là giày da tăng 786.683 USD đạt 140,8%, giá trị xuất khẩu của giày giả da và giày vải tăng trên 122%. Tuy vậy tốc độ này đã giảm chút ít so với tốc độ tăng của năm trước trên 129%. Giá trị sản lượng dép xuất khẩu tăng 311 USD tương ứng 128,71%. Ngược lại sản lượng mũ lưỡi chai lại giảm khá nhiều còn 29,74% và sản lượng mũ phớt còn 29,5% so với năm 2001. Mặc dù vậy theo kế hoạch Công ty sẽ tăng giá trị sản lượng xuất khẩu hai mặt hàng trên trong năm 2003 sẽ đạt ở mức 210,21% đối với sản phẩm mũ lưỡi chai. Tuy vậy giá trị sản lượng xuất khẩu mũ lưỡi chai trong năm 2003 vẫn chưa bằng so với năm 2001. Năm 2003 giá trị xuất khẩu sản lượng mũ phớt sẽ tăng rất lớn trên 9 lần so với năm trước đạt ở mức 16.178,83 USD. Như vậy so với năm 2001 thì sản lượng giày dép xuất khẩu các loại đều tăng ở hai năm tiếp sau giá trị sản lượng mũ các loại có giảm trong năm 2002 nhưng sẽ được phục hồi trong năm 2003 và đã có tăng trưởng. 2.1.2. Xuất khẩu theo thị trường mặt hàng giày dép các loại (USD). Bảng Theo bảng phân tích trên, giá trị sản lượng xuất khẩu theo thị trường mặt hàng giày dép các loại thì kim ngạch xuất khẩu chiếm 78,71% so với tổng kim ngạch và tỷ lệ này dự báo là ổn định trong năm 2003 ở mức 75,6%. Châu Âu là thị trường lớn nhất của Công ty chiếm 87,67% và tỷ lệ này năm 2003 có thể là 86,13%. Tuy vậy giá trị xuất khẩu sang khu vực này vẫn tăng là 489.828,46 USD. Hà Lan là thị trường lớn nhất tại khu vực Châu Âu và là thị trường lớn nhất của Công ty chiếm 50,32%. Tiếp đó là Đức 18,96% và Anh là 9,1%. Các thị trường còn lại của Công ty đều rất khiêm tốn, Châu Á là 10,97% trong đó đứng đầu là Isarael chiếm 2,63%. Tại Châu Mỹ thị trường xuất khẩu mặt hàng này cũng không đáng kể. Dự báo trong năm 2003 cả hai khu vực Châu Á và Châu Mỹ đều tăng. Đặc biệt Châu Mỹ sẽ tăng khoảng 3,31% sản phẩm của Công ty đã xâm chiếm thị trường Mỹ một thị trường rộng lớn nhưng rất khó tính bằng chính chất lượng, mẫu mã, giá cả ... Như vậy sang năm 2003 sản lượng xuất khẩu của Công ty sẽ tăng tương đối lớn. Châu Âu vẫn là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty trong đó lớn nhất vẫn là Hà Lan, Đức, Anh. Năm 2003 sẽ cho thấy bước đột phá mới vào thị trường Châu Mỹ, Châu Úc và sản phẩm của Công ty sẽ có mặt ở thị trường Châu Phi. Về sản phẩm mũ của Công ty xuất khẩu năm 2003 sẽ tăng 242.922,03 USD bằng 964.376,39 USD đạt 13,87% so với tổng kim ngạch xuất khẩu. Thị trường mũ xuất khẩu chủ yếu của Công ty là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Ngoài ra còn có một số nước ở Đông Nam Á, Châu Mỹ, Châu Âu. Trong đó thị trường Nhật Bản vẫn là thị trường lớn nhất với tổng kim ngạch xuất khẩu mũ là 62,33%. 2.2. GIÁ CẢ VÀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI. Hiện nay Công ty vẫn áp dụng cách tính giá theo phương pháp cộng lãi, các đơn hàng sau khi tính toán định mức nguyên vật liệu và các khoản chi phí khác được cộng thêm một khoản tiền lãi sau đó duyệt theo giá đơn hàng nếu có thể chấp nhận thì ký kết hợp đồng. - Hệ thống phân phối và xúc tiến bán hàng. Sản phẩm của Công ty được chủ yếu xuất khẩu bên cạnh thị trường quen thuộc là EU, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và Tây Á ở các thị trường này sản phẩm đều được giới thiệu và quảng cáo qua các văn phòng và đại lý thông qua các đối tác trên. Đồng thời Công ty cũng ký kết một số hợp đồng vận chuyển dài hạn với các hãng tàu trong và ngoài nước, các hãng vận tải hàng không. Sản phẩm của Công ty đã được gửi đi chào bán ở một số thị trường mới như Nam Phi. Qua Internet sản phẩm của Công ty cũng đến được với công chúng một cách rộng rãi hơn. Về thị trường nội địa thị phần chiếm không đáng kể nhưng sản phẩm của Công ty cũng có mặt ở một số đại lý tại Hà Nội và Hải Phòng. 2.3. ĐỐI THỦ CẠNH TRANH. Trong cơ chế hiện nay ngành giày da và may mặc đang phát triển qua đó tạo nhiều cơ hội và thách thức mặc dù sản phẩm của Công ty có chất lượng mẫu mã và giá cả kiểu dáng tương đối tốt nhưng Công ty vẫn có một số đối thủ lớn là Công ty Giày Hà Nội, Công ty Giày Thượng Đình, Công ty Giày Thuỵ Khuê ... Ngoài ra việc Trung Quốc gia nhập WTO và các đối thủ từ Thái Lan, Ấn Độ cũng là một thách thức với Công ty. 2.4. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VẬT TƯ TẠI CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ. 2.4.1. Các loại nguyên vật liệu và nguồn cung ứng. Như đã giới thiệu Công ty Giầy Ngọc Hà là Công ty sản xuất chủ yếu với các đối tác Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản thông qua các hợp đồng gia công cho các đối tác này, không những thế Công ty còn nhập nguyên vật liệu của các quốc gia này với tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm khoảng 3.453.462,26 USD ngoài ra còn một số phụ liệu khác. Bảng Bên cạnh vấn đề chất lượng nguyên liệu đã được bảo đảm Công ty cũng khá quan tâm đến việc định mức nguyên vật liệu và bảo quản các nguyên vật liệu này để giảm chi phí sản xuất. 2.4.2. Định mức nguyên vật liệu. Định mức được xây dựng tuỳ thuộc vào từng đơn hàng qua đó bộ phận mẫu phòng kỹ thuật sẽ dựa vào đặc điểm của từng đơn hàng chủng loại số lượng và các tiêu chuẩn để xây dựng định mức. Ví dụ một đơn hàng như sau: Hạn mức vật tư cấp cho phân xưởng gò. Khách hàng: Duetch soldman service Mã sản xuất: BBT 05/896/CX14 Số lượng đôi: 8150 Đơn hàng: 104/72/03 Ngày giao hàng: 25/6/2002 Tên vật tư Đơn vị tính Quy cách Tổng hạn mức Hộp giầy Hộp 19x13,5x8 8490 Hạt chống ẩm Gói 8490 Dây giày Đôi 1728 Giấy bọc Tờ 9490 Mác thành phần Cái 16980 Mác thùng Cái 427 Băng dính Cuộn 8cm, vàng 27 Thùng các tông Cái 427 Đế Đôi 9499 Chính vì sản xuất theo đơn hàng như trên tình hình nguyên vật liệu tồn kho là phụ thuộc vào sản lượng đơn hàng và thời điểm giao hàng những các nguyên vật liệu không phải nhập khẩu thì có thể mua ngay ngoài thị trường. Công ty đã có hệ thống kho hàng đủ tiêu chuẩn để tàng trữ vật liệu một cách tốt nhất. 2.5. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÔNG TY. 2.5.1. Vấn đề lao động tại Công ty. Như đã nói phần trên khi Công ty Giầy Ngọc Hà mới thành lập thì Công ty chỉ có số lao động là 400 người và phần lớn là học sinh mới ra trường hoặc công nhân với chưa được đào tạo kỹ càng nên đã dẫn điểm hạn chế như trình độ tay nghề, trình độ tiếp thu sáng tạo trong công việc, khả năng làm quen với các máy móc thiết bị công nghệ mới, kỹ năng kỹ xảo của công nhân. Hiện nay vấn đề này đã hoàn toàn được khắc phục do yêu cầu về mở rộng quy mô sản xuất, khối lượng sản phẩm sản xuất để đáp ứng các đơn hàng cũng như vấn đề năng suất chất lượng sản phẩm. Công ty đã đào tạo và tuyển chọn hàng trăm công nhân lành nghề có đủ kỹ năng kỹ xảo, khả năng tiếp thu sáng tạo, có sức khoẻ tốt đồng thời Công ty cũng có hàng chục các kỹ sư, các chuyên gia kỹ thuật giỏi luôn luôn giám sát kiểm tra chỉ bảo công nhân các kỹ năng cơ bản trong sản xuất bên cạnh đó cũng trực tiếp nghiên cứu để tìm ra các công nghệ nhằm ứng dụng, cải tiến công nghệ kết hợp tối đa nguồn lực con người và nguồn lực của các phương tiện máy móc nhằm đạt năng suất chỉ tiêu chất lượng. Các năm gần đây lực lượng lao động của Công ty có mức tăng trưởng rõ rệt cả về số lượng và chất lượng, trình độ văn hoá chuyên môn, trình độ tay nghề của công nhân có nhiều cải thiện. Nếu như chỉ hai năm trước đây trình độ văn hoá của công nhân ở cấp phổ thông chiếm đáng kể khoảng gần 88,5% trong đó số học sinh cấp II chiếm một nửa, số cán bộ quản lý có bằng cấp rất hạn chế bao gồm quản đốc, phó giám đốc kỹ thuật, tổ trưởng tổ sản xuất, số lượng người có bằng đại học chỉ là 12%. Các công nhân được đào tạo cơ bản có trình độ trung cấp khoảng 12,9%. Bên cạnh đó trình độ tay nghề của công nhân rất thấp chủ yếu là công nhân bậc 2 khoảng 55,1%; công nhân bậc 1 chiếm khoảng 16%; số công nhân và người quản lý có trình độ bậc thợ cấp 4,5 còn rất ít khoảng 5,3%; chưa có công nhân và cán bộ quản lý bậc 6. Như vậy thực trạng lao động của Công ty trong các năm trước là ở mức trung bình yếu, điều này ảnh hưởng nhất định đến kết quả công việc của Công ty. Theo thống kê mới nhất thì đầu năm 2003 chất lượng lao động trong Công ty đã được nâng cao rõ rệt, một phần là do biến động lớn về lượng công nhân ra vào Công ty, một phần là do công nhân được nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật học vấn. Công ty đã cử một số công nhân đi học ở các lớp bồi dưỡng về chuyên môn và văn hoá để đáp ứng nhu cầu về công việc nhất định. Số công nhân có trình độ văn hoá cấp II và III chỉ còn khoảng 75%, trung cấp là 17,5%. Số công nhân cán bộ quản lý có bằng đại học là 15,7% so với 12% của các năm trước. Mặc dù số công nhân bậc 1 vẫn giữ ở khoảng 15,64% nhưng số lượng công nhân bậc 2 đã được giảm từ 55,1% còn 20%, thay vào đó là số lượng đông đảo các công nhân bậc 3 chiếm 58,9%, đã có cán bộ và công nhân quản lý có trình độ bậc thợ 5 và 6 chiếm khoảng 5,6%. Cơ cấu lao động của Công ty chuyển từ bậc 2/5 sang bậc 3/6. Đây là một bước đi đúng đắn vì trong thời buổi cạnh tranh gay gắt hiện nay thì yếu tố con người ngày càng được chú trọng và điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động của Công ty và như vậy mức sống của cán bộ công nhân viên toàn Công ty cũng được cải thiện đáng kể. 2.5.2. Năng suất lao động Bảng 1 Bảng 2 Hiện nay Công ty có 973 lao động trong đó 814 là công nhân, lao động gián tiếp là 156 người, tổng số cán bộ quản lý gồm 32 người (Giám đốc, 2 Phó giám đốc, 29 trưởng, phó phòng, đội ngũ nhân viên là 118 người, 6 quản đốc và 36 tổ trưởng tổ sản xuất). Giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo các công việc chung đến tận các phân xưởng. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp theo mô hình cơ cấu tổ chức chức năng tham mưu. Các phòng ban có bộ phận trách nhiệm thực hiện tốt phần của mình đồng thời thường xuyên liên lạc với nhau và với Giám đốc để giải quyết các công việc chung của Công ty. Số người có chức năng quản lý là 192. Như vậy tỷ lệ số người có chức năng lao động quản lý trên số công nhân lao động là 23,6% đây là một tỷ lệ cao trong ngành. Qua các số liệu ở bảng trên ta thấy khối lượng giày dép sản xuất năm 2002 tăng 17,8% so với năm 2001 và khối lượng mũ cũng tăng 11,7%. Việc tăng sản lượng sản xuất này là do ảnh hưởng của các nhân tố sau. - Số công nhân sản xuất bình quân năm của khu vực giày và mũ giảm 2 người. Điều này dẫn đến việc giảm sản lượng: - 1 x 325 x 8,5 x 0,64 = - 1768 đôi giày tương đương 0,15%. - 1 x 325 x 8,5 x 2,02 = - 5580 chiếc mũ tương đương 0,69%. Việc tăng công nhân sản xuất chắc chắn sẽ dẫn đến việc tăng sản lượng nhưng rõ ràng cách này không phải là tối ưu. - Số ngày làm việc bình quân tăng 2 ngày tương đương 0,62% việc này đã dẫn đến tăng sản lượng: 2 x 673 x 8,5 x 0,64 = 7322 đôi giày tương đương 6,16% 2 x 144 x 8,5 x 2,02 = 4945 cái mũ tương đương 6,1% Như vậy việc tăng số ngày làm việc bình quân năm đã dẫn đến việc tăng khối lượng sản xuất nhưng tốc độ tăng khối lượng sản xuất nhỏ hơn tốc độ tăng số ngày làm việc vì vậy Công ty vẫn có thể tăng số ngày làm việc một cách hợp lý để tăng khối lượng sản xuất nhưng nếu số ngày làm việc bình quân tăng khá nhiều thì hiệu quả sản xuất lại giảm do tình trạng công nhân quá tải. Số giờ làm việc bình quân không thay đổi nên không ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm sản xuất. Năng suất lao động bình quân giờ/ người đã tăng 17,19% ở khu vực sản xuất giày và 11,88% ở khu vực sản xuất mũ đã làm sản lượng sản xuất tăng đáng kể chứng tỏ trình độ sản xuất, tay nghề công nhân được nâng cao, việc này cần có biện pháp khuyến khích thêm. 0,11 x 8,5 x 327 x 673 = 205.766 đôi giày tương đương 17,31% 0,24 x 8,5 x 327 x 144 = 96.059 cái mũ tương đương 11,82% Như vậy sản lượng đã tăng cao hơn năng suất Công ty có thể tăng khối lượng sản xuất bằng cách tăng năng suất lao động và đây là cách tạo hiệu quả lớn nhất, mặc dù vậy Công ty vẫn có thể tăng số lượng ở các khoản mục 2, 3, 5 trong bảng để tăng khối lượng sản xuất. Tổng hợp ảnh hưởng các nhân tố: -5.580 + 4.945 + 96.059 = 95.424 cái mũ. -1.769 + 7.322 + 205.766 = 211.320 đôi giày 2.5.3. Tiền lương và lao động: a. Tổng quỹ tiền lương Năm 2002 tăng 1.436.812.800 đồng tương đương 20,48% trong khi đó số công nhân lại giảm 2 người tương đương 0,2% đồng thời sản lượng sản xuất lại tăng 211.320 đôi giày tương đương 17,8%, 95.424 cái mũ tương đương 11,7%. Như vậy tổng quỹ lương của doanh nghiệp đã tăng nhanh hơn sản lượng sản xuất và số lượng công nhân lại giảm vì vậy có thể nói Công ty có chính sách đãi ngộ tốt với lao động. b. Hình thức tính tiền lương. Tổng quỹ tiền của Công ty được xây dựng trên hai mảng là giá trị sản xuất công nghiệp và giá trị kinh doanh dịch vụ, được trả phù hợp với số lượng, chất lượng loại và điều kiện lao động + Quỹ tiền lương lao động gián tiếp: căn cứ vào số lượng lao động định biên từng bộ phận và các hệ số tính toán công ty áp dụng chế độ chi trả hợp lý. + Quỹ lương lao động trực tiếp: cũng dựa theo các hệ số tính toán theo chế độ như trên, ngoài ra còn được tính theo sản phẩm. - Quỹ lương theo sản phẩm: Qsản phẩm = S ĐGi x SLi x Ri Trong đó: ĐGi : đơn giá mặt hàng i SLi : số lượng mặt hàng i Ri : hệ số tính toán cho tỷ lệ tăng lương theo sản lượng - Quỹ lương thời gian: là quỹ lương chi trả cho những ngày nghỉ, lễ tết và các chế độ. Quỹ này được lấy từ quỹ dự phòng: Q + g = HSL x LMin DN x Số công nhân thực tế 22 Với mức LMin Công ty = 231.000 đ/tháng - Quỹ thi đua: công ty lập quỹ thi đua theo quỹ lương sản phẩm để công nhân làm việc tốt hơn, năng suất chất lượng cao hơn. QThi đua = 20% Qsản phẩm c. Các hình thức trả lương - Lương sản phẩm của công nhân trực tiếp Lương sản phẩm công nhân trực tiếp áp dụng trên cơ sở định mức lao động, điều kiện làm việc. a sản phẩm = Đgi x SL Trong đó: Đgi là đơn giá tiền lương mặt hàng i SLi là số lượng mặt hàng i - Lương sản phẩm tập thể: áp dụng cho dây truyền sản xuất không tính được cụ thể một công nhân sản xuất được bao nhiêu sản phẩm. Lương được tính cho cả tập thể sau đó chia cho từng công nhân theo thái độ làm việc và độ khó của công việc Lương sản phẩm của CN A = Quỹ lương sản phẩm x Số điểm của CN A Tổng số điểm Ngoài ra cán bộ công nhân viên bảo đảm đóng góp và được quyền lợi như BHYT, BHXH, Kinh phí công đoàn 2.6. CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH 2.6.1. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất Công ty Giầy Ngọc Hà được phân loại theo 5 khoản mục - chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: gồm giá thực tế của nguyên vật liệu chính và phụ liệu - chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương và các khoản phụ cấp - chi phí sản xuất chung: chi phí sản xuất chung và tổ chức, quản lý phát sinh tại bộ phận sản xuất. - chi phí quản lý doanh nghiệp: là những chi phí tổ chức quản lý hành chính, quản lý kinh tế, chi phí chung trong phạm vi toàn doanh nghiệp - chi phí bán hàng là chi phí liên quan trong quá trình bán hàng 2.6.2. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Khi có đơn đặt hàng thì phòng kỹ thuật căn cứ vào số lượng, chủng loại từ đó lập ra định mức tiêu hao theo các khoản mục về chi phí, qua đó có thể tính chi phí sản xuất. Để tập hợp chi phí sản xuất xí nghiệp sử dụng 2 phương pháp - phương pháp trực tiếp: áp dụng với các khoản mục chi phí nguyên vật liệu chính, phụ liệu, tiền lương, bảo hiểm - phương pháp gián tiếp: áp dụng với các khỏan chi phí còn lại như khấu hao TSCĐ 2.6.3. Đối tượng tính giá thành sản xuất của công ty Đó là những sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất được tập hợp theo từng đơn đặt hàng. Điều này có thể dẫn đến kỳ tính giá thành không trùng với kỳ tập hợp chi phí sản xuất mà thay đổi theo khối lượng và thời gian hòan thành từng đơn hàng. 2.6.4. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Là phương pháp kê khai thường xuyên, tính theo tỷ lệ thông qua định mức và giá thành kế hoạch. Vì chu kỳ sản xuất của các loại sản phẩm không đồng đều trong một quy trình công nghệ. 2.6.5. Phương pháp tính chi phí theo các khỏan mục Về nguyên vật liệu Công ty Giầy Ngọc Hà sử dụng phương pháp nhập trước - xuất trước để tính trị giá nguyên vật liệu sản xuất trong kỳ. Về chi phí nhân công trực tiếp: công ty áp dụng hình thức trả lương chính cho công nhân sản xuất và trả lương theo sản phẩm. Các đơn vị có nhiệm vụ ghi chép và tính toán tiền lương cho từng công nhân sau đó gửi lên phòng tài vụ. Tại đơn vị, nhân viên thống kê sẽ căn cứ vào số lượng sản phẩm hoàn thành và đơn giá lương từng sản phẩm để tính tiền lương sản phẩm, sau đó tập hợp bảng lương chung cho toàn phân xưởng gửi lên phòng tài vụ. Phòng tài vụ sẽ căn cứ vào các số liệu để tính tổng tiền lương của công nhân sản xuất sau khi đã trừ các khoản khấu trừ và tạm ứng. Chi phí sản xuất chung: được tập hợp theo từng yếu tố cụ thể, cuối cùng phân bổ cho từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể theo các tiêu thức phù hợp. Sau khi tập hợp chi phí theo 3 khoản mục trên, kế toán kết chuyển chi phí phát sinh vào tài khoản 154 (chi phí sản xuất kinh doanh dở dang). Bảng tập hợp chi phí sản xuất Công ty Giầy Ngọc Hà Khoản mục chi phí Phân xưởng giầy Phân xưởng may I Phân xưởng may II Chi phí NVLTT 43.016.659.810 4.704.130.472 3.136.086.984 Chi phí NCTT 3.840.850.869 420.020.138 280.013.423 Chi phí SX chung 6.348.632.130 694.261.130 462.840.733 Tổng 53.206.142.810 5.818.411.713 3.878.941.140 Căn cứ theo các định mức giá thành kế hoạch và sản lượng thực tế từng loại sản phẩm. Kế toán tính được tổng giá thành theo sản lượng thực tế, sau đó tính được giá thành từng đơn hàng, so sánh giá thành kế hoạch để tìm ra hệ số H = Tổng giá thành thực tế Tổng giá thành kế hoạch theo sản lượng thực tế Sau hki tính được hệ số H thì có thể tính giá thành đơn vị cho sản phẩm theo tỉ lệ đó như sau: Ztt = H*Zkh 2.7. MỘT SỐ CHỈ TIÊU QUAN TRỌNG ĐÁNH GÍ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ 2.7.1. Tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty (đơn vị đồng) Tài sản Nguồn vốn 1. Tiền 130.660.619 1. Phải trả 1.401.162.228 2. Phải thu 6.834.442.903 2. Vay ngắn hạn 1.756.838.076 3. Hàng lưu kho 1.062.385.887 3. Nợ tích luỹ 497.567.595. 4. TS lưu động khác 1.388.271.194 4. Tổng nợ ngắn hạn 3.655.567.899 5. Tổng tài sản LĐ 9.415.760.603 5. Nợ dài hạn 5.532.713.820. 6.Tscđ ròng 11.573.292.530 6 NVốn CSH 11.797.717.410 7. Tổng ts 20.989.053.130 7 Tổng NV 20.989.053.130 Qua bảng trên ta thấy tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn của công ty như sau: Tỷ trọng tài sản lưu động của công ty so với tổng tài sản là khá lớn: 44,7%. Điều nay cho thấy khả năng thanh toán của công ty là tương đối tốt. Khả năng thanh toán hiện thời =2,58 Chỉ số khả năng thanh toán nhanh của công ty là 2,29. Các chỉ số này cho thấy khả năng phản ứng nhanh nhạy của công ty có thể có với thị trường và khả năng đầu tư và khả năng ngắn hạn chớp thời cơ kinh doanh. Trong khi đó công ty không có kế hoạch tăng tài sản cố định. Vì vậy có thể nói đầu tư dài hạn của công ty là khá lớn, cho phép công ty có được lợi thế lớn trong tương lai. Như vậy công ty vừa chủ động với thực tại và có giải pháp vững vàng trong tương lai. Đây là một chủ trương đúng đắn của công ty đảm bảo sự phát triển chắc chắn 2.7.2. Tổng kết kết quả kinh doanh Công ty Giầy Ngọc Hà. Chỉ tiêu Giá trị (đồng) Giá trị sxcn 93.754.692.246 Doanh thu ròng 84.903.559.072 Giá vốn 71.280.722.770 Khấu hao 1.215.876.917 Tổng chi phí hoạt động 74.496.599.690 Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 9.838.713.159. Lãi vay 1.166.328.303. Lợi nhuận trước thuế 8.672.384.856. Thuế 156.316.246. Lãi ròng 8.516.068.610. Tổng quỹ lương 8.451.840.000 Một số chỉ số quan trọng đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Tên chỉ số I. Khả năng thanh toán 1. Khả năng thanh toán hiện thời 2. Khả năng thanh toán nhanh II Khả năng quản lý tài sản 1. Vòng quay hàng tồn kho 2. Kỳ thu nợ 3. Vòng quay TSCĐ 4.Vòng quay tổng tài sản III. Tỷ suất tự tài trợ IV Khả năng quản lý vốn vay 1. Chỉ số nợ 2.Khả năng thanh toán lãi vay Chỉ số vòng quay hàng tồn kho =81,8. Như vậy khả năng tiêu thụ hàng hoá của công ty là rất tốt, thêm vào đó là kỳ thu nợ của công ty tương đối ngắn = 28,3 ngày. Điều này chứng tỏ công ty có thể thu hồi số tiền bán chịu và các khoản chịu khác rất nhanh chóng, cùng với chỉ số vòng quay hàng tồn kho cao Nhà nướcên có thể nói công ty đang sản xuất kinh doanh rất thuận lợi Chỉ số vòng quay TSCĐ = 7,51 Chỉ số vòng quay tổng tài sản = 4,14. Hai chỉ số trên cho thấy trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của công ty là rất tốt, công ty đã sử dụng tài sản rất hiệu quả, đặc biệt là TSCĐ, đã kết hợp tối đa năng lực sản xuất của con người và các yếu tố công nghệ hiện đại để tạo năng suất cao. Bên cạnh đó đầu tư dài hạn cũng mang lại cho công ty một nguồn thu tương đối lớn khả năng thanh toán lãi vay là 8,43 Chỉ số nợ là 43,78% khả năng quản lý vốn vay là rất tốt, công ty có thể thanh toán nhanh chóng các khoản lãi vay và các khoản vay. Bên cạnh đó công ty có một chỉ số nợ trung bình, điều này giúp công ty giảm bớt lãi vay đến hạn, tăng thêm lợi nhuận. Qua phân tích sơ bộ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Giầy Ngọc Hà cho thấy công ty đang hoạt động khá thuận lợi, các khả năng quản lý tài sản, nguồn vốn, khả năng tự tài trợ, các khoản nợ vay và thanh toán của công ty cũng rất tốt. Bên cạnh đó năng suất lao động của công ty cũng rất cao. Qua các chỉ số trên cho thấy Công ty Giầy Ngọc Hà đang và sẽ làm ăn rất có hiệu quả trong tương lai. Phần 3 ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TY GIẦY NGỌC HÀ Qua những phân tích tổng hợp ta thấy Công ty Giầy Ngọc Hà có những ưu điểm và một số tồn tại cần khắc phục. 3.1. ƯU ĐIỂM: Về cơ cấu tổ chức, Công ty Giầy Ngọc Hà đã tổ chức một mô hình quản lý trực tuyến tham mưu rất gọn nhẹ. Đứng đầu công ty là giám đốc, sau giám đốc là 2 phó giám đốc giúp việc, giám đốc chỉ đạo tới tận cấp phân xưởng. Điều này đạt hiệu quả cao, các chỉ thị của giám đốc vẫn được thực hiện một cách kịp thời, bên cạnh đó quyết định của giám đốc luôn được sự đóng góp ý kiến của các phòng ban chức năng bảo đảm chính xác. Mặt khác do mô hình gọn nhẹ nên đã giảm biên chế trong doanh nghiệp đồng thời các phần việc đều được hoàn thành không có sự chồng chéo. Công ty Giầy Ngọc Hà đang sở hữu một dây chuyền công nghệ tương đối mới của các nước có nền khoa học phát triển. Đồng thời có sự quản lý sát sao của các chuyên gia về công nghệ kỹ thuật, trình độ học vấn và tay nghề của công nhân tương đối cao, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc và làm việc với công nghệ hiện đại. Từ đó đưa năng suất chất lượng sản phẩm lên cao và đời sông cán bộ công nhân viên cũng được cải thiện đáng kể. Với những chủ trương và những chính sách đúng đắn, sản lượng, chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng tăng. Bằng mẫu mã và chất lượng và giá cả công ty đã tiêu thụ được một số lượng sản phẩm lớn trên thị trường. Sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi ở Châu Âu, Châu á, và một số nược ở Châu mĩ, Châu úc và đã xâm nhập thị trường Mĩ, Châu phi. Công ty đã sử dụng tài sản và nguồn vốn tương đối hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế đều đạt ở mức cao. 3.2. NHỮNG TỒN TẠI Mặc dù năng suất và tổng sản lượng không ngừng tăng nhanh nhưng thị phần của công ty vẫn tương đối nhỏ so với một số công ty trong nghành. Công ty vẫn chỉ nhận hàng gia công cho các đối tác nước ngoài là chủ yếu, chưa chủ động tìm kiếm thị trường riêng, vì vậy các sản phẩm sản xuất của công ty chưa mang thương hiệu riêng, ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển thị trường, kí kết hợp đồng mới và quảng cáo hình ảnh công ty đến khách hàng, giảm lợi nhuận. Công ty mới chỉ sản xuất và gia công xuất khẩu, thị phần trong nước không đáng kể. Nguyên liệu sản xuất của công ty chủ yếu được nhập từ Đài loan, Hàn quốc, công ty rất dễ gặp bất lợi khi có biến động 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ công ty cần mở rộng quy mô, mặt bằng sản xuất để có thể khai thác lợi thế về quy mô. công ty cần chủ động tìm kiếm thị trường riêng và thêm các nhà cung ứng nguyên liệu để đảm bảo hoạt động thường xuyên trong mọi điều kiện. Công ty cần lập một phòng marketing để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu, tìm kiếm hợp đồng... Dần dần thay thế các hợp đồng gia công bằng các đơn đặt hàng sản xuất qua đó các sản phẩm của công ty được gắn thương hiệu riêng để khuếch trương hình ảnh của công ty, tạo vị thế trên thị trường, chủ động với các hợp đồng mới, tăng lợi nhuận. Công ty cần có chiến lược xâm nhập ,chiếm lĩnh thị trường nội địa rộng lớn qua đó hạn chế rủi ro khi thị trường xuất khẩu có biến động bất lợi. Kết luận Sau hơn một tháng tìm hiểu tình hình sản xuất kinh doanh tại công ty giầy Ngọc Hà, em nhận thấy công ty có một số mặt mạnh như sau: Công ty có giây chuyền công nghệ hiện đại, đội ngũ cán bộ , công nhân viên có trình độ tay nghề cao, trung tâm kỹ thuật mẫu mạnh. Thêm vào đó là sản phẩm của công ty có chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng, giá cả tốt, năng suất lao động cao. đây là các yếu tố cơ bản mà công ty cần tận dụng để cạnh tranh. Bên cạnh những mặt mạnh, công ty còn một số điểm yếu như sau: Cơ cấu tổ chức chưa hợp lý, thiếu bộ phận marketing riêng, còn phụ thuộc vào một số mặt hàng gia công xuất khẩu chính, một số nhà cung ứng chính. thị trường nội địa chưa đáng kể * Tuy nhiên, nghành da giầy Việt Nam đang phát triển, thị trường thế giới và trong nước còn nhiều tiềm năng. Nền kinh tế thế giới đang phục hồi, kinh tế Việt Nam đang phát triển. đây là những thuận lợi để công ty khẳng định mình.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo thực tập tổng hợp tại ty giày Ngọc Hà.doc
Luận văn liên quan