Đề tài Hoạt động nhập khẩu mặt hàng dược phẩm của công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế thành phố Hồ Chí Minh

Khi nền kinh tế vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng cuối năm 2008, kéo theo sự đi xuống của hầu hết các ngành kinh tế, ngành y tế vẫn ghi nhận tăng trưởng ngược dòng. Nhân tố chính tác động đến xu hướng này là do bản thân các mặt hàng y tế là sản phẩm không thể thay thế, sự nhận thức về chăm sóc sức khỏe của người Việt cũng ngày càng tăng cao. Tuy vậy, doanh nghiệp nội địa chưa sản xuất được những sản phẩm y tế chất lượng, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trong nước, quá trình sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố đầu vào nước ngoài và tâm lý người Việt Nam, bao gồm cả bác sĩ và dược sĩ vẫn ưa chuộng hàng ngoại khiến cho tầm quan trọng của hoạt động nhập khẩu sản phẩm y tế đối với vấn đề sức khỏe người Việt là không thể phủ nhận. Thời gian thực tập tại phòng Xuất nhập khẩu của Công ty CP XNK Y tế TP.HCM đã giúp tác giả có cái nhìn thực tế hơn về tình hình hoạt động nhập khẩu dược phẩm của Công ty, những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện hoạt động nhập khẩu dược phẩm. Sự giúp đỡ nhiệt tình của Công ty, đặc biệt là phòng Xuất nhập khẩu và phòng Thông quan đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được nắm rõ hoạt động nhập khẩu của Công ty, tích lũy được nhiều kinh nghiệm. Tuy nhiên, thời gian thực tập ngắn và sự hạn chế về kiến thức của bản thân đã khiến cho quá trình thực hiện bài thu hoạch gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, tác giả hi vọng những giải pháp đã được đề xuất nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu, cải thiện chất lượng dược phẩm nhập khẩu cũng như thay đổi điều kiện cơ sở giao hàng nhằm nâng cao hoạt động nhập khẩu dược phẩm sẽ thực sự hữu ích, góp phần vào sự phát triển của Công ty.

docx47 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Lượt xem: 3145 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Hoạt động nhập khẩu mặt hàng dược phẩm của công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế thành phố Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng các sản phẩm này có sự dịch chuyển cho phù hợp, thể hiện qua bảng 2.2 dưới đây: Bảng 2.2: Kim ngạch và tỷ trọng các mặt hàng dược phẩm nhập khẩu của Công ty CP XNK Y tế TP.HCM giai đoạn 01/2012 - 06/2015 Đơn vị tính: tỷ đồng Mặt hàng 2012 2013 2014 6 tháng đầu năm 2015 Giá trị (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Giá trị (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Giá trị (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Giá trị (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Thuốc chữa bệnh 139,28 79,69 144,53 75,58 131,60 72,07 68,24 71,63 Vắc xin 12,27 7,02 24,29 12,70 28,38 15,54 13,84 14,53 Thực phẩm chức năng 23,23 13,29 22,41 11,72 22,62 12,39 13,19 13,84 Tổng 174,78 100 191,23 100 182,6 100 95,27 100 (Nguồn:Phòng Xuất Nhập Khẩu) Thuốc chữa bệnh luôn là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu các dược phẩm nhập khẩu của Công ty CP XNK Y tế TP.HCM từ năm 2012 đến giữa năm 2015. Theo Cục Quản lý cạnh tranh, thuốc chữa bệnh do Việt Nam sản xuất chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu, 50% còn lại phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các sản phẩm do doanh nghiệp nội địa sản xuất phần lớn cũng chỉ là dạng thuốc chữa bệnh thông thường, chưa phải loại thuốc phức tạp như thuốc chống ung thư, thuốc chữa bệnh Parkinson. Thêm vào đó, tâm lý của người Việt Nam luôn cho rằng thuốc chữa bệnh có nguồn gốc nước ngoài luôn hiệu quả, chất lượng hơn. Kể cả bác sĩ Việt Nam chỉ kê một tỉ lệ rất thấp thuốc nội trên tổng số thuốc cho bệnh nhân. Thực trạng này được thể hiện qua cuộc khảo sát của Cục Quản lý Dược vào năm 2013. Khảo sát cho thấy, tỉ lệ thuốc nội được các bác sĩ kê ở các bệnh viện tuyến trung ương chỉ ở mức 12%, tuyến tỉnh 34% và tuyến huyện khoảng 62%. Với thực trạng như vậy, nhu cầu về thuốc chữa bệnh nhập khẩu luôn cao hơn so với các mặt hàng còn lại. Do đó, Công ty luôn lựa chọn thuốc chữa bệnh là mặt hàng nhập khẩu chủ lực để đáp ứng nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, tình hình này đang thay đổi, thể hiện qua tỷ trọng thuốc chữa bệnh nhập khẩu đang giảm dần qua các năm. Vào năm 2012, kim ngạch nhập khẩu của thuốc chữa bệnh chiếm đến 79,69% tổng kim ngạch nhập khẩu dược phẩm của Công ty. Đến năm 2014, con số này giảm chỉ còn 72,07% và trong 6 tháng đầu năm 2015, tình hình không thay đổi khi kim ngạch của thuốc chữa bệnh chiếm khoảng 71,63% trong cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu. Nguyên nhân của xu hướng này là vì thói quen đánh giá cao hàng ngoại đang thay đổi. Theo Báo cáo năm 2013 của Vụ thị trường thuộc Bộ Công Thương, tỷ lệ người Việt dùng hàng Việt nói chung đã tăng lên đến 70%. Bên cạnh đó, chiến lược phát triển ngành Dược do Bộ Y tế công bố cho biết, mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng sử dụng thuốc nội sẽ chiếm 80%. Trước định hướng đó, nhu cầu đối với thuốc nội dần tăng qua các năm, kéo theo sự sụt giảm kim ngạch nhập khẩu thuốc chữa bệnh. Vắc xin là dược phẩm có kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 12,27 tỷ đồng vào năm 2012, bằng 1/2 so với thực phẩm chức năng (23,23 tỷ đồng) và thấp nhất trong ba mặt hàng. Chỉ sau 1 năm, con số này đã tăng gần gấp đôi, trong khi thực phẩm chức năng lại giảm kim ngạch nhập khẩu. Sự thay đổi ngược chiều của hai mặt hàng này khiến cơ cấu các dược phẩm nhập khẩu thay đổi đáng kể. Vắc xin đã vượt qua thực phẩm chức năng để chiếm vị trí thứ hai, chỉ sau thuốc chữa bệnh và tiếp tục duy trì cho đến năm 2014. Nguyên nhân là do sự phát triển về giáo dục khiến cho nhận thức của người dân Việt Nam về việc chăm sóc sức khỏe ngày càng được nâng cao. Thay vì chữa bệnh, người dân tăng cường việc tiêm các loại vắc xin cần thiết để phòng bệnh. Do đó, nhu cầu thị trường đối với vắc xin gia tăng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, tỷ trọng vắc xin trong cơ cấu các dược phẩm nhập khẩu đạt 14,53%, xấp xỉ năm 2014, cho thấy vắc xin là mặt hàng có triển vọng trong tương lai. Thực phẩm chức năng được Công ty nhập khẩu ít nhất trong ba mặt hàng. Chiếm 13,29% trong cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu vào năm 2012, tỷ trọng của thực phẩm chức năng tuy có sự thay đổi nhưng không đáng kể. Đến nửa đầu năm 2015, tỷ trọng thực phẩm chức năng mà Công ty nhập khẩu cũng chỉ chiếm 13,19% trong cơ cấu dược phẩm nhập khẩu. Thực trạng này là kết quả của việc Công ty xác định chỉ nhập khẩu thực phẩm chức năng với mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng một phần nhu cầu thị trường, không tập trung phân phối và phát triển. Nguyên nhân là do thực phẩm chức năng không dùng chữa bệnh mà chỉ nhằm hỗ trợ chức năng của cơ thể con người. Sản phẩm này không mang tính thiết yếu như thuốc chữa bệnh hay vắc xin mà chủ yếu phục vụ cho người tiêu dùng có thu nhập cao nên lượng tiêu thụ thấp hơn. Bên cạnh đó, việc sử dụng thực phẩm chức năng thường qua mách bảo của người quen, người bán hàng thiếu kiến thức chuyên môn, khiến cho người tiêu dùng có những phản ứng trái chiều và việc tiêu thụ thực phẩm chức năng có nhiều bất ổn. Với tỷ trọng thực phẩm chức năng ổn định như trên, Công ty sẽ tránh được những rủi ro có thể gặp phải khi kinh doanh mặt hàng này. Cơ cấu thị trường nhập khẩu Để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, đồng thời tận dụng lợi thế riêng của từng nhà cung ứng trên toàn thế giới, việc nhập khẩu dược phẩm từ nhiều thị trường khác nhau là cần thiết. Nắm bắt được điều đó, Công ty CP XNK Y tế TP.HCM luôn nhập dược phẩm từ các nhà cung ứng thuộc nhiều quốc gia khác nhau. Dưới đây là bảng thống kê giá trị và tỷ trọng dược phẩm nhập khẩu của Công ty theo thị trường từ năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2015: Bảng 2.3: Cơ cấu thị trường nhập khẩu mặt hàng dược phẩm của Công ty CP XNK Y tế TP.HCM giai đoạn 01/2012 - 06/2015 Đơn vị tính: tỷ đồng Thị trường Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 6 tháng đầu năm 2015 Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%) Giá trị Tỷ lệ (%) Ấn Độ 133,90 76,61 123,74 64,71 122,69 67,19 62,61 65,72 Hàn Quốc 26,78 15,32 45,00 23,53 44,99 24,64 23,16 24,31 Pháp 7,50 4,29 9,01 4,71 6,14 3,36 3,69 3,87 Khác 6,61 3,78 13,50 7,06 8,80 4,82 5,81 6,10 Tổng 174,78 100 191,23 100 182,60 100 95,27 100 (Nguồn: Phòng Xuất nhập khẩu) Ấn Độ là quốc gia đứng đầu cơ cấu thị trường nhập khẩu dược phẩm của Công ty CP XNK Y tế TP.HCM với tỷ trọng luôn trên 60% từ năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2015. Nguyên nhân là do Việt Nam và Ấn Độ cùng nằm trong khu vực châu Á nên việc nhập khẩu dược phẩm Ấn Độ giúp Công ty tiết kiệm được chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thêm vào đ