Đề tài Nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam là một tất yếu khách quan và cũng là một đòi hỏi cấp thiết trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới của nước ta. Trong giai đoạn gần đây (từ năm 2000 đến năm 2007) năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã được cải thiện đáng kể về các phương diện như chất lượng sản phẩm, trình độ khoa học công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường xuất khẩu Tác động của các nhân tố bên ngoài như các chính sách của nhà nước và các bộ ngành cũng đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn còn một số điểm yếu cần khắc phục như sự hạn chế về năng lực tài chính, việc xây dựng và tạo lập thương hiệu, năng lực quản lý trong doanh nghiệp, khả năng đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm.

pdf102 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2346 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Nhà nước cần phải xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu như Tổng cục Hải quan, Bộ Thương mại, Sở Thương mại các tỉnh thành phố, để xóa bỏ cơ chế chủ quản, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi thực hiện xuất khẩu phù hợp với đăng ký kinh doanh. Tình 71 trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp trung ương và địa phương, giữa các cơ quan khác nhau của nhà nước trong kiểm tra thanh tra thương mại cũng cần khắc phục. Việc phân cấp không rõ ràng và chồng chéo gây nên phiền hà, rắc rối hay tình trạng hình sự hóa các tranh chấp dân sự gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Nhà nước cũng cần đơn giản hóa các thủ tục nhập nguyên phụ liệu, việc nhập khẩu hàng mẫu, đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế nhập khẩu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng phụ liệu cho xuất khẩu, tiến hành loại bỏ cơ chế quản lý bằng định hướng, kế hoạch với một số mặt hàng như: phân bón, ô tô, xe máy… Hệ thống kiểm tra hải quan cũng cần được hoàn thiện và đơn giản hóa theo thông lệ quốc tế, xóa bỏ những quy định hạn chế đã lạc hậu, đảm bảo tính đồng bộ giữa chính sách pháp luật hải quan và pháp luật trong các lĩnh vực quản lý chuyên ngành liên quan đến xuất nhập khẩu. Việc cải cách được tiến hành theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ nhưng cũng phải thắt chặt được sự quản lý điều hành và chống gian lận thương mại, áp dụng công nghệ và kỹ thuật hiện đại trong quản lý. Việc áp dụng hải quan điện tử cũng cần được mở rộng áp dụng. Trong thời đại hiện nay khi công nghệ thông tin ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống, việc nghiên cứu áp dụng công nghệ vào quy trình thu thuế và hải quan đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và cả cơ quan hải quan. Một mặt quá trình này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian và chi phí, mặt khác cũng giúp cho thủ tục hải quan được minh bạch hơn, đảm bảo kiểm tra giám sát được về mặt tài chính và an ninh. Việc áp dụng hải quan điện tử đã được tiến hành ở nước ta từ năm 2000. Hiện nay hải quan điện tử đã được áp dụng tại một số cục có lưu lượng hàng hóa lớn. Trong tương lai việc áp dụng hải quan điện tử cần được mở rộng đến tất cả các cục hải quan tỉnh, thành phố còn lại trên cả nước. Để thực hiện tốt điều này cơ sở hạ tầng cần được nâng cấp và các cán bộ hải quan cũng cần được tập huấn tốt hơn để thích ứng với phương thức làm việc mới. Tổng cục Hải quan cần nâng cấp website chương trình khai hải quan từ xa với tiện ích và công cụ tốt hơn, xây dựng phần mềm khai hải 72 quan từ xa hiệu quả hơn, đồng thời xây dựng chuẩn quy trình kết nối, trao đổi thông tin giữa hệ thống thông tin hải quan với doanh nghiệp. Việc thu thuế cũng cần xây dựng theo hướng xây dựng một hệ thống thu thuế tập trung, minh bạch và đơn giản nhằm giảm bớt thời gian và thủ tục cho doanh nghiệp. Chế độ tự kê khai thuế cũng cần được mở rộng, các cơ quan thuế cũng phải thực hiện yêu cầu hoàn thuế đúng thời hạn và kịp thời để tạo điều kiện về vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu sản xuất và kinh doanh. 1.3. Xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất cho doanh nghiệp xuất khẩu phát triển thuận lợi Cơ sở hạ tầng cần thiết cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp xuất khẩu nói riêng bao gồm toàn bộ các điều kiện vật chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm: hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống kho bãi, hệ thống cung cấp điện nước, hệ thống giao thông (đường sá, bến cảng, phương tiện vận tải…). Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì cơ sở hạ tầng tốt góp phần làm giảm bớt chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó làm giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng là lĩnh vực mà nhà nước có thể hỗ trợ chủ yếu cho doanh nghiệp. Sự hỗ trợ này giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại với chi phí thấp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thực tế, hạ tầng cơ sở phục vụ cho kinh doanh ở nước ta vẫn còn ở trong tình trạng kém phát triển: dịch vụ không tốt mà giá dịch vụ lại cao, điều này có ảnh hưởng tới sự phát triển và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Vì thế, nhà nước cần phải đầu tư hơn nữa vào việc phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhà nước nên tập trung đầu tư vào những công trình cơ sở hạ tầng mang lại hiệu quả cao. Khi đầu tư xây dựng và phát triển, cần đặc biệt chú ý tới hiệu quả đầu tư, xã hội hóa khâu nâng cấp và cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng. Nhà nước cũng phải khai thác và sử dụng có 73 hiệu quả nguồn vốn ODA, khuyến khích đầu tư trực tiếp vào các dự án xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Với một số lĩnh vực dịch vụ mang tính độc quyền như điện, nước, viễn thông, dịch vụ internet, nhà nước cần có biện pháp để giảm giá dịch vụ để đem lại lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong quá trình sản xuất kinh doanh, không phải chịu mức giá dịch vụ cao hơn so với các nước khác. Với doanh nghiệp xuất khẩu thì việc đầu tư vào hệ thống cảng biển, kho bãi, hệ thống tàu biển…là nhu cầu quan trọng. 2. Xúc tiến xuất khẩu Xúc tiến xuất khẩu là một bộ phận của chiến lược phát triển xuất khẩu. Xúc tiến xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đến hoạt động xuất khẩu và góp phần tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Trong tiến trình hội nhập của nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, thì xúc tiến xuất khẩu lại càng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Để có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến xuất khẩu, ở tầm vĩ mô, nhà nước cần phải có những hành động cụ thể như việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xúc tiến xuất khẩu, tăng cường quản lý nhà nước về xúc tiến xuất khẩu, củng cố và phát triển hệ thống xúc tiến xuất khẩu, đầu tư ngân sách cho việc hỗ trợ các hoạt động xúc tiến xuất khẩu. 2.1. Tổ chức hệ thống thông tin thị trường một cách hiệu quả Nhà nước cần tổ chức lại hệ thống thông tin thị trường một cách hiệu quả hơn. Các thông tin về dự báo thị trường và thông tin thị trường cần được cung cấp tốt hơn để giúp các cơ quan nhà nước xây dựng, quy định và hình thành chính sách tốt hơn và quan trọng hơn cả là giúp các doanh nghiệp có được thông tin để định hướng hoạt động kinh doanh. Nhà nước và các cơ quan chức năng cũng cần tăng cường các hoạt động phổ biến thông tin về chính sách thương mại các nước để doanh nghiệp vận dụng để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với môi trường kinh doanh trên thị trường 74 quốc tế thông qua các cơ quan xúc tiến xuất khẩu ở trung ương như Vietrade, VCCI, cơ quan xúc tiến xuất khẩu ở địa phương, các tổ chức tham tán và đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài. 2.2. Củng cố và phát triển hệ thống xúc tiến xuất khẩu Hệ thống xúc tiến xuất khẩu là hệ thống rộng, được thực hiện ở nhiều cấp và bởi nhiều tổ chức khác nhau.Vì thế để hoạt động xúc tiến xuất khẩu có hiệu quả thì cần phải tổ chức, cơ cấu hợp lý các cơ quan, bộ phận để thành một hệ thống thống nhất và linh hoạt. Hiện nay, nhà nước có thể xây dựng hệ thống các cơ quan xúc tiến xuất khẩu theo hướng có tổ chức chủ chốt và các tổ chức vệ tinh xung quanh. Trong đó các tổ chức chủ chốt có thể là Cục xúc tiến thương mại Vietrade, Phòng thương mại và công nghiệp VCCI, các bộ ngành liên quan, các hiệp hội ngành hàng. Các cơ quan chủ chốt có trách nhiệm tập trung xây dựng khung pháp lý, thực hiện sự quản lý nhà nước, chỉ đạo hướng dẫn thực hiện, theo dõi đánh giá và điều chỉnh các kế hoạch xúc tiến xuất khẩu cụ thể, gắn các mặt hàng cụ thể vào từng thị trường cụ thể, điều phối công tác xúc tiến xuất khẩu trong cả nước. Các tổ chức vệ tinh là các tổ chức xúc tiến xuất khẩu địa phương, các chi nhánh của các hiệp hội ngành hàng, của Phòng Thương mại và công nghiệp VCCI ở các địa phương. Các cơ quan này có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chiến lược và kế hoạch xúc tiến xuất khẩu dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của các cơ quan chủ chốt. 2.3. Xây dựng và nâng cao uy tín sản phẩm quốc gia Một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho hoạt động xúc tiến xuất khẩu là tăng cường quảng bá hình ảnh của Việt Nam và các sản phẩm xuất khẩu của nước ta đến với thị trường thế giới bởi thực tế các mặt hàng xuất khẩu của nước ta đã có mặt tại nhiều thị trường trên thế giới nhưng thương hiệu hàng hóa Việt Nam chưa thật sự được thế giới lưu ý. Thương hiệu sản phẩm là tài sản có giá trị cao với mỗi doanh nghiệp. Doanh nghiệp xuất khẩu cần xây dựng được thương hiệu cho riêng mình thì mới có thể đứng vững và phát triển trên thị trường thế giới. Thương hiệu là do doanh nghiệp tự xây dựng nhưng các tổ chức xúc tiến xuất khẩu vẫn có thể thông qua các hoạt động 75 của mình để phổ biến và đề cao uy tín của thương hiệu các sản phẩm nước ta trên thị trường thế giới. Trên tầm vĩ mô, uy tín quốc gia và uy tín sản phẩm quốc gia là tài sản chung vô cùng quý giá với chính quốc gia và với mỗi doanh nghiệp trong quốc gia đó và nhiều nước trên thế giới đã xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm của nước mình như Thái Lan hay Ôxtrâylia. Với nước ta, chương trình “Xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia đến năm 2010” do Cục xúc tiến thương mại Vietrade xây dựng và tiến hành đã được chính phủ phê duyệt và đang trong thời gian tiến hành. Với chương trình này các sản phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu đạt đủ yêu cầu có thể được dán biểu trưng Vietnam Value Inside trên các sản phẩm của mình. Đây là một chương trình xúc tiến và hỗ trợ doanh nghiệp lớn và khi hoàn thành thì sẽ xây dựng được hình ảnh chung cho hàng hóa Việt Nam và quảng bá hình ảnh đó tới thị trường quốc tế. 3. Tăng cƣờng liên kết, hỗ trợ giữa các doanh nghiệp xuất khẩu Khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu là điều cần thiết để đạt hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài vì đa số các doanh nghiệp xuất khẩu nước ta còn nhỏ và yếu nên việc liên kết để tạo nên sức mạnh và khả năng cung cấp hàng xuất khẩu tốt hơn là điều quan trọng. Từ cuối những năm 1990, Chính phủ đã khuyến khích việc thành lập các hiệp hội ngành nghề với mục tiêu xây dựng các đầu mối cấp quốc gia cho các doanh nghiệp trong hầu hết các ngành nghề và ngành hàng xuất khẩu. Các hiệp hội bao gồm nhiều thành phần: các doanh nghiệp nhà nước lớn ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương, các hợp tác xã, các doanh nghiệp tư nhân, các công ty liên doanh. Mục tiêu chính của các hiệp hội là hỗ trợ doanh nghiệp thành viên xúc tiến xuất khẩu, từ đó hỗ trợ phát triển ngành nghề và ngành hàng xuất khẩu. Hiện nay trong cả nước có tất cả 67 hiệp hội ngành hàng đã được thành lập. Tuy nhiên, sự liên kết giữa các doanh nghiệp xuất khẩu, hoạt động của các hiệp hội ngành nghề đã có nhưng thật sự chưa phát huy hết vai trò. Nhiều hiệp hội còn ít kinh nghiệm và kiến thức về phát triển xuất khẩu. 76 Vì thế vai trò của nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của các hiệp hội ngành hàng, từ đó tạo ra sự liên kết hiệu quả hơn giữa các doanh nghiệp xuất khẩu là rất cần thiết. Trong một hội nghị với các hiệp hội ngành hàng năm 2002 của Bộ Thương mại, một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và vai trò của các hiệp hội ngành hàng đã được đưa ra: Thứ nhất, phải thống nhất quan điểm hiệp hội ngành hàng là tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hoạt động trên nguyên tắc mở, nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạt động. Cơ quan điều hành hiệp hội phải là những thành phần có kinh nghiệm, có kiến thức sâu về xuất nhập khẩu của ngành hàng đó, có tính chuyên nghiệp. Thứ hai, Nhà nước cần nhanh chóng hoàn chỉnh các cơ chế chính sách pháp lý cho việc tổ chức quản lý, và vận hành của các hiệp hội ngành hàng. Các bộ liên quan cũng có trách nhiệm trong việc xây dựng các quy định bổ sung, nêu rõ chức năng, quyền hạn trách nhiệm của các hiệp hội trong các lĩnh vực hoạt động. Đây là điều cần thiết phải tiến hành nhanh vì hiệp hội là cơ quan chính đứng ra trong các trường hợp đấu tranh chống lại tình trạng tranh mua tranh bán giữa các doanh nghiệp xuất khẩu, hợp tác quốc tế để ổn định cung cầu, liên kết đấu tranh chống lại các rào cản của nước ngoài, hay phát triển các phương thức kinh doanh mới… III. NHÓM GIẢI PHÁP VI MÔ TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP 1. Tăng cƣờng hiệu quả hoạt động marketing xuất khẩu Nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu là một trong những yếu tố chủ yếu để đạt được mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu. Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu có thể sử dụng kết hợp các giải pháp marketing hỗn hợp trên bốn phương diện: sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến xuất khẩu. 1.1. Chiến lược sản phẩm - Trước hết doanh nghiệp cần xác định các cặp sản phẩm- thị trường thích hợp vì để có thể xuất khẩu hiệu quả, sản phẩm cần được xem xét gắn với xác định thị trường mục tiêu đã được phân đoạn và định vị sẵn. Việc xác định và xây dựng các cặp sản phẩm - thị trường cần được tiến hành trước khi hoạch định các chiến lược 77 bộ phận. Có thể thấy một số cặp sản phẩm - thị trường mà doanh nghiệp xuất khẩu nước ta đã thành công tại một số thị trường cụ thể như: thủy sản chế biến- thị trường EU, gạo đặc sản – thị trường EU. - Doanh nghiệp xuất khẩu nước ta cũng cần nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, tùy vào nhu cầu từng thị trường mà có hướng chuyển đổi phù hợp. Theo xu hướng chung là chú trọng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng tập trung vào các sản phẩm cho giá trị xuất khẩu cao, sản phẩm có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao, sản phẩm độc đáo có giá trị truyền thống bản sắc riêng có của nước ta… Các doanh nghiệp cũng cần biết cách khai thác các sản phẩm xuất khẩu truyền thống có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh trên thị trường các nước. Ví dụ ở thị trường Châu Âu thì doanh nghiệp xuất khẩu có thể chú ý khai thác các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc độc đáo, có độ tinh xảo cao, hay các nông sản ở dạng đặc sản quý hiếm của nước ta vì các sản phẩm này có lợi thế cạnh tranh trên thị trường Châu Âu, được khách hàng ưa thích và sản phẩm cũng có giá trị xuất khẩu cao. Doanh nghiệp cũng cần chú ý phát huy và cải tiến các sản phẩm truyền thống có hàm lượng giá trị nghệ thuật văn hóa, tay nghề thủ công cao bằng cách đầu tư phát triển có trọng điểm những làng nghề truyền thống, những vùng nguyên liệu đặc sản để có lượng hàng xuất khẩu ổn định với khối lượng lớn. - Phát triển sản phẩm mới hay tạo thêm tính năng cho sản phẩm hiện có, khai thác những “đại dương xanh”tiềm ẩn: Theo như cuốn “Chiến lược đại dương xanh” đã nêu ra thì việc xây dựng chiến lược kinh doanh và làm chủ được sự cạnh tranh, không nên theo cách thức truyền thống như tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành vì cách thức này chỉ làm giảm dần lợi nhuận đạt được mà nên theo phương thức mới là phải khai thác những khoảng trống của thị trường, tăng thêm sức cầu của người tiêu dùng và tạo ra thêm giá trị mới cho sản phẩm. Nhu cầu của khách hàng với sản phẩm là luôn thay đổi và doanh nghiệp nếu muốn cạnh tranh hiệu quả thì không nên là người đi sau, cạnh tranh với các đối thủ theo phương cách thông thường mà nên chủ động phát triển các sản phẩm mới hay khai thác những tính năng mới của sản phẩm để làm thỏa mãn nhu cầu chưa được đáp ứng của khách 78 hàng. Để làm được điều này doanh nghiệp xuất khẩu cần có kế hoạch phát triển sản phẩm mới bằng cách thành lập bộ phận chuyên trách nghiên cứu, lập phương án phát triển sản phẩm mới kế tiếp sản phẩm đã có trên thị trường. - Đa dạng hóa sản phẩm nhưng vẫn thích nghi hóa sản phẩm với thị trường khác nhau, chuyên môn hóa sản phẩm để tăng chất lượng sản phẩm. Đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro trong việc kinh doanh xuất khẩu hàng hóa và cũng giúp doanh nghiệp khai thác nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau của thị trường mục tiêu. Tuy nhiên song song với việc đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro, việc thích nghi sản phẩm xuất khẩu với từng thị trường khác nhau cũng là điều cần thiết vì để sản phẩm xuất khẩu có thể cạnh tranh tốt thì nó phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu riêng của thị trường nước nhập khẩu. Chính vì thế doanh nghiệp xuất khẩu cần phải nghiên cứu kĩ nhu cầu, thị hiếu, tâm lý, văn hóa…của người tiêu dùng ở thị trường mục tiêu đã lựa chọn, đánh giá khả năng thích nghi sản phẩm xuất khẩu trên mỗi thị trường để kịp thời điều chỉnh cải tiến sản phẩm theo hướng thích nghi cao với thị trường đó. Bên cạnh đó việc chuyên môn hóa, chuyên biệt hóa sản phẩm cũng là một giải pháp hiệu quả trong cạnh tranh xuất khẩu. Trong điều kiện cạnh tranh xuất khẩu ngày càng gay gắt như hiện nay việc chuyên môn hóa sản phẩm xuất khẩu sẽ giúp sản phẩm có ưu thế về chất lượng, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu vì tận dụng được ưu thế của sự chuyên môn hóa, kinh nghiệm. 1.2. Chiến lược giá Chiến lược giá phù hợp, định giá đúng cho sản phẩm trong kinh doanh xuất khẩu quyết định lớn đến sự thành công khi doanh nghiệp đã chiếm giữ, khống chế thị trường một cách tương đối ổn định. Việc định giá cho sản phẩm xuất khẩu là yếu tố quan trọng khi doanh nghiệp bắt đầu thâm nhập vào thị trường và mở rộng thị phần. Theo lý thuyết marketing có rất nhiều cách thức định giá và xây dựng chiến lược giá khác nhau nhưng quy trình định giá xuất khẩu thông thường tuân theo năm bước trong bảng dưới đây: Hình 3.1. Các bƣớc định giá sản phẩm xuất khẩu 79 Xác định mục tiêu cho việc định giá xuất khẩu Phân tích tình hình thị trường và hành vi của người tiêu dùng để định giá Doanh nghiệp xuất khẩu cần chú ý một số điều sau để xây dựng được chiến lược giá phù hợp và hiệu quả: - Việc xác định đúng giá phải dựa vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Để xác định đúng giá sản phẩm xuất khẩu, đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường các nước doanh nghiệp cần nghiên cứu mức độ co giãn cung cầu theo giá biến động của từng mặt hàng trên thị trường từng nước. Từ nghiên cứu đó, doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định nâng giá hay hạ giá sản phẩm xuất khẩu phù hợp với tình hình thị trường một cách linh hoạt. - Công tác nghiên cứu, khảo sát giá trên thị trường nước xuất khẩu cũng cần được chú trọng. Các doanh nghiệp thành công trong kinh doanh xuất khẩu hầu hết đều phải có bộ phận chuyên trách làm công tác nghiên cứu giá và thường xuyên khảo sát giá trên thị trường quốc tế và thị trường từng nước xuất khẩu cụ thể. Việc nghiên cứu giá có thể đưa ra kết quả đánh giá tình hình giá cả hiện tại và dự báo giá trong tương lai để công ty có cơ sở quyết định mức giá xuất khẩu phù hợp với thị trường hay điều chỉnh giá xuất khẩu phù hợp. - Để có được mức giá hợp lý, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần chú ý giảm thiểu các chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu. Nỗ lực giảm các chi phí cấu thành trong giá xuất khẩu được coi là việc trọng tâm trong công tác quản trị kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay vì một trong các yêu cầu cơ bản Tính toán chi phí đầy đủ khoa học để định giá Thiết lập các khung giá mục tiêu Xác định giá phù hợp 80 đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu nước ta là giảm chi phí và tăng giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị sản phẩm xuất khẩu. Trong việc cắt giảm chi phí thì chi phí thu mua huy động hàng và chi phí lưu thông là chi phí có thể được cắt giảm nhiều nhất vì nó phụ thuộc chủ yếu vào doanh nghiệp. 1.3. Chiến lược phân phối Phân phối đóng vai trò rất quan trọng trong hiệu quả của hoạt động xuất khẩu. Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài thì phân phối có tầm quan trọng thứ hai đến xuất khẩu sau giá. Một doanh nghiệp muốn thành công trong hoạt động xuất khẩu thì phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống phân phối cho các sản phẩm của mình. Trong thực tế kinh doanh xuất khẩu cho thấy một sản phẩm dù có chất lượng cao, có giá thấp hơn và các điều kiện mua bán tương đương so với các sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh cũng khó có khả năng thâm nhập vào thị trường nước ngoài nếu không thông qua kênh phân phối hiệu quả. Trong kinh doanh xuất khẩu nước ta chủ yếu có hai loại kênh phân phối là kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp. Để doanh nghiệp lựa chọn và phát triển được hình thức phân phối hiệu quả thì doanh nghiệp cần xác định được kế hoạch xây dựng kênh phân phối theo các bước như: lựa chọn các kênh phân phối phù hợp, xác định cường độ phân phối và cấp độ kênh phân phối nhằm tính được hiệu quả sử dụng kênh phân phối và thiết lập các đơn vị chức năng trong kênh phân phối và biện pháp kiểm soát điều chỉnh phù hợp. Với các doanh nghiệp xuất khẩu còn chưa đủ khả năng về quy mô và tài chính thì có thể nỗ lực trong việc cải tiến phương thức phân phối xuất khẩu từ phương thức phân phối truyền thống trong xuất khẩu sang phân phối gián tiếp qua mạng lưới trung gian tại các thị trường. Việc lựa chọn phân phối qua trung gian giúp doanh nghiệp lúc doanh nghiệp còn yếu kém về tiềm lực tài chính và đồng thời phân phối qua trung gian cũng giúp doanh nghiệp tận dụng được lợi thế về kinh nghiệm, sự am hiểu thị trường nước nhập khẩu hàng hóa của các đơn vị trung gian nhập khẩu. Với các doanh nghiệp xuất khẩu có đủ năng lực và trong tương lai khi doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và vừa đã đủ năng lực thì doanh nghiệp xuất khẩu có thể vừa 81 áp dụng các kênh phân phối gián tiếp vừa chủ động lập các cơ sở như văn phòng đại diện, chi nhánh, đại lý, kho bãi… của mình ở thị trường nước ngoài để sử dụng kênh phân phối trực tiếp của chính công ty mình. Đây là cách thức xây dựng kênh phân phối hiệu quả nhất mà các doanh nghiệp xuất khẩu cần hướng tới. Đây cũng là cách để doanh nghiệp xuất khẩu có thể phát huy tối đa năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu trên các thị trường và đứng vững trên thị trường quốc tế. 1.4. Chiến lược xúc tiến xuất khẩu Để khách hàng tại các thị trường xuất khẩu biết đến hàng hóa của nước ta thì việc thực hiện các hoạt động xúc tiến xuất khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng. Doanh nghiệp cần phải biết cách xây dựng uy tín thương hiệu, hình ảnh tin cậy của hàng hóa của doanh nghiệp mình thông qua việc sử dụng các phương tiện thông tin, tuyên truyền quảng cáo, hội trợ triển lãm, tiếp thị… để khách hàng nhận biết được sản phẩm và sử dụng. Một số biện pháp xúc tiến xuất khẩu mà doanh nghiệp cần phải lưu ý sử dụng và khai thác hiệu quả để đem sản phẩm xuất khẩu đến với khách hàng tại thị trường nước ngoài bao gồm: Thứ nhất, việc điều tra và nghiên cứu thị trường cần phải được tiến hành thường xuyên và hiệu quả vì điều tra khảo sát thị trường có vai trò quan trọng trong xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp xuất khẩu cần có kế hoạch cử cán bộ có trình độ và kinh nghiệm đi nghiên cứu các thị trường mục tiêu để thẩm định, đánh giá tình hình thị trường, nắm bắt nhu cầu thị hiếu, xu hướng của khách hàng, từ đó giúp đưa ra những quyết định đúng đắn cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tận dụng các cuộc thăm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, hội nghị, hội thảo tại thị trường nước ngoài để tiến hành điều tra nghiên cứu thị trường. Trong quá trình điều tra nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin về thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp cũng cần tận dụng nguồn thông tin thương mại từ các bộ phận tham tán thương mại tại các nước, các cơ quan có chức năng xúc tiến thương mại trong nước như Phòng thương mại và công nghiệp, Cục xúc tiến thương mại…hay khai thác sự hỗ trợ từ các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan của họ tại Việt Nam. Đây là giải pháp hiệu quả và tiết kiệm chi phí, phù hợp với 82 năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nước ta hiện nay khi triển khai xúc tiến thương mại cho xuất khẩu. Thứ hai, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần tiến hành các hình thức quảng cáo. Có rất nhiều hình thức quảng cáo khác nhau nhưng doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm cho mình hình thức tuyên truyền quảng cáo phù hợp và mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp cần phải xây dựng được chiến lược tuyên truyền quảng cáo hữu hiệu phù hợp với từng thị trường xuất khẩu để vừa có thể tiết kiệm được chi phí tuyên truyền quảng cáo nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả theo yêu cầu. Các chương trình và nội dung, hình thức quảng cáo phải hấp dẫn, và cung cấp thông tin cho khách hàng về sản phẩm một cách thu hút nhưng vẫn đảm bảo tính trung thực. Ví dụ như với hàng công nghiệp, tuyên truyền quảng cáo cần nêu rõ tính năng kỹ thuật và những điểm nổi bật, với hàng thủ công mỹ nghệ cần nêu rõ giá trị thẩm mỹ và văn hóa đặc thù, với hàng nông thủy sản cần chú ý đến nguồn gốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, không bị ô nhiễm, không có hóa chất độc hại. Thứ ba, doanh nghiệp có thể tổ chức hay tham gia hội chợ triển lãm hội nghị, hội thảo. Đây là bước đầu trong quá trình thâm nhập và quảng bá sản phẩm tại thị trường nước ngoài. Sau khi tham gia hội thảo, hội chợ thì doanh nghiệp cần có kế hoạch triển khai sau các sự kiện này như duy trì quan hệ bạn hàng và các thành viên, tham gia kết nối thông tin, hoàn tất giao dịch, cập nhật thông tin phản hồi về sản phẩm thị trường. 2. Cắt giảm chi phí trong sản xuất kinh doanh xuất khẩu Việc cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm trong khi chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp. Vì nếu chi phí của doanh nghiệp cao hơn chi phí của đối thủ cạnh tranh thì khi tiếp thị và bán sản phẩm tương đương, doanh nghiệp sẽ phải đề ra mức giá cao hơn đối thủ cạnh tranh hay thu lãi ít hơn và bị rơi vào thế bất lợi trong quá trình cạnh tranh, làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tổng chi phí được biểu hiện bằng tiền của của toàn bộ các chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí được phân loại theo nhiều tiêu 83 thức khác nhau nhưng nhìn chung chi phí trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao gồm các loại chi phí sau: chi phí sản xuất trực tiếp, chi phí thu mua và huy động hàng xuất khẩu, chi phí lưu thông (vận chuyển, bốc xếp, tái chế, bảo quản, hao hụt…), chi phí dịch vụ xuất khẩu, chi phí quản lý, thuế và phí… Để cắt giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu doanh nghiệp cần phải chú ý đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh và tổ chức điều hành hoạt động của công ty một cách khoa học để tối thiểu hóa chi phí. Trước hết doanh nghiệp cần khơi dậy khả năng sáng tạo và phát huy trí tuệ của từng cá nhân và tập thể để tìm cách tối thiểu hóa chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí nguyên vật liệu, chi phí quản lý… Từng thành viên trong doanh nghiệp cũng cần phải nhận thức được việc tiết kiệm các khoản chi phí để hướng tới hạ giá thành sản phẩm, đội ngũ lao động và cán bộ quản lý trực tiếp liên quan đến tạo ra sản phẩm cần phải tự nâng cao trình độ tay nghề và chuyên môn. Doanh nghiệp cũng có thể cắt giảm chi phí kinh doanh bằng cách giảm thiểu tình trạng tiêu hao về chi phí nguyên vật liệu và chi phí sửa chữa bảo dưỡng máy móc. Do thực trạng công nghệ và thiết bị sản xuất tại các doanh nghiệp hiện nay còn lạc hậu nên tình trạng này phải còn làm tốn nhiều chi phí của doanh nghiệp. Do đó, để hạn chế yếu kém này doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư và thay thế một số loại máy móc đã quá lạc hậu cho năng suất thấp và tiêu hao nhiều năng lượng. Trong điều kiện doanh nghiệp không đủ khả năng tài chính để thay thế máy móc thì có thể chủ động liên kết và hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp khác. Sự liên kết này giúp doanh nghiệp giảm thiểu những khó khăn về tài chính, công nghệ và nguồn vốn, thị trường… từ đó giúp đẩy mạnh nội lực phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp xuất khẩu thông thường hay phải tiến hành thu mua sản phẩm, bảo quản sản phẩm rồi sau khi đã sản xuất và thu gom đủ hàng mới đem đi xuất khẩu. Do đó, chi phí lưu thông hàng hóa chiếm một khoản khá lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để giảm bớt chi phí này, doanh nghiệp cần có biện pháp cắt giảm chi phí trong bảo quản và thu mua bằng cách tổ chức bộ máy kinh doanh và mạng lưới kinh doanh có quy mô phù hợp với khối lượng hàng hóa luân chuyển, tăng cường quản lý và sử dụng tốt tài chính tín dụng, áp dụng tiến bộ 84 khoa học kỹ thuật mới trong bảo quản hàng hóa, tăng cường bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ của lao động làm công tác kho vận. Ngoài ra, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần chú ý đến việc xây dựng hệ thống kho bãi phù hợp nhằm đảm bảo chi phí vận chuyển, dự trữ và bảo quản hàng hóa thấp. Quãng đường vận tải bình quân cần được rút ngắn và doanh nghiệp cũng cần tính toán để lựa chọn phương tiện vận tải hợp lý tiết kiệm chi phí mà vẫn hiệu quả. Các biện pháp làm giảm chi phí do hao hụt hàng hóa (đặc biệt với hàng nông sản, hàng tươi sống) cũng cần được chú ý, và các biện pháp này liên quan nhiều đến điều kiện kỹ thuật trong quá trình vận chuyển và bảo quản. 3. Xây dựng và phát triển thƣơng hiệu Việc xây dựng và phát triển thương hiệu cho sản phẩm xuất khẩu, cho chính doanh nghiệp xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc củng cố vị trí và sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt là trong môi trường kinh doanh quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay. Xây dựng được thương hiệu tốt góp phần tạo dựng được uy tín doanh nghiệp, từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh xuất khẩu của hàng hóa và của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Để xây dựng và phát triển được thương hiệu, doanh nghiệp xuất khẩu có thể tập trung vào một số biện pháp sau: phải đăng ký hoàn tất thủ tục về sở hữu công nghiệp và bản quyền nhãn mác hàng hóa. 3.1. Biện pháp xây dựng thương hiệu Thứ nhất, để có thể xây dựng được thương hiệu sản phẩm, doanh nghiệp cần phải chú ý đến đối tượng khách hàng và thị trường. Khi tham gia xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài, các thương hiệu của doanh nghiệp nước ta gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng, phát triển và bảo hộ do doanh nghiệp nước ta không nắm rõ luật lệ và văn hóa kinh doanh của thị trường xuất khẩu. Do đó để xây dựng được thương hiệu có uy tín ở thị trường nước xuất khẩu doanh nghiệp xuất khẩu cần tìm hiểu kỹ về luật pháp, quy định liên quan, về văn hóa của nước đó để xây dựng được thương hiệu phù hợp. Và thêm vào đó, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần hiểu rõ đối tượng khách hàng hướng đến và lấy nhu cầu, sự hài lòng của khách hàng với 85 sản phẩm làm mục tiêu hướng tới để xây dựng thương hiệu được khách hàng tin dùng. Thứ hai, việc xây dựng thương hiệu, thiết kế nhãn hiệu nên được thực hiện một cách sáng tạo và chuyên nghiệp. Việc sáng tạo nhãn hiệu của doanh nghiệp xuất khẩu còn dựa trên quan niệm chủ quan của cá nhân, không có cơ sở, không dựa trên nghiên cứu thị trường. Do đó doanh nghiệp cần phải có bộ phận hay đội ngũ chuyên trách về việc hoạch định chiến lược và sáng tạo nhãn hiệu hay có thể sử dụng các dịch vụ tư vấn của các công ty chuyên nghiệp như tư vấn sáng tạo phát triển nhãn hiệu, tư vấn về pháp luật trong vấn đề sở hữu trí tuệ, tư vấn về kinh doanh và hoạch định chiến lược, tư vấn về quảng cáo nhãn hiệu và truyền thông. Việc sử dụng các dịch vụ trên có thể giúp doanh nghiệp tạo dựng được nhãn hiệu và có kế hoạch xây dựng và phát triển thương hiệu chuyên nghiệp hơn. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng cần chú ý đến vấn đề làm mới nhãn hiệu bởi yêu cầu của khách hàng luôn thay đổi. 3.2. Biện pháp bảo hộ nhãn hiệu Thứ nhất, doanh nghiệp phải có nhận thức đầy đủ thương hiệu là công cụ để bảo vệ lợi ích của chính mình. Trên thị trường thường hay xảy ra tình trạng nhái nhãn mác, thương hiệu và xảy ra nhiều vụ tranh chấp do doanh nghiệp không chú ý đến nhãn mác và thương hiệu. Vì thế, việc đăng ký sở hữu công nghiệp, đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa dể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thương hiệu tại thị trường mà doanh nghiệp có kế hoạch xuất khẩu hàng hóa là điều cần thiết mà các doanh nghiệp phải xác định được. Cùng với việc bảo hộ nhãn hiệu, doanh nghiệp xuất khẩu cũng phải chú ý đến việc mở rộng thị phần của mình qua thương hiệu. Để làm điều này, doanh nghiệp có thể sử dụng thương hiệu đã được biết đến của sản phẩm này cho một loại sản phẩm khác có cùng tính năng với sản phẩm đó, hay tạo ra sản phẩm mới bổ sung cho sản phẩm đã có để khiến khách hàng hài lòng hơn. Thứ hai, khi đã có nhãn hiệu, thương hiệu, doanh nghiệp xuất khẩu cần phải nhận thức được việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của chính mình. Doanh nghiệp là chủ thể trong các quan hệ về sở hữu trí tuệ và nhãn hiệu, kiểu dáng hàng hóa xuất 86 khẩu chính là tài sản của doanh nghiệp. Việc phát triển, giữ gìn thương hiệu là quyền lợi và trách nhiệm của chính doanh nghiệp. Trên thị trường xuất khẩu quốc tế, các vấn đề về sở hữu trí tuệ đều được giải quyết bằng pháp luật nước sở tại mà không thể có sự trợ giúp nhiều từ phía nhà nước nên doanh nghiệp xuất khẩu cần phải tránh tình trạng ỷ lại, trông chờ vào nhà nước hay các cơ quan quản lý có trách nhiệm bảo vệ nhãn hiệu cho mình. Các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải xem xét chiến lược kinh doanh của mình trong tương lai gần, xem xét các sản phẩm xuất khẩu nào chưa có nhãn hiệu hay đã có nhưng chưa tiến hành đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền. Với những sản phẩm đó, doanh nghiệp cần nhanh chóng tiến hành làm thủ tục để xây dựng nhãn hiệu, đăng ký hoàn tất thủ tục về sở hữu công nghiệp, bản quyền nhãn mác hàng hóa. Sau khi các sản phẩm được đăng ký nhãn hiệu thì doanh nghiệp phải chuẩn bị kế hoạch cho việc quản lý các tài sản trí tuệ này của mình bằng việc phân công đội ngũ nhân viên chuyên trách về sở hữu trí tuệ, về phát triển và bảo vệ thương hiệu, xây dựng một chiến lược sở hữu trí tuệ trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp , trong đó chú ý đến vấn đề thông tin sở hữu trí tuệ gắn liền với các mặt hàng xuất khẩu. 4. Nâng cao năng lực tổ chức quản lý và chất lƣợng nguồn nhân lực của doanh nghiệp xuất khẩu 4.1. Nâng cao năng lực tổ chức quản lý 4.1.1. Điều chỉnh cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với xu thế mới Để có thể hoạt động và kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp cần có cơ cấu quản lý hợp lý và khoa học, thích ứng nhanh nhạy với sự biến đổi của môi trường kinh doanh và tạo được sự nối kết giữa các bộ phận trong doanh nghiệp giúp thúc đẩy các nguồn lực phát triển và giúp doanh nghiệp đạt đến mục tiêu. Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp cần phải gọn nhẹ, năng động và mang lại kết quả cao hơn. Trong hoàn cảnh hiện nay, việc xây dựng được cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý càng cần thiết bởi môi trường kinh doanh quốc tế biến đổi không ngừng, nếu doanh nghiệp xuất khẩu không có một cơ cấu quản lý linh hoạt và hiệu quả thì sẽ không theo kịp được sự biến động của thị trường và khả năng cạnh tranh trên trường quốc 87 tế sẽ bị giảm sút nhiều. Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tập trung vào một số biện pháp cơ bản để điều chỉnh cơ cấu quản lý hiệu quả: - Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong doanh nghiệp để sắp xếp công việc cho hợp lý, tránh tình trạng chồng chéo nhiệm vụ giữa các phòng ban và cũng để tạo điều kiện cho việc quản lý tập trung hơn và đảm bảo hoạt động giữa các bộ phận trong doanh nghiệp được thống nhất và hiệu quả. - Việc xây dựng tốt mạng lưới thông tin nội bộ trong doanh nghiệp xuất khẩu cũng là yếu tố quan trọng vì việc dảm bảo thông tin tốt làm mọi thành viên trong công ty biết rõ được mục đích và các nhiệm vụ của công ty, từ đó giúp họ chủ động hơn trong làm việc, sẵn sàng phối hợp với công ty để đạt kết quả cao nhất và tránh tình trạng bất đồng hay trục trặc do thông tin không đầy đủ. - Doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần chú ý đến quan hệ giữa các phòng chức năng trong công ty vì hoạt động của tất cả các bộ phận đều ảnh hưởng tới các bộ phận khác. Công ty kinh doanh tốt không đồng nghĩa với việc chỉ quan tâm đến phòng kinh doanh mà để có được kết quả tốt cần có sự phối hợp từ các bộ phận khác như bộ phận nghiên cứu phát triển, bộ phận sản xuất, bộ phận nhân sự trong việc quản lý và tuyển dụng nhân viên… Với tốc độ biến đổi của môi trường kinh doanh ngày càng nhanh như hiện nay thì doanh nghiệp lại càng cần thiết phải củng cố và tăng cường tác động qua lại và sự phối hợp giữa các bộ phận khác nhau trong công ty để có thể tạo được sự liên kết chặt chẽ và sức mạnh để phản ứng linh hoạt với môi trường biến động. 4.1.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý doanh nghiệp Cùng với đó, việc nâng cao chất lượng của đội ngũ quản lý doanh nghiệp xuất khẩu cũng là một yếu tố cần thiết để nâng cao được năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Để có thể làm được điều này, có một số biện pháp sau: - Cần phải tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của các giám đốc và cán bộ quản lý trong doanh nghiệp. Đội ngũ quản lý của doanh nghiệp cần phải tự mình nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật các kiến thức hiện đại để có thể kinh doanh trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Một số kỹ năng cần phải chú ý nâng cao và cập nhật thường xuyên như kỹ năng quản trị hiệu 88 quả trong môi trường cạnh tranh, kỹ năng lãnh đạo của chủ doanh nghiệp, kỹ năng thuyết trình và đàm phán hiệu quả… Các kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả khác sẽ giúp đội ngũ quản lý nâng cao được trình độ và từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc nâng cao các kỹ năng trên và cập nhật kiến thức đội ngũ quản lý doanh nghiệp có thể tự nghiên cứu và học hỏi nhưng cũng có thể tham gia học tại nhiều công ty đào tạo kỹ năng đang xây dựng và phát triển nhiều khóa học như trên. - Năng lực quản trị chiến lược của các cán bộ quản lý cũng cần được phát triển và nâng cao. Sự yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh và một trong những nguyên nhân của sự thất bại trong dài hạn. Có doanh nghiệp mặc dù hoạt động thành công trong quy mô nhỏ nhưng lại gặp thất bại khi mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Vì thế, các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải có chiến lược hiệu quả để xây dựng và phát triển bền vững nếu không sẽ khó khăn trong cạnh tranh quốc tế. Để đội ngũ giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp phát triển được năng lực quản lý và tư duy chiến lược cần chú trọng đến các kỹ năng như phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến lượcm lý thuết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro… Về chiến lược cạnh tranh, trong giai đoạn hiện nay đội ngũ quản lý doanh nghiệp cũng cần nhận thức rõ cần phải hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế. 4.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Theo xu hướng gần đây và trong tương lai thì lợi thế cạnh tranh sẽ phụ thuộc lớn vào hàm lượng tri thức chứa đựng trong giá trị sản phẩm. Chính vì thế việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao hàm lượng tri thức trong sản phẩm là nhân tố cần được quan tâm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm và của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp xuất khẩu, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở hai khía cạnh là nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ đặc biệt là cán bộ xuất nhập khẩu và nâng cao chất lượng người lao động trong doanh nghiệp xuất khẩu. 4.2.1. Nâng cao chất lượng người lao động 89 Để có đội ngũ lao động tay nghề cao, doanh nghiệp xuất khẩu phải có chiến lược đào tạo và giữ người tài. Doanh nghiệp cần phải đầu tư nhiều hơn cho việc đào tạo dài hạn nguồn nhân lực, xây dựng được chiến lược đào tạo chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu công việc để có thể nâng cao năng suất lao động và tạo điều kiện cho người lao động sáng tạo, phát triển ý tưởng mới trong sản xuất. Chương trình đào tạo, chính sách đào tạo hiệu quả chính là một trong các phương thức mà doanh nghiệp sử dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, các chính sách đãi ngộ như lương, thưởng và các ưu đãi khác cũng chính là yếu tố khuyến khích lao động làm việc hiệu quả. Bên cạnh chiến lược đào tạo hợp lý, doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần biết khai thác và sử dụng thích hợp tiềm năng người lao động Việt Nam. Đặc điểm của lực lượng lao động nước ta là khá linh hoạt trong suy nghĩ và hành động, nhận thức nhanh, nhưng lại chưa có tầm nhìn xa, coi trọng lợi ích ngắn hạn và không thích hợp tác liên doanh với nhau. Những đặc điểm này cần phải được sử dụng khéo léo trong kinh doanh để tạo ra kết quả tốt. Lực lượng lao động xã hội chiếm tỷ lệ lớn trong dân số và độ tuổi trung bình trẻ là lợi thế giúp doanh nghiệp gặp ít khó khăn khi đổi mới kỹ thuật. Tuy nhiên, do một số đặc điểm hạn chế của người lao động nước ta như chưa có tác phong công nghiệp, kỷ luật còn kém, tính tự giác lao động không cao, chưa xây dựng được lòng trung thành với công ty nên kỷ luật lao động là yếu tố cần được quan tâm để giữ vững ổn định tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng sản xuất. 4.2.2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu Để xây dựng được đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu hiệu quả, doanh nghiệp xuất khẩu nên chú ý đến việc tiêu chuẩn hóa cán bộ để làm căn cứ cho quá trình tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng và đánh giá hiệu quả làm việc. Đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu là lực lượng chủ chốt của doanh nghiệp trong việc tham gia thị trường xuất khẩu quốc tế, vì thế đội ngũ này phải giỏi trình độ chuyên môn, có hiểu biết chuyên sâu và lĩnh vực xuất khẩu mặt hàng của công ty. Thêm vào đó, trình độ ngoại ngữ và vi tính là một yêu cầu bắt buộc. Và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay thì các nhân viên xuất nhập khẩu cũng cần 90 phải có kiến thức về thị trường thế giới và luật pháp liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu của công ty. Doanh nghiệp xuất khẩu phải quan tâm đến việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này bằng cách cho nhân viên đi tham gia các khóa học nghiệp vụ… 5. Nâng cao trình độ công nghệ Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu về phương diện công nghệ thì doanh nghiệp xuất khẩu cần chú ý đến các vấn đề sau: - Doanh nghiệp xuất khẩu phải xác định có kế hoạch thay thế công nghệ cũ, nhập các thiết bị công nghệ nguồn từ các nước phát triển như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, giảm tối đa việc nhập khẩu công nghệ lại từ các nước vẫn còn đang phát triển như các nước ở Châu Á và ASEAN. - Doanh nghiệp cũng có thể cải tiến công nghệ thiết bị hiện đang sử dụng phù hợp với hoàn cảnh của nước ta. - Về đội ngũ cán bộ quản lý công nghệ, doanh nghiệp cũng cần tinh giảm tổ chức bộ máy nhân sự và bổ sung nhân lực am hiểu công nghệ mới, nhanh nhạy và có tay nghề kỹ thuật cao, đủ sức đáp ứng yêu cầu khắt khe của cạnh tranh xuất khẩu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Năng lực tự nghiên cứu phát minh và các phương thức giữ gìn bí quyết là yếu tố quan trọng tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng đòi hỏi chi phí tốn kém và có độ rủi ro cao nên doanh nghiệp xuất khẩu có khả năng tài chính và quy mô lớn có thể cố gắng thành lập các phòng nghiên cứu ngay tại doanh nghiệp và có nhân lực trình độ phát minh cao và triển khai nghiên cứu hiệu quả. Còn với các doanh nghiệp chưa đủ tiềm lực thì có thể sử dụng hình thức chuyển giao công nghệ từ tổ chức khác và cải tiến theo hướng phù hợp với doanh nghiệp mình. Để chuyển giao công nghệ hiệu quả, doanh nghiệp xuất khẩu cần phải có kinh nghiệm và kỹ năng hoạt động trên thị trường công nghệ thế giới, có đội ngũ người lao động sáng tạo và có môi trường làm việc khuyến khích sáng tạo. Ngoài ra doanh nghiệp cần có chính sách khuyến khích nhân viên phát huy sáng kiến cá nhân trong công việc của họ để đóng góp ý tưởng cải tiến mẫu mã sản phẩm. 6. Sử dụng thƣơng mại điện tử vào kinh doanh xuất khẩu hàng hóa 91 Ngày nay khi thương mại điện tử đã phát triển và lợi ích của thương mại điện tử ngày càng tỏ ra rõ rệt thì việc doanh nghiệp xuất khẩu ứng dụng thương mại điện tử để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình là điều cần thiết. Sử dụng thương mại điện tử giúp doanh nghiệp tăng năng suất do đạt hiệu quả cao hơn trong việc quản lý mua sắm và dữ trữ do cải thiện được hệ thống phân phối, tiết kiệm chi phí, giảm bớt rào cản, quảng cáo trực tiếp với khách hàng trên thế giới. Doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần tích cực và chủ động áp dụng và phát triển thương mại điện tử. Việc triển khai thương mại điện tử có thể tiến hành từng bước, từ thấp đến cao. Ban đầu doanh nghiệp có thể triển khai chủ yếu ở khâu xúc tiến hoạt động kinh doanh dưới hình thức xây dựng trang web và hoạt động quảng cáo trên mạng các sản phẩm và doanh nghiệp mình, tìm kiếm thông tin về thị trường trên mạng. Sau đó khi đã có điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở pháp lý cho phép thì doanh nghiệp có thể bán hàng trên mạng, tiến hành các giao dịch trước khi ký hợp đồng và sử dụng cho các mục địch quản trị bên trong doanh nghiệp, rồi ký kết hợp đồng và thực hiện thanh toán trên mạng. 92 KẾT LUẬN Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam là một tất yếu khách quan và cũng là một đòi hỏi cấp thiết trong quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế thế giới của nước ta. Trong giai đoạn gần đây (từ năm 2000 đến năm 2007) năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã được cải thiện đáng kể về các phương diện như chất lượng sản phẩm, trình độ khoa học công nghệ, hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường xuất khẩu… Tác động của các nhân tố bên ngoài như các chính sách của nhà nước và các bộ ngành cũng đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu vẫn còn một số điểm yếu cần khắc phục như sự hạn chế về năng lực tài chính, việc xây dựng và tạo lập thương hiệu, năng lực quản lý trong doanh nghiệp, khả năng đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chính vì vậy, để có thể đứng vững và phát triển trên thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải cố gắng hơn nữa để khắc phục những hạn chế, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Bên cạnh những nỗ lực từ phía bản thân doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh như tăng cường hiệu quả của hoạt động marketing xuất khẩu, cắt giảm chi phí trong sản xuất kinh doanh xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… thì nhà nước và chính phủ cũng cần phải đóng vai trò tích cực trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố sống còn với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như của quốc gia. Trong thời gian tới cùng với nỗ lực từ phía bản thân doanh nghiệp xuất khẩu và sự hỗ trợ từ phía nhà nước, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu, của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam sẽ được chú trọng và cải thiện không ngừng. Từ đó, doanh nghiệp xuất khẩu có thể phát huy hơn nữa khả năng của mình để đóng góp cho sự phát triển kinh tế chung của đất nước trong thời kỳ hội nhập và hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt được hiệu quả, đem lại nguồn lợi ích lớn cho nhà nướcvà cho doanh nghiệp. 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Một số sách tham khảo 1. CIEM và MPI Sida (2006), Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu trên cơ sở cắt giảm chi phí, NXB Tài chính. 2. CIEM và UNDP (2003), Năng lực cạnh tranh quốc gia, NXB Giao thông vận tải. 3. GS.TS. Chu Văn Cấp, PGS.TS. Trần Bình Trọng( đồng chủ biên) (2004), Giáo trình Kinh tế chính trị, Nhà xuất bản chính trị quốc gia. 4. PTS Lê Đăng Doanh, Ths Nguyễn Thị Kim Dung, PTS Trần Hữu Vân (1998), Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước, NXB Lao động. 5. TS Phạm Thu Hương (2007), Xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam cơ hội và thách thức khi hội nhập WTO, NXB Lý luận chính trị. 6. Đỗ Trọng Khanh (Vụ trưởng vụ phương pháp chế độ) (2008), Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ và vừa của Việt Nam, Diễn đàn kinh tế và tài chính khóa họp lần thứ 7. 7. PGS, TS Vũ Chí Lộc (2004), Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Châu Âu, NXB Lý luận chính trị. 8. PGS, TS Lê Văn Tân (2000), Chiến lược chất lượng và giá cả sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp nhẹ, NXB Chính trị quốc gia. 9. TS Nguyễn Vĩnh Thanh (2006), Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao động xã hội. 10. GS Đinh Xuân Trình (2006), Giáo trình thanh toán quốc tế, NXB Lao động xã hội. 11. Trung tâm thông tin thương mại (2003), Thị trường Việt Nam thời kỳ hội nhập AFTA, Nhà xuất bản tổng hợp Hồ Chí Minh. 94 12. Trung tâm tư vấn kinh tế và kinh doanh, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội (2007), Báo cáo tư vấn thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và vai trò của hệ thống xúc tiến thương mại. 13. PGS Vũ Hữu Tửu (2006), Giáo trình Giao dịch thương mại quốc tế, Nhà xuất bản giáo dục. Một số báo và tạp chí 1. Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 20/2006 2. Tạp chí nghiên cứu kinh tế, số 2/2006 3. Báo đầu tư 4. Tạp chí công nghiệp, số tháng 11/2006 5. Chiến lược chính sách công nghiệp, số tháng 10/2006 Một số website 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 95

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf3388_1823.pdf