Đề tài Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ theo lộ trình cam kết WTO

Bằng những phân tích và đánh giá thực tế tình hình thu hút FDI vào dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO đặt trong tương quan so sánh với giai đoạn trước đó, khóa luận đưa ra cái nhìn cận cảnh về sự phát triển của dịch vụ bán lẻ Việt Nam. Trong hơn 10 năm qua, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã chứng kiến sự đi lên của những nhà bán lẻ nước ngoài khi tiến hành khai thác ở thị trường Việt Nam. Mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước và thế giới. Hội nhập theo xu hướng chung đó, ngành dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã có nhiều chuyển hướng tích cực cùng với sự tăng lên của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoà i.

pdf100 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2781 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ theo lộ trình cam kết WTO, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phẩm hàng hóa và dịch vụ thì năm 2006 các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có bước nhảy vọt từ vị trí thứ 5 lên -66- vị trí khu vực có mức tiêu dùng lớn thứ 3 trong tổng số 6 khu vực trên thế giới đứng sau Châu Âu và Mỹ, đạt mức 16,1%. Như vậy, có thể thẩy rằng tiêu dùng ở các nước Châu Á đang ngày càng gia tăng và đây là một trong những thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn phân phối hàng hóa lớn trên thế giới. Một đặc điểm chung của các nước Châu Á là hệ thống phân phối hàng hóa còn mang nặng tính sản xuất nhỏ, các cửa hàng bán lẻ kiểu gia đình, quy mô nhỏ, hình thức mua bán trên thị trường chủ yếu là các giao dịch ngẫu nhiên theo kiểu mua đứt bán đoạn. Hệ thống phân phối hàng nông sản chủ yếu qua các chợ và các cửa hàng bán lẻ nhỏ. Điều này lại càng thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo quy mô lớn để thu hút lượng khách hàng phân tán trên thị trường. Tuy nhiên tại Châu Á, thời gian qua có một số nước bất ổn về tình hình chính trị do bạo loạn, khủng bố nên đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động đầu tư. Hiện nay, Việt Nam đang được coi là điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư thế giới vì tình hình chính trị ổn định, môi trường pháp lý cho các hoạt động đầu tư cũng đã tương đối hoàn chỉnh, cùng với việc nền kinh tế Trung Quốc phát triển quá nóng khiến các nhà đầu tư tìm hướng đầu tư vào Việt Nam càng tăng. 3.1.1.1.2. Xu hướng chi tiêu cá nhân của người tiêu dùng Việt Nam  Trƣớc hết, đó là xu hƣớng gia tăng nhanh chóng trong chi tiêu cá nhân của ngƣời tiêu dùng Việt Nam. Trong những năm qua, sự gia tăng trong chi tiêu cá nhân của người tiêu dùng Việt Nam luôn đạt tốc độ cao, hứa hẹn những tiềm năng rất lớn cho sự phát triển của thị trường phân phối ở Việt Nam trong thời gian tới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê thì mức chi tiêu cá nhân bình quân của người tiêu dùng Việt Nam năm 2006 là 511.000 đồng/tháng/người, cao gấp gần 3 lần so với năm 2000. Hơn nữa trong quỹ tiêu dùng cuối cùng, mức bán lẻ hàng hóa tăng lên qua các năm. Nếu giai đoạn 1996-2000 thương mại bán lẻ hàng hóa chiếm 66,15% quỹ tiêu dùng cuối cùng -67- thì giai đoạn 2001-2005 tỉ lệ tương ứng là 76,74%. Dự báo giai đoạn 2006- 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa chiếm khoảng 80% quỹ tiêu dùng cuối cùng. Hơn nữa, tỉ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam đạt khoảng trên 70%, thuộc loại cao so với các nước trong khu vực như Singapore 55,9%, Malaysia 58,2%, Thái Lan 67,7%... cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự gia tăng mạnh trong tiêu dùng trong nước của Việt Nam. [35]  Thứ hai là xu hƣớng thay đổi trong cách thức mua sắm của ngƣời tiêu dùng Việt Nam. Sự thay đổi này diễn ra khá mạnh ở Việt Nam trong những năm qua và đang cho thấy xu hướng chuyển dịch mạnh từ việc mua sắm trong các khu chợ truyền thống sang các siêu thị, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Trong một cuộc điều tra mới đây được thực hiện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, có tới 70% người dân ở Thành phố Hồ Chí Minh và 20% ở Hà Nội cho rằng họ thích mua sắm ở các siêu thị hơn là ở các khu chợ truyền thống ngoài trời. Theo dự đoán, trong mười năm tới, con số này có thể tăng lên tương ứng là 90% ở Thành phố Hồ Chí Minh và 50% ở Hà Nội. Điều này cho thấy sự thay đổi khá nhanh và mạnh trong cách thức của người dân Việt Nam đối với việc mua sắm hàng hoá. [36] 3.1.1.1.3. Cam kết và việc thực hiện cam kết Nhận thức được xu thế khách quan của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là sau khi hệ thống XHCN tan rã (1991), trong gần 20 năm qua, Đảng và Chính phủ đã nhất quán trong việc thực hiện phương châm hội nhập kinh tế quốc tế với mức độ ngày càng sâu hơn và chủ động hơn. Để hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả và chủ động, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, kết hợp đàm phán thương mại để gia nhập các tổ chức thương mại khu vực và quốc tế với cải cách trong nước. Về các quan hệ song phương, đến nay, nước ta đã có quan hệ thương mại với 160 quốc nước và vùng lãnh thổ, trong đó đã ký kết hiệp định thương mại với 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 -68- hiệp định chống đánh thuế hai lần, có thoả thuận đối xử Tối huệ quốc 81 quốc gia. Một số hiệp định quan trọng như Hiệp định thương mại Việt Nam - Trung Quốc (1991), Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc (1992), Hiệp định khung với Liên minh châu âu (EU) (1992), Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (2000), Hiệp định hợp tác đầu tư với Nhật Bản (2003)… Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ đầu tư với 70 nước và vùng lãnh thổ. Về các quan hệ đa phương toàn cầu và khu vực, Việt Nam đã khai thông và nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) (1993); gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995; tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC) năm 1998; tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) năm 2001. Việt Nam đã kết thúc thành công 14 phiên đàm phán đa phương và song phương với 28 nước thành viên của WTO có yêu cầu đàm phán. Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức được phê chuẩn để trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, mở ra những cơ hội to lớn đối với phát triển kinh tế nước ta. Với việc hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế mở cửa thị trường đối với hàng hóa và dịch vụ, trong đó có dịch vụ phân phối bán lẻ hàng hóa. Cam kết quốc tế về mở cửa thị trường trong lĩnh vực phân phối bán lẻ hàng hóa của Việt Nam bao gồm các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định thương mại song phương, trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và ASEAN+ (ASEAN với các đối tác) và cam kết trong khuôn khổ WTO. Dịch vụ phân phối hiện nay đã được mở cửa cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ, Nhật Bản (theo các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam - Nhật Bản). Với việc -69- gia nhập WTO, dịch vụ phân phối của Việt Nam đã được tiếp tục mở cửa cho các nước thành viên khác. Từ 01/01/2009, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn cho các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ 100% vốn đầu tư nước ngoài đối với hầu hết các mặt hàng. Ngoài sự mở rộng đầu tư của các doanh nghiệp FDI trong nước, theo bộ Kế hoạch và đầu tư sẽ có một số tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới đã đến khảo sát thị trường và bày tỏ ý định đầu tư vào Việt Nam, trong số đó có Wal-Mart - nhà bán lẻ hàng đầu thế giới, Carrefoul - nhà bán lẻ lớn thứ hai thế giới và Tesco - tập đoàn bán lẻ đứng thứ 6 thế giới. cũng đã đưa Việt Nam vào kế hoạch mở rộng các thị trường trọng điểm trong thời gian tới. Hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phối truyền thống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp các địa phương. Tuy nhiên, với việc hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế, tại thị trường Việt Nam đã xuất hiện các hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại với các siêu thị như Co.opMart, MaxiMark... và các trung tâm bán buôn, bán lẻ lớn của các nhà đầu tư nước ngoài như Metro, BigC... Điều này đã dần dần tạo nên những thay đổi trong thói quen mua sắm của dân cư, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Nhịp sống trong các gia đình trẻ dần dần được thay đổi bởi thói quen cuối tuần đi siêu thị mua đồ dùng cho cả gia đình trong cả một tuần. Thêm nữa, sự chênh lệch về phương thức kinh doanh, sự đa dạng hàng hóa, giá cả, nhãn hiệu, an toàn thực phẩm... đã nghiêng cán cân lợi thế về phía hệ thống phân phối hiện đại. Như vậy, với việc thực hiện các cam kết quốc tế, hệ thống phân phối trong nước ngày càng đa dạng với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các nhà phân phối nước ngoài. Lĩnh vực phân phối bán lẻ của nước ta sẽ có cơ hội trở thành một ngành công nghiệp bán lẻ tiên tiến theo kịp với xu hướng chung của khu vực và thế giới. 3.1.1.2. Hạn chế 3.1.1.2.1. Cơ sở hạ tầng yếu kém -70- Sự khan hiếm mặt bằng kinh doanh là một trở ngại đối với việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối bán lẻ. Ở nước ta hiện nay, hầu hết các mặt bằng hiện hữu không đạt tiêu chuẩn quốc tế và để đảm bảo chỗ đứng cho mình, nhiều nhà kinh doanh bán lẻ quốc tế đã phải chọn giải pháp cải tạo lại các cửa hàng mặt tiền trong khi chờ đợi những mặt bằng có chất lượng tốt hơn. Do thiếu mặt bằng nên giá thuê trung bình tại TP.HCM và Hà Nội đã tăng nhanh chóng kể từ năm 2002 và đạt mức 40 USD/m2/tháng vào cuối quí III năm 2007. Giá thuê của những mặt bằng tại những vị trí đẹp, hoặc tại khu trung tâm kinh doanh thương mại và tầng trệt lên đến 200 USD/m2/tháng. [27, tr.107] Hiện nay công suất thuê mặt bằng tại các thành phố lớn nước ta đều đạt trên 95% và nhu cầu thuê mặt bằng đang tăng mạnh. Có nhiều trung tâm thương mại đến nay vẫn đang trong quá trình xây dựng nhưng các nhà kinh doanh cũng đã đăng ký thuê kín chỗ. 3.1.1.2.2. Phong cách tiêu dùng của người dân vẫn mang nặng tính truyền thống Phần lớn dân cư nước ta vẫn chưa thích ứng được với các mô hình mua sắm hiện đại. Vì vậy, ở trong nước, dù những tập đoàn bán lẻ lớn như Big C, Metro đang kinh doanh rất thành công, thì hệ thống phân phối truyền thống gồm hơn 9.000 chợ vẫn đang hoạt động hiệu quả và thu hút một lượng lớn dân cư thuộc mọi tầng lớp, đặc biệt là những người có mức thu nhập trung bình, thấp và những người hưu trí. Những người tiêu dùng trong nước hàng ngày vẫn tiếp cận với những nguồn hàng hoá tại chợ gần với nơi họ sinh sống hoặc tại các cửa hàng ven đường. Điều đó cho thấy, mặc dù nhu cầu ngày một gia tăng, nhưng điều đó chưa đủ để có thể thay đổi tập quán, thói quen tiêu dùng. Hiện tại, thị phần bán lẻ qua các kênh phân phối hàng hóa ở Việt Nam về cơ bản được phân chia như sau: qua các hệ thống phân phối hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi... khoảng 10%; qua hệ thống -71- Loại hình phân phối Cửa hàng tạp hoá 44% Bán trực tiếp 6% Siêu thị 10% Chợ truyền thống 40% chợ truyền thống khoảng 40%; qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập khoảng 44%; còn lại khoảng 6% là do các nhà sản xuất trực tiếp phân phối sản phẩm của mình (xem Biểu đồ 4). [2] Biểu đồ 6: Các loại hình phân phối bán lẻ của Việt Nam trong giai đoạn 2004 – 2008 Nguồn: Bộ công thương Người Việt Nam vốn quá quen với văn hóa chợ và cửa hàng tạp hóa nên để người tiêu dùng có thể thay đổi hành vi mua sắm ở các cửa hàng bán lẻ hiện đại, họ cần thời gian thích nghi. Yếu tố này thường dễ làm các nhà đầu tư nản lòng. 3.1.1.2.3. Mâu thuẫn giữa các nhà sản xuất trong nước và các nhà bán lẻ nước ngoài Các doanh nghiệp bán lẻ vào Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp phân phối hàng tiêu dùng, khá quan tâm đến nguồn cung hàng hóa trong nước. Đa phần các nhà sản xuất đều mong muốn sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu và xu hướng tiêu dùng của thị trường, chẳng hạn với hàng may mặc thì nhà sản xuất phải có nhiều bộ siêu tập trong năm, các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật phải đảm bảo, đồng thời phải giao hàng đúng thời hạn, giá cả được trả theo đúng thỏa thuận hai bên đã cam kết. Song sản xuất của chúng ta quy mô nhỏ nên đôi khi không thể hoàn thành đơn hàng đúng -72- thời hạn, chất lượng sản phẩm không đúng theo yêu cầu và dẫn đến tình trạng có những nhà sản xuất đưa tiền cho nhân viên siêu thị để được có mặt trong hệ thống của họ. Đặc biệt về hàng hóa thời trang như may mặc, giày dép, mặc dù chúng ta có thể xuất khẩu nhưng hầu hết vẫn phải nhường chỗ cho thương hiệu nước ngoài trong những trung tâm mua sắm sang trọng như Parkson, Zen Plaza… Hơn nữa, đối với các nhà phân phối lớn như Metro, Walmart… thì họ cần một lượng hàng hóa tập trung mà chỉ có những doanh nghiệp sản xuất lớn mới có thể có khả năng đáp ứng những điều kiện của họ. Còn những nhà sản xuất nhỏ yếu về kinh nghiệm, tài chính, nguồn lực thì khó có thể cạnh tranh để có được một vị trí tốt trên những quầy kệ, siêu thị của hệ thống phân phối hàng hóa hiện đại này. 3.1.1.2.4. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bán lẻ trong nước hạn chế Gia nhập WTO và mở cửa thị trường là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước đặc biệt là những lĩnh vực đã được nhà nước bảo hộ mạnh mẽ đến thời điểm hiện nay. Vì được bảo hộ nên năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này rất yếu kém và nếu không kịp thời đổi mới phương thức hoạt động kinh doanh thì rất dễ rơi vào tình trạng đình trệ sản xuất và kinh doanh và dẫn tới phá sản là điều khó tránh khỏi. Phân phối bán lẻ là lĩnh vực tác động không chỉ đến tiêu dùng mà còn đến cả sản xuất. Nếu các doanh nghiệp trong nước không đứng vững được trên thị trường nước nhà thì nguy cơ bị các tập đoàn bán lẻ nước ngoài lũng đoạn thị trường là điều khó tránh khỏi. Vì thế, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp phân phối bán lẻ Việt Nam là một bài toán khó của tiến trình mở cửa thị trường. Nếu doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn mạnh để phân chia thị phần với các doanh nghiệp nước ngoài thì lợi ích cho việc mở cửa thị trường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào phân phối bán lẻ là không nhỏ. Do đó để có thể tăng -73- cường thu hút FDI vào lĩnh vực này thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp là điều khá cần thiết trong giai đoạn hiện nay. 3.1.2. Dự báo phát triển ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam theo lộ trình cam kết WTO Có thể đánh giá, ngành dịch vụ phân phối ở nước ta trong thời gian tới sẽ phát triển theo hướng sau: - Các rào cản về việc gia nhập và rút khỏi hệ thống phân phối sẽ dần được loại bỏ theo lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế (WTO, BTA, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt - Nhật, ASEAN+) và các cải cách của chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài. - Sự thâm nhập ngày càng nhiều các Tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường Việt Nam, ngoài Big C, Metro Cash & Carry, Cora; nhiều khả năng sẽ có thêm Wal-mart của Mỹ, Carrefour của Pháp, các tập đoàn phân phối của Nhật, Trung Quốc... tạo nên một bức tranh đa dạng trong hệ thống phân phối trong nước. Hệ thống phân phối không còn là mảnh đất đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp trong nước phải động não chủ động tham gia nếu không muốn bị loại “ra rìa” - Quá trình tích tụ và tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước tạo thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, đặt các điểm giao dịch, máy ATM tại các siêu thị, chợ...). Một số nhà phân phối có tiềm lực sẽ mở rộng hoạt động phân phối ra nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của Việt Nam ở nước ngoài. Lực lượng người Việt Nam kinh doanh ở Nga và các nước Đông Âu cũng sẽ trở thành những mắt xích quan trọng trong hệ thống dây phân phối hàng “made in Viet Nam” nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì -74- hàng Trung Quốc như hiện nay. Nhiều doanh nghiệp, các hộ nông dân, ngư dân, các làng nghề truyền thống do không đủ khả năng xây dựng hệ thống phân phối riêng sẽ tìm cách vươn ra thị trường thế giới bằng hình thức giao dịch điện tử. - Phương thức phân phối truyền thống, mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song với các hình thức phân phối hiện đại nhưng sẽ dần thu hẹp và suy yếu, các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và học hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và hiện đại hóa hệ thống của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố hệ thống của mình. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ những cải cách này. Trước mắt, các Tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng dân dần họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà... Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn ... Tóm lại, hệ thống phân phối ở nước ta đang chuyển mình theo hướng hiện đại hóa nhưng vẫn còn mang nặng đặc điểm của một nền thương nghiệp quy mô nhỏ. Cùng với quá trình thực hiện các cam kết quốc tế và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, trên “sân chơi” sẽ xuất hiện nhiều “gã khổng lồ” đến từ nước ngoài, các loại hình phân phối cũng sẽ phát triển đa dạng. Trong bối cảnh đó, yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của hệ thống phân phối quốc gia là ý thức liên kết của các doanh nghiệp và vai trò hỗ trợ của Nhà nước. Sự liên kết giữa các nhà sản xuất, các nhà phân phối trong nước cộng với ý thức thay đổi trong phương thức kinh doanh tập hợp thành một khối, đủ sức làm đối trọng với các nhà phân phối nước ngoài. Nhà nước bên cạnh việc -75- tìm biện pháp tổ chức lại hệ thống phân phối bán lẻ, cần phải có những quyết sách ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tập hợp các nguồn lực nhỏ lẻ thành hệ thống nhất quán, có chiều sâu. Nhưng hơn hết, Nhà nước cần phải khẳng định vai trò điều tiết thị trường theo hướng lành mạnh hóa, tạo sân chơi bình đẳng cho các nhà phân phối không phân biệt thành phần kinh tế, đồng thời nắm các nhà phân phối lớn để có thể chủ động trước những biến động của thị trường. 3.2. Các giải pháp nhằm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam một cách hợp lý và có chọn lọc theo lộ trình cam kết WTO Từ những nghiên cứu ở trên, có thể thấy mở cửa dịch vụ bán lẻ phải theo một định hướng, có sự điều tiết chứ không phải cứ thu hút ồ ạt để nhường chỗ cho nhà bán lẻ nước ngoài mặc nhiên thâu tóm thị trường lúc nào không hay. Trên thực tế, chúng ta đã mở cửa cho một số nhà phân phối nước ngoài lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài trước khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp này không nhiều, kèm theo một số hạn chế hoạt động nhất định nên nhìn chung, trong thời gian qua, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn có mức tăng trưởng đều, kích thích sản xuất và tiêu dùng. Nhưng không vì vậy mà chúng ta chủ quan trước dòng vốn FDI chảy vào trong thời gian tới bởi lẽ cam kết WTO về dịch vụ phân phối của Việt Nam đã mở ra hành lang rất thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài vốn hơn hẳn doanh nghiệp bán lẻ trong nước tiến hành khai thác thị trường. Nếu không có một kế hoạch thu hút có chọn lọc, trọng điểm thì nguy cơ nhiều doanh nghiệp, cửa hàng dân doanh lâm vào tình trạng phá sản kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác rất là rõ. Từ kinh nghiệm mở cửa của Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, trước mắt, nhà nước và bản thân doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh, biện pháp cụ thể để có thể điều tiết dòng vốn FDI vào dịch vụ bán -76- lẻ, từ từ tạo điều kiện cho doanh nghiệp bán lẻ trong nước nâng cao sức cạnh tranh và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó. 3.2.1. Các giải pháp về phía nhà nước Từ kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới khi mở cửa dịch vụ bán lẻ, có thể thấy nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ có thể tăng cường công tác quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng vẫn có thể thúc đẩy FDI bằng một số biện pháp sau: 3.2.1.1. Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài: Bán lẻ là ngành có vị trí quan trọng trong hệ thống phân phối hàng hóa nền kinh tế quốc dân nên bản thân nó đòi hỏi những quy định, quy chế riêng. Trong khi đó, hệ thống luật pháp nước ta lại tỏ ra kém hiệu quả do thường xuyên có sự bổ sung, điều chỉnh, gây ra tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư. Vấn đề cấp thiết bây giờ là nhà nước cần thống nhất các quy định về hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo các hướng dẫn cụ thể đến từ đơn vị quản lý. Việc thống nhất này sẽ tạo môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch và dễ áp dụng cho các cấp chính quyền quản lý và tiết kiệm thời gian và chị phí cho các nhà đầu tư. Chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc hay Thái Lan – những quốc gia mở cửa trước chúng ta để vận dụng những điểm phù hợp và tránh các biện pháp sai lầm. Có một biện pháp quản lý vận hành của hoạt động bán lẻ là việc thiết lập Luật Kinh doanh bán lẻ như ở Trung Quốc, xây dựng các quy chế và tiêu chuẩn phát triển cho các loại hình bán lẻ. Nhà nước cần điều chỉnh các khung pháp lý sao cho phù hợp với cam kết quốc tế, thu hút có chọn lọc vốn đầu tư nước ngoài và vừa kiểm soát hoạt động, tránh tình trạng đầu tư lũng đoạn thị trường. Thực tế hiện nay, các -77- doanh nghiệp trong nước vẫn muốn được nhà nước bảo hộ, hạn chế sự mở rộng và đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Việc đưa ra quy định kiểm tra nhu cầu thực tế (ENT) tại địa phương trước khi cấp phép cho nhà đầu tư nước ngoài là một cách mà nhiều nước áp dụng. Để tránh tình trạng 64 tỉnh thành có 64 cách áp dụng khác nhau dẫn đến việc kiểm soát FDI khó khăn, nhà nước nên có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí đánh giá như: mật độ dân cư trong khu vực là bao nhiêu thì phù hợp hay quy hoạch vùng như thế nào thì sẽ dẫn đến tình trạng mỗi tỉnh có một cách áp dụng khác nhau. Chẳng hạn, điểm bán lẻ thứ hai được cấp phép tại TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội nếu đang có ít hơn 30 cơ sở bán lẻ thương mại hiện đại thì khoảng cách là 25 km tính từ trung tâm thành phố, ở đô thị loại I, II nếu có ít hơn 10 cơ sở thì khoảng cách là 10 km, còn các đô thị còn lại, thị xã, thị trấn ít hơn 5 cơ sở thương mại hiện đại đang hoạt động động thì khoảng cách xây dựng cơ sở thứ hai là 3 km. Việc kiểm soát chặt chẽ hoạt động đầu tư của nhà bán lẻ quốc tế hiện nay là cần thiết khi thành phần kinh tế của ta tham gia thị trường còn nhiều mặt yếu kém. Tuy nhiên, việc xây dựng quá nhiều rào cản sẽ có tác động ngược lại đối với thị trường bán lẻ trong nước, là nguyên nhân của môi trường đầu tư kém hấp dẫn và hình thành những tiêu cực cấp phép và ưu đãi về mặt hàng ở nhiều địa phương. Do vậy, chính phủ cần ban hành chính sách định hướng phát triển thương mại nội địa phù hợp đảm bảo vừa khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đổi mới và phát triển, vừa thu hút có chọn lọc nguồn vốn đầu tư nước ngoài. 3.2.1.2. Xây dựng quy hoạch tổng thể Đối với lĩnh vực phân phối bán lẻ thì mặt bằng là một trong những yếu tố quyết định đối với doanh số bán hàng. Vì vậy, chính phủ cần tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong khâu cấp đất, giải phóng mặt bằng, cấp phép xây dựng... tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bán lẻ nhanh chóng đi vào hoạt động và phát triển theo hướng thuận lợi nhất. Tại Hà Nội và -78- TP.Hồ Chí Minh, nơi những mặt bằng đẹp đang được tăng cường tận dụng thì chính phủ nên quy hoạch thống nhất những vị trí có thể đầu tư xây dựng những trung tâm thương mại nhằm đảm bảo sự tiện lợi cho việc kinh doanh của các tập đoàn nước ngoài, sự hài lòng của người tiêu dùng Việt Nam đồng thời phù hợp với quy hoạch địa bàn của cả nước. Theo đó, các mô hình kinh doanh bán lẻ cần diện tích lớn như: siêu thị, trung tâm thương mại... nên định hướng quy hoạch ở vùng ngoại ô, tránh tình trạng ách tắc giao thông và hỗ trợ các doanh nghiệp phân phối trong nước có cơ hội cạnh tranh. Đối với các tỉnh chưa phát triển kênh phân phối hiện đại, kênh phân phối truyền thông còn chiếm tỉ lệ lớn nhưng có lợi thế về diện tích đất, chính quyền có thể khuyến khích đầu tư nước ngoài bằng cách xét duyệt cho các vị trí thuận lợi cho sự phát triển của dự án. Các tỉnh này cần tập trung cho công tác quy hoạch, xử lý và cung cấp thông tin cần thiết, các hoạt động xúc tiến thương mại, kiểm tra và kiểm soát thị trường. Chính sách quy hoạch phải xác định cụ thể nơi nào sẽ ưu tiên cho doanh nghiệp trong nước, nơi nào kêu gọi đầu tư. Đặc biệt, khi đấu giá quyền sử dụng đặt ở các vị trí thuận lợi cần dựa trên quy hoạch chứ không phải là mức giá. Thông qua quy hoạch và các điều kiện thiết lập cơ sở bán lẻ, cần có quy định hạn chế tác động tiêu cực của xu hướng tập trung hóa về độc quyền nhóm mua trong lĩnh vực bán lẻ với giá cả và việc làm như hạn chế cấp phép xây dựng cơ sở bán lẻ mới ở những khu vực đã có cơ sở cùng loại hình. Trong quá trình thực hiện quy hoạch địa bàn tỉnh, thành phố, các dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài xây dựng các mô hình mua sắm hiện đại có thể đi liền với các khu du lịch, khu vui chơi, giải trí có rất nhiều khách du lịch nước ngoài có nhu cầu mua sắm lớn, đặc biệt là các loại hàng hóa cao cấp, chất lượng. Bố trí các cơ sở bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cơ sở này, vừa đẩy mạnh phát triển ngành -79- du lịch, thương mại... quy hoạch hài hòa, thống nhất giữa các địa phương và với quy hoạch chung của cả nước. Tăng lượng khách du lịch nước ngoài và tăng mức chi tiêu của những du khách này ở các siêu thị, trung tâm thương mại sẽ đảm bảo mức gia tăng doanh thu bán lẻ trên địa bàn. Nhà nước có thể ưu tiên, khuyến khích đối với các dự án đầu tư vào nơi có cơ sở du lịch nổi tiếng ở nước ta. 3.2.1.3. Tăng cường công tác xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại Cơ sở hạ tầng cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu các yếu tố cơ bản như: đường sá, điện, nước, phương tiện thông tin liên lạc, mặt bằng kinh doanh thuận lợi. Có những yếu tố cơ bản này rồi thì từng loại hình kinh doanh lại cần những yếu tố đặc thù riêng. Đối với dịch vụ bán lẻ, việc thu hút đầu tư nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào mức độ thống nhất, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Tăng cường xây dựng các cơ sở hạ tầng kĩ thuật cần chú trọng đến vấn đề sau: - Nhà nước cần có những quy định về tiêu chuẩn thiết kế siêu thị, chợ... để quy hoạch và kiểm soát tốt hơn trong việc xây dựng trang thiết bị kĩ thuật của các doanh nghiệp bán lẻ có vốn đầu tư nước ngoài. - Tăng cường ngân sách cho các dự án xây dựng công trình giao thông, sửa chữa kịp thời những hệ thống đường sá hư hỏng, xây mới các con đường lớn, đa dạng hóa các phương thức vận tải theo quy hoạch để tránh tình trạng ách tắc giao thông bởi lẽ giao thông là huyết mạch của nền kinh tế. Giao thông phát triển tạo điều kiện cho việc đi lại, mua sắm của người tiêu dùng thuận tiện, giảm chi phí vận chuyển cho nhà bán lẻ khi cần đưa hàng hóa từ điểm thu mua về kho lưu trữ và từ kho lưu trữ về cơ sở phân phối bán lẻ. - Đảm bảo việc cung cấp điện, nước đầy đủ cho các doanh nghiệp bán lẻ. -80- - Tăng cường xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tin về thị trường, nguồn cung cấp; tự động hóa quy trình quản lý hàng hóa trong kho, trên các kệ hàng cũng như quản lý việc vận chuyển thanh toán, nhất là mở rộng, phát triển Internet băng thông rộng kết nối mạng lưới các cửa hàng của các nhà bán lẻ trên phạm vi toàn cầu. Một trong những thế mạnh của các nhà bán lẻ nước ngoài là trình độ công nghệ mà được thể hiện rõ nét nhất là việc tự động bán hàng, tự động marketing, tự động quán lý quan hệ khách hàng. Nhưng để phát huy thế mạnh này đòi hỏi nước nhận đầu tư phải có trình độ nhất định về cơ sở hạ tầng thông tin, tốc độ truyền Internet, mạng lưới trạm thu phát sóng hoạt động ổn định, chất lượng. Do vậy, để khuyến khích hoạt động đầu tư trong và ngoài nước, nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, hướng đến xu hướng phát triển chung của thế giới. Ngoài ra, các cơ quan chức trách nên phối hợp với nhau để đẩy nhanh việc hiện đại hóa hạ tầng cơ sở, tạo điều kiện phát triển không chỉ bán lẻ mà còn rất nhiều các ngành, lĩnh vực khác. 3.2.1.4. Nhà nước cần có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp 3.2.1.4.1. Hỗ trợ đối với các doanh nghiệp sản xuất Khi tiến hành các hoạt động kinh doanh phân phối bán lẻ, các tập đoàn bán lẻ hàng đầu luôn tìm cách tận dụng mọi nguồn lực để giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Họ tìm đến các nhà sản xuất lớn trong nước hay các doanh nghiệp chuyên nhập khẩu để có nguồn hàng cung ứng ổn định, mua số lượng lớn với giá rẻ để giảm chi phí đầu vào và cũng là để tiết kiệm chi phí vận chuyển hơn so với nhập khẩu toàn bộ hàng hóa từ nước ngoài. Cắt giảm chi phí là một trong những nhân tố khiến giá thành của họ cạnh tranh hơn và có thời gian, nhân lực, vật lực để phát triển các dịch vụ tiện ích gia tăng. Do vậy, muốn thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành kinh tế, nhất là dịch vụ bán lẻ thì nhà nước cần có biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp sản -81- xuất tập trung chuyên môn hóa sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm bằng các biện pháp như: - Giảm thuế, phí, nới rộng thời gian nộp thuế, đưa ra mức thuế suất ưu đãi cho các doanh nghiệp ở vùng khó khăn - Hỗ trợ về vốn thông qua các chương trình ưu đãi về tín dụng, các quỹ phát triển, nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài - Khuyến khích thành lập các hiệp hội, các nhà sản xuất hỗ trợ nhau cùng phát triển, tìm đầu mối phân phối hay tạo ra thế mạnh khi thương lượng về giá và các điều kiện liên quan. Chẳng hạn, thời gian qua đã có Hiệp hội cà phê, Hiệp hội may mặc... - Hỗ trợ về chuyên gia và công nghệ phát triển sản phẩm, ngành hàng mới, phong phú và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. 3.2.1.4.2. Hỗ trợ đối với các doanh nghiệp phân phối Đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực phân phối, nhà nước cũng cần hỗ trợ để các doanh nghiệp này nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình, tránh tình trạng phá sản hàng loạt khi các tập đoàn nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn của họ sau ngày 01/01/2009. Bởi lẽ khi năng lực cạnh tranh của những doanh nghiệp này được củng cố thì việc thu hút đầu tư nước ngoài không còn bị phản đối gay gắt, việc sử dụng nguồn vốn FDI cũng hiệu quả hơn. Hỗ trợ các doanh nghiệp này, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp sau:  Thứ nhất, công bố thông tin về mở cửa thị trƣờng, tự do hóa thƣơng mại Nhà nước có vai trò chủ đạo và tích cực trong việc nâng cao nhận thức và hiểu biết vấn đề pháp lý, lộ trình thực hiện các cam kết, lợi ích và thách thức khi mở cửa thị trường để các doanh nghiệp phân phối và các hộ gia đình kinh doanh nhỏ lẻ chủ động đổi mới và thích ứng tốt với tình hình thị trường bằng các biện pháp cụ thể như: -82- - Công bố rộng rãi thông tin về mở cửa thị trường, lộ trình và cam kết của chúng ta trên các phương tiện truyền thông. Ở đây cần lưu ý là nên kết hợp các hình thức tuyên truyền linh hoạt, giải thích cụ thể từng cam kết và lộ trình để những người có trình độ cao hay thấp đều có thể hiểu và tiếp cận một cách dễ dàng. Có như vậy công tác tuyên truyền và phổ biến mới đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực. - Chính phủ có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường, dự báo giá cả và xúc tiến thương mại - Chính phủ cần giao nhiệm vụ cho các cơ quan ban ngành như: Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp phối hợp tổ chức các hội thảo, chương trình đánh giá tác động của việc mở cửa thị trường, nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp phân phối.  Thứ hai, nhà nƣớc cần có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp phân phối, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể - Xây dựng những chính sách quy hoạch công khai các vị trí bán lẻ để các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài đấu thầu công khai, tránh tình trạng thay đổi đột ngột làm các doanh nghiệp không kịp chuẩn bị. - Có những chính sách hỗ trợ hoặc khuyến khích phù hợp để tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh nhỏ lẻ có thể tham gia vào các chuỗi cửa hàng phân phối uy tín theo kiểu làm đại lý hoặc nhượng quyền kinh doanh. Nhà nước có thể bảo lãnh các hộ kinh doanh nhỏ lẻ này để họ được tham gia liên kết với các nhà phân phối lớn, mang tính chuyên nghiệp cao, đặc biệt là các nhà phân phối trong nước để từng bước chuyển đổi hoạt động kinh doanh của các hộ cá thể này theo hướng ổn định lâu dài. Ngoài ra, chính phủ cũng cần nghiên cứu các chương trình tín dụng cho các hộ kinh doanh cá thể vay vốn để chuyển đổi sang ngành nghề, lĩnh vực khác. -83-  Thứ ba, nhà nƣớc cần cụ thể hóa các chính sách về thuế, đất đai, chính sách phát triển nguồn nhân lực: Thông qua các chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, bắt kịp các xu thế phát triển trên toàn thế giới liên quan đến hệ thống phân phối và quản lý mạng lưới cửa hàng bán lẻ..., nhà nước cần tạo điều kiện để nâng cao trình độ cho đội ngũ nhân lực tham gia vào lĩnh vực phân phối bán lẻ. 3.2.1.5. Nhà nước cần tăng cường công tác quản lý, giám sát Hệ thống các quy định, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài có vị trí quan trọng đến số lượng và tiến độ thực hiện dự án. Một hệ thống pháp luật nghiêm minh, bình đẳng, nhất quán sẽ thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, tất cả các chính sách, văn bản hướng dẫn đó chỉ là định hướng chung, hiệu quả thực thi có đạt được hay không phụ thuộc vào bộ máy quản lý nhà nước. Các bộ, ban ngành và các cơ quan chức năng tăng cường phối hợp, thông nhất hoạt động xét duyệt kiểm tra, giám sát theo hướng vừa đảm bảo sự phát triển của ngành dịch vụ theo đúng định hướng, mục tiêu, tiêu chí, vừa đảm bảo hoạt động kinh doanh của các nhà bán lẻ diễn ra đúng pháp luật. Bên cạnh đó, việc phân cấp quản lý phải được thực hiện rõ ràng, tránh tình trạng một lĩnh vực có nhiều cơ quan cùng quản lý. Xét xử nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, gian lận thương mại, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thái độ tôn trọng tính nghiêm minh của pháp luật ngay từ đầu. Pháp luật có nghiêm minh, công bằng mới tạo cơ hội kinh doanh cho tất cả các thành phần kinh tế và tạo thói quen chấp hành pháp luật cho toàn dân. 3.2.2. Các giải pháp về phía doanh nghiệp bán lẻ trong nước 3.2.2.1. Chủ động đổi mới phong cách làm việc, tổ chức, quản lý Một hạn chế chung của các doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả doanh nghiệp phân phối quốc doanh và ngoài quốc doanh của chúng ta là thói -84- quen trì trệ, thiếu tính sáng tạo bởi doanh nghiệp nọ bắt chước cách thức, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp kia khi thấy họ làm ăn có lãi. Điều này khiến cho tốc độ đổi mới diễn ra rất chậm, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thấp, dẫn đến nguy cơ nhiều doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài thường xuyên làm ăn thua lỗ, buộc phải bán lại phần vốn góp cho các doanh nghiệp nước ngoài và chấp nhận tay trắng. Do vậy, để vừa thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vừa sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó, các doanh nghiệp bán lẻ trong nước cần nhanh chóng thay đổi phương thức làm việc, cơ chế quản lý theo hướng hiện đại, phân công trách nhiệm đến từng người. Áp dụng công nghệ hiện đại để quản lý số lượng và chất lượng hàng hóa, thống kê và lưu trữ các hóa đơn thanh toán, thông tin thị trường và tìm hiểu các đối tác, nhà cung cấp lớn. Cũng nhờ công nghệ hiện đại mà doanh nghiệp có thể tối ưu hóa năng suất tại mỗi công đoạn, hợp lý hóa sản xuất... 3.2.2.2. Tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư 3.2.2.2.1. Mở rộng quy mô thông qua các liên kết với các nhà bán lẻ trong nước Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp bán lẻ ở nước ta đều có quy mô vừa và nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp nên không đủ sức mở rộng đầu tư mạng lưới cũng như cơ sở hạ tầng hiện đại. Do vậy, các doanh nghiệp phân phối trong nước có thể tận dụng sát nhập hoặc liên kết với nhau để tăng quy mô và sức mạnh tài chính. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy do không có một doanh nghiệp nào “ngang cơ” trên thị trường bán lẻ Trung Quốc nên nhiều doanh nghiệp bán lẻ Trung Quốc chấp nhận thua cuộc trong cuộc cạnh tranh với các nhà bán lẻ ngoại, trong khi đó Hàn Quốc vẫn duy trì tốt thị trường trong nước nhờ có sự bắt tay của nhà phân phối và nhà sản xuất. 3.2.2.2.2. Tập trung vốn từ việc hợp tác với ngân hàng và tổ chức tín dụng Hiện nay, mối liên hệ giữa các doanh nghiệp và ngân hàng còn lỏng lẻo. Liên kết với các tổ chức tín dụng hay ngân hàng tạo điều kiện cho doanh -85- nghiệp trong nước đảm bảo được nguồn vốn kinh doanh và cũng quản lý tốt hơn tài chính của doanh nghiệp mình 3.2.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Một nghiên cứu của báo Sài Gòn tiếp thị vào tháng 11 năm 2008 chỉ ra rằng trình độ đại học ở các siêu thị trong nước chỉ có 19,3% trong khi siêu thị nước ngoài, nhân viên có trình độ đại học trở lên chiếm tới 71%. Sự chênh lệch về mức độ này phản ánh chất lượng đội ngũ, nhân viên và cán bộ trong các cửa hàng bán lẻ của chúng ta còn quá thấp. Do vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp phân phối. 3.2.2.3.1. Chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực từ bộ phận quản lý tới đội ngũ nhân viên Yếu tố con người là nòng cốt cho sự thành bại của bất cứ doanh nghiệp nào. Chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực là chiến lược mang lại hiệu quả về lâu dài. Muốn bộ máy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì việc đầu tiên là phải có kế hoạch đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp. Trang bị kiến thức về kinh doanh, quản lý, tiếp cận và học hỏi phương pháp quản lý giúp họ có đủ tự tin lãnh đạo và đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng chương trình huấn luyện nghiệp vụ và nâng cao tinh thần trách nhiệm làm việc cho nhân viên. Đặc biệt nhân viên bán hàng bởi họ là người trực tiếp làm việc với khách hàng và tiếp nhận thông tin từ khách hàng cũng như truyền tải thông tin cho khách hàng về hàng hóa và doanh nghiệp sản xuất. Một nhân viên bán hàng chuyên nghiệp là người am hiểu cái mình cần làm, cần nói và cần ứng xử. Chính vì vậy, cần chú ý đào tạo kĩ năng bán hàng, kĩ năng thuyết phục khách hàng cũng như xử lý các khiếu nại của khách hàng trong trường hợp khẩn cấp. Một đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp là một cách nâng cao chất lượng phục vụ và thương hiệu của mình -86- 3.2.2.3.2. Áp dụng chế độ khen thưởng, đãi ngộ kịp thời để kích thích làm việc và nâng cao năng suất lao động Xây dựng một chế độ khen thưởng kịp thời, những đãi ngộ, du lịch là một chính sách cần thiết để doanh nghiệp giữ chân người tài, khuyến khích nhân viên và cán bộ quản lý sáng tạo, tích cực trong công việc. Chất lượng nguồn nhân lực ngày càng nâng cao cũng góp phần xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp, thu hút sự chú ý của khách hàng. 3.2.2.4. Xây dựng chính sách về mặt hàng, giá, phương thức và hình thức bán hàng, khuyến mại - Về chính sách mặt hàng: Các doanh nghiệp bán lẻ không nên ỷ lại vào nhà cung cấp đến chào hàng mà phải chủ động tìm nguồn hàng mới, chủ động nghiên cứu, dự đoán nhu cầu và trực tiếp gặp gỡ các nhà sản xuất để đặt hàng theo yêu cầu về tính năng, chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm do mình tự thiết kế hoặc phối hợp với nhà sản xuất thiết kế ra và mang thương hiệu riêng của nhà bán lẻ. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nên dự kiến tỷ trọng hàng hóa cần sản xuất trong và ngoài nước sao cho phù hợp với mục tiêu khách hàng, phân khúc thị trường. - Về chính sách giá: Doanh nghiệp bán lẻ cần xác định mức giá phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng thay vì định giá hợp lý của doanh nghiệp bán lẻ (chi phí mua hàng + lãi vay). Bằng các biện pháp tiết kiệm, giảm chi phí, tăng nhanh vòng quay hàng hóa, mua hàng với khối lượng lớn để hưởng mức giá chiết khấu cao, thời gian thanh toán dài hơn..., doanh nghiệp đưa ra mức giá tối ưu nhất kết hợp với dịch vụ tốt để thu hút khách hàng, tạo ra doanh số bán hàng cao, giúp giảm chi phí cố định theo số lượng hàng bán ra. - Về phƣơng thức và hình thức bán hàng: Doanh nghiệp bán lẻ nội địa cần tăng cường đầu tư vào quản lý bán hàng, thanh toán hiện đại, tiện nghi để vừa xúc tiến quảng cáo thương hiệu, tăng hiệu quả kinh doanh. Đa dạng -87- hóa loại hình bán lẻ bằng cách có thể kết hợp bán hàng qua cửa hàng và qua hệ thống website thương mại điện tử. - Về chính sách khuyến mại: Đối với một nước thu nhập còn thấp như nước ta thì vấn đề giá cả, các chương trình ưu đãi luôn thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều người. Doanh nghiệp cần có kế hoạch và tổ chức cụ thể như: tặng phiếu mua hàng ưu đãi, tổ chức trò chơi có thưởng, giảm giá vào các dịp đặc biệt hay giảm giá với khách hàng mua số lượng lớn... Sử dụng chương trình khuyến mại, giảm giá lớn là biện pháp kích cầu khá hiệu quả để tăng doanh số bán hàng, giới thiệu các sản phẩm mới. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần có một kế hoạch kinh doanh ngắn hạn và dài hạn để dự trữ nguồn hàng, dự trù tài chính. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tăng cường hoạt động đầu tư, nghiên cứu thị trường để kịp thời đáp ứng những thay đổi trong thị hiếu và xu hướng tiêu dùng. Trên đây là một số giải pháp nhằm thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài một cách hợp lý và có chọn lọc trong thời gian tới. Những giải pháp trên được đưa ra dựa trên cơ sở định hướng thu hút vốn FDI của nhà nước theo lộ trình cam kết WTO cùng với xu hướng phát triển trên thế giới và thực trạng thu hút FDI vào dịch vụ phân phối bán lẻ của Việt Nam trong những năm gần đây. Để có thể hiện thực hóa những giải pháp này, chúng ta không chỉ cần sự định hướng và hỗ trợ từ phía các tổ chức nhà nước mà chính bản thân các doanh nghiệp phân phối bán lẻ trong nước cũng phải nhận thức được tình hình thị trường để thay đổi cho phù hợp. Nếu làm được những điều đó thì triển vọng thu hút vốn FDI vào thị trường bán lẻ một cách hợp lý để vừa phát triển kinh tế lại vừa hạn chế những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế - xã hội chắc chắn sẽ thành hiện thực. -88- KẾT LUẬN Bằng những phân tích và đánh giá thực tế tình hình thu hút FDI vào dịch vụ bán lẻ ở Việt Nam sau khi gia nhập WTO đặt trong tương quan so sánh với giai đoạn trước đó, khóa luận đưa ra cái nhìn cận cảnh về sự phát triển của dịch vụ bán lẻ Việt Nam. Trong hơn 10 năm qua, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã chứng kiến sự đi lên của những nhà bán lẻ nước ngoài khi tiến hành khai thác ở thị trường Việt Nam. Mở cửa thị trường là một xu hướng tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển chung của đất nước và thế giới. Hội nhập theo xu hướng chung đó, ngành dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã có nhiều chuyển hướng tích cực cùng với sự tăng lên của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ những lý luận chung về FDI và dịch vụ bán lẻ, khóa luận chỉ ra dịch vụ bán lẻ Việt Nam thực sự là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu nước ngoài. Kể từ khi có dự án đầu tư nước ngoài đầu tiên vào năm 1996, dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã và đang thu hút được một số tập đoán bán lẻ hàng đầu thế giới đến đầu tư và triển khai các loại hình bán lẻ hiện đại. Sự xuất hiện của các tập đoàn này thúc đẩy dịch vụ bán lẻ Việt Nam thay đổi nhanh chóng cả về quy mô, cơ cấu hàng hóa cũng như chủ thể tham gia. Cùng với đó, miếng bánh thị phần đã được chia lại cho các nhà đầu tư nước ngoài chứ không còn là thị trường độc quyền của các nhà phân phối trong nước nữa. Qua việc phân tích tình hình thu hút vốn FDI vào thị trường bán lẻ trước cũng như sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khóa luận đã chứng minh việc các nhà bán lẻ nước ngoài tham gia dịch vụ bán lẻ đã đem lại tác động tích cực nhiều hơn tác động tiêu cực trong giai đoạn này. Từ đó, tác giả kiến nghị những biện pháp thu hút FDI vào ngành một cách có chọn lọc, trọng điểm trong thời gian tới để vẫn tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phân phối trong nước nâng -89- cao sức cạnh tranh, đồng thời hạn chế các vấn đề tiêu cực về kinh tế - văn hóa - xã hội. Trước tình hình kinh tế và sự phát triển dịch vụ bán lẻ hiện nay, việc thu hút đầu tư nước ngoài cần một chính sách, định hướng cụ thể về thủ tục xét duyệt và cấp phép, các công cụ hỗ trợ ưu đãi, nhất là vấn đề bố trí mặt bằng... sao cho phù hợp với quy hoạch chung của địa phương và cả nước. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phân phối trong nước cần nhận rõ thách thức trong thời gian tới để có biện pháp cải thiện, đổi mới theo xu hướng thế giới và những biến đổi trong nhu cầu tiêu dùng của người Việt Nam. Các doanh nghiệp phân phối trong nước nếu nâng cao được khả năng cạnh tranh sẽ chủ động tiếp cận và sử dụng có hiệu quả dòng vốn FDI. Việc tăng cường thu hút sẽ không còn là vấn đề tranh luận gay gắt nữa mà tiến tới là một giải pháp thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển./. -90- TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Báo Tân Hoa Xã, Trung Quốc cân nhắc lợi hại sau 5 năm gia nhập WTO, số ra ngày 11/12/2006 2. Bộ Công thương (2008), Tổng hợp kết quả đầu tư và phát triển chợ đến 31/12/2007, Vụ thị trường trong nước, Hà Nội 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (3/2008), Danh mục đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phân phối bán lẻ 1996- 3/2008. 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Liên Hợp quốc (2005), Phát triển các thành phần dịch vụ, chìa khóa cho Việt Nam tăng trưởng bền vững. UNDP, Hà Nội. 5. Bộ Thương mại (2006) Dự án quy hoạch phát triển mạng lưới chợ toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến 2020, Hà Nội. 6. Bộ Thương mại (2007), Đánh giá một số tác động về kinh tế và xã hội của việc thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối của Việt Nam trong khuôn khổ gia nhập WTO, Hà Nội 7. Bộ Thương mại (2006), Đề án phát triển thương mại trong nước 2006- 2010, định hướng đến 2020, Hà Nội, 8. Bộ Thương mại và GTZ (2005), Dự đoán về môi trường pháp lý cho dịch vụ phân phối ở Việt Nam, Hà Nội. 9. Intimex (2005), Tham luận chiến lược phát triển hệ thống kinh doanh nội địa để trở thành nhà phân phối lớn của Việt Nam, Hà Nội. 10. Metro Group (2005), Hệ thống phân phối ở châu Âu và quá trình phát triển của mô hình Cash & Carry, Hà Nội. 11. GS.TS Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, NXB Lý luận chính trị xã hội. -91- 12. PGS.TS Lê Trịnh Minh Châu & các đồng tác giả (2004), Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lý luận chính trị xã hội 13. PGS. TS. Nguyễn Văn Thường, Trương Đình Chiến (1999), Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm, NXB Thống kê. 14. Philip Kotler (2003), Quản trị Marketing, NXB Thống Kê, Hà Nội. 15. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 84, Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường hàng hóa dịch vụ ở Việt Nam, tháng 6/2004. 16. Tạp chí Sài Gòn tiếp thị, số 235, Tỷ lệ lựa chọn các kênh phân phối của người tiêu dùng Việt Nam, ra ngày 24/3/2006. 17. Thái Bình Dương (2009), Những thách thức và hai vấn đề đối với hệ thống phân phối bán lẻ Việt Nam sau khi mở cửa dịch vụ phân phối, Thông tin và dự báo Kinh tế - Xã hội, trang 53 - 56. 18. Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê các năm từ 2001 - 2008, NXB Thống kê, Hà Nội. 19. TS Nguyễn Thị Nhiễu, Siêu thị - phương thức kinh doanh bán lẻ hiện đại ở Việt Nam, NXB Lao động xã hội, 2006 20. Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2006), WTO – Các văn kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới của Việt, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Viện Nghiên cứu Thương mại (2005), Đề tài tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO đến hoạt động thương mại Việt Nam. Hà Nội. 22. Viet Trade – Cục xúc tiến thương mại, Bộ Thương Mại (2005), Ngành bán lẻ nội địa và bài học từ Hàn Quốc, Hà Nội TÀI LIỆU TIẾNG ANH 23. AC Nielsen, Grocery Report, 2006 - 2009 24. AT Kearney, Growth Opportunities For Global Retailers, 2004 - 2008 -92- 25. Athukorala, Prema-chandra, (2006) Trade Policy Reforms and the Structure of Protection in Vietnam. World Economy. 26. Auffret, Philippe (2003) Trade Reform in Vietnam: Opportunities with Emerging Challenges. World Bank Policy Research Working Paper 3076. World Bank, Washington, D.C. 27. CBRE Vietnam (2008), Market trends & local opportunities for retailers and developers. 28. Jonathan Reynolds, Christine Cuthbertson, Richard Bell (2003), Retail Strategy: the view from the bridge, Butterworth – Heinemann Publisher. 29. Julian Arkell and Michael D C Johnson. SIA of WTO negotiations (2005) Final report for the Distribution services Study. Institute for Developmenet Policy and Management, University of Manchester, UK. 30. MPI (Ministry of Planning and Investment) and UNDP (United Nations Development Programme), (2005), Services Sector Development: A Key to Viet Nam's Sustainable Growth. UNDP, Hanoi. 31. OECD (1999), OECD Benchmark Definition of foreign direct investment, 3nd edition. 32. Steven Ramonas (2002), Thailand Supermarket Entry: Wal-Mart, Thailand. WEBSITE: 33. WTO, “Services sectoral classification list”, truy cập lúc 14h15’ ngày 24 tháng 1 năm 2010 từ trang web 34. Bộ Ngoại giao Việt Nam (2008), “Công tác xúc tiến đầu tư phát huy hiệu quả”, truy cập lúc 22h30’ ngày 13 tháng 3 năm 2010 từ trang web 20?b_start:int=10 -93- 35. Phạm Thanh Long (2009), “Thị trường bán lẻ không có xáo trộn sau ngày 1/1/2009”, truy cập lúc 19h15’ ngày 27 tháng 3 năm 2010 từ trang web 36. Nguyễn Minh Tuấn (2009), “Phát triển dịch vụ phân phối thời suy thoái: Cờ đã đến tay”, truy cập lúc 15h15’ này 12 tháng 3 năm 2010 từ trang web nam/phat-trien-dich-vu-phan-phoi-thoi-suy-thoai-co-da-den- tay/33370.s_42.4.html 37. Website của Metro Cash & Carry: 38. Website của Carrefour: 39. Website của Wal-mart: 40. Website của Sai Gon Co-op Mart: 41. Website của G7 Mart: 42. Website của Dairy Farm Group: 43. Website của Big C:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf5152_1651.pdf
Luận văn liên quan