Luận văn Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay

Thứ bảy : gắn cải cách hành chính với cải cách kinh tế. Tiến hành cải cách thể chế hành chính (bổ xung, sửa đổi, ban hành mới) đồng thời với cải cách kinh tế, đặc biệt là thể chế liên quan đến thị trường và doanh nghiệp. Trước mắt, tập trung cải cách thủ tục hành chính trong mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước.

pdf47 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2169 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ệ thống doanh nghiệp nhà nước là bộ phận cơ bản nhất. Tuy nhiên, điều cần phải luận kỹ ở đây là vai trò cụ thể của doanh nghiệp nhà nước trong từng giai đoạn phát triển, để trên cơ sở đó có giải pháp tổ chức quản lý đúng, vừa đảm bảo vai trò của khu vực kinh tế quan trọng này, vừa đáp ứng mối quan hệ chung với các bộ phận cấu thành khác của hệ thống kinh tế- chính trị-xã hội. Trong nền kinh tế bao gồm tổng hợp nhiều ngành nghề khác nhau, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành mà vai trò của các thành phần kinh tế đối với nó cũng khác nhau. Vậy vai trò của kinh tế nhà nước đối với các ngành cụ thể như thế nào. Chúng ta sẽ xem xét một số nội dung để làm rõ vấn đề này: _Trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội như đường sắt, vận tải biển, hàng không sân bay, cảng biển, mạng lưới điện quốc gia, các khâu quan trọng của bưu chính viễn thông, hệ thống thuỷ lợi lớn tưới tiêu cho nông nghiệp và phòng chống thiên tai, cung cấp nước sạch…thì kinh tế nhà nước phải là nòng cốt, có vai trò quyết định, tạo điều kiện mở đường cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời phát huy sức mạnh cùng tham gia, nhất là ở những khâu có khả năng thu hồi vốn tương đối nhanh và có lãi. ở các đô thị và liên tỉnh, nhà nước cần đầu tư tổ chức một bộ phận vận tải hành khách hiện đại, văn minh và an toàn dưới hình thức công ty cổ phần có vốn nhà nước chi phối làm nòng cốt cho lực lượng vận tải hành khách của các thành phần kinh tế. _Trong công nghiệp, kinh tế nhà nước phải đi đầu và làm nòng cốt cho một số ngành mà nền kinh tế nước ta nhất thiết phải có để tạo cơ sở cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như: luyện kim, cơ khí, chế tạo máy, hoá chất cơ bản, phân bón, hai thác khoáng sản có trữ lượng lớn, quý hiếm, sản xuất một số vật liệu xây dựng và linh kiện quan trọng, những ngành công nghệ cao như công nghệ điện tử, công nghệ tin học(trước mắt là phát triển phần mềm), công nghệ sinh học. Đồng thời phải quan tâm đáp ứng có chọn lọc một số nhu cầu thiết yếu của nhân dân và cả cho xuất khẩu với chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp với thị hiếu và sức mua của các tầng lớp dân cư. _Kinh tế nhà nước trong nông lâm, ngư nghiệp phải hỗ trợ kinh tế hợp tác và kinh tế hộ sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, phải làm đòn bẩy trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đưa công nghệ mới vào sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến, phát huy vai trò là trung tâm công nghiệp dịch vụ, trung tâm chuyển giao công nghệ, trung tâm văn hoá trên địa bàn. Thương nghiệp nhà nước liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khác, thu hút và hướng dẫn họ trong mạng lưới đại lý của hệ thống thương mại nông thôn, nắm đại bộ phận lực lượng buôn bán, chi phối bán lẻ những mặt hàng chủ lực, thiết yếu cho sản xuất và đời sống, điều tiết và bình ổn giá cả có lợi cho nông dân. _Thương nghiệp nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt, chi phối trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá đối với khâu xuất nhập khẩu những ngành hàng và địa bàn quan trọng, chi phối bán buôn và tổ chức dự trữ lưu thông những mặt hàng thiết yếu cho cả sản xuất và đời sống, cần phải thăm dò thị trường để nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng. _Kinh tế nhà nước giữ vai trò chi phối để đảm bảo sự tăng trưởng của đất nước trong các lĩnh vực tài chính, dịch vụ kiểm toán, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn pháp lý, thông tin thị trường. Như vậy, xét một cách tổng thể kinh tế nhà nước có vai trò rất tích cực đối với nền kinh tế, sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, khắc phục được một cách thuyết phục các nhược điểm trong nền kinh tế cũ. Đặc biệt là vai trò của kinh tế nhà nước ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn trong tiến trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước. 3.Vị trí then chốt của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù đã được thông qua các kỳ đại hội Đảng nhưng cho đến nay vẫn tồn tại không ít sự tranh cãi xung quanh vấn đề: “nên đặt vai trò chủ đạo cho hệ thống doanh nghiệp nhà nước hay là cho kinh tế nhà nước”. Bây giờ chúng ta thử phân tích xem nên quan niệm như thế nào?. Tuy hệ thống doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chính yếu tạo ra tiềm lực vật chất nhà nước, là nơi trực tiếp hình thành và nuôi dưỡng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, là lực lượng kinh tế đồng thời cũng là một công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước, nhưng bên cạnh nó còn nhiều bộ phận khác của kinh tế nhà nước như: ngân hàng nhà nước, kho bạc nhà nước, ngân sách nhà nước…mà khả năng điều tiết kinh tế vĩ mô(định hướng, thúc đẩy…) của chúng rất to lớn. Mặt khác, khi nói đến kinh tế nhà nước là nói tới tất cả các bộ phận của kinh tế nhà nước với các thuộc tính tiến bộ của thành phần kinh tế đại diện cho phương thức sản xuất mới-phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa. Là thành phần kinh tế tiến bộ có sứ mệnh tự khẳng định bản chất ưu việt của mình, kinh tế nhà nước cùng các thành phần kinh tế khác cải biến các sai lệch không phù hợp trong phương thức sản xuất cũ để mở đường cho phương thức sản xuất mới phát triển. Như vậy qua phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rằng xét vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mang tầm bao quát đầy đủ hơn so với xét vai trò chủ đạo của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Hệ thống các doanh nghiệp nhà nước có vị trí rất then chốt trong nền kinh tế, nó vừa là chủ thể tham gia kinh doanh, vừa là lực lượng kinh tế nòng cốt để nhà nước dẫn dắt, mở đường cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Như vậy, hệ thống các doanh nghiệp do nhà nước thành lập và làm chủ sở hữu vừa là các đơn vị kinh tế tự chủ, độc lập, vừa là lực lượng kinh tế vĩ mô của nhà nước. Là chủ thể kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động có hiêu quả để đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước, đảm bảo và gia tăng nguồn lực kinh tế mà nhà nước đã đầu tư cho các doanh nghiệp này. Là lực lượng kinh tế vĩ mô các doanh nghiệp nhà nước phải góp phần tạo ra môi trường, tiền đề thuận lợi cho sản xuất kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp khác, lôi cuốn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vào quỹ đạo đi lên chủ nghĩa xã hội. Vi phạm hai chức năng trên, hệ thống doanh nghiệp nhà nước chẳng những không góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước mà còn làm suy yếu lực lượng kinh tế và làm giảm vai trò quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước. Vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhà nước gắn liền với việc nó tham gia vào hoạt động kinh tế cuả nhà nước. Vai trò này thể hiện trên ba phía cạnh: kinh tế, chính trị và xã hội. Nội dung của vai trò này được thể hiện như sau:  Là công cụ chủ yếu tạo ra sức mạnh vật chất để nhà nước giữ vững sự ổn định xã hội, điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  Mở đường, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền lâu của toàn bộ nền kinh tế.  Đảm nhận các lĩnh vực hoạt động mang tính chiến lược đối với sự phát triển kinh tế xã hội, cung ứng các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, nhất là trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng( giao thông, thuỷ lợi, điện nước, thông tin liên lạc…), xã hội( giáo dục, y tế…) và an ninh quốc phòng.  Góp phần quan trọng khắc phục những khuyết điểm của cơ chế thị trường. Những lĩnh vực mới, các kết cấu hạ tầng, công trình lớn đòi hỏi vốn lớn, thu hồi chậm, rủi ro cao, lợi nhuận thấp và là những ngành cần thiết và tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, các thành phần kinh tế khác không muôn đầu tư, hoặc chưa có khả năng, điều kiện làm thì các doanh nghiệp nhà nước cần phải đi đầu, mở đường và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển.  Là lực lượng xung kích tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.  Là lực lượng đối trọng trong cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, chống sự lệ thuộc vào nước ngoài về kinh tế trong điều kiện mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới.  Thực hiện một số chính sách xã hội, như tạo việc làm cho các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, ở những khu vực khó khăn, kém phát triển như biên giới, hải đảo, miền núi…  Là lực lượng tạo nền tảng cho xã hội mới. Tóm lại, thành phần kinh tế nhà nước và hệ thống doanh nghiệp nhà nước là những phạm trù kinh tế cùng bản chất, tuy có khác nhau về cấp độ, do đó vai trò và nhiệm vụ của chúng có nội dung cơ bản giống nhau, nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau. Tách biệt rạch ròi vai trò của khu vực kinh tế nhà nước và vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhà nước là một việc khó, nhưng rất cần thiết cả trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Vai trò của khu vực kinh tế nhà nước rộng hơn và bao hàm cả vai trò quan trọng của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Nói đến vai trò chủ đạo là nối đến vai trò của cả hệ thống kinh tế nhà nước, trong đó các doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chính yếu, là phương tiện, công cụ, lực lượng đi đầu mở đường cho sự phát triển kinh tế. Việc xác định vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước và vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhà nước theo nội dung nêu trên sẽ giúp chúng ta định hướng đúng việc sắp xếp lại các tổ chức kinh tế nhà nước hiện có, đề ra cơ chế, chính sách phù hợp, biện pháp quản lý hữu hiệu đối với thành phần kinh tế nhà nước nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng, đồng thời thiết lập các chế định yểm trợ phát triển nõi chung. III. Đánh giá vai trò của kinh tế nhà nước trong thực tiễn. 1. Quan điểm đánh giá. a.Quan điểm lịch sử. Sau khi giành độc lập, thông nhất đất nước(1975), nước ta bước vào thời kỳ xây dựng khôi phục đất nước sau chiến tranh. Để khắc phục những hậu quả của chiến tranh, thấm nhuần chủ nghĩa Mác-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước ta đã đề ra cơ chế quản lý kinh tế bằng kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp; toàn bộ nền kinh tế do nhà nước quản lý, cấp phát theo chế độ tem phiếu. Cơ chế quản lý này đã tỏ ra phù hợp trong một thời gian sau đó khi mà nền kinh tế cần huy động tổng thể các nguồn lực. Nhưng đến đầu thập kỷ 80 với sự biến động có chu kỳ của nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế đóng của nước ta đã bộc lộ những yếu nhược điểm, nếu cứ tiếp diễn nền kinh tế sẽ đi vào tụt hậu. Trước tình hình đó tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI(1986) Đảng ta đã đề ra chr trương đổi mới toàn diện nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường với sự tồn tại của năm thành phần kinh tế. Trong đó kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể dần tạo nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế đa thành phần. Tại các kỳ đại hội VII, VIII, IX Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, nhìn nhận ngày một rõ nét vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mặc dù trong quá trình đổi mới kinh tế nhà nước phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng nhìn chung tỷ trọng của kinh tế nhà nước luôn chiếm một phần lớn trong cơ cấu GDP. Điều này được thể hiện thông qua bảng số liệu sau: Năm 1986 1990 1995 2000 Kinh tế nhà nước. 39,7 31,8 40,2 39,0 Ngoài nhà nước 60,3 68,2 53,5 43,7 Đầu tư nước ngoài 0,0 0,0 6,3 13,3 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế. (% theo giá hiện hành) NXB Thống Kê-Hà Nội 2001. Do kinh tế nhà nước nắm giữ các vị trí then chốt quan trọng của nền kinh tế, đòi hỏi cấp nhà nước cần phải có chính sách hợp lý để giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đối với nền kinh tế. b. Quan điểm toàn diện. Để hiểu rõ vai trò của kinh tế nhà nước cần phải có quan điểm toàn diện. Đó là phải thấy được cả các mặt tích cực, các mặt tiêu cực, các mặt đã đạt được và các mặt chưa đạt được, các mặt quan trọng và các mặt thứ yếu…để từ đó có biện pháp khắc phục những mặt còn tồn tại, phát huy hơn nữa các mặt đã đạt được. Mặt khác, trong đánh giá, không chỉ chú ý đến mặt hiệu quả kinh tế mà phải xem xét cả hiệu quả xã hội. Quan điểm phát triển kinh tế của Đảng ta là: “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Đó chính là định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế, đòi hỏi nhà nước cần phải xem xét kĩ tác động qua lại giữa các thành phần kinh tế một cách toàn diện để từ đó mới xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước đã đề ra. 2.Những mặt tích cực đã đạt được. Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khoá IX đã khẳng định: “Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn gay gắt, doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, đứng vứng và không ngừng phát triển, góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cụ thể như sau:  Thứ nhất: kinh tế nhà nước, cụ thể là các doanh nghiệp nhà nước đã chi phối được các ngành, lĩnh vực then chốt và ssản phẩm thiết yếu của nền kinh tế, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng thế và lực của đất nước.  Thứ hai: kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội, trong tổng thu ngân sách, kin ngạch xuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài. Đây là cố gắng to lớn của hệ thống các doanh nghiệp nhà nước và một số bộ phận khác. Năm 2000, các doanh nghiệp nhà nước đã đóng góp 39,9% tổng sản phẩm, 39,2% tổng thu ngân sách và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu; các doanh nghiệp đã chiếm 98% các dự án liên doanh với nước ngoài. Từ năm 1991 đến 2000, các doanh nghiệp nhà nước đã nộp thuế thu nhập gần 64 nghìn tỷ đồng.  Thứ ba: kinh tế nhà nước đã khẳng định vai trò chủ đạo của mình thông qua việc thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và bảo đảm đưa nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh.  Thứ tư: mặc dù có sự thu gọn đầu mối đáng kể hệ thống doanh nghiệp nhưng tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế nhà nước vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân và đạt bình quan trong 10 năm 11%/năm(1991-2000).  Thứ năm, kinh tế nhà nước ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường, năng lực sản xuất tiếp tục tăng, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nâng lên, đời sống người lao động từng bước được cải thiện. Vốn tư tích luỹ bố sung từ chỗ không đáng kể, đên snay chiếm 27,8% tổng vốn sản xuất kinh doanh.  Thứ sáu: sự chiếm lĩnh của kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, đầu tư mới, công nghiệp lớn và liên doanh, hợp tác với nước ngoài đã đóng góp rất lớn vào thành công của Việt Nam trong kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái, đối phó với ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới, cũng như ổn định và cải thiện đời sống cho người dân.  Thứ bảy: nhờ có đầu tư, tín dụng nhà nước nên nhiều vùng núi, vùng xa và đồng bào khó khăn nước ta đã được tạo điều kiện mở mang ngành nghề, tìm kiếm thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bố lại dân cư theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, hình thành các trung tâm văn hoá mới…. Nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao, được phong tặng đơn vị anh hùng và là tấm gương cho các thành phần kinh tế khác.  Thứ tám: kinh tế nhà nước đã có sự đổi mới tích cực trong quá trình đổi mới phương thức quản lý doanh nghiệp nhà nước theo hướng cổ phần hoá. Tính đến tháng 11-2001 cả nước đã cổ phần hoá được trên 700 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, bằng khoảng 13% tổng số doanh nghiệp hiện có. Theo báo cáo của các doanh nghiệp cổ phần hoá có thời gian hoạt động trên một năm, đại đa số sản xuất phát triển. Tính chung doanh thu tăng 1,4 lần, lợi nhuân tăng 2 lần, nộp ngân sách tăng 1,2 lần, thu nhập của người lao động tăng 22%, số lượng công nhân viên tăng 5,1%. Như vậy, nhìn chung kinh tế nhà nước được đánh giá cao ở giác độ làm nền tảng cho công cuộc chuyển đổi thành công ở Việt Nam. Vậy nguyên nhân nào dẫn tới thành tựu trên? Tại nghị quyết trung ương ba Ban chấp hành trung ương khoá IX đã khẳng định: “Đạt được những kết quả trên là nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và nhà nước; sự chỉ đạo thực hiện kiên trì của chính phủ và các cấp, các ngành; sự cố gắng phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên của các doanh nghiệp nhà nước, của đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động trong cơ chế mới. 3.Những mặt yếu kém còn hạn chế. Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, so với nhiệm vụ mà kinh tế nhà nước phải gánh vác thì hiện tại ở khu vực này vẫn còn nhiều yếu kém: Thứ nhất: năng lực cạnh tranh, hiệu quả chung cua kinh tếnhà nước chưa cao và gần đây có xu hướng giảm mạnh. Quy mô của các doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ, tình trạng không hiệu quả của số lớn doanh nghiệp nhà nước đã làm thất thoát mất vốn nhà nước, mặt khác tạo ra ấn tượng không tốt về khu vực này.  Đến nay cả nước có 5.655 doanh nghiệp nhà nước với tổng số vốn trên 126.000 tỷ đồng, số doanh nghiệp có tổng vốn dưới 5 tỷ chiếm 59,8%(trong đó dưới 1 tỷ chiếm 18,2%), số doanh nghiệp có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ chiếm 15,2%, số doanh ngiệp có vốn trên 10 tỷ chiếm 25%.  Năm 1998, khi phân loại hiệu quả doanh nghiệp, có 40% doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, 40% doanh nghiệp khi lỗ khi lãi, 20% lỗ liên tục không có hiệu quả.  Năm 2000,số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cũng chỉ trên 40%, số doanh nghiệp khi lỗ khi lãi còn 31%, số doanh nghiệp lỗ liên tục chiếm 29%.  Sức cạnh tranh của hàng hoá rất yếu, có những mặt hàng như phân bón, xi măng, sắt thép, kính xây dựng…giá sản xuất cao hơn giá nhập khẩu từ 10-20%, cá biệt có mặt hàng giá sản xuất cao hơn giá nhập khẩu 40%, đường thô giá sản xuất cao hơn giá nhập khẩu tới 70%. Thứ hai: cơ cấu kinh tế nhà nước còn nhiều bất hợp lý, chưa thể hiện rõ là hạt nhân của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  Mặc dù khu vực kinh tế nhà nước và hệ thống doanh nghiệp nhà nước được giao đảm đương vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta, nhưng trên thực tế, cho đến nay cơ cấu kinh tế nhà nước, cơ chế vận hành nền kinh tế, vấn đề thể chế hoá sở hữu nhà nước như thế nào để nó đam lại hiệu quả hơn hẳn các thành phần kinh tế khác vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ, phạm vi hoạt động của kinh tế nhà nước thế nào vẫn còn gây tranh luận, việc xác định vai trò vĩ mô của kinh tế nhà nước chưa đủ thuyết phục, vẫn có sự đồng nhất giữa kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Chính điều đó đã làm cho doanh nghiệp nhà nước rất lúng túng, chậm chạp và chưa phát huy đầy đủ vai trò của nó với tư cách là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.  Do vẫn chưa xác định được cụ thể những ngành, lĩnh vực mũi nhọn mà các doanh nghiệp nhà nước cần nắm giữ và ở những lĩnh vực nào doanh nghiệp nhà nước cần phải đi trước, thực hiện trước những việc xã hội đang cần để sau đó chuyển giao cho khu vực tư nhân nên các doanh nghiệp nhà nước phân bố dàn trải, không chỉ ở các ngành công ích mà còn ở một số lĩnh vực kinh doanh khác. Công nghệ trong khu vực kinh tế nhà nước đa phần lạc hậu, tốc độ đổi mới chậm, tình trạng thiếu vốn, trình độ tổ chức quản lý yếu kém, chưa quen với hoạt dộng kinh tế theo kiểu mới phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước.  Theo thông báo của bộ khoa học công nghệ và môi trường, qua khảo sát các thiết bị dây truyền sản xuất trong doanh nghiệp nhà nước đã đưa ra kết luận: “công nghệ của chúng ta lạc hậu so với các nước từ 10 đến 20 năm”, mà congnghệ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh.  Cần lưu ý thêm yêu cầu về phẩm chất của cán bộ quản lý trong khu vực kinh tế nhà nước. Một mặt đòi hỏi cán bộ ở đây phải là những người trung thành với lợi ích của nhà nước, do đó phải có cơ chế đào tạo, bổ nhiệm thích hợp. Mặt khác, những cán bộ này lại là những người có quyền lực, luôn là tiêu điểm tấn công của các thế lực kinh tế không lành mạnh. Do vậy ngoài trang bị tinh thần, đạo đức, ý chí cũng cần một chế độ chu cấp xứng đáng để họ toàn tâm toàn ý lo cho sự nghiệp chung. Thứ tư: tình trạng khá biệt lập của khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế dân doanh. Đến nay vẫn chủ yếu tôn vinh, ưu ái cho khu vực kinh tế nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Hơn nữa còn tình trạng độc quyền và đặc quyền trong một số doanh nghiệp nhà nước. Ngay cả tín dụng đầu tư cũng không cân xứng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế dân doanh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm yếu đi sức mạnh và vai trò của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, ngăn cản quá trình bình đẳng trong nền kinh tế nhiều thành phần và đóng góp của các thành phần kinh tế vào sự phát triển chung của đất nước….Việc bảo hộ các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ dẫn đến sự phân bổ nguồn lực sai và lãng phí. Chính sách bảo hộ không chỉ tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế của sản xuất trong nước mà còn đưa ra những tín hiệu sai lệch đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài đổ xô tìm kiếm siêu lợi nhuận ở những ngành được bảo hộ cao này, góp phần vào tình trạng dư cung, ứ đọng sản phẩm, thiểu phát. Mặt khác, trong điều kiện nguồn lực Việt Nam có hạn, việc bảo hộ các ngành sản xuất công nghiệp kém hiệu quả sẽ tác động xấu, trước hết là sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân. Thứ năm: trong quản lý khu vực kinh tế nhà nước, sự trở lại của cơ chế cũ ngày càng rõ. Nhà nước chưa thúc đẩy sự phát triển đồng bộ các loại thị trường, chưa điều tiết thị trường và hướng dẫn doanh nghiệp với công cụ kinh tế là chính. Những năm gần đây, cùng với sự tập trung nguồn tài chính trong tay nhà nước đã khôi phục cơ chế “xin- cho” với vốn ngân sách và tín dụng. Từ đó kéo theo bất công trong phân phối và nạn tham nhũng càng lộng hành. Cung với cơ chế “xin-cho” về tài chính, cơ chế xử lý tổ chức và nhân sự, tiền lương hầu như là cơ chế cũ: tổ chức cán bộ kinh doanh do trên sắp đặt, đánh giá, xét xử. Chính điều này đã làm cho hiện tượng kết nối bè phái trong bộ máy hành chính gia tăng, trong đó các doanh nghiệp nhà nước đều phải lo quan hệ tốt với cấp trên và nạn chạy vạy lo lót cơ quan và viên chức cấp trên, trước hết là cấp trên chủ quản đã thành việc làm bình thường mà hầu như mọi chủ doanh nghiệp đều phải làm. Mặt khác, cấp trên cấp vốn nhưng không có quy định rõ ràng buộc trách nhiệm cho đồng vốn chảy vào đúng mục tiêu, đây là cơ hội kiếm lời do tham những của một số cá nhân khi tiếp nhận đồng vốn để thực hiện mục tiêu, góp phân fkhông nhỏ vào tình trạng gây thất thoát nguồn vốn, làm cho đồng vốn kém hiệu quả về mặt kinh tế-chính trị-xã hội. Thứ sáu: hệ thống ngân hàng tài chính là lĩnh vực quan trọng nhất của kinh tế nhà nước vẫn còn lạc hậu so với yêu cầu đổi mới cũng như so với các nước trong khu vực và đang tiềm ẩn nhiều thách thức.  Hệ thống ngân hàng tài chính của Việt Nam tuy đã có sự đổi mới nhanh về hình thức theo hướng thị trường, nhưng thành tích chống lạm phát do tổng thể cuộc đổi mới đem lại đã che giấu những yếu kém. Cùng với tình hình đó, bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế chưa có sự đổi mới, cải cách nào đáng kể, phương pháp quản lý của các cơ quan quản lý kinh tế vẫn còn thiên về kiểm soát và chi phối chặt hơn là nuôi dưỡng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, thậm chí còn chưa tìm cách khởi động cuộc cải cách hành chính. Các chính sách nhiều khi không nhất quán, đặc biệt còn thiếu chính sách tài chính dài hạn.  Khi hệ thống tài chính ngân hàng còn nắm quyền định đoạt và đánh giá tài sản công, quyền thu hồi và cấp vốn; khi bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế còn nắm quá nhiều quyền cho phép, xét duyệt, thu phát, xét…thì doanh nghiệp nhà nước không thể tự chủ, tự chịu trách nhiệm và đương nhiên các doanh nghiệp này vẫn hoạt động trong vòng tay của tài chính, ngân hàng và bộ máy nhà nước. Điều này có thể tốt, cũng có thể xấu khi họ liên minh bớt xén của công. Chính thực tế này đã cản trở quá trình đổi mới kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay.  Bên cạnh đó, chúng ta gặp một kho khăn rất lớn, đó là sự kém phát triển của chính hệ thống an ninh xã hội, sự kém phát triển ngay từ trong cơ chế, chính sách. Hệ quả của nó là nguồn lực bên trong bị kìm hãm và lãng phí, các doanh nghiệp yếu kém tham những, hối lộ, móc nối với các quan chức nhà nước và ngân hàng nhà nước. Như vậy, xoá bỏ cơ chế cũ về quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp, trong đó sự đổi mới về hệ thông kế hoạch hoá, tài chính nhà nước và ngân hàng nhà nước là rất quan trọng. Tóm lại, khu vực kinh tế nhà nước cùng với bộ máy quản ký nhà nước về kinh tế đang là nơi khu trú những cái còn lại của cơ chế cũ. Trong điều kiện thị trường sơ khai, sự tồn tại của cơ chế cũ như vậy sẽ làm tăng tham nhũng tới mức độ nguy hiểm. Thị trường, cơ bản chưa được tạo lập đủ để làm chức năng đánh giá, định giá, kích thích, huy động, cân đối, điều tiết như vốn có của nó. Tính kém hiệu quả đó làm cho khu vực kinh tế nhà nước chưa thực sự đóng vai trò chủ đạo, chưa đủ sức dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo đúng mục tiêu của Đảng và Nhà nước. Đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước là khâu khó khăn, phức tạp nhất trong sự nghiệp đổi mới kinh tế, là một thử thách lớn đối với chúng ta. Hiện nay nhiệm vụ thúc đẩy cuộc đổi mới đã trở nên bức xúc như một thách thức mất còn với nhà nước: hoặc sớm tạo được sự nhất quán về chính sách và cơ chế theo quan điểm mới, thúc đẩy cuộc đổi mới mở đường tạo lập hệ thống thị trường với đội quân các loại hình doanh nghiệp hoạt động ngày càng lành mạnh, đồng hành với một nhà nước ngày càng vững mạnh. Ngược lại, tiếp tục giành quyền đặc lợi cho khu vực kinh tế nhà nước, tiếp tục sa lầy vào cơ chế tạp trung, quan liêu, tham nhũng, kìm hãm các nguồn lực nhà nước, tạo ra thị trường tự phát, ngầm và rối loạn. Tất cả nguy cơ đều nằm trong khu vực nhà nước, mọi chìa khoá mở lối ra cũng nằm trong tay nhà nước, sự nhất quán về chính sách và phù hợp với thực tiễn sẽ tạo ra khả năng làm mạnh khu vực kinh tế nhà nước và hệ thống lãnh đạo quản lý nền kinh tế nước ta hiện nay. Như vậy, nếu không giải quyết thoả đáng các vấn đề nêu trên đối với khu vực kinh tế nhà nước thì chẳng những nó không thể đảm đương được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn là trở ngại lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, chủ dộng nhội nhập quốc tế và khu vực. Tại hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương khoá IX cũng đã chỉ rõ những mặt hạn chế, yếu kém của kinh tế nhà nước, có nguyên nhân khách quan cũng có nguyên nhân chủ quan:  Một là chưa có thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước,về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước có nhiều vấn đề chưa rõ ràng, còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận.  Hai là quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém, vướng mắc, cải cách hành chính chậm, chưa phân định rõ ràng các quyền cơ bản cho doanh nghiệp.  Ba là cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chưa tạo được động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ và người lao động trong doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.  Bốn là sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của chính phủ đối với việc sửa đổi và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nhiệm vụ quan trọng và phức tạp này.  Năm là tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng tại doanh nghiệp nhà nước chậm được đổi mới. IV.Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ. 1.Quan điểm chỉ đạo: Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định tronh việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Doanh nghiệp nhà nước phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế. Việc xem xét, đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước phải có quan điểm toàn diện về cả kinh tế, chính trị, xã hội. Để kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đòi hỏi các cấp quản lý cần phải đánh giá một cách toàn diện trên cơ sở thực tiễn, cần phải thấy được các mặt tích cực và các mặt còn yếu kém, để từ đó tiếp thu, bổ sung, sửa đổi, đổi mới các mặt còn yếu kém, phát huy hơn nữa các mặt đã đạt được. Kiên quyết điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế nhà nước cho hợp lý, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, chiếm thị phần đủ lớn đối với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu, không nhất thiết phải giữ tỷ trọng trong tất cả các ngành, lĩnh vực, sản phẩm của nền kinh tế. Đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải có qui mô lớn, công nghệ tiên tiến, một bộ phận cần thiết có qui mô nhỏ để kinh doanh những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chuyển doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế. Do đó khi đưa ra mộ quyết định, chính sách nào đó cần phải xem xét mối tác động qua lại lẫn nhau giữa các thành phần kinh tế. Không nên quá coi trọng khu vực kinh tế nhà nước mà buông lỏng khu vực kinh tế dân doanh. Nhưng cũng không được xem nhẹ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vì mục tiêu của chúng ta là định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ cấp bách và cũng là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài với nhiều khó khăn, phức tạp, mới mẻ. Cần phải có một cơ chế quản lý phù hợp để doanh nghiệp nhà nước kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật. Tuỳ theo từng ngành,từng lĩnh vực mà có chính sách bảo hộ, độc quyền nhà nước, xoá bao cấp…cho phù hợp. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp, các ngành đối với việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng, phát huy quyền làm chủ của người lao động và vai trò của các đoàn thể quần chúng tại doanh nghiệp. Một đòi hỏi nữa với các cấp lãnh đạo đó là việc ra và thực hiện các chính sách phải được nhìn nhận thông qua thực tiễn, phù hợp với tình hình đất nước, không được có thái độ chủ quan duy ý chí, dập khuôn máy móc…Đối với những vấn đề đã rõ, đã có nghị quyết thì phải khẩn trương, kiên quyết triển khai thực hiện, những vấn đề chưa đủ rõ thì phải tổ chức thí điểm, vừa làm vừa rút ra kinh nghiệm, kịp thời uốn nắn các sai sót, lệch lạc để có bước đi thích hợp, tích cực và vững chắc. 2.Mục tiêu 10 năm 2001 – 2010. Sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng–an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân và kinh tế nhà nước thực sự thể hiện được vai trò chủ đạo của mình, dẫn dắt, hướng dẫn, gương mẫu cho các thành phần kinh tế khác nhìn vào và định hướng chúng theo mục tiêu của Đảng và nhà nước trong chiến lược lâu dài. Thiết lập hệ thống ngân hàng, tài chính một cách gọn nhẹ, chặt chẽ, tạo điều kiện tối đa cho huy động các nguồn lực phục vụ sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Mặt khác, nó góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ổn định tỷ giá hối đoái, kiềm chế lạm phát một cách hiệu quả, tạo bước đi vững chắc cho nền kinh tế phát triển. 3.Nhiêm vụ 5 năm 2001 – 2005 . Hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiện có, cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nước không cần giữ 10% vốn, sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, giao bán, khoán kinh doanh, cho thuê các doanh nghiệp vừa và nhỏ không cổ phần hoá được và nhà nước không cần nắm giữ. Thực hiện chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn đối với doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn. Sửa đổi, bổ xung cơ chế, chính sách, hình thành khung pháp lý đồng bộ bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới và lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp, giải quyết cơ bản nợ không có khả năng thanh toán, lao động dôi dư và có giải pháp ngăn chặn các tình trạng trên tái phát. Đổi mới và nâng cao hiệu quả của các tổng công ty nhà nước, xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh. Đầu tư phát triển và thành lập mới doanh nghiệp nhà nước cần thiết và có đủ điều kiện ở những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng. Đổi mới và hiện đại hóa một bước quan trọng công nghệ và quản lý của đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước. Cải tổ lại bộ máy hành chính, tạo lập sự đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng , tài chính giúp cho quá trình tái sản xuất xã hội được thông suốt, góp phần ổn định kinh tế-chính trị xã hội. V.Phương hướng – giải pháp điều chỉnh, tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. 1.Phương hướng chung. Vị trí , vai trò, sự tác động qua lại, sự vận động của các thành phần kinh tế như thế nào để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường nước ta là vấn đề bức xúc trong thực tiễn và trăn trở trong lý luận. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, là quan niệm nhất quán của Đảng. Nếu như cương lĩnh 1991 hoạch định rằng kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng, Đại hội VIII nhận thức kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng, thì Đại hội IX có bước phát triển khi chỉ ra rằng : kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Nói như vâỵ, một mặt khẳng định ngay từ bây giờ kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể đã phải giữ vai trò nền tảng để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, mặt khác phản ánh tình trạng còn bất cập của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, động thời đòi hỏi phấn đấu củng cố vững chắc nền tảng đó. Với nền tảng ngày càng vững chắc như thế, thì một quan niệm đặc biệt quan trọng của Đại hội IX rất được lòng dân, là tất cả các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Hiện nay trên giới, xu hướng toàn cầu hoá, mở cửa nền kinh tế ngày càng diễn ra nhanh chóng. Một mặt nó tạo điều kiện cho tất cả các quốc gia (trong đó có Việt Nam) có thể hội nhập vào kinh tế thế giới. Nhưng đa số các quốc gia bây giờ đều theo CNTB, nước ta theo CNXH, đó là vấn đề rất bất cập, đòi hỏi Đảng và nhà nước ta cần phải xác định rõ vấn đề là “hội nhập chứ không hoà tan”. Điều này đặt cho kinh tế nhà nước một gánh nặng tiềm ẩn rất nhiều thách thức. Mặt khác cùng với quá trình hội nhập, mở cửa thì các vấn đề xã hội theo nó mà nảy sinh, rất có thể làm lệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhà nước ta đã chọn. Để điều chỉnh, giải quyết tốt các vấn đề đó thì kinh tế nhà nước sẽ là một công cụ sắc bén để nhà nước thể chế các chính sách và thông qua nó mà định hướng cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế khác phải vào đúng mục tiêu phát triển của đất nước. Như vậy, xét tính chiến lược, chúng ta cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nứơc để nó thực sự trở thành một lực lượng vật chất mạnh để nhà nước thực hiện các mục tiêu đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập kinh tế thế giới của nước ta. Đặc biệt nó luôn phải định hướng đi lên xã hội chủ nghiã, một xã hội mà đại đa số nhân dân lao động trên thế giới mong đợi. 2.Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trên cơ sở lý luận về kinh tế nhà nước và vai trò của nó hiện nay, để vừa xác lập và nâng cao tính chủ đạo, vừa thúc đẩy được tất cả các thành phần kinh tế khác phát triển theo đúng đường lối của Đảng và nhà nước, chúng ta cần thực hiện khẩn trương và đồng bộ các giải pháp cơ bản sau đây: Thứ nhất: phải nhận thức đúng đắn về kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đối với nước ta hiện nay và nhiều chục năm nữa cần đồng thời khuyến khích phát triển bốn khu vực kinh tế dựa trên các hình thức sở hữu cơ bản: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản, kinh tế có vốn đầu nước ngoài. Các hình thành phần kinh tế được xác định trên các hình thức sở hữu đặc thù. Các hình thức sở hữu cơ bản đó đan xen hỗn hợp trong nhiều hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi hoạt động kinh tế do nhà nước và nhân dân đầu tư, kinh doanh theo pháp luật đều được xem là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đều phải được coi trọng. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy mọi tiềm năng của đất nước, không phân chia máy móc thành các khu vực hay thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa và phi xã hội chủ nghĩa, không định kiến quy một bộ phận kinh doanh của nhân dân là kinh tế tư bản chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, nhưng việc thực hiện phải luôn xuất phát từ yêu cầu thực tế của sản xuất và đời sống. Khuyến khích đầu tư, chuyển giao công nghệ tiên tiến và tạo điều kiện đối với kinh tế thuộc sở hữu nước ngoài. Cần có sự phân định về khái niệm giữa chế độ sở hữu và hình thức thực hiện chế độ sở hữu. Mỗi hình thức sở hữu được thực hiện dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau và thường đan xen, hỗn hợp với nhau. Cần tìm tòi các hình thức để thực hiện hiệu quả các hình thức sở hữu: _Sở hữu nhà nước có thể tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối hoặc cổ phần không chi phối . _Sở hữu tư nhân có thể tồn tại dưới hình thức 100% vốn của một tư nhân, công ty cổ phần hoặc công ty hợp doanh của các tư nhân hoặc công ty có vốn nhà nước tham gia. _Sở hữu tập thể tồn tại chủ yếu trong các hợp tác xã, bao gồm là vốn góp cổ phần của các xã viên, các quỹ tích luỹ của hợp tác xã và sở hữu về tư liệu sản xuất của các hộ xã viên. _Trong một đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân cũng có thể có nhiều loại hình sở hữu: trong một công ty có thể là hỗn hợp sở hữu nhà nước, sở hữu của cá nhân người lao động, sở hữu của tư nhân trong và ngoài nước. Tìm tòi hình thức thực hiện chế độ sở hữuđể thu hút, tập hợp và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Đối với sở hữu, các hình thức thực hiện đa dạng phù hợp chính là để phát huy được vai trò chủ đạo,theo nghĩa chi phối, dẫn dắt của kinh tế nhà nước. Chế độ sở hữu gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ trương kinh tế nhà nước là chủ đạo,kinh tế nhà nước và tập thể dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Mức độ chủ đạo, định hướng của kinh tế nhà nước là đưa nền kinh tế đạt được các tiêu chí : dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Về lực lượng sản xuất đó là: khai thác tối đa mọi nguồn lực, nội lực là quyết định, thu hút và sử dụng có hiệu quả nước ngoài, phát triển bền vững bảo vệ môi trường. Về quan hệ sản xuất đó là : phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Về tiến bộ và công bằng xã hội đó là : đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phát huy tương thân tưong ái trong xã hội. Thứ hai : đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường. Tạo môi trường kinh tế vĩ mô thông thoáng, thuận lợi để khu vực ngoài quốc doanh có điều kiện phát triển nhằm xây dựng một nền kinh tế đa thành phần, mang tính cạnh tranh, bình đẳng giữa khu vực quốc doanh và khu vực dân doanh. Kinh tế nhà nước là công cụ sắc bén để nhà nước định hướng các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu mà đất nước đã chọn. Thứ ba : cải cách hệ thống ngân hàng, tài chính. Từng bước hình thành thị trường tài chính với các thể chế, chế tài hợp lý, nhằm đạt môi trường kinh doanh của mọi loại hình doanh nghiệp dưới sự điều tiết và kiểm soát có hiệu lực của nhà nước về mặt tài chính. Nhanh chóng cải cách hệ thống ngân hàng, nhất là việc phân biệt ngân hàng thương mại của nhà nước với ngân hàng nhà nước, sớm tạo ra hệ thống ngân hàng thương mại cạnh tranh từ đó tạo ra lãi xuất thị trường mà nhà nước có thể điều tiết chứ không làm thay. Về tài chính,phải sớm cải cách hệ thống thuế đối doanh nghiệp, cải cách chế độ kiểm toán, kế toán… tạo khả năng cho Nhà nước và xã hội kiểm soát được tài chính của tất cả các loại doanh nghiệp. Thứ tư : sắp xếp và đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước. Trong việc sắp xếp loài này, điều quan trọng là phải xác định rõ nhiệm vụ, những lĩnh vực, qui mô và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, qua đó thực hiện sự phân công lĩnh vực hoạt động giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước phải góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước theo yêu cầu công nghiệp , hiện đại hoá đất nước. Cụ thể là, việc sắp xếp lại các doanh nghiệp phải góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Từ đó, doanh nghiệp nhà nước cùng với các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế khác tạo ra tiềm lực kinh tế nhà nước đủ mạnh để định hướng xã hội chủ nghĩa . Thứ năm : nâng cao phẩm chất và năng lực quản lý kinh tế của các cán bộ lãnh đạo chủ chốt hoạt động trong khu vực kinh tế nhà nứơc. Phải xây dựng đội ngũ giám đốc kinh doanh và quản trị nhà nghề, hoạt động theo chế độ hợp đồng làm thuê theo luật, tức là phải tạo lập thị trường giám đốc trong thị trường lao động. Cán bộ quản lý kinh tế phải được sử dụng chuyên sâu, đồng thời phải tạo lập các cơ sở vật chất và kỹ thuật cần thiết cho hoạt động của họ, đặc biệt là hệ thống đảm bảo thông tin và chế độ kế toán thống kê chuẩn mực, có tính khoa học. Thứ sáu : xây dựng cơ chế hợp tác có hiệu quả giữa các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp khu vực dân doanh. Tổ chức các hiệp hội kinh doanh, hợp đồng gia công, thầu phụ và các hình thức hỗ trợ công nghệ, đào tạo… trong những lĩnh vực hoạt động có liên quan giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Mở rộng việc hợp doanh, liên doanh giữa các doanh nghiệp nhà nước với các thành phần kinh tế khác nhằm nâng cao tỷ trọng thành phần “tư bản nhà nước” trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Thứ bảy : gắn cải cách hành chính với cải cách kinh tế. Tiến hành cải cách thể chế hành chính (bổ xung, sửa đổi, ban hành mới) đồng thời với cải cách kinh tế, đặc biệt là thể chế liên quan đến thị trường và doanh nghiệp. Trước mắt, tập trung cải cách thủ tục hành chính trong mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước. Thứ tám : nhanh chóng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho xã hội, vừa dựa trên nền kinh tế thị trường, vừa bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước. Một mặt phân định rõ các quan hệ giao dịch dân sự với quan hệ hành chính và hình sự, trên cơ sở đó đưa ra các chế tài dân sự vào vận hành trong đời sống, đặc biệt là các toà án giải quyết tranh chấp kinh tế. Mặt khác, tách biệt một cách hợp lý vai trò của nhà nước với tư cách chủ thể kinh tế, với nhà nước là cơ quan thay mặt xã hội đưa ra pháp luật và tiến hành giám sát việc thực thi theo pháp luật. Thứ chín : xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội, làm tốt công tác an sinh xã hội. Đó là điều kiện quan trọng để tiến hành thuận lợi cải cách doanh nghiệp nhà nước. Bố trí, sắp xếp thoả đáng người lao động nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ và giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện tất các chính sách xã hội,đặc biệt quan tâm đến các đối tượng người có công đối với đất nước. Thứ mười : tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu mà các thành phần kinh tế khác không đủ điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh như : kết cấu hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi, bảo hiểm… Kết luận Tính chất nhiều thành phần kinh tế là nét đặc trưng có tính quy luật của nền knh tế quá độ nên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quá độ luôn luôn vận động, phát triển trong mối quan hệ tác động qua lại,đan xen lẫn nhau trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, trên cơ sở vừa hợp tác, bổ xung cho nhau, vừa cạnh tranh với nhau và bình đẳng trước pháp luật. Tuy nhiên các thành phần kinh tế không phát triển theo mọi chiều đều được, như thế sẽ tạo ra một nền kinh tế hỗn độn mà chúng phải được định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó kinh tế nhà nước sẽ giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Một mặt kinh tế nhà nước được hình thành dựa trên hình thức sở hữu toàn dân, đại diện cho quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mặt khác, kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất, công cụ sắc bén để nhà nước thực hiện các chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình. Kinh tế nhà nước được coi là gương mẫu, làm nhiệm vụ hướng dẫn, tạo điều kiện và định hướng cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo đúng mục tiêu mà Đảng và nhà nước đã đề ra. Trong xu thế phát triển hiện nay, nền kinh tế thế giới chứa đầy biến động, quá trình hội nhập đã mang theo nó rất nhiều bất cập, đòi hỏi Đảng và nhà nước ta phải luôn luôn đổi mới tư duy lý luận đồng thời nhìn nhận thực tiễn để ngày một nâng cao thêm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nuớc trong cơ cấu kinh tế đa thành phần để nó xứng đáng là con chim đầu đàn, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước ta đã xác định. Mục lục Lời mở đầu Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay Tính tất yếu tồn tại thành phần kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân hiện nay ở nước ta Đánh giá vai trò của kinh tế nhà nước trong thực tiễn Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ Phương hướng – giải pháp điều chỉnh, tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước Tài liệu tham khảo 1.Giáo trình kinh tế chính trị-Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân NXB Giáo Dục 2.Văn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX. 3.Nghị quyết hội nghị lần thứ ba ban chấp hành TƯ khoá IX. 4. Lênin toàn tập-tập 39 (trang 309-321) Kinh tế và chính trị trong thời kỳ đại chuyên chính vô sản. 5.Lênin. Bàn về thuế-lương thực. 6.Nông Đức Mạnh. Việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới hiệu quả cao để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vai trò chủ dạo trong nền kinh tế nhiều thành phần. Tạp trí cộng sản số 13 (tháng 9/2001). 7.Ngô Quang Minh. Kinh tế nhà nước và quá trình đổi mới doanh ngiệp nhà nước. NXB chính trị Quốc gia. 8.Trần Xuân Giá. Về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 và kế hoạch 5 năm 2001-2005 của nước ta. 9.Nguyễn Tấn Hùng. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: mâu thuẫn và phương hướng giải quyết. Nghiên cứu lý luận (số 8/2000). 10.Phạm Thị Quý. Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam trong 15 năm qua: thành tựu và kinh nghiệm. Tạp chí kinh tế và phát triển. 11.Mai Ngọc Cường. Về vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế doanh nghiệp nhà nước. Tạp chí kinh tế và phát triển. 12.Đỗ Đức Bình. Hoàn thiện cơ cấu các thành phần kinh tế ở nước ta. Tạp chí kinh tế và phát triển. 13.Khu vực kinh tế nhà nước trong hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô. Những vấn đề kinh tế thế giới (số 2/2002). 14.Nguyễn Ngọc Quang. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. Nghiên cứu kinh tế (số 225/1996). 15.Những vấn đề chủ yếu trong văn kiện đại hội IX của Đảng. Tạp chí cộng sản số 8 (tháng 3/2002). 16.Tiếp tục đẩy nhanh, mạnh cổ phần hoá doanhnghiệp nhà nước. Tạp chí cộng sản số 1( tháng 1/2002). 17.Vũ Văn Phúc. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần. 18.Đoàn Duy Thành. Để doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò then chốt trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tạp chí cộng sản số 3 (tháng 1/2002). 19.Lê Xuân. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế nước ta. Tạp chí cộng sản số 14 (tháng 3/2002).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ta hiện nay.pdf