Luận văn Văn hóa kinh doanh ở Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường

Công ty PHS Hà Nội hoạt động ở một trong những thị trường có nhu cầu sách ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Thị trường sách Hà Nội luôn luôn tăng trưởng không ngừng tạo điều kiện quyết định cho hoạt động kinh doanh sách tăng trưởng. Hà Nội là trung tâm tập trung hầu hết các nhà xuất bản của cả nước (nơi cho ra đời các XBP, mặt hàng chủ yếu của PHS). Vì vậy, đây cũng là mạng lưới trung tâm điều phối cung cấp sách cho phạm vi toàn quốc hình thành một mạng lưới tiêu thụ sách rộng lớn. Nhờ vậy, Công ty PHS Hà Nội nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh XBP khác trên địa bàn nói chung có được môi trường thuận lợi để tham gia kinh doanh XBP trên thị trường.

pdf123 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2358 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Văn hóa kinh doanh ở Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lại hạnh phúc cho bản thân, gia đình và xã hội. Hạnh phúc ở đây bao gồm giá trị đạo đức, văn hóa, kinh tế, được xã hội tôn trọng và thừa nhận. Để xây dựng văn hóa kinh doanh văn hóa của công ty cần xây dựng phong cách nề nếp, tổ chức chặt chẽ thống nhất trong các thành viên của toàn công ty, tạo bầu không khí làm việc hăng say hào hứng vì mục tiêu chung của toàn công ty. Trước hết, Ban lãnh đạo công ty cần đề ra mục tiêu phấn đấu của toàn công ty trong tương lai, ví dụ: Mục tiêu là xây dựng Công ty PHS Hà Nội công ty cung cấp dịch vụ, XBP mạnh nhất hoàn hảo của Thủ đô về chất lượng hàng hóa và phong cách phục vụ, là một trung tâm cung cấp XBP lớn nhất cung cấp cho toàn mạng lưới kinh doanh tại Hà Nội và các tỉnh khác. Mục tiêu mà công ty đạt được sẽ giúp công ty trở thành doanh nghiệp đứng đầu ngành PHS cả về số lượng và chất lượng phục vụ khách hàng chiếm được uy tín lớn trên thị trường Hà Nội và cả nước. Để đạt được mục tiêu đó, điều trước hết phải hình thành tổ chức, hợp tác làm việc, xây dựng tinh thần đồng đội có khả năng cùng nhau hướng tới mục tiêu chung, mỗi thành viên của công ty phải phấn đấu trở thành những nhân viên kinh doanh giỏi theo tiêu chuẩn của ngành PHS, đưa nhanh chóng tới khách hàng. Thay vì quảng cáo thương mại, công ty áp dụng phương pháp tài trợ cho các hoạt động quần chúng, các phong trào thể thao văn hoá, hoạt động từ thiện… chính hoạt động có tính văn hoá này đã đem lại hiệu quả về tiếp thị marketing cao hơn hẳn so với kiểu tiếp thị thương mại mà công chúng trong thời đại bùng nổ thông tin đã bắt đầu chán ghét, thậm chí còn dị ứng và gây hiệu quả ngược lại với mong muốn. Nguồn lực con người là nguồn vốn mới vô hình tạo nên sự tín nhiệm của khách hàng đối với công ty PHS. Nó trực tiếp tác động và thúc đẩy sự thay đổi quan niệm của khách hàng tới các mặt giá trị văn hóa của XBP. Khách hàng thỏa mãn nhu cầu của mình một cách văn hóa hơn, tri thức hơn và lành mạnh hơn. Phương thức cạnh tranh trong văn hóa kinh doanh dựa trên phương thức tác động tổng hợp tới hành vi ứng xử giao tiếp, tác động tới khách hàng chứ không dựa trên tác động giác quan của khách hàng. Bản sắc văn hóa trong kinh doanh là sự kết hợp những giá trị tinh thần trong XBP, là sự giao cảm nhân bản tri thức giữa con người với con người trong môi trường và thế giới kinh doanh. Đầu tư đúng mức và liên tục cho đội ngũ lãnh đạo của công ty có tầm nhìn chiến lược cho kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của công ty. Xây dựng tổ chức các thành viên trong công ty sự đoàn kết thống nhất, có tinh thần làm việc hăng say, có nhiệt tình quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu và sứ mạng phục vụ của công ty. Thường xuyên tổ chức huấn luyện cho nhân viên ý thức trách nhiệm, thái độ ứng xử thân thiện, cởi mở, chân thành, trở thành những nhân viên kinh doanh giỏi theo tiêu chuẩn mới mà công ty đặt ra. Người bán sách giỏi là người kinh doanh linh hoạt có hiệu quả, có phong cách phục vụ văn hóa. Cần đặt ra những mức độ, chuẩn nhất định để đánh giá hiệu quả kinh doanh của nhân viên, xây dựng hình ảnh nhân viên xuất sắc để toàn thể nhân viên phấn đấu theo mục tiêu đó có phần thưởng xứng đáng cho nhân viên xuất sắc. Ví dụ: dựa theo doanh số cụ thể bán hàng đạt 500 triệu/năm, đạt được thì được công nhận, nếu vượt năm có thể là nhân viên xuất sắc, nếu linh hoạt hơn có phần thưởng cao hơn nhằm động viên khuyến khích sự sáng tạo của mỗi nhân viên. Cần thúc đẩy và tạo điều kiện để mỗi cán bộ, nhân viên công ty tích cực học hỏi, nâng cao trình độ nghiệp vụ, không ngừng tự hoàn thiện bản thân để thành công trong cuộc sống và trong kinh doanh. Công ty cần chú ý thường xuyên tổ chức đào tạo cán bộ theo các chương trình marketing, nghệ thuật bán hàng, ngoại ngữ, lý luận chính trị..., tạo điều kiện về kinh phí, thời gian cho cán bộ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ về quản lý kinh tế, xây dựng kế hoạch, thiết lập mục tiêu... Tổ chức huấn luyện lại trình độ, kỹ năng bán hàng, nghệ thuật giao tiếp, khả năng ứng xử văn minh lịch sự cho toàn thể cán bộ, nhân viên hoạt động trực tiếp tại cửa hàng hoặc các phòng ban có liên hệ trực tiếp với khách hàng tạo nên một phong cách văn hoá riêng đặc sắc của Công ty PHS Hà Nội. Xây dựng đội ngũ nhân viên của công ty luôn là những người năng động có đầu óc tổ chức kinh doanh, tôn trọng khách hàng, sẵn sàng phục vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng bằng thái độ nhiệt tình và có trách nhiệm. Trên thực tế cho thấy, người bán hàng có trình độ kiến thức cao về mọi mặt sẽ có khả năng phát huy vai trò chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thiện phát triển không ngừng hoạt động bán XBP ở các doanh nghiệp, sao cho hoạt động kinh doanh XBP đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội phù hợp với công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Người bán hàng là người phải thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, do đó, cùng với những kiến thức trên, người bán hàng cần phải được trang bị những kiến thức về nghệ thuật giao tiếp với khách hàng. Bởi vì khả năng giao tiếp nhiều khi có quyết định việc doanh nghiệp có bán được XBP hay không. Sự hấp dẫn, sự lôi cuốn của người bán với khách hàng luôn được biểu hiện qua sự duyên dáng, tế nhị, thái độ thân mật, niềm nở, hành vi văn minh, lịch thiệp... tất cả đều phải thể hiện được thiện chí, tình cảm, sự tôn trọng của người bán với khách hàng. Nhìn chung, trong cơ chế thị trường hiện nay, để trở thành một người kinh doanh, bán hàng có sự phát triển toàn diện về trình độ kiến thức cũng như khả năng kinh doanh linh hoạt về mọi mặt, đặc biệt là khả năng giao tiếp, yêu cầu được đặt ra đối với người bán hàng trong công tác đào tạo được thể hiện qua 14 yếu tố sau: Kiến thức chính trị Kiến thức pháp luật Khả năng giao tiếp Kiến thức văn hóa Khả năng quan sát Kiến thức kinh doanh thương mại Khả năng thuyết phục Người bán hàng Kiến thức về mặt hàng XBP Khả năng nắm bắt nhanh Kiến thức kinh tế thị trường Khả năng gây ấn tượng Kiến thức xã hội Kiến thức tâm lý Khả năng tư duy 3.3.2. Tiếp tục xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp Cơ chế quản lý mới tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các công ty, doanh nghiệp hoạt động nhưng bên cạnh đó còn không ít mặt hạn chế và tồn tại, nếu không thay đổi phương thức kinh doanh, thiếu kế hoạch chiến lược kinh doanh lâu dài cho doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, thì doanh nghiệp sẽ không phát triển. Công ty PHS Hà Nội cần chú trọng việc xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với các nội dung chính là: - Lên kế hoạch tìm hiểu thị trường, đây là điểm mấu chốt của mọi vấn đề liên quan đến kinh doanh. Tìm hiểu thị trường xác định được những thị trường triển vọng và thị trường tiềm năng để tiến hành thiết lập hệ thống phân phối sản phẩm; tổ chức liên doanh liên kết xuất bản những XBP có chất lượng cao, nội dung tốt. Tìm hiểu thị trường là sự khởi đầu cho sự thành công của công ty, nó quyết định giá trị, uy tín của doanh nghiệp giúp cho công ty xây dựng được chiến lược kinh doanh đúng đắn linh hoạt, đưa ra sản phẩm XBP mà thị trường có nhu cầu đúng thời điểm và có địa điểm tiêu thụ rộng lớn tạo ra cơ hội có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Nghiên cứu thị trường cần hiểu rằng, nhu cầu và thị hiếu là tấm gương phản chiếu chân thực yếu tố văn hóa của thị trường. Khi đã hiểu rõ đầy đủ chuẩn xác về yếu tố văn hóa của thị trường thì việc xác định XBP cung cấp cho thị trường dễ dàng và chuẩn xác. Thường những nơi có dân trí cao có khả năng tiếp nhận cái mới như thị trường thành phố thì nhu cầu và thị hiếu của khách hàng khắt khe hơn, tiêu chuẩn cao hơn và trình độ dân trí cũng cao hơn. ở thị trường này giá cả của sản phẩm không phải là điều quan trọng mà quan trọng là nội dung và giá trị nghệ thuật của XBP. Ngược lại, những nơi dân trí thấp hơn vấn đề giá cả và chất lượng lại là vấn đề khách hàng quan tâm. Nhu cầu thị hiếu và thị trường này ổn định hơn và mang tính chất bảo thủ, người kinh doanh đỡ vất vả hơn trong việc cải tiến sản phẩm XBP. Nhưng thuận lợi này không khuyến khích được công ty đầu tư cải tiến sản phẩm... Việc tìm hiểu thị trường, coi trọng công tác nghiên cứu thị trường là công việc bắt buộc của Công ty PHS Hà Nội, là điều kiện đầu tiên để chiếm lĩnh thị trường. Muốn thành công trong kinh doanh thì trước hết công ty phải đào tạo một đội ngũ nhân viên có đầy đủ kiến thức về kinh doanh, kinh tế... toàn diện, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu giúp công ty đưa ra những chiến thuật, chiến lược kinh doanh đúng đắn. Cần nghiên cứu kỹ vấn đề phục vụ khách hàng, cung cấp đầy đủ thông tin XBP, tổ chức giới thiệu sách thường xuyên bằng nhiều hình thức. Mở rộng mạng lưới kinh doanh (bằng cách bán hàng tại nhà) thiết lập các đại lý bán hàng trực tiếp và gián tiếp áp dụng chế độ chiết khấu phù hợp hấp dẫn tạo nhiều nguồn tiêu thụ mới. Đưa hình thức bán hàng tại nhà tạo điều kiện cho nhân viên tiếp cận với nhu cầu mới của khách hàng. Thay đổi cách bán hàng để mở rộng thị trường với phương thức như hiện nay là khách hàng có nhu cầu tự tìm đến hiệu sách, nhân viên bán hàng trở nên thụ động, chỉ phục vụ được nhu cầu sẵn có của khách hàng. Tổ chức đội ngũ nhân viên đại lý giao sách tại nhà cho khách hàng, chủ động tìm kiếm khách hàng tiềm năng, luôn luôn bổ sung thêm vào nguồn khách hàng mới bằng cách tự tìm tới khách hàng để giới thiệu sản phẩm XBP. Để thực hiện được phương thức kinh doanh mới, công ty cần có đội ngũ nhân viên bằng cách thiết kế chương trình mới giúp nhân viên có khả năng xử lý trước mọi tình huống trong giao tiếp, chuẩn bị tâm lý trước phản ứng của khách hàng để nắm bắt được tâm lý thuyết phục khách hàng quan tâm quyết định mua XBP. Cải tạo các bước bán hàng thành qui trình mang tính chuyên nghiệp. Đồng thời thiết lập mối quan hệ xây dựng thành hệ thống dịch vụ chăm sóc khách hàng sau khi bán hàng để duy trì quan hệ thường xuyên. 3.3.3. Đẩy mạnh hoạt động marketing, tiếp thị xuất bản phẩm Có thể hiểu marketing là sự chăm lo đến việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng bằng hàng hóa và cả một loạt yếu tố có liên quan đến việc tạo ra việc cung ứng và cuối cùng là tiêu dùng hàng hóa đó: "Quan niệm marketing đạo đức xã hội khẳng định rằng nhiệm vụ của doanh nghiệp là xác định nhu cầu mong muốn và lợi ích của các thị trường mục tiêu và thỏa mãn chúng bằng những phương thức hiệu quả hơn (so với đối thủ cạnh tranh), đồng thời giữ nguyên hay củng cố mức sung túc cho người tiêu dùng và xã hội" [40, tr. 22]. Hoạt động marketing tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gắn với thị trường. Không một nhà kinh doanh nào lại không hướng mọi nỗ lực để tìm kiếm lợi nhuận, vì đó là mục tiêu nghề nghiệp, là lẽ sống còn và phát triển của doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện mục tiêu cơ bản của kinh doanh là nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu hàng hóa và dịch vụ văn hóa. Mặt khác để đạt được mục tiêu lợi nhuận đòi hỏi người kinh doanh phải có tài nghệ - vốn - thị trường và bán hàng tốt. Trong tình hình hiện nay nhu cần XBP của khách hàng rất phong phú, đa dạng và phức tạp. Đáp ứng, thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng trên thị trường là vấn đề bức xúc và nan giải. Bởi vậy Công ty PHS Hà Nội không chỉ đáp ứng cho thị trường những XBP có nội dung hay, chất lượng cao mà còn phải khai thác thêm nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau phù hợp với nhu cầu nhiều mặt của thị trường với nhiều nhóm, nhiều đối tượng khách hàng. Thông qua chiến lược về sản phẩm, giá cả, chiến lược phân phối sản phẩm nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản tạo ra khả năng sinh lợi, tạo được thế lực của Công ty trong kinh doanh XBP. Chiến lược sản phẩm giữ vai trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh của công ty. Nó là nền tảng để nghiên cứu thị trường và cũng là vũ khí nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường XBP. Điều này được thực hiện khi doanh nghiệp tạo ra được nhiều sản phẩm mới có nội dung hay, hấp dẫn, chất lượng tốt, phù hợp với nhu cầu của khách hàng mang tính nhân văn, giáo dục cao. Nhân tố quyết định sự thành công của Công ty PHS Hà Nội chính là bản thân sản phẩm XBP. Xác định đúng XBP có ý nghĩa sống còn. Với sự tồn tại của doanh nghiệp mở rộng thị trường, thâm nhập vào các thị trường rộng lớn. Doanh nghiệp XBP thu hút được sự quan tâm của khách hàng phần lớn phụ thuộc vào chất lượng nhãn hiệu và uy tín của XBP. Giá cả có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp biểu hiện tập trung các quan hệ về lợi ích kinh tế và vị trí vai trò của các đơn vị trên thị trường. Hiện nay sự cạnh tranh giá cả XBP rất gay gắt bởi sự bất hợp lý giữa tư nhân và nhà nước. Do chính sách thuế còn chưa đồng đều giữa các cá thể kinh doanh và doanh nghiệp XBP tạo một thị trường bất hợp lý: tư nhân linh hoạt trong giá cả, chiết khấu cho khách hàng nhưng với doanh nghiệp nhà nước sự linh hoạt kém hiệu quả bởi nhiều thủ tục phức tạp. Marketing không chỉ đáp ứng và định hướng những XBP phù hợp với nhu cầu của khách hàng mà còn có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ, phương thức bán hàng tốt nhất. Thiết lập mối quan hệ với khách hàng, luôn tạo ra cho khách hàng nhu cầu mới về XBP, tư vấn giúp khách hàng trong tìm kiếm XBP, hoạt động tổ chức bán hàng bằng nhiều hình thức, đẩy mạnh hình thức tự chọn tạo không gian hấp dẫn cho khách hàng bởi khách hàng "không mua một sản phẩm, người ta mua sự thích thú" [27, tr. 66]. Điều đó giúp Công ty chiếm được cảm tình và sự quan tâm của khách hàng. Trong kinh doanh rủi ro là không thể tránh khỏi, hoạt động marketing giúp Công ty hạn chế ở mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Thông qua nắm bắt thị trường, khách hàng, công ty nắm vững được thói quen của khách hàng, nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng khác nhau để có những giải pháp phù hợp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, các công ty, xí nghiệp, nhà máy, công nông trường, cửa hàng, doanh nghiệp… đều mong muốn sản phẩm của mình được thị trường thừa nhận và chiếm được nhiều thị phần. Để giới thiệu được sản phẩm của mình đến tận tay từng khách hàng đòi hỏi một khâu rất quan trọng đó là quá trình tiếp thị, giới thiệu sản phẩm. Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được nhiều hàng hóa đều phải đưa tiếp thị thành một nghệ thuật khuếch trương hàng hóa của mình tạo thành một thương hiệu có uy tín đối với thị trường. Từ thực tiễn hoạt động kinh doanh công ty PHS Hà Nội cũng như tất cả các doanh nghiệp khác đều phải đẩy mạnh hoạt động tiếp thị. Tiếp thị hàng hóa chính là việc sử dụng kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình xúc tiến kinh doanh nhằm đẩy mạnh tiến độ tiêu thụ sản phẩm. Tiếp thị là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người. Việc tuyên truyền, quảng cáo là một chiến lược yểm trợ trong marketing của mỗi doanh nghiệp XBP. Tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị là hình thức thông tin về XBP của các nhà sản xuất, của các nhà kinh doanh XBP cho khách hàng trên thị trường. Văn hóa tiếp thị tuyên truyền quảng cáo thể hiện thông qua hệ thống thông tin chính xác, các doanh nghiệp sản xuất lựa chọn kênh thông tin về XBP đến tay khách hàng mà sự phù hợp giữa kỹ năng, kỹ xảo của việc tiếp cận thị trường là điều kiện để đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh. Căn cứ vào đối tượng phục vụ (khách hàng) để có cách tiếp thị có hiệu quả. Đối tượng khách hàng rất đa dạng, có mức thu nhập khác nhau, nhu cầu, sở thích, thị hiếu khác nhau. Sách lược tiếp thị XBP của Công ty PHS Hà Nội cũng đòi hỏi phải phong phú, đa dạng và nhiều hình thức. Có thể tiếp thị bằng hình thức tuyên truyền quảng cáo trên báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia giới thiệu mở rộng quan hệ hợp tác thông qua hỗ trợ mạnh mẽ nhằm thúc đẩy XBP được tiêu thụ nhanh hơn và đúng đối tượng hơn. Văn hóa kinh doanh thông qua hoạt động tiếp thị thể hiện sự tôn trọng khách hàng nhằm giới thiệu thông tin về XBP một cách trung thực, chuẩn xác đầy đủ và mang tính kích thích nhu cầu của người tiêu dùng. Tiếp thị trong kinh doanh đòi hỏi sự năng động, sáng tạo, có sách lược, nắm bắt nhanh nhạy nhu cầu của thị trường. Sự năng động trong quá trình sử dụng sách lược tiếp thị chính là mấu chốt để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh. Nếu có tổ chức bằng biện pháp tuyên truyền quảng cáo chúng ta sẽ thu hút được nhiều khách hàng quan tâm tới XBP. Những tổ chức tiếp thị kết hợp với bán lưu động, khuyến mãi thì rất có thể đẩy nhanh được nhiều mặt hàng khó tiêu thụ. Tổ chức tốt triển lãm sẽ làm công tác khuếch trương về hàng hóa, phương thức và uy tín doanh nghiệp, tạo hình ảnh về doanh nghiệp trong ý thức khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh XBP - kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt, tiếp thị là việc nghiên cứu thị trường tung ra một lượng thông tin tác động vào mọi đối tượng xã hội hoặc những đối tượng đã được xác định trước nhằm mục đích kích thích nhu cầu mua - sử dụng XBP của bạn đọc, kích thích nhu cầu tiềm năng thành nhu cầu thực tế. Bằng thông tin, hoạt động tiếp thị còn vận động tuyên truyền nhiều đối tượng xã hội mua,đọc và làm theo sách. Cũng như các khâu khác trong hoạt động kinh doanh XBP, tiếp thị phải luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không những tuyên truyền quảng cáo giá trị sử dụng của XBP mà còn góp phần truyền bá tư tưởng đạo đức xã hội, giá trị văn hóa góp phần vào sự nghiệp giáo dục và quảng bá thông tin chính trị, khoa học, công nghệ cho mọi đối tượng học tập, nghiên cứu. Tiếp thị sản phẩm văn hóa không coi trọng tối đa mục tiêu lợi nhuận bất chấp tác dụng đạt mục đích kinh tế so với tiếp thị thương mại nói chung. Ngành XBP Thủ đô không coi tiếp thị là hoạt động thương mại thuần túy mà phải coi nó vừa là hoạt động thương mại vừa là hoạt động văn hóa tư tưởng: phổ biến đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước thông qua các ấn phẩm mang tính luật pháp, văn bản hướng dẫn thực hiện pháp luật, tìm hiểu luật nhà nước xã hội chủ nghĩa, phục vụ cho các đợt học tập, chủ trương, chính sách mới của Đảng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội. Hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp XBP thể hiện tuyên truyền, quảng cáo bằng nội dung, bằng hình ảnh nhằm mục đích khuếch trương sản phẩm, quảng cáo nhằm tăng cường bán ra nhiều sản phẩm, tuyên truyền là khâu giác ngộ. Quảng cáo nghiêng về thương mại thì tuyên truyền lại nghiêng về ý nghĩa giáo dục truyền bá vận động quần chúng hướng tới cái hay cái đẹp của giá trị xã hội. Quảng cáo phục vụ mục đích kinh doanh, thu lợi nhuận thì tuyên truyền phục vụ cho nhiệm vụ chính trị xã hội. Hoạt động tuyên truyền quảng cáo trong tiếp thị XBP là hai hoạt động kinh tế xã hội có mối quan hệ tương hỗ. Tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị giúp đơn vị định hướng hàng hóa đẩy mạnh tiêu thụ. Tuyên truyền tác động vào ý thức người mua giúp khách hàng định hướng trong sự lựa chọn của mình có được sản phẩm phù hợp. Quảng cáo thúc đẩy người mua có nhu cầu thực tế sử dụng sản phẩm. Chính sự gắn bó tuyên truyền và quảng cáo trong hoạt động kinh doanh XBP tạo nên sự khác biệt giữa quảng cáo thương mại nói chung và kinh doanh XBP nói riêng. Hoạt động tiếp thị góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, thị trường càng được mở rộng thì số người mua XBP càng nhiều, nhiều người mua XBP với số lượng tiêu thụ lớn hơn. Tiếp thị khám phá ra thị trường mới, phát hiện nhu cầu mới về sản phẩm. Tiếp thị tạo điều kiện để hàng hóa bán được nhiều lần giúp cho việc bán hàng đạt doanh số bán ra cao, tăng vòng quay của vốn, tạo lập mối quan hệ gắn bó giữa các bạn hàng giúp các doanh nghiệp kinh doanh XBP tạo lòng tin, uy tín với khách hàng. Tiếp thị tạo cho khách hàng sự tự do lựa chọn các loại XBP phù hợp với mong muốn và mục đích của mình. Quảng cáo tuyên truyền về sách là hoạt động cung cấp thông tin về chủng loại XBP có thể do nhiều nhà xuất bản để khách hàng có thể được lựa chọn cho mình ấn phẩm và cả nhà xuất bản mà khách hàng tin cậy. Trên thực tế hoạt động tiếp thị cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh vừa nâng cao giá trị nội dung vừa tạo được mặt bằng giá cả phù hợp. Tiếp thị cũng góp phần làm giảm chi phí, cải tiến chất lượng XBP. Qua tiếp thị là khâu trực tiếp tiếp cận với khách hàng, qua đó khách hàng trao đổi, góp ý cung cấp các thông tin hữu ích cho người làm công tác phát hành nâng cao chất lượng XBP cả về chất lượng nội dung và hình thức. Những năm gần đây ở nước ta hoạt động tiếp thị hàng hóa thương mại nói chung, tiếp thị XBP nói riêng đã trở thành hoạt động thường xuyên mang tính chuyên nghiệp tạo sự thuyết phục hiệu quả trong tâm lý người tiêu dùng. Tiếp thị cung cấp phần định hướng, sở thích, hình thành quan điểm của nghệ thuật kinh doanh của doanh nghiệp. Tiếp thị góp phần nâng cao giá trị sử dụng của sản phẩm XBP thông qua các nhà xuất bản, doanh nghiệp kinh doanh các XBP các sản phẩm với nội dung chất lượng cao, phù hợp với đòi hỏi nhu cầu của thị trường ngày càng được phổ biến rộng hơn, đa dạng hơn, phong phú hơn và cũng hoàn hảo hơn với các phương tiện truyền thông hiện đại. Hiện nay hoạt động tiếp thị tham gia vào việc thúc đẩy các mục tiêu xây dựng và phát triển xã hội: Tuyên truyền quảng cáo phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng phong trào thi đua nếp sống văn hóa mới, văn minh đô thị, bài trừ các hủ tục, vận động phong trào kế hoạch hóa gia đình, bảo vệ sức khỏe… trong tất cả các hoạt động đó đòi hỏi tuyên truyền quảng cáo phù hợp với chuẩn mực văn hóa, nếu những hình ảnh tiếp thị không phù hợp sẽ bị coi là thiếu thẩm mỹ, không được sự chấp nhận của dư luận. 3.3.4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực kinh doanh xuất bản phẩm Về sự lãnh đạo của Đảng thì trước hết và quan trọng nhất là Đảng phải lãnh đạo công cuộc đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo lập môi trường kinh tế xã hội lành mạnh nhằm thúc đẩy việc xây dựng văn hóa kinh doanh và phát huy văn hóa kinh doanh. Văn hóa kinh doanh có được xây dựng và phát huy hay không phụ thuộc phần lớn vào thể chế kinh tế phù hợp. Có thể nói văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp không thể được phát huy một cách có hiệu quả dưới thể chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Một thể chế kinh tế hợp lòng dân, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của đất nước và quy luật phát triển của thời đại sẽ có tác dụng vô cùng to lớn đối với sự phát triển của đất nước, thúc đẩy hình thành một lớp các nhà doanh nghiệp thực thụ. Nếu thể chế kinh tế không phù hợp, cũng có thể kéo lùi sự phát triển của xã hội, kìm hãm sản xuất - kinh doanh, gây khó khăn cho sự phát huy văn hóa kinh doanh và văn hóa tinh thần doanh nghiệp và từ đó không thể có những nhà doanh nghiệp đích thực, những doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ và bền vững. Đại hội IX của Đảng ta đã đề ra mục tiêu đến năm 2010, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, đồng thời, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ... Như vậy, sẽ có một môi trường mới, rộng lớn đã được khẳng định tạo điều kiện để xây dựng và phát huy văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp. Thể chế kinh tế mới phải tạo thuận lợi hơn nữa cho sự phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế. Đại hội IX của Đảng cũng đã khẳng định thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển bình đẳng và lâu dài, cùng hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Sự khẳng định này tạo cơ sở cho việc phát huy mọi nguồn lực, mọi khả năng của người dân tham gia vào thị trường XBP bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Bộ Văn hóa Thông tin, Thành ủy Hà Nội, Đảng bộ Sở Văn hóa thông tin Hà Nội cần có những chỉ thị, hướng dẫn nhằm đẩy mạnh xây dựng văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp ở thủ đô nói chung, ở doanh nghiệp văn hóa thông tin nói riêng. Sự quản lý của Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là tiếp tục cụ thể hóa những quan điểm, đường lối của Đảng thành luật, chính sách của Nhà nước. Hình thành hệ thống đồng bộ các chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và các cơ sở kinh tế gia nhập thị trường và tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, tiếp cận các yếu tố sản xuất: vốn, lao động, đất đai, công nghệ, quản lý..., thực hiện đúng và đầy đủ những quy định của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và các quyền lợi hợp pháp khác đối với tất cả mọi công dân. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách như: chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách tài chính và tín dụng, chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại, chính sách phát triển doanh nghiệp, chính sách lao động - tiền lương, chính sách đất đai, chính sách khoa học - công nghệ, chính sách phát triển giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực... Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất - kinh doanh gia nhập thị trường như tiếp tục rà soát để bãi bỏ các giấy phép con; bảo đảm tự do kinh doanh theo pháp luật, không gây trở ngại cho việc bỏ vốn đầu tư vào sản xuất - kinh doanh của người dân. Tiếp tục thi hành Luật doanh nghiệp, đồng thời với đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ thể chế kinh tế, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý; chấm dứt cơ chế bộ chủ quản, thực sự tách quản lý nhà nước khỏi quản lý sản xuất - kinh doanh, thực hiện xóa bao cấp, giảm bảo hộ và chỉ bảo hộ cần thiết, có điều kiện đối với những ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng; thực hiện độc quyền nhà nước trong lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp; giảm đến mức tối đa giá các loại đầu vào của sản xuất - kinh doanh như đất đai, điện, xăng dầu, cước phí bưu chính viễn thông... Tăng cường công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Các Bộ, ngành và các cấp chính quyền tại địa phương phải thực sự quan tâm chỉ đạo sát sao việc quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chủ trương và các giải pháp của Chính phủ chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Cần nâng cao trách nhiệm cá nhân (hay nói cách khác là cá thể hóa trách nhiệm) của những người đứng đầu các Bộ, ngành và địa phương về cuộc đấu tranh chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại. Việc chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại phải làm cả ở biên giới và nội địa. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm vững các kiến thức và kỹ năng sản xuất - kinh doanh cho các nhà doanh nghiệp. Cung cấp thông tin cập nhật cho các nhà doanh nghiệp bao gồm các thông tin về thị trường, giá cả, thể chế, chính sách, những văn bản pháp quy có liên quan. Giúp các nhà doanh nghiệp tiếp xúc với thế giới, với những biến động của thị trường thế giới, giao lưu văn hóa với các doanh nhân nổi tiếng, giúp họ tham quan, khảo sát, tiếp cận thị trường thế giới. Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh XBP và thị trường XBP là một yêu cầu tất yếu. Nhà nước tác động vào đơn vị kinh doanh XBP dựa trên nguyên tắc: quản lý kinh doanh thông qua kế hoạch định hướng, chính sách và luật pháp, còn thị trường mới là nơi hướng dẫn điều tiết kế hoạch phát triển của công ty PHS và các doanh nghiệp kinh doanh XBP. Nhà nước quản lý bằng biện pháp kinh tế, bằng chính sách và tác động của thị trường. Để thị trường hoạt động tốt, hạn chế hậu quả tiêu cực, kích thích thị hiếu tầm thường thực dụng, gây thiệt hại ảnh hưởng tới đạo đức kinh doanh, Nhà nước cần có chế độ chính sách pháp luật chặt chẽ: Trước hết, cần tiếp tục xây dựng khuôn khổ luật pháp, hành lang pháp lý cho thị trường XBP. Có chính sách kinh tế - xã hội đảm bảo bình đẳng cho các thành phần kinh tế, có biện pháp chống độc quyền, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh. Hoàn thiện các văn bản pháp qui (Luật Xuất bản, Pháp lệnh Quảng cáo, Nghị định, Chỉ thị...) làm cơ sở pháp lý cho các chủ thể sản xuất kinh doanh XBP tự điều chỉnh hoạt động kinh doanh của mình trong sự quản lý của pháp luật. Điều hành tốt việc kiểm tra giám sát hoạt động xuất bản kinh doanh cung ứng XBP trên thị trường. Ngoài Luật xuất bản đã ban hành và cần phải được sửa đổi, Nhà nước cần tiếp tục ban hành văn bản dưới luật còn thiếu hoặc bổ sung, nhất là các văn bản pháp qui qui định một số mặt cụ thể. Ban hành qui chế mới để khôi phục quan hệ cơ bản và lâu dài giữa nhà xuất bản và hệ thống phát hành, văn bản qui chế về tiêu thụ XBP với các nhà xuất bản, các lực lượng xã hội, tư nhân, văn bản pháp luật về liên kết liên doanh xuất bản phát hành. Củng cố và kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra giám sát của ngành PHS từ Trung ương tới cơ sở về số lượng, chất lượng và trang thiết bị kỹ thuật cho công tác kiểm tra, bởi vì đội ngũ này chưa đủ mạnh để thực hiện việc xử lý nghiêm minh các vụ trốn lậu thuế, in lậu, in sách cấm, mê tín dị đoan. Việc xử phạt hành chính chưa đủ tính chất răn đe. Công ty PHS Hà Nội cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan để quản lý thị trường XBP. Cục xuất bản (cơ quan tham mưu) có thẩm quyền cao nhất thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin quản lý chung các hoạt động văn hóa. Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội trực tiếp quản lý các hoạt động kinh doanh XBP trên địa bàn Hà Nội. Ngoài ra, sự có mặt của các đơn vị khác có vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc quản lý thị trường XBP như Công an thành phố, Chi cục quản lý thị trường, Đội kiểm tra văn hóa quận, huyện... Mỗi cơ quan ban ngành đều có chức năng nhiệm vụ riêng, nhưng cần có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ để quản lý tốt thị trường XBP ở thành phố. Phối hợp kiểm tra thường xuyên hoạt động kinh doanh XBP, kịp thời phát hiện và xử lý những XBP vi phạm pháp luật, ngoài luồng, các XBP mang tính bạo lực, kích động; hoạt động in, phát hành trái phép, không phép… Nếu đủ yếu tố cần truy tố ngay trước pháp luật để răn đe những cá nhân, đơn vị, có hành vi vi phạm kiếm lời bất chính, coi thường pháp luật. Tăng cường quản lý chỉ đạo thống nhất ba khâu xuất bản - in - phát hành. Nhà nước cần tăng cường thống nhất chỉ đạo quản lý cả xuất bản và lưu thông, tạo điều kiện tập trung XBP có chất lượng tốt vào hệ thống Nhà nước, tạo điều kiện gắn sản xuất với kinh doanh thành tổ chức có tính định hướng. Quản lý chặt chẽ đối với kinh doanh XBP của tư nhân đưa ra qui định rõ ràng minh bạch tạo ra sự cạnh tranh công bằng giữa các thành phần kinh tế. Có hướng dẫn nghiệp vụ bắt buộc cho các chủ tư nhân kinh doanh XBP, hạn chế vi phạm pháp luật, làm môi trường kinh doanh XBP ổn định, lành mạnh. Có chính sách thuế cụ thể cho các cơ sở tư nhân, tránh tình trạng trốn lậu thuế tạo một thị trường bất bình đẳng giữa công ty nhà nước và tư nhân trong kinh doanh XBP. Muốn đảm bảo được yêu cầu phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, theo định hướng XHCN đòi hỏi Đảng và Nhà nước có những luật pháp chặt chẽ phát huy năng động sáng tạo các thành phần kinh tế kinh doanh đúng pháp luật. Cần tiếp tục nghiên cứu và xúc tiến thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp XBP thành tập đoàn sách bao gồm nhà xuất bản, công ty in, công ty PHS, hoạt động khép kín từ đầu vào đến đầu ra. Mối quan hệ giữa tập đoàn sách với công ty là chỉ đạo định hướng tạo điều kiện để công ty phát triển trên nguyên tắc cấp trên, cấp dưới nhưng độc lập hoạch toán và tự chịu trách nhiệm. Nếu tổ chức mô hình tập đoàn sách ở Hà Nội thì Công ty PHS Hà Nội là một thành viên có vị trí quan trọng hàng đầu. Cơ cấu tổ chức của tập đoàn sách là hội đồng quản trị cơ quan tối cao có quyền quyết định mọi vấn đề như nhân sự, phương án chiến lược, sản xuất kinh doanh và các vấn đề quan trọng khác. Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị đề cử hoặc thuê mướn những người có đủ năng lực ngang tầm với công việc được giao. Giám đốc bộ phận do Tổng giám đốc đề cử và quyết định. Như trên đã trình bày và phân tích, kinh doanh XBP là hoạt động kinh tế thương mại đặc thù, hàng hóa XBP là một loại hàng hóa đặc biệt. Do đó, kinh doanh XBP trong cơ chế thị trường không đơn thuần như các loại hàng hóa khác. Hiệu quả của hoạt động bán XBP được xác định bởi sự kết hợp song song hai mục tiêu: kinh tế và xã hội. Vì thế để hoạt động kinh doanh XBP có hiệu quả, Nhà nước ta cần tăng cường đầu tư vốn hơn nữa cho các doanh nghiệp XBP của Nhà nước (quốc doanh), trong đó chủ yếu là vốn lưu động. Trong tình hình hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp khó khăn trong quá trình tạo vốn hoạt động. Ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp (30%) các doanhnghiệp đều phải tự huy động từ nhiều nguồn khác nhau: vốn tự bổ sung, vốn vay ngân hàng. Sự quan tâm, đầu tư vốn của Nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp XBP tháo gỡ phần nào những khó khăn, tăng nguồn vốn kinh doanh, tạo thế chủ động trong việc hoàn thiện, phát triển các hình thức tiếp thị XBP nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu kinh tế - xã hội cho doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Chính phủ, Bộ Văn hóa Thông tin, UBND thành phố Hà Nội cần tài trợ một phần kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, quảng cáo giới thiệu XBP trong dịp kỷ niệm ngày lễ lớn, công tác tuyên truyền giới thiệu sách lý luận chính trị... Đây là những loại sách cần được tuyên truyền phổ biến tới quần chúng nhân dân. Kinh phí phải được Nhà nước trợ cấp. Hoạt động PHS có tính đặc thù riêng thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, không phải thuộc hoạt động mang tính thương mại đơn thuần. Nó phải được xem là ngành phi lợi nhuận. Trước đây, việc áp dụng thuế suất 1% với các mặt hàng sách báo, 2% với các mặt hàng khác đã bị nhiều doanh nghiệp cho là quá cao, chưa khuyến khích đầu tư cho các loại sách hay, sách tốt có tính thẩm mỹ, mang bản sắc dân tộc thì nay, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng với thuế suất 5% (10%) càng làm cho các doanh nghiệp kinh doanh XBP khó khăn hơn. Với mức thuế suất này, nếu doanh nghiệp muốn giữ nguyên lợi nhuận như năm ngoái thì phải tăng giá bán thêm 4% với các mặt hàng trước đây chịu thuế 1%, 9% đối với các mặt hàng trước đây chịu thuế suất 2%. Thế nhưng, chủ trương của Nhà nước không cho các doanh nghiệp PHS tăng giá bán. Vì vậy thiết nghĩ, Nhà nước cần áp dụng một mức thuế đặc biệt với ngành PHS bởi vì nhiệm vụ hàng đầu của ngành là thực hiện việc phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần nâng cao dân trí xã hội chứ không chỉ chạy theo lợi nhuận. Hoạt động bán các XBP như các mặt hàng như sách chính trị xã hội, khoa học - kỹ thuật nhiều khi không xác định được hiệu quả kinh tế vì đây là các mặt hàng nằm trong chính sách trợ giá của Nhà nước. Việc áp dụng một mức thuế riêng đối với ngành PHS là cần thiết để kích thích hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh XBP có hiệu quả, góp phần hạ giá thành sản phẩm (hạ giá phát hành phí), khuyến khích khách hàng tiêu thụ XBP. kết luận Công ty PHS Hà Nội hoạt động ở một trong những thị trường có nhu cầu sách ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Thị trường sách Hà Nội luôn luôn tăng trưởng không ngừng tạo điều kiện quyết định cho hoạt động kinh doanh sách tăng trưởng. Hà Nội là trung tâm tập trung hầu hết các nhà xuất bản của cả nước (nơi cho ra đời các XBP, mặt hàng chủ yếu của PHS). Vì vậy, đây cũng là mạng lưới trung tâm điều phối cung cấp sách cho phạm vi toàn quốc hình thành một mạng lưới tiêu thụ sách rộng lớn. Nhờ vậy, Công ty PHS Hà Nội nói riêng và các doanh nghiệp kinh doanh XBP khác trên địa bàn nói chung có được môi trường thuận lợi để tham gia kinh doanh XBP trên thị trường. Kinh doanh trên thị trường sách ở Hà Nội ngoài Công ty PHS Hà Nội có rất nhiều thành phần tham gia: Tư nhân, liên doanh, các tổ chức xã hội khác có tham gia kinh doanh XBP, các nhà xuất bản trực tiếp tiêu thụ sản phẩm của mình. Tổng Công ty sách Việt Nam... Các doanh nghiệp đều có phương thức kinh doanh riêng để khẳng định vị trí của mình trên thương trường, tính cạnh tranh giữa các thành phần kinh doanh XBP rất quyết liệt và gay gắt. Điều đó đòi hỏi Công ty PHS Hà Nội phải năng động, đổi mới tổ chức, quản lý, điều hành sinh hoạt phù hợp với yêu cầu mới của hoạt động kinh doanh. Vấn đề quan trọng đặt ra cho Công ty PHS Hà Nội là tìm ra phương thức, thủ pháp kinh doanh mới, có hiệu quả nhằm ổn định thị trường cạnh tranh có định hướng cho xã hội, đáp ứng đủ quy luật cung và cầu với giá cả hợp lý. Đó là nâng cao chất lượng và hiệu quả văn hóa kinh doanh của mỗi thành viên trong công ty, là xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Việc xây dựng văn hóa kinh doanh phải gắn với việc giáo dục văn hóa đạo đức, lối sống truyền thống dân tộc. Đồng thời, chú trọng việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn khác. Việc nâng cao văn hóa doanh nghiệp ở Công ty PHS Hà Nội đòi hỏi phải thực hiện nghiêm ngặt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế; đưa thẳng XBP tới thẳng người tiêu dùng; tăng thị phần dịch vụ, tăng giá trị cạnh tranh; tăng màng lưới khách hàng, bán hàng; phát huy nội lực (văn hóa đạo đức, năng lực kinh doanh...) ở mọi thành viên Công ty... Và điều quan trọng là phải tăng cường vai trò lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành trong việc xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ, hành lang pháp lý cho hoạt động của thị trường XBP, bảo đảm sự bình đẳng của các thành phần kinh tế, chống độc quyền, gian lận thương mại và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh... làm cho thị trường kinh doanh XBP là thị trường kinh doanh có văn hóa cao, bảo đảm định hướng XHCN trong hoạt động xây dựng văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp ở Công ty PHS Hà Nội có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động của công ty trong cơ chế thị trường. Do đó, đề xuất các giải pháp khả thi, hiệu quả hơn cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, văn hóa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp ở Công ty PHS Hà Nội rất cần phải được các cấp, các ngành hữu quan quan tâm hơn nữa để ngành PHS Thủ đô phát triển không ngừng, xứng đáng với vị trí của Thủ đô - trung tâm chính trị kinh tế và văn hóa của đất nước. danh mục Tài liệu tham khảo 1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin, Viện Quản trị doanh nghiệp (2001), Văn hóa và kinh doanh, Nxb Lao động, Hà Nội. 2. Kim Woo Choong, "Văn hóa làm giàu", Báo Văn nghệ, số 46 ngày 12-11-1994. 3. Công ty Phát hành sách, Báo cáo tổng kết công tác phát hành năm 1981 đến 1986. 4. Công ty Phát hành sách Hà Nội, Nội quy lao động. 5. Công ty Phát hành sách Hà Nội, Quy chế tổ chức và hoạt động. 6. Công ty Phát hành sách Hà Nội, Báo cáo kết quả hoạt động và phương hướng nhiệm vụ công tác từ 1996 đến 2002. 7. Công ty Phát hành sách Hà Nội (2001), Quy chế thực hiện dân chủ. 8. Công ty Phát hành sách Hà Nội (2001), Kế hoạch khảo sát đánh giá cán bộ và xây dựng quy hoạch cán bộ đến năm 2005. 9. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Trần Quốc Dân (2003), Tinh thần doanh nghiệp giá trị định hướng của văn hóa kinh doanh Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 12. Nguyễn Văn Đáng - Vũ Xuân Hương (1996), Văn hóa và nguyên lý quản trị, Nxb Thống kê, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Lê Như Hoa (2000), Quản lý văn hóa đô thị, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 18. Học viện Hành chính Quốc gia (1998), Giáo trình quản lý nhà nước, tập 3, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 19. Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 20. Trần Sĩ Khoát - Vũ Minh Hướng (1997), Tài chính doanh nghiệp xuất bản phẩm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 21. Ngô Sĩ Liên (Chủ biên) (1998), Nguyên lý hoạt động biên tập sách, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 22. Luật doanh nghiệp (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Trường Lưu (1995), Văn hóa và phát triển, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 24. C.Mác - Ph.Ăngghen (1977), Về văn học nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội. 25. C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Phạm Xuân Nam (1996), Văn hóa và kinh doanh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 28. Phạm Xuân Nam (1998), Văn hóa vì phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Vũ Văn Nhật (1999), Thông tin kinh tế trong hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 30. Niên giám thống kê 2001 (2002), Nxb Thống kê, Hà Nội. 31. Philip G.Altbach & Đamtew Teferar (1999), Xuất bản và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. Đào Duy Quát (2003), Xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Tư tưởng văn hóa, số 6/2003. 33. Sách và đời sống (2002), Số đặc biệt chào mừng 50 năm ngày truyền thống ngành xuất bản - in - phát hành sách Hà Nội - Việt Nam. 34. Tài liệu tuyên truyền cuộc vận động xây dựng "Nếp sống văn hóa công nghiệp trong công nhân viên chức lao động Thủ đô" (2001). 35. Phạm Thị Thanh Tâm (1994), Lịch sử phát hành sách Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 36. Phạm Thị Thanh Tâm (2002), Đại cương phát hành xuất bản phẩm, Bộ Văn hóa - Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 37. Vũ Quốc Tuấn (2001), Doanh nghiệp, doanh nhân trong kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Từ điển Tiếng Việt (1997), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 39. Tổng Công ty Phát hành sách (2002), Tóm tắt lịch sử 45 năm ngành phát hành sách Việt Nam, Hà Nội. 40. Phan Thăng - Phan Đình Quyền (2000), Marketing căn bản, Nxb Thống kê, Hà Nội. 41. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 42. Lê Quang Trang - Nguyễn Trọng Hoàn (Tuyển chọn) (1999), Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 43. Hà Xuân Trường (1984), Văn hóa khái niệm và thực tiễn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 44. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1998), Marketing - Lý luận ứng xử trong kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 45. Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2002), Lịch sử phát hành sách, Hà Nội. 46. Vaxin Alecxanđrô Anatolievich (2003), Công nghệ kinh doanh sách, Nxb Thông tấn, Hà Nội. Phụ lục 1 Quy ước nếp sống văn hóa của công ty phát hành sách Hà Nội (Kèm theo Quyết định số 109 ngày 17 tháng 7 năm 2001 của Giám đốc Công ty Phát hành sách Hà Nội) Thực hiện Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13/02/1999 của Chính phủ về "Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước" và sự chỉ đạo của Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội. Để phát huy quyền làm chủ, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ công nhân viên chức trong hoạt động doanh nghiệp. Nay ban hành Quy ước nếp sống văn hóa của Công ty như sau: 1. Văn hóa trong giờ làm việc - Thực hiện nghiêm chỉnh giờ giấc làm việc; không làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý sản xuất, kinh doanh của Công ty. - Cán bộ công nhân viên chức phải mặc trang phục, đeo thẻ nhân viên đúng theo quy định của Công ty. 2. Văn hóa trong giao tiếp ứng xử - ứng xử có văn hóa trong quan hệ giao tiếp (trực tiếp hoặc điện thoại) với anh chị em trong Công ty và khách; không nói năng tùy tiện, thiếu tôn trọng đối với người khác. - Niềm nở vui vẻ với khách hàng, phải thực sự coi khách hàng là "Thượng đế". - Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc và sinh hoạt. 3. Văn hóa trong hội họp - Tổ chức hội họp và đến họp đúng giờ quy định, không tự tiện bỏ họp giữa giờ, nghỉ họp phải báo cáo. - Không hút thuốc lá trong phòng họp. - Không sử dụng điện thoại di động trong phòng họp. - Không nói chuyện riêng gây tiếng ồn ảnh hưởng đến sự tập trung theo dõi của người khác. - Muốn phát biểu phải được sự đồng ý của chủ tọa hội nghị, không nói chen hoặc có thái độ thiếu văn hóa khi người khác đang phát biểu. - Giữ thái độ từ tốn, tôn trọng chủ và hội nghị khi phát biểu, tranh luận. 4. Văn hóa trong sinh hoạt - Không tự tiện bỏ nơi làm việc để làm việc riêng ảnh hưởng đến hoạt động của Công ty. - Không uống rượu, bia, hút thuốc lá trong giờ làm việc. - Không gây tiếng ồn trong giờ nghỉ của Công ty. - Tích cực tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao do Công ty tổ chức. 5. Văn hóa trong giữ vệ sinh môi trường và an toàn nơi sản xuất, kinh doanh - Sắp xếp hợp lý, khoa học, an toàn tại nơi làm việc. Sắp xếp cửa hàng kinh doanh khang trang, sạch, đẹp, dễ nhìn, dễ thấy, thuận tiện cho khách mua hàng. - Sắp xếp chỗ để hàng hóa, sản phẩm, nguyên vật liệu, phế thải, rác thải, khu vệ sinh, chỗ để xe v.v... đảm bảo an toàn, vệ sinh. - Không đổ rác thải, phế thải v.v... bừa bãi gây ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường, cảnh quan của Công ty và các khu vực xung quanh. - Có ý thức tiết kiệm nguyên vật liệu, điện nước v.v.. trong sản xuất kinh doanh. 6. Văn hóa trong quan hệ với nhân dân và chính quyền nơi sở tại - Thường xuyên có mối quan hệ tốt với nhân dân và chính quyền địa phương. - Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, quy định của chính quyền địa phương nơi đơn vị đặt địa điểm sản xuất kinh doanh và nơi cán bộ, công nhân viên cư trú. - Tự nguyện giúp nhân dân và chính quyền sở tại theo khả năng của mình khi có yêu cầu. Quy ước này đã được toàn thể cán bộ, công nhân viên chức trong Công ty thảo luận và nhất trí thông qua. Cán bộ, công nhân viên chức thực hiện tốt sẽ được biểu dương, khen thưởng. Nếu vi phạm thì tùy theo tính chất mức độ sẽ bị phê bình, trừ điểm thi đua hoặc có thể bị xử lý kỷ luật. Phụ lục 2 Tiêu chuẩn lao động giỏi của Công ty Phát hành sách Hà Nội (Theo Quyết định số 94/PHS ngày 10/9/1999 của Giám đốc Công ty Phát hành sách Hà Nội) A. Đối với các phòng chức năng 1. Đảm bảo ngày công, giờ công cao, có chất lượng công tác tốt. Hoàn thành vượt mức nhiệm vụ công tác được giao (kể cả các công việc thường xuyên cũng như đột xuất), đáp ứng kịp thời nhu cầu công việc của phòng. 2. Có sáng kiến cải tiến công tác, cải tiến lề lối làm việc, năng động sáng tạo, giải quyết nhanh kịp thời, dứt điểm đúng quy định công việc được giao. Đề xuất với lãnh đạo giải quyết có kết quả nhiều vấn đề lớn, quan trọng thuộc phạm vi nghiệp vụ của mình. 3. Có tinh thần trách nhiệm cao không ngại khó ngại khổ, gương mẫu chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đi đầu trong mọi phong trào của Công ty. Không tham ô, lãng phí, quan liêu, cửa quyền. Có tinh thần đoàn kết hợp tác giúp đỡ nhau trong và ngoài phòng. Tích cực học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu công tác. 4. Không vi phạm các nội quy lao động của Công ty, quy định của phòng và pháp luật của Nhà nước. Không vi phạm các tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình và có nếp sống văn minh. B. Đối với các đơn vị trực tiếp kinh doanh 1. Hoàn thành vượt mức kế hoạch (chỉ tiêu) cấp trên giao, có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao nhất trong đơn vị. Có thái độ phục vụ khách hàng văn minh, lịch sự, tận tình. 2. Quản lý tốt tài sản, quản lý và sử dụng tốt các trang bị được giao, đáp ứng tốt yêu cầu công việc, thể hiện rõ tính năng động sáng tạo, có ý thức tự giác, tiết kiệm vì tập thể, bảo đảm tuyệt đối an toàn lao động. 3. Có tinh thần trách nhiệm cao, không ngại khó ngại khổ, gương mẫu chấp hành tốt chính sách của Đảng và Nhà nước, có ý thức xây dựng tập thể, tham gia nhiệt tình các phong trào của Công ty. Có tinh thần hợp tác giúp đỡ nhau trong và ngoài đơn vị. Tích cực học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu công việc. 4. Không vi phạm các nội quy lao động của Công ty, quy định của đơn vị và pháp luật của Nhà nước. Không vi phạm các tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình và có nếp sống văn minh. Mục lục Trang Mở đầu 1 Chương 1: văn hóa kinh doanh và vai trò của văn hóa kinh doanh đối với hoạt động kinh tế thương mại và phát hành xuất bản phẩm trong cơ chế thị trường 8 1.1 Quan niệm về văn hóa 8 1.2. Quan niệm về văn hóa kinh doanh 11 1.3. Những tác động của cơ chế thị trường tới hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm 21 1.4. Nội dung cơ bản của văn hóa kinh doanh xuất bản phẩm trong nền kinh tế thị trường 36 Chương 2: Thực trạng văn hóa kinh doanh ở công ty phát hành sách hà nộitừ 1996 đến 2002 44 2.1. Vài nét khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở Thủ đô Hà Nội 44 2.2. Thực trạng văn hóa kinh doanh xuất bản phẩm ở Công ty Phát hành sách Hà Nội từ 1996 đến nay 47 2.3. Công ty Phát hành sách Hà Nội với các công tác văn hóa xã hội khác 82 Chương 3: phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả văn hóa kinh doanh ở công ty phát hành sách hà nội trong thời gian tới 88 3.1. Phát triển văn hóa thông tin trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 88 3.2. Phương hướng xây dựng và phát huy văn hóa kinh doanh ở Công ty Phát hành sách Hà Nội 95 3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Công ty Phát hành sách Hà Nội 98 Kết luận 118 Danh mục tài liệu tham khảo 120 Phụ lục 123

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Văn hóa kinh doanh ở Công ty phát hành sách Hà Nội trong cơ chế thị trường.pdf
Luận văn liên quan