Xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang lưu hành

MỤC LỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT . .1 LỜI MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG1: LÝ LUẬN CHUNG 4 1.1. PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ. 4 1.1.1. Định nghĩa. 4 1.1.2. Phân loại PTGTCGĐB. 4 1.1.3. Tiêu chuẩn về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của PTGTCGĐB. 5 1.2. ĐĂNG KIỂM PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ ĐANG LƯU HÀNH. 14 1.2.1. Đăng kiểm, đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. 14 1.2.2. Mục tiêu của Đăng kiểm PTGTCGĐB. 15 1.2.3. Một số quy định về đăng kiểm. 16 1.3. XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PTGTCGĐB ĐANG LƯU HÀNH. 23 1.3.1. Khái niệm xã hội hoá. 23 1.3.2. Xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. 24 1.3.3. Mục tiêu của xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. 24 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ. 25 2.1. CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM – HƠN 4O NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN. 25 2.1.1. Giới thiệu chung về Cục Đăng kiểm Việt Nam. 25 2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển. 26 2.1.3. Cơ cấu tổ chức. 33 2.1.4. Nhiệm vụ quyền hạn. 39 2.1.5. Hoạt động đăng kiểm năm 2007. 41 2.2. THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PTGTCGĐB ĐANG LƯU HÀNH. 45 2.2.1. Thực trạng quá trình xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. 45 2.2.2. Thành tựu. 51 2.2.3. Hạn chế. 53 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ ĐANG LƯU HÀNH. 56 3.1. Bổ sung, hòan chỉnh hệ thống văn bản pháp lý. 56 3.2. Tăng cường hoạt động quản lý của Cục đăng kiểm đối với các trung tâm đăng kiểm. 57 3.3. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ các trung tâm đăng kiểm tư nhân .58 DANH MỤC TÀI LIẸU THAM KHẢO .59 Nếu có thắc mắc gì về bài viết bạn liên hệ tới số ***********

doc63 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3009 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang lưu hành, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c hoạt động đầu tiên của tổ chức Đăng kiểm ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 20 mang tính chất hành chính. Ở miền Bắc có "Hội đồng kiểm soát máy tàu " thuộc Phủ thư hiến Bắc Kỳ. Ở thuộc địa Nam Kỳ có đại diện của Đăng kiểm Pháp "Bureau Veritas", đặt trụ sở tại Vũng Tàu, chỉ có 2 người để kiểm tra tàu chạy tuyến quốc tế. Tàu trong nước do các Sở , Nha Giao thông công chính đăng kiểm. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ngành Giao thông vận tải thuỷ bắt đầu được hình thành. Hệ thống kiểm tra kỹ thuật mang tính chất lẻ tẻ, chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ở Hà nội, Sở Giao thông Công chính thành phố thành lập "Ban Kiểm soát hàng giang" theo dõi đăng ký phương tiện vận tải thuỷ thay cho "Ban Giang ngạn" của Sở "Hàng Giang thương thuyền" do Pháp lập lên trước đây. Cuối 4/1955, ngành Giao thông thuỷ được thành lập, công tác kiểm tra phương tiện do "Phòng hàng vận" phụ trách. Tháng 5/1955, sau khi tiếp quản Hải Phòng, các phương tiện vận tải thuỷ của Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng, Hải Ninh do Sở Giao thông Vận tải Hải Phòng đảm nhận việc kiểm tra, đăng ký. Các phương tiện của Hà nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương và các tỉnh khác do ngành Giao thông trực tiếp đăng ký. Ngày 11/8/1956 Chính phủ ký quyết định thành lập Cục Vận tải thuỷ. Cục vận tải thuỷ bắt đầu xây dựng cơ sở pháp lý hình thành nên những nguyên tắc, những quy định áp dụng cho toàn ngành Vận tải thuỷ, bao gồm cả công tác Đăng kiểm: Nghị định 47-NĐ ngày 12/8/1958 của Bộ Giao thông và Bưu điện về đăng ký quản lý các phương tiện đi sông và thuyền buồm đi biển. Nghị định 307-NĐ ngày 18/8/1959 của Thủ tướng Chính Phủ quy định những nguyên tắc cơ bản về GTVT đường sông. Thông tư số 3-TT ngày 3/2/1960 của Bộ Giao thông và Bưu điện về việc đăng ký các thuyền đánh cá. Năm 1960, Cục Vận tải Đường thuỷ thành lập "Phòng Đăng ký Hải sự" để kiểm tra, đăng ký các loại tàu sông loại lớn và các loại tàu đi biển. Năm 1962, phòng Đăng ký Hải sự được đổi tên thành " Phòng Đăng ký giám sát an toàn" bổ sung thêm nhiệm vụ kiểm tra giám sát an toàn, tổ chức sát hạch thuyền viên đường sông, đường biển. Đến ngày 15/03/1963, Phòng đăng kiểm được thành lập trực thuộc vào Cục Đường Thuỷ, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, con dấu riêng. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho việc hình thành Ty Đăng kiểm VN sau này. Giai đoạn thành lập Ty Đăng kiểm. Đầu năm 1964, kinh tế miền Bắc đang trên đà phát triển mạnh mẽ, sản lượng vận tải đường thuỷ tăng lên nhanh chóng. Ta tiếp nhận thêm rất nhiều tàu mới và tự đóng được một số tàu và xà lan đi biển, có rất nhiều hợp tác xã vận tải biển đã được cơ giới hoá. Do đó, công tác quản lý an toàn của Phòng Đăng kiểm không còn đáp ứng kịp, đòi hỏi có một tổ chức Đăng kiểm lớn hơn. Ngày 25 tháng 4 năm 1964, Bộ Giao thông Vận tải đã ký Quyết định số 345-TL thành lập Ty Đăng kiểm Việt Nam đặt trụ sở tại Hải Phòng. Lịch sử của Ngành Đăng kiểm Việt Nam đã bước sang một trang mới. Khi mới thành lập Ty Đăng kiểm có 23 người, trong đó có 17 cán bộ kỹ thuật, 6 cán bộ chính trị, hành chính sự nghiệp. Về tổ chức Ty Đăng kiểm có 4 phòng chuyên môn nghiệp vụ: Phòng tiêu chuẩn: biên soạn các tiêu chuẩn, quy phạm, thiết lập các biểu mẫu Đăng kiểm, xét duyệt thiết kế, giám sát đóng tàu mới. Phòng kiểm nghiệm có chức năng kiểm tra các tàu, sữa chữa và tàu đang khai thác. Phòng nồi hơi đặt tại 80 Trần Hưng Đạo, Hà nội có nhiệm vụ kiểm tra nồi hơi đầu máy toa xe lửa ở Nhà máy cơ khí Gia Lâm, phương tiện thuỷ khu vực Hà nội. Phòng Nhân chính phụ trách công tác cán bộ, hành chính kế toán tài vụ. Giai đoạn xây dựng Ty Đăng kiểm và phục vụ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (1964- 1974). Trong những năm 1967 – 1968, Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại và tăng cường ở miền Bắc, đường biển bị phong toả, các cửa biển, các đầu mối giao thông bị uy hiếp nghiêm trọng. Hoạt động của Đăng kiểm trong thời điểm trọng đại và khó khăn ấy là vừa phải đảm bảo đến mức cao nhất tính an toàn kỹ thuật cho các phương tiện, duy trì và nâng cao chất lượng, tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành của Nhà nước, vừa phải có cách giải quyết linh hoạt, mạnh dạn, dám chịu trách nhiệm nhằm giải phóng nhanh phương tiện để tham gia sản xuất, phục vụ tiền tuyến. Năm 1966, Phòng kiểm tra đóng mới được thành lập và đổi tên thành Phòng Kỹ thuật vào năm 1970, và cũng vào thời điểm này mạng lưới Đăng kiểm đã hình thành 4 chi nhánh: Hải phòng, Hà nội, Nam định, Nghệ An. Giai đoạn 1964 – 1974 hoạt động Đăng kiểm vươn rộng ra các tỉnh miền Tây bắc bộ và miền Trung. Ty Đăng kiểm Việt Nam hoàn thành những nhiệm vụ của ngành trong việc quản lý và giám sát điều kiện an toàn kỹ thuật của những phương tiện vận tải đường biển, đường sông, của những tàu đánh cá, một số loại xe lu lăn đường, giám sát chế tạo nồi hơi của ngành đường thuỷ và của các ngành công nghiệp trong nước. Giai đoạn thống nhất hoạt động Đăng kiểm trong cả nước ( 1975-1979). Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 mạng lưới Đăng kiểm Việt Nam được mở rộng trên toàn quốc. Ngay sau khi giải phóng miền Nam đã hình thành Ty Đăng kiểm miền Nam trực thuộc Tổng cục Giao thông vận tải Việt Nam. Sau một thời gian ngắn tồn tại, Ty Đăng kiểm miền Nam sát nhập vào Ty Đăng kiểm Việt Nam, tổ chức Đăng kiểm được thống nhất trong cả nước. Năm 1977 đã hình thành được 6 chi nhánh trực thuộc: Chi nhánh Đăng kiểm số 1 ở Hà nội. Chi nhánh Đăng kiểm số 2 ở Nam Định. Chi nhánh Đăng kiểm số 3 ở Vinh. Chi nhánh Đăng kiểm số 4 ở Đà nẵng. Chi nhánh Đăng kiểm số 6 ở TP.Hồ Chí Minh. Chi nhánh Đăng kiểm số 8 ở Cần Thơ. Giai đoạn củng cố, xây dựng và phát triển Đăng kiểm phương tiện thuỷ (1979 – 1995). Sau quyết định của Chính phủ chuyển Ty Đăng kiểm thành Cục Đăng kiểm Việt Nam, ngày 11/01/1980 Bộ Giao thông Vận tải có Quyết định số 84/ QĐ/TC về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục Đăng kiểm Việt Nam. Cục Đăng kiểm là cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký và kiểm tra về kỹ thuật an toàn tàu sông, tàu biển, nồi hơi và bình chịu áp lực sử dụng trong ngành giao thông vận tải. Năm 1980, lần đầu tiên Đăng kiểm Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác với Đăng kiểm Cộng hòa Dân chủ Đức về uỷ quyền thay thế nhau giám sát kỹ thuật tàu biển, mở ra một giai đoạn mới trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật song phương giữa Đăng kiểm Việt Nam và các tổ chức Đăng kiểm khác trên thế giới. Năm 1981, Đăng kiểm Việt Nam gia nhập Tổ chức Đăng kiểm các nước thuộc khối SEV ( tổ chức Đăng kiểm các nước Xã hội chủ nghĩa trước đấy, viết tắt là OTHK, năm 1999 đổi tên là Hiệp hội giám sát kỹ thuật và Phân cấp tàu Quốc tế, viết tắt là TSCI) và bắt đầu có tiếng nói trên diễn đàn Đăng kiểm quốc tế. Ngày 12 tháng 6 năm 1984, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Hàng hải quốc tế, đồng thời Đăng kiểm Việt Nam được chọn là nơi đặt " Văn phòng IMO Việt Nam". Để tuyên truyền, phổ biến công tác Đăng kiểm trong giai đoạn mới ở Việt Nam, chuẩn bị từng bước hội nhập quốc tế và khu vực, năm 1990 Cục thành lập một bộ phận chuyên làm công tác biên tập, phát hành tạp chí. Đến tháng 2/1990, "Tạp chí Đăng kiểm" được Bộ Văn hoá thông tin cho xuất bản hàng quý. Giai đoạn phát triển từ năm 1979 - 1995 là thời kỳ Đăng kiểm Việt Nam có nhiều thay đổi về tổ chức mạng lưới hoạt động, nguồn nhân lực, vật lực và tổ chức hoạt động giám sát kỹ thuật. Đăng kiểm đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp lý, quy phạm, tiêu chuẩn tương đối đầy đủ, đồng bộ phục vụ cho công tác giám sát cho các nhà máy đóng, sửa chữa tàu, cho chủ tàu và cơ quan thiết kế, đã có trao đổi nghiên cứu, đóng góp trong việc soạn thảo quy phạm chung của Tổ chức Đăng kiểm các nước Xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn mở rộng lĩnh vực hoạt động Đăng kiểm và hội nhập quốc tế ( 1995 - nay ). Sau 10 năm đổi mới, xoá bỏ bao cấp, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực, tốc độ phát triển kinh tế hàng năm tăng nhanh, đời sống nhân dân nâng cao cả ở thành thị và nông thôn. Đi đôi với phát triển kinh tế, mạng lưới giao thông đường bộ quốc lộ, tỉnh lộ, đường thôn, xã được mở rộng, nâng cấp. Phương tiện vận tải đường bộ ô tô, xe máy tăng nhanh, tai nạn xảy ra liên tục, gây tổn thất về người và của, tạo ra dư luận xã hội đáng lo ngại về an toàn giao thông. Trước tình hình đó, Chính phủ thấy cần thiết phải lập lại trật tự an toàn giao thông đường bộ, đã ban hành Nghị định 36/CP ngày 29/5/1995, trong đó có quy định chuyển công tác Đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ từ Bộ Nội Vụ sang Bộ Giao thông Vận tải. Nhìn thấy vai trò và hoạt động có hiệu quả của Đăng kiểm Việt Nam trong các lĩnh vực được giao, Bộ Giao thông Vận tải giao cho Cục Đăng kiểm Việt Nam quản lý và tổ chức thực hiện công tác Đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ. Ngày 7/4/1998, Cục Đăng kiểm Việt Nam chuyển trụ sở từ Hải phòng về 126 Kim Ngưu, Hà nội. Ngày1/9/2003 Đăng kiểm Việt Nam chuyển trụ sở về số 18 Phạm Hùng, Hà nội. Sau bốn mươi năm xây dựng và trưởng thành, Đăng kiểm Việt Nam đã khẳng định được sự tồn tại và vai trò với những lĩnh vực hoạt động quan trọng của xã hội. Ban đầu chỉ là giám sát kỹ thuật tàu thuỷ, nồi hơi đến nay Đăng kiểm Việt Nam đã thực thi chức năng, nhiệm vụ trên tất cả 6 lĩnh vực: phương tiện cơ giới đường bộ, đường sắt, tàu thuỷ, công trình biển, sản phẩm công nghiệp, hàng không dân dụng. Mạng lưới hoạt động Đăng kiểm bao trùm khắp trên toàn quốc. Biểu tượng của Đăng kiểm Việt Nam “VR” được biết đến không nh ở trong nước mà còn ở nước ngoài. 2.1.3. Cơ cấu tổ chức. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục đăng kiểm Việt Nam Nguồn: trang web Cục Đăng kiểm Việt Nam- www.vr.org.vn 2.1.3.1. Lãnh đạo Cục. Cục Đăng kiểm Việt Nam do Cục trưởng lãnh đạo, và có các Phó Cục trưởng lãnh đạo. Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý về đăng kiểm và các vụ việc tiêu cực xảy ra trong Cục. Cục trưởng do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm có thời hạn 5 năm. Phó cục trưởng do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, có thời hạn 5 năm theo đề nghị của Cục trưởng. Ban lãnh đạo của Cục bao gồm : 1 Cục trưởng và 3 Phó cục trưởng. Cục trưởng: Trịnh Ngọc Giao. Phó Cục trưởng: Trịnh Đức Chinh. Đỗ Hữu Đức. Trần Kỳ Hình. 2.1.3.2. Phòng xây dựng cơ bản. Phòng xây dựng cơ bản có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng trong việc đầu tư xây dựng cơ bản của Cục. 2.1.3.3. Phòng ISO 9000. Phòng ISO 9000 có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng quản lý Hệ thống quản lý chất lượng của Cục theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000: 2000. 2.1.3.4. Phòng tổ chức cán bộ. Phòng tổ chức cán bộ có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng quản lý về việc tổ chức cán bộ gồm có : cơ cấu tổ chức Cục, cán bộ công nhân viên chức, tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, khen thưởng, thanh tra, kiểm tra, chính trị nội bộ và vấn đề cải cách hành chính của Cục. 2.1.3.5. Phòng hợp tác quốc tế. Phòng hợp tác quốc tế có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng quản lý việc hợp tác quốc tế, tổ chức thực hiện công việc, hoạt động liên quan đến tổ chức, cá nhân nước ngoài phục vụ sự phát triển của Đăng kiểm Việt Nam. 2.1.3.6. Phòng môi trường. Phòng môi trường có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý các hoạt động về bảo vệ môi trường của Cục, và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án về môi trường. 2.1.3.7 Tạp chí đăng kiểm. Tạp chí Đăng kiểm là tổ chức sự nghiệp báo chí trực thuộc Cục thực hiện chức năng phục vụ nhu cầu thông tin của Đăng kiểm Việt Nam. 2.1.3.8. Trung tâm tin học. Trung tâm tin học có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng tổ chức, quản lý thực hiện các hoạt động tin học, hệ thống thông tin của Cục. 2.1.3.9. Trung tâm đào tạo. Trung tâm đào tạo có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý, tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên, đăng kiểm viên trong tất cả lĩnh vực hoạt động của Cục. 2.1.3.10. Văn phòng Cục. Văn phòng Cục là một tổ chức giúp Cục trưởng tổng hợp, điều phối hoạt động tất cả các đơn vị của Cục theo chương trình kế hoạch làm việc và thực hiện công tác hành chính quản trị đối với mọi lĩnh vực hoạt động của Cục. 2.1.3.11. Phòng tài chính - kế toán. Phòng tài chính - kế toán có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý nguồn vốn, tài sản của Cục, tổ chức chỉ đạo công tác kế toán , xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách tài chính - kế toán theo quy định của Nhà nước. 2.1.3.12. Phòng công nghiệp. Phòng công nghiệp có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng tổ chức thực hiện và kiểm tra, chứng nhận vật liệu máy móc, trang thiết bị sử dụng trên các phương tiện thuỷ, thiết bị xếp dỡ, container, nồi hơi, bình chịu áp lực sử dụng trong giao thông vận tải. 2.1.3.13. Phòng tàu sông. Phòng tàu sông có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng xây dựng quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý công tác thẩm định thiết kế và giám sát kỹ thuật, phân cấp và đăng ký kỹ thuật tàu sông, tổ chức thẩm định thiết kế tàu sông theo quy định. 2.1.3.14. Phòng công trình biển. Phòng công trình biển có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát kỹ thuật, phân cấp các loại phương tiện, thiết bị thăm dò khai thác dầu khí biển bao gồm: các loại giàn, hệ thống đường, tàu chứa dầu, phao neo và các trang thiết bị, máy móc của chúng ( gọi tắt là công trình biển). 2.1.3.15. Phòng tàu biển. Phòng tàu biển có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý công tác giám sát kỹ thuật, phân cấp, đo dung tích và đăng ký kỹ thuật tàu biển đang khai thác, trừ hoán cải tàu biển. 2.1.3.16. Phòng quy phạm. Phòng quy phạm có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng xây dựng quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý công tác thẩm định thiết kế, giám sát đóng mới và hoán cải tàu biển; thực hiện thẩm định thiết kế đóng mới và hoán cải tàu biển theo quy định. 2.1.3.17. Trung tâm chứng nhận hệ thống chất lượng và an toàn (VRQC). Trung tâm chứng nhận hệ thống chất lượng và an toàn có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý và tổ chức thực hiện công tác chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng, an toàn, an ninh và môi trường. 2.1.3.18. Phòng kiểm định xe cơ giới (VAR). Phòng kiểm định xe cơ giới có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý công tác kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường các loại xe cơ giới và xe máy chuyên dùng đang lưu hành trong phạm vi cả nước. 2.1.3.19. Phòng chất lượng xe cơ giới. Phòng chất lượng xe cơ giới có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường các loại thiết bị, xe cơ giới và xe máy chuyên dùng trong sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu trong phạm vi cả nước. 2.1.3.20. Trung tâm tư vấn dịch vụ khoa học kỹ thuật (TSC). Trung tâm tư vấn và dịch vụ khoa học kỹ thuật là đơn vị trực thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam có chức năng thực hiện dịch vụ tư vấn và dịch vụ kỹ thuật đối với phương tiện, thiết bị giao thông vận tải. 2.1.3.21. Trung tâm thử nghiệm xe cơ giới (VMTC). Trung tâm thử nghiệm xe cơ giới là tổ chức trực thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam có chức năng là tổ chức thực hiện việc thử nghiệm chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đố với các loại xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, các linh kiện sử dụng trên xe cơ giới, mũ bảo hiểm và các thiết bị an toàn khác sử dụng trong giao thông vận tải 2.1.3.22. Phòng đường sắt. Phòng đường sắt có chức năng tham mưu, giúp Cục trưởng quản lý và tổ chức thực hiện về công tác kiểm tra chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường các loại phương tiện, thiết bị giao thông vận tải đường sắt. 2.1.3.23. Các chi cục Đăng kiểm. Chi cục Đăng kiểm là đơn vị trực thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đăng kiểm phương tiện thuỷ tại địa phương; tổ chức thực hiện công tác kiểm tra kỹ thuật, chứng nhận chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với các loại phương tiện vận tải đường biển, đường thuỷ nội địa, công trình nổi, thiết bị xếp dỡ, xe máy chuyên dùng và các thiết bị khác liên quan đến chất lượng và an toàn trên địa bàn của địa phương. Tính đến thời điểm hiện nay có 25 chi cục Đăng kiểm trải rộng khắp cả nước. 2.1.3.24. Các trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới. Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới là đơn vị trực thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam có chức năng tổ chức thực hiện công tác kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đang lưu hành ở địa phương. Tính đến thời điểm hiện nay, trên cả nước có 18 trung tâm đăng kiểm xe cơ giới trong đó Hà nội có 6 trung tâm, TP Hồ Chí Minh có 5 trung tâm. 2.1.3.25. Các trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới trực thuộc Sở Giao thông Vận tải và Sở Giao thông Công chính. Ngoài các trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới trực thuộc Cục Đăng kiểm Việt Nam thì còn có các trung tâm Đăng kiểm xe cơ giới thuộc Sở Giao thông Vận tải và Sở Giao thông Công chính. Các trung tâm này rải rác trên các tỉnh và thành phố có chức năng tổ chức thực hiện công tác kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đang lưu hành ở địa phương. Trên cả nước ta hiện nay có 77 trung tâm, thông thường mỗi tỉnh thành phố có 1 trung tâm, riêng Hà nội và TP Hồ Chí Minh có 3 trung tâm. 2.1.4. Nhiệm vụ quyền hạn. Theo quyết định số 2570/2003/QĐ – BGTVT ngày 29/8/2003 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Đăng kiểm Việt Nam bao gồm: Xây dựng trình Bộ trưởng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm, các chương trình, dự án về Đăng kiểm. Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan về giao thông vận tải và các chiện lược, quy hoạch, kế hoạch của Bộ theo phân công của Bộ trưởng. Chủ trì xây dựng trình Bộ trưởng ban hành hoặc Bộ trưởng trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật phương tiện và thiết bị giao thông vận tải. Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật liên quan tới hoạt động đăng kiểm sau khi ban hành hoặc phê duyệt. Chủ trì hoặc phối hợp trong việc thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đăng kiểm. Tổ chức thực hiện công tác đăng kiểm chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện, thiết bị giao thông vận tải và các phương tiện, thiết bị khác ( trừ phương tiện, thiết bị phục vụ cho mục đích an ninh, quốc phòng và đánh bắt thuỷ sản). Xây dựng trình Bộ trưởng kế hoạch hợp tác quốc tế về đăng kiểm, tham gia xây dựng, đảm bảo, đàm phán, ký kết, gia nhập các Điều ước quốc tế, các tổ chức quốc tế về đăng kiểm, tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về đăng kiểm theo phân cấp quản lý. Quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Cục. Tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong hoạt động đăng kiểm. Xây dựng và thực hiện chương trình cải cách hành chính của Cục theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính nhà nước của Bộ Giao thông Vận tải. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo, chống tham nhũng, tiêu cực theo thẩm quyền của Cục. Xây dựng trình Bộ trưởng quyết định cơ cấu tổ chức của Cục; quản lý tổ chức bộ máy, định biên của Cục; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và cấp giấy chứng nhận đăng kiểm viên, dánh giá đối với cán bộ, viên chức và người lao động làm công tác đăng kiểm theo quy định của pháp luật. Quản lý tài chính, tài sản của Cục theo quy định của pháp luật. Quan hệ với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương, các cơ quan nhà nước có liên quan và phối hợp với các Cục trực thuộc Bộ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật và uỷ quyền của Bộ trưởng. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao. 2.1.5. Hoạt động đăng kiểm năm 2007. Cùng với sự tăng trưởng của kinh tế của cả nước, năm 2007 Cục Đăng kiểm đã tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực hoạt động, thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước về an toàn kỹ thuật, chất lượng phương tiện giao thông, công trình biển và vai trò của tỏ chức phân cấp tàu thuỷ. Hoạt động xây dựng văn bản pháp lý, đây là hoạt động phục vụ cho công tác quản lý chỉ dạo, kiểm tra phấp cấp tàu luôn được coi là nhiệm vụ chính của VR đã đạt được kết quả tốt, 100% đề án của Cục đã đăng ký với Bộ được hoàn thành. VR đã xây dựng và trình Bộ trưởng ban hành 2 Quyết định liên quan đến phương tiện cơ giới đường bộ, đồng thời Cục đã ban hành nhiều quyết định, chỉ thị, hướng dẫn triển khai các chương trình của Bộ, Chính phủ về phương tiện nội địa, về thực hiện Nghị quyết 32/2007/NQ – CP. Đặc biêt, Bộ GTVT đã phê duyệt đề án sắp xếp lại tổ chức, đổi mới phương thức quản lý và cơ chế tài chính của VR tại Quyết định số 3118/QĐ – BGTVT ngày 17/10/2007. Hoạt động hợp tác quốc tế, Năm 2007 có thể coi là năm nổi bật về hợp tác quốc tế của VR. Chúng ta đã ký lại 5 thoả thuận với các tổ chức đăng kiểm hàng đầu thế giới về hợp tác “Đăng kiểm Nauy (DVN), Đăng kiểm Hàn Quốc ( KR), Đăng kiểm Mỹ ( ABS), Đăng kiểm Panama (IBS), Đăng kiểm CuBa(CBS)”. Trên cơ sở thoả thuận mới, VR đã ký các hợp đồng giám sát kỹ thuật phân cấp và chứng nhận cho 30 tàu biển trong đóng mới với Đăng kiểm nước ngoài. Trong số đó có tàu chứa 150.000 tấn, 3 tàu chở dầu 105.000 tấn, 2 tàu hàng rời 54.000 tấn, vv… mang lưỡng cấp, và nhiều hợp đồng cho tàu đơn cấp của Đăng kiểm nước ngoài, như dự án tàu đa năng 8.700 tấn, tàu hàng rời 56.000 tấn, tàu hàng tổng hợp 4.200 tấn đóng cho chủ tàu nước ngoài tại Nhà máy đóng tàu Bến Kiến, Hạ Long, Nam Triệu. Các hoạt động quốc tế khác cũng được đẩy mạnh. VR đã tham gia nhiều hội thảo quốc tế, đã phối hợp với các tổ chức đăng kiểm và quốc tế khác tổ chức 13 họi thảo,hội nghị chuyên đề, đặc biệt là hội thảo giới thiệu các quy định đối với tàu biển nước ngoài khi vào Hoa Kỳ. Từ sau hội thảo đế nay, đã có 2 tàu biển Việt Nam được cập cảng Hoa Kỳ an toàn và không gặp trở ngại nào. Trong tương lai sẽ có nhiều tàu biển Việt Nam vào Hoa Kỳ. Hoạt động giám sát kỹ thuật và phân cấp tàu biển, chưa năm nào Đăng kiểm Việt Nam tiếp nhận đội tàu biển mang cấp VR nhiều như năm 2007, đã tăng thêm là 115 tàu ( bao gồm cả tàu đóng mới và tàu cũ mua từ nước ngoài) với tổng dung tích 695.699 tấn đăng ký. Tính đến ngày 31/12/2007, toàn bộ đội tàu biển mang cấp của VR có 1.219 tàu với tổng dung tích là 2.408.153 tấn đăng ký, tổng trọng tải là 3.931.153 tấn. Tỷ lệ tàu mang cấp bị lưu giữ ở nước ngoài giảm xuống dưới 10%, đây là con số thấp nhất từ trước tới nay, vượt chỉ tiêu Bộ đề ra dưới 15%. So với năm 2006, năm 2007 số lượng tàu Việt Nam bị lưu giữ đã giảm đáng kể. Hoạt động giám sát đóng mới tàu biển và xét duyệt thiết kế, số lượng đóng tàu biển mới đạt kỷ lục 441 tàu VR độc lập giám sát hoặc giám sát lưỡng cấp VR – Đăng kiểm nước ngoài. VR độc lập giám sát đóng mới tàu chở dầu 20.000 tấn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng. Toàn ngành đã duyệt 556 thiết kế tàu biển các loại có trọng tải từ 1.000 tấn đến 105.000 tấn, trong đó có 362 thiết kế đóng mới, 55 kế hoán cải, 139 thiết kế khác. Hoạt động chất lượng xe cơ giới, từ ngày 01/07/2007 VR đã tổ chức kiểm tra tất cả các phương tiện xe cơ giới mới sản xuất lắp ráp và nhập khẩu áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro II theo Lộ trình kiểm tra phát thải tại Quyết định 249/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ. Việc làm này đã được sự đồng thuận của các đơn vị có phương tiện, bước đầu có hiệu quả. Số lượng phương tiện nhập khẩu được kiểm tra năm 2007 được tăng lên đáng kể: 23.872 ôtô các loại, tăng 89,1% so với năm 2006 (12.619 phương tiện), trong đó có 14.104 phương tiện chưa qua sử dụng; 118.188 môtô mới chưa qua sử dụng, tăng 90% so với năm 2006 (61.896 môtô); 15.374 xe máy chuyên dùng, tăng 154% so với năm 2006 (6037 chiếc). Đối với cơ sở sản xuất trong nước, VR đã kiểm tra xuất xưởng 90.965 ôtô, sơ mi rơ mooc, tăng 87% so với năm 2006 (48.523 chiếc); 2.946.573 xe máy sản xuất lắp ráp mới, tăng 15% so với năm 2006 (2.553.593). Hoạt động kiểm định xe cơ giới, VR đã chuẩn bị và tổ cức thành công Hội nghị nâng cao chất lượng công tác đăng kiểm PTGTCGĐB, được Bộ trưởng và dư luận công chúng đánh giá cao. Kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho 8 trung tâm thuộc đề án Xã hội hoá đi vào hoạt động góp phần giảm tải cho các khu vực có nhiều PTGTCGĐB. Mở rộng, di chuyển, bổ sung dây chuyền kiểm định: 4 Trạm Đăng kiểm trực thuộc trung tâm Đăng kiểm XCG Lâm Đồng, Hưng Yên, Khánh Hoà và An Giang đã được xây dựng mới và nghiệm thu đưa vào hoạt động; 4 trung tâm 15 – 01V, 29 – 02V, 50 – 01S, 72 – 01S đã di chuyển địa điểm kết hợp với bổ sung dây chuyền kiểm định. Tổng số phương tiện đang lưu hành đến kỳ kiểm định trong cả nước là 763.931 phương tiện các loại, tăng 16,4% so với năm 2006 (655.753 phương tiện). Toàn ngành đã kiểm định được 1.056.893 lượt phương tiện. Hoạt động đường sắt, lần đầu tiên VR dã kiểm tra và cấp giấy chứng nhận theo tiêu chuẩn ngành do Bộ GTVT ban hành đối với 16 đầu máy diesel D19E được lắp ráp lần đầu tại Việt Nam và nhiều đầu máy và toa xe nhập khẩu khác. Hoạt động Công trình biển, VR đã chỉ đạo, triển khai các dự án đóng mới tương đối tốt và đạt hiệu quả cao. Việc giám sát kỹ thuật trong sửa chữa các công trình biển được quản lý chặt chẽ, đặc biệt đối với phương tiện cần được gia hạn hoạt động. VR triển khai có hiệu quả các dự án đóng mới cùng Đăng kiểm nước ngoài, vừa thực hiện chuyển giao công nghệ vừa nâng cao uy tín của ngành. Hoạt động giám sát kỹ thuật phương tiện thủy nội địa, cả nước trong năm 2007 có 7.280 phương tiện đăng ký kỹ thuật, bằng 118% so với năm 2006 (6169 phương tiện), với tổng trọng tải 1.204.774 tấn. Tổng số lượt giám sát kỹ thuật, đăng kiểm phương tiện thuỷ nội địa đang khai thác đã có nhiều tiến bộ, nhiều đơn vị đã kiểm soát được các phương tiện đến hạn đăng kiểm nhưng chưa hoặc không đến kiểm tra, đã chủ động thống kê, thông báo bằng văn bản đến các cơ quan chức năng đến từng chủ tàu. Năm 2007, toàn quốc đã thực hiện xong việc tổng điều tra các phương tiện thuộc diện phải đăng ký, đăng kiểm theo quy định của Luật Giao thông Đường thuỷ nội địa. Hoạt động sản phẩm công nghiệp, năm qua nhiều sản phẩm công nghiệp mới đã được VR kiểm tra chứng nhận như: sản phẩm xylanh thuỷ lực chế tạo lại cụm công nghiệp Lai Vu của Vinashin; 12 loại kiểu sản phẩm vật liệu chống cháy cửa, tấm trần, vách chống cháy… của công ty Liên doanh TNHH nội thất tàu thuỷ SEJIN – VINASHIN, tạo cơ sở cho việc loại bỏ dần việc sử dụng vật liệu chống cháy cũ hoặc không có nguồn gốc. Hoạt động xây dựng cơ bản, năm qua VR đã có thực hiện và hoàn tất thủ tục nhiều dự án trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Dự án xây dựng trung tâm thử nghiệm khí xả bằng nguồn vốn ODA của Chính phủ Áo đã thực hiện được nhiều thủ tục quan trọng gồm 2 tiểu dự án: Tiểu dự án 1: Đầu tư toàn bộ dây chuyền thiết bị chính của Trung tâm bằng nguồn vốn ODA của Áo được Bộ GTVT phê duyệt, đã ký hợp đồng với nhà sản xuất tháng 5 – 2008 , phía Áo sẽ bàn giao thiết bị. Tiểu dự án 2: Đầu tư xây dựng nhà trung tâm tại Liên Ninh, Thanh Trì. Hiện đang hoàn tất thủ tục để được UBND TP. Hà nội giao 9.130m2 đất thực hiện dự án. Tiến độ dự án hoàn thành vào tháng 7/2008 để tiếp nhận lắp đặt thiết bị. Các trung tâm đăng kiểm số 15 – 01V, 29 – 02V đã được khánh thành đi vào hoạt động với quy mô 4 dây chuyền hiện đại do VR đầu tư toàn bộ về thiết bị và cơ sở hạ tầng. Với những cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên, năm 2007 Đăng kiểm Việt Nam đã hoàn thành vượt mức kế hoạch, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn, chất lượng phương tiện và bảo vệ môi trường. Trong năm 2008 Đăng kiểm Việt Nam tiếp tục cải tiến công tác quản lý, nâng cao trình độ cán bộ, đăng kiểm viên, xây dựng tác phong làm việc công nghiệp và đẩy lùi tiêu cực, đặc biệt là đẩy mạnh công tác đào tạo. 2.2. THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PTGTCGĐB ĐANG LƯU HÀNH. 2.2.1. Thực trạng quá trình xã hội hoá dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. Hiện nay, trên thế giới và khu vực châu Á có nhiều loại hình để thực hiện công tác kiểm định xe cơ giới đang lưu hành như: Ở Trung Quốc, Thái Lan, Philippin và một số nước Đông Âu công tác kiểm định hòan tòan do nhà nước đảm nhận. Ở Auatralia, Singapore, công tác kiểm định hòan tòan do tư nhân đảm nhiệm. Ở các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Đức, Pháp… công tác kiểm định do nhà nước và các tổ chức kinh tế khác nhau cùng đảm nhận. Ở Việt Nam theo đề xuất của Cục Đăng kiểm Việt Nam, khi tiến hành xã hội hóa hoạt động kiểm định xe cơ giới đang lưu hành nên duy trì song song cả 2 hệ thống do nhà nước và các thành phần kinh tế khác nhau cùng đảm nhận. Do đó sẽ có những mô hình trung tâm kiểm định xe cơ giới như: Các trung tâm kiểm định xe cơ giới đã được Nhà nước thành lập và đang hoạt động. Công ty cổ phần nhà nước: là các trung tâm kiểm định xe cơ giới được thành lập mà tòan bộ cổ đông là các công ty nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. Công ty cổ phần: là các trung tâm kiểm định xe cơ giới được thành lập mà các cổ đông là các thành phần kinh tế tham gia góp vốn và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Công ty TNHH: là các trung tâm kiểm định xe cơ giới được thành lập có từ 2 thành viên góp vốn trở lên, có trách nhiệm hữu hạn đối với số vốn góp vào doanh nghiệp và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp. Công ty tư nhân: là các trung tâm kiểm định xe cơ giới do cá nhân trực tiếp đầu tư và hoạt đông theo quy định của Luật doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm nhà nước một thành viên. Ta thấy rằng có rất nhiều hình thức để triển khai công tác xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành nhưng trong bài em chú ý phân tích loại hình thành lập trung tâm kiểm định xe cơ giới tư nhân dưới hình thức công ty TNHH. Đế án xã hội hóa công tác đăng kiểm xe cơ giới được phê duyệt và thực hiện từ tháng 4/2005, ngay từ khi bắt đầu đã thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp. Tính đến thời điểm hiện nay thì đã có hơn 20 doanh nghiệp đăng ký được thành lập trung tâm đăng kiểm tư nhân nhưng mới chỉ có 9 trung tâm đăng kiểm được phê duyệt đề án. Sau hơn 2 năm triển khai đề án hiện nay đã có 6 trung tâm đăng kiểm đi vào hoạt động. Trung tâm 50-10D ở Thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm ở Hà nội. Trung tâm ở Vũng Tàu. Trung tâm 60-04D ở Đồng Nai đây là trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tư nhân đầu tiên của nước ta, đã đưa vào hoạt động ngày 08/03/2007. Trung tâm đăng kiểm 61.03D và 61.04D ở Bình Dương. Trung tâm đăng kiểm tư nhân 60-04D là trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đầu tiên theo mô hình xã hội hóa được đưa vào hoạt động ngày 08/03/2007 tại tỉnh Đồng Nai. Trung tâm có tổng diện tích 7.300m2 nằm trong khu công nghiệp Biên Hòa do công ty TNHH Quốc Tuấn đầu tư, được trang bị dây chuyền thiết bị kiểm định xe du lịch và dây chuyền kiểm định xe tải do Đức sản xuất. Các trung tâm đăng kiểm này đều đạt tất cả những yêu cầu về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực mà nhà nước yêu cầu. Về địa điểm của trung tâm: Địa điểm của trung tâm phù hợp với quy hoạch, có đường giao thông thuận tiện cho xe cơ giới ra vào kiểm định. Về mặt bằng: Mặt bằng trung tâm đảm bảo không bị ngập úng trong mọi điều kiện. Tất cả các trung tâm đều có S mặt bằng lớn hơn so với diện tích mặt bằng tối thiểu mà nhà nước yêu cầu là 6000m2. Hệ thống đường của các trung tâm cho xe cơ giới ra, vào đều đảm bảo theo tiêu chuẩn đường bộ cấp 3 đồng bằng: chiều rộng mặt đường không nhỏ hơn 3 mét và bán kính quay vòng không nhỏ hơn 12 mét để bảo đảm cho phương tiện ra vào thuận tiện. Bãi đỗ xe bảm đảm theo tiêu chuẩn đường bộ cấp 3 đồng bằng. Nhà kiểm định có chiều cao thông xe đều hơn 4.5 mét; có hệ thống thông gió; bảo đảm chiếu sáng phù hợp với các yêu cầu kiểm tra; có hệ thống hút khí thải; chống hắt nước vào thiết bị khi trời mưa, bảo đảm vệ sinh công nghiệp an toàn lao động và phòng chống cháy nổ. Tất cả khu văn phòng bố trí hợp lý, bảo đảm thực hiện tốt việc giám sát công tác kiểm định và thuận tiện cho giao dịch. Về thiết bị kiểm định. Kiểu loại các thiết bị kiểm tra bố trí trong dây chuyền kiểm định phù hợp với kiểu loại thiết bị đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhằm bảo đảm tính thống nhất trong toàn mạng lưới trung tâm kiểm định xe cơ giới trên toàn quốc. Mỗi trung tâm đã trang bị cho một dây chuyền kiểm định tối thiểu các thiết bị như: thiết bị kiểm tra phanh. thiết bị cân trọng lượng. thiết bị đo độ trượt ngang của bánh xe. thiết bị phân tích khí xả. thiết bị đo độ khói. thiết bị đo độ ồn phương tiện và âm lượng. thiết bị kiểm tra đèn chiếu sáng phía trước. thiết bị kiểm tra đồng hồ tốc độ. thiết bị hỗ trợ kiểm tra gầm. thiết bị nâng xe phục vụ cho việc kiểm tra gầm và các bộ phận bên dưới thân xe. thiết bị điện cung cấp cho các trang thiết bị kiểm định khi có sự cố về điện. Về dụng cụ kiểm tra. Dụng cụ kiểm tra của mỗi dây chuyền kiểm định của các trung tâm tối thiểu bao gồm: Dụng cụ kiểm tra độ rơ góc vô lăng lái. Dụng cụ kiểm tra áp suất hơi lốp. Dụng cụ kiểm tra chiều cao hoa lốp. Đèn soi, đèn pin. Búa chuyên dùng kiểm tra. Thước đo các loại. Về mạng lưới thông tin lưu trữ. Mỗi vị trí làm việc đều có 01 thiết bị để nhập, lưu trữ và truyền số liệu. Các thiết bị này đã được nối mạng nội bộ để bảo dảm việc lưu trữ và truyền số liệu. Máy chủ của trung tâm đăng kiểm xe cơ giới được nối mạng với máy chủ của cơ quan quản lý nhà nước về công tác kiểm định để thường xuyên truyền, báo cáo số liệu kiểm định. Chương trình quản lý kiểm định sử dụng tại trung tâm hoà mạng được với chương trình quản lý của cơ quan chuyên ngành. Về nguồn nhân lực. Đăng kiểm viên xe cơ giới là người trực tiếp thực hiện việc kiểm định phương tiện, được cơ quan quản lý nhà nước tổ chức đào tạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ công nhận và cấp thẻ đăng kiểm viên. Nhân viên nghiệp vụ là người trực tiếp thực hiện việc nhận hồ sơ, nhập số liệu, truyền dữ liệu, in ấn chứng chỉ kiểm định; cấp, trả hồ sơ; làm thủ tục di chuyển phương tiện, được cơ quan quản lý nhà nước tổ chức đào tạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Trong quá trình hoạt động kiểm định xe cơ giới, đăng kiểm viên và nhân viên nghiệp vụ đã tham dự các khoá học bổ túc, cập nhập, nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước. Nguồn nhân lực đảm bảo các chức danh: giám đốc, các phó giám đốc, đăng kiểm viên các hạng và nhân viên nghiệp vụ. Tất cả đăng kiểm viên của các trung tâm tư nhân đều đã được gửi đi đào tạo ở trung tâm đào tạo đăng kiểm viên của Cục đăng kiểm và đã trải qua quá trình thực tập tại trung tâm với thời gian là 6 tháng, còn đối với nhân viên nghiệp vụ thì là 1 tháng. Lãnh đạo của các trung tâm đều là những đăng kiểm viên hạng II và có đầy đủ kiến thức cũng như năng lực quản lý. Số lượng đăng kiểm viên tối thiểu của một trung tâm đăng kiểm xe cơ giới phụ thuộc vào số lượng dây chuyền kiểm định tại trung tâm đó. Các trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp của Cục đăng kiểm Việt Nam, chịu trách nhiệm về phương tiện đã đăng kiểm, hàng năm báo cáo lên Cục tình hình hoạt động của trung tâm mình. 2.2.2. Thành tựu. Đáp ứng nhu cầu kiểm định do tăng trưởng phương tiện. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phương tiện giao thông nói chung và phương tiện giao thông đường bộ nói riêng không ngừng gia tăng. Kéo theo đó là sự tăng mạnh mẽ của nhu cầu kiểm định. Đơn vị: chiếc Số lượng ôtô, xe máy . Năm 2006 Năm 2007 Số ôtô đang lưu hành. 655.753 78.668 Số ôtô sản xuất lắp ráp mới. 53.867 104.401 Số ôtô nhập khẩu được kiểm tra. 12.619 29.605 Số xe máy được lắp ráp mới. 2.553.593 3.263.968 Theo quy hoạch đến năm 2007, cả nước ta cần phải có 92 trung tâm đăng kiểm với 130 dây chuyền đăng kiểm vậy mà hiện mới chỉ có 83 trung tâm với 105 dây chuyền. Chính vì vậy mà ta luôn thấy tình trạng quá tải ở các trung tâm đăng kiểm đặc biệt là ở những tỉnh, thành phố có lưu lượng giao thông lớn như: Hồ Chí Minh, Hà nội, Hải Phòng, Đồng Nai, … Vậy ta thấy việc thành lập các trung tâm đăng kiểm tư nhân với công suất trung bình của mỗi trung tâm là 45 xe/ ngày đã phần nào đáp ứng được nhu cầu kiểm định của PTGTCGĐB Huy động các tiềm năng, nguồn lực của xã hội. Việc xã hội hóa dịch vụ công cộng nói chung và dịch vụ đăng kiểm nói riêng tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động cung ứng dịch vụ này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, khơi dậy được tính sáng tạo và chủ động tích cực của người dân. Từ khi bắt đầu thực hiện đề án xã hội hóa đăng kiểm xe cơ giới đang lưu hành đến nay đã có 6 trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tư nhân được đưa vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư là hơn 40 tỷ đồng và hơn gần 40.000 m2 mặt bằng. Bên cạnh đó, nó còn giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, hàng năm nhà nước phải chi hàng tỷ đồng cho các trung tâm đăng kiểm để duy trì hoạt động, cải tiến khoa học công nghệ, nâng cấp thiết bị kiểm định nhưng đối với những trung tâm đăng kiểm tư nhân ngòai việc kiểm tra thanh tra chất lượng, quy trình chất lượng thì nhà nước không phải hỗ trỡ bất kỳ một khỏan kinh phí nào ngòai ra hàng năm trung tâm đăng kiểm này còn phải nộp khỏan thuế thu nhập không nhỏ vào ngân sách nhà nước… Chính vì vậy mà xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm không những huy động các tiềm năng, nguồn lực xã hội mà còn giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước. Nâng cao chất lượng, tạo sự cạnh tranh lành mạnh. Như chúng ta đã biết trước khi công tác xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành được triển khai thì công tác đăng kiểm chỉ do các trung tâm nhà nước đảm nhận chính vì vậy mà dẫn đến tình trạng độc quyền, dẫn đến tình trạng hoạt động không hiệu quả ở các trung tâm này. Công tác xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm đã tạo môi trường cạnh tranh giữa các trung tâm đăng kiểm nhà nước và trung tâm đăng kiểm tư nhân, tạo cơ hội cho chủ những phương tiện cơ giới lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất phù hợp nhất. Các trung tâm đăng kiểm tư nhân chịu sự giám sát của Cục đăng kiểm nếu có sự sai phạm gì thì họ sẽ bị đình chỉ hoạt động hoặc tước giấy phép hoạt động và do hoạt động vì mục đích lợi nhuận nên họ không ngừng thu hút khách hàng chính vì vậy mà họ phải không ngừng đầu tư, cải tạo dây chuyền thiết bị, kiểm tra giám sát hoạt động kiểm định của trung tâm để nâng cao chất lượng kiểm định cạnh tranh với các trung tâm đăng kiểm nhà nước. Trước tình hình đó các trung tâm đăng kiểm tư nhân muốn có được khách hàng thì họ cũng phải không ngừng hoàn thiện về máy móc dây chuyền kiểm định cũng như thái độ phục vụ khách hàng. 2.2.3. Hạn chế. Quá trình xã hội hoá dịch vụ công nói chung và dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn, khai thác được các tiềm năng của các thành phần kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu đạt được vẫn còn không ít những tồn tại. 2.2.3.1. Thủ tục đăng ký thành lập trung tâm đăng kiểm còn phiền hà, phức tạp. Để đăng ký thành lập trung tâm đăng kiểm trước hết các cá nhân, tổ chức có nhu cầu tham gia hoạt động kiểm định cần nộp Hồ sơ bao gồm: Đơn đăng ký thành lập và Đề án thành lập Trung tâm gửi Cục ĐKVN. Cục đăng kiểm sẽ cử người xuống kiểm tra cụ thể địa điểm, mặt bằng, quy hoạch giao thông của khu đất dự kiến xây dựng và tính khả thi của dự án. Căn cứ vào tiêu chuẩn, quy định hiện hành, Cục đăng kiểm xem xét ra văn bản thoả thuận, và khi có văn bản này các tổ chức cá nhân làm thủ tục thành lập tại các cơ quan chức năng địa phương và tiến hành đầu tư xây dựng theo các tiêu chuẩn, quy định hiện hành. Nếu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày có thoả thuận, tổ chức, cá nhân không đầu tư xây dựng thì văn bảo thoả thuận sẽ hết hiệu lực. Tổ chức, cá nhân gửi nhân lực tham gia các khoá đào tạo đăng kiểm viên hạng III và nhân viên nghiệp vụ, sau khi có chứng chỉ đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, các học viên phải thực tập tại các Trung tâm trong thời gian tối thiểu là 6 tháng đối với đăng kiểm viên và 01 tháng đối với nhân viên nghiệp vụ. Khi hoàn chỉnh các thủ tục thành lập, xây dựng, chuẩn bị về cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng thông tin lưu trữ truyền số liệu, có nguồn nhân lực phù hợp với Tiêu chuẩn trung tâm đăng kiểm xe cơ giới. Các tổ chức cá nhân thông báo bằng văn bản cho Cục ĐKVN tiến hành kiểm tra và cấp giấy chứng nhận hoạt động kiểm định xe cơ giới cho trung tâm. Trường hợp có những điểm thông báo bằng văn bản để đơn vị khắc phục. Như vậy ta thấy ngoài việc cần đầu tư lượng vốn khá lớn khoảng 6.2 tỷ VNĐ chưa kể mặt bằng, thì thủ tục thành lập trung tâm khá phức tạp, đòi hỏi cần có một khoảng thời gian khá dài kể từ thời điểm đăng ký thành lập trung tâm đến khi có quyết định được thành lập trung tâm. 2.2.3.2. Chất lượng đăng kiểm viên và chất lượng xe được kiểm định đang là vấn đề cấp bách. Theo Cục đăng kiểm Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân hoặc Nhà nước muốn tham gia xã hội hóa đăng kiểm ôtô phải có đủ kỹ sư chuyên ngành ôtô đạt tiêu chuẩn vào các vị trí giám đốc, phó giám đốc, đăng kiểm viên. Đăng kiểm viên phải là kỹ sư ôtô được tuyển chọn đưa đi đào tạo nghiệp vụ đăng kiểm. Sau thời gian đào tạo lý thuyết 2-3 tuần, họ được đưa đi thực tập 6 tháng tại các trung tâm đăng kiểm hiện hữu, sau khi kiểm tra, đạt chuẩn họ mới được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng kiểm viên. Đăng kiểm viên muốn đạt chức danh giám đốc và phó giám đốc trung tâm phải qua thời gian dài làm việc, được đào tạo nhiều khóa về quản lý kinh tế, kỹ thuật và phải qua nhiều lần kiểm tra mới được Cục Đăng kiểm công nhận...Ngoài ra, theo đề án xã hội hóa đăng kiểm, doanh nghiệp phải tự bỏ tiền ra để đào tạo đăng kiểm viên. Và để theo đúng quy chuẩn trên, các doanh nghiệp phải cần rất nhiều thời gian và tiền đầu tư mới có đủ người đủ điều kiện làm việc. Do đó họ chọn cách tìm kiếm nhân lực từ những nguồn có sẵn. Một số doanh nghiệp đã áp dụng "chiêu" săn lùng, khuyến dụ đăng kiểm viên đang làm việc ở các trung tâm đăng kiểm hiện hữu với những lời hứa hẹn hấp dẫn về lương cao, chế độ ưu đãi lớn... Tuy nhiên, nguồn này cũng không được dồi dào, nên họ chuyển qua tuyển chọn đăng kiểm viên trước đây làm việc ở các trung tâm đã bị kỷ luật hoặc cho thôi việc vì liên quan đến tiêu cực. Những đăng kiểm viên yếu kém về đạo đức như thế này liệu có đảm bảo rằng họ sẽ không vi phạm khi họ tham gia ở các trung tâm đăng kiểm tư nhân này, những phương tiện mà họ kiểm định liệu có đảm bảo chất lượng. Như vậy chất lượng đăng kiểm viên tại các trung tâm đăng kiểm đang là vấn đề cấp bách, việc tuyển chọn đăng kiểm viên vô cùng quan trọng họ không những phải giỏi về chuyên môn mà còn phải có đạo đức. Theo kết quả từ một số cuộc thanh tra do Bô GTVT tiến hành cho thấy còn một số lỗi ở các trung tâm đăng kiểm tư nhân như là sử dụng hơn 1/3 là công nhân, trong khi quy định tòan bộ đăng kiểm viên phải tốt nghiệp đại học cơ khí hoặc ôtô trở lên; bỏ qua nhiều hạng mục bắt buộc phải kiểm định nhưng vẫn kết luận và ký vào phiếu kiểm định là đạt. Vì vậy ta thấy các trạm đăng kiểm tư nhân hoạt động phần nào mang lại sự cạnh tranh bình đẳng thuận tiện cho các chủ phương tiện, nhưng còn về độ chính xác và chất lượng thì đang còn là vấn đề quan tâm của xã hội CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ ĐANG LƯU HÀNH. Qua việc đánh giá thực trạng xã hội hóa công tác đăng kiểm ta có thể thấy rằng việc tăng cường quản lý nhà nước đối với những trung tâm đăng kiểm tư nhân là một việc cấp bách và cần thiết. 3.1. Bổ sung, hòan chỉnh hệ thống văn bản pháp lý. Thời gian qua, Bộ giao thông vận tải và Cục đăng kiểm đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành. Trước tình hình thực tế vô cùng đa dạng và phức tạp, hệ thống văn bản này vẫn chưa bảo đảm tạo ra một môi trường pháp lý hòan chỉnh và đồng bộ để điều tiết hoạt động của các trung tâm đăng kiểm tư nhân. Chính vì vậy hòan thiện hệ thống pháp luật là giải pháp vô cùng quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Thứ nhất: Sửa đổi, hòan chỉnh các văn bản pháp luật không còn phù hợp với điều kiện thực tế. Do điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, các thành phần kinh tế đa dạng hơn, nên nhiều văn bản ban hành trước đây đã không còn phù hợp vì vậy mà cần phát hiện ra những điểm bất cập và nhanh chóng bổ sung, hòan thiện cho thích ứng với yêu cầu của cuộc sống. Thứ hai: Tăng cường tính đồng nhất của hệ thống văn bản pháp lý có liên quan đến công tác xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm. Sự không đồng bộ của hệ thống văn bản pháp lý trong xã hội hóa công tác đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành đã làm nảy sinh những mâu thuẫn giữa văn bản pháp luật này với văn bản pháp luật khác làm giảm hiệu lực pháp lý của nó và đẫn đến tình trạng thực thi trái ngược nhau. Chính vì vậy Cục đăng kiểm Việt nam cần soạn thảo những văn bản pháp lý đồng nhất trình Bộ Giao thông vận tải phê duyệt như những văn bản quy định về quy trình đăng kiểm, tiêu chuẩn về an tòan kỹ thuật và bảo vệ môi trường, về mức phí kiểm định… Thứ ba: Cần ban hành sớm và đầy đủ thông tư hướng dẫn đối với văn bản pháp luật liên quan tới công tác xã hội hóa dịch vụ đăng kiểm. Trên thực tế hay xảy ra hiện tượng sau khi các văn bản pháp luật được ban hành thì các thông tư hướng dẫn thường đi sau rất lâu, nên thậm chí ngay cả khi văn bản pháp luật đã có hiệu lực thực thi thì các đối tượng vẫn lúng túng vì chưa biết phải làm như thế nào. Chính vì vậy ban hành những văn bản pháp lý đồng nhất thôi chưa đủ, song hành với nó cần phải ban hành những chỉ thị thông tư hướng dẫn trung tâm đăng kiểm tư nhân còn nhiều bỡ ngỡ để các trung tâm này có thể thực hiện tốt hơn. 3.2. Tăng cường hoạt động quản lý của Cục đăng kiểm đối với các trung tâm đăng kiểm. Nhà nước thực hiện sự quản lý vĩ mô đối với các tổ chức sản xuất và cung ứng dịch vụ trong xã hội. Đối với dịch vụ công nói chung và dịch vụ đăng kiểm PTGTCGĐB nói riêng Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho xã hội vì vậy mà việc quản lý nhà nước có một số nét đặc thù riêng như: Nhà nước phải đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận những loại dịch vụ công cộng thiết yếu mà Nhà nước đã ủy quyền cho các tổ chức ngòai Nhà nước cung cấp. Nhà nước phải đảm bảo giá cả của các loại dịch vụ này ở mức chấp nhận được. Nhà nước phải đảm bảo cho những nhóm thành viên đặc thù trong xã hội cũng có quyền và khả năng tiếp cận các loại dịch vụ này như những người dân ở các vùng sâu, hải đảo… Nhà nước bảo đảm chất lượng của các dịch vụ công do cơ sở ngòai nhà nước cung ứng. Do những yêu cầu nói trên mà hoạt động quản lý của nhà nước đối với cơ sở ngoài nhà nước không giống như quản lý những cơ sở sản xuất kinh doanh những hàng hóa dịch vụ thông thường khác. Bên cạnh việc nhà nước điều tiết những hoạt động của cơ sở này bằng hệ thống luật pháp chung mà nhà nước còn quản lý bằng cách can thiệp vào các hoạt động. Đăng kiểm PTGTCGĐB đang lưu hành cũng là một dịch vụ công cộng chính vì vậy mà để quản lý hiệu quả các trung tâm đăng kiểm tư nhân nhà nước cần Thứ nhất: điều tiết về giá cả. Nếu để các trung tâm đăng kiểm tư nhân tự quy định về giá cả, vì họ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận nên họ sẽ tăng giá để kiếm lời, làm ảnh hưởng tới lợi ích những chủ xe cơ giới chính vì vậy mà nhà nước cần phải quy định một mức giá phù hợp thống nhất trung cho cả trung tâm công và trung tâm đăng kiểm tư nhân. Bên cạnh đó, nếu có sự biến động của thị trường thì cần tiến hành điều chỉnh mức giá sao cho phù hợp. Thứ hai: Kiểm tra giám sát hoạt động của các trung tâm đăng kiểm tư nhân. Hiện nay, trên thực tế ở nước ta có hiện tượng sau khi Nhà nước cấp phép hoạt động cho các cơ sở ngòai nhà nước thì không thu được các thông tin cần thiết về hoạt động của cơ sở này, do đó, không giám sát hoạt động của các cơ sở này. Ngành đăng kiểm là ngành yêu cầu tính chính xác cao chính vì vậy mà xã hội hóa đạt được mục tiêu đề ra thì Cục đăng kiểm Việt nam cần phải giám sát chặt chẽ các trung tâm đăng kiểm tư nhân, ngoài việc đặt ra các tiêu chuẩn về thiết bị, nhân lực, cơ chế vận hành thì thanh tra Cục đăng kiểm Việt Nam sẽ phải thường xuyên kiểm tra định kỳ và đột xuất các trạm đăng kiểm tại hiện trường và kiểm tra trên mạng. Phải xử lý nghiêm khắc đối với trung tâm đăng kiểm nào vi phạm, nếu tram đăng kiểm nào vi phạm nhiều lần sẽ bị dừng hoạt động hoặc đóng cửa. 3.3. Tạo đìêu kiện thuận lợi và hỗ trợ cho các trung tâm đăng kiểm tư nhân. Tăng cường hoạt động quản lý của Cục đăng kiểm đối với các trung tâm đăng kiểm tư nhân không có nghĩa là Cục đặt sự quản lý và can thiệp trực tiếp vào hoạt động của các trung tâm. Sự quản lý các trung tâm đăng kiểm tư nhân nhằm mục đích: Cục nắm bắt được thông tin về tình hình hoạt động của các trung tâm đăng kiểm để từ đó đề ra các chính sách quản lý thích hợp, xử lý những hành vi vi phạm của các trung tâm đó. Tăng cường quản lý nhà nước không có nghĩa là hạn chế sự phát triển của các cơ sở này, mà nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cần thiết cho các trung tâm đó phát triển lành mạnh, hoạt động có hiệu quả hơn. Chính vì vậy mà bên cạnh việc quản lý chặt chẽ, Cục đăng kiểm cần tạo điều kiện và hỗ trợ cho các trung tâm đăng kiểm tư nhân phát triển. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.TS Lê Chi Mai - Cải cách dịch vụ Công ở Việt Nam – PGS.TS Lê Chi Mai - Nhà xuất bản chính trị quốc gia. GS.TS Đỗ Hoàng Tòan - TS Mai Văn Bưu - Quản lý nhà nước về kinh tế - Nhà xuất bản giáo dục. GS.TS Vũ Huy Từ - Thạc sỹ Nguyễn Khắc Hùng – Hành chính học và cải cách hành chính – Nhà xuất bản chính trị quốc gia. Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý - Cải cách hành chính vấn đề cần thiết đổi mới cho bộ máy nhà nước. Cục Đăng kiểm Việt Nam - Tuyển tập các văn bản pháp lý có liên quan đến công tác kiểm định xe cơ giới lưu hành. Bộ Giao thông Vận tải - Cục Đăng kiểm Việt nam - Tổng hợp số liệu về phương tiện giao thông đang lưu hành trong cả nước 12/2007. Cục Đăng kiểm Việt nam – 40 năm VR và sự kiện. Tạp chí đăng kiểm số 1 & 2 /2008. Tạp chí Quản lý nhà nước số 132 tháng 1/2007. Tạp chí Tổ chức nhà nước tháng 6/2007. www.vr.org.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docXã hội hoá dịch vụ đăng kiểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đang lưu hành.DOC