Chuyên đề Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á

Mục lục Mở đầu 6 Chương I : Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á ( NASB ). 8 I.Vài nét về công tác thẩm định nói chung và NASB nói riêng 8 1. Khái niệm dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại. 8 1.1. Khái niệm dự án đầu tư 8 1.2. Khái niệm thẩm định dự án đầu tư 8 1.3. Cơ sở thẩm định dự án đầu tư. 9 1.4. Mục đích, yêu cầu đối với thẩm định dự án đầu tư. 9 1.4.1. Mục đích. 9 1.4.2. Yêu cầu 10 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động của ngân hàng thương mại. 10 2.1. Khái niệm về chất lượng thẩm định dự án đầu tư. 11 2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định dự án 11 2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại. 12 2.3.1. Các nhân tố chủ quan. 12 2.3.1.1. Trình độ, kinh nghiệm của cán bộ thẩm định dự án. 12 2.3.1.2. Xây dựng và thực hiện quy trình, nội dung, phương pháp thẩm định dự án. 13 2.3.1.3. Tổ chức điều hành. 14 2.3.1.4. Quan hệ khách hàng – ngân hàng. 14 2.3.1.5. Chất lượng thông tin. 15 2.3.1.6. Trang thiết bị công nghệ. 15 2.3.2. Các nhân tố khách quan. 15 2.3.2.1. Môi trường kinh tế và môi trường pháp lý. 15 2.3.2.2. Các nhân tố từ phía chủ dự án. 16 II. Tổng quan hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 16 1. Quá trình hình thành và phát triển của NASB. 16 2. Ngành nghề kinh doanh 18 2.1.Huy động vốn: 18 2.2.Hoạt động tín dụng: 18 2.3. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 18 2.4.Các hoạt động khác 18 3.Sản phẩm và dịch vụ cung cấp 19 4.Cơ cấu tổ chức hiện tại của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 19 5.Bộ máy quản lý điều hành 21 5.1.Hội đồng quản trị 21 5.2. Ban kiểm soát: 21 5.3. Tổng giám đốc 21 5.4.Bộ máy giúp việc 21 5.5. Các phòng ban và chức năng: 21 6. Tình hình hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 24 6.1. Tình hình huy động và sử dụng vốn của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 24 6.2. Tình hình hoạt động trong các lĩnh vực khác của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á 27 6.2.1.Hoạt động tín dụng 27 6.2.2.Công tác bảo lãnh 28 6.2.3.Công tác kế toán và dịch vụ ngân hàng 29 6.2.4. Công tác kinh doanh ngoại tệ 29 6.2.5.Công tác thanh toán xuất nhập khẩu 29 6.3. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: 30 III. Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 32 1. Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại NASB trong thời gian qua. 32 2. Các bước thẩm định một dự án đầu tư 33 3. Quy trình nghiệp vụ thẩm định 34 4. Phương pháp thẩm định: 34 5. Nội dung thẩm định dự án 35 5.1. Thẩm định về sự cần thiết của dự án 35 5.2. Thẩm định phương diện thị trường của dự an 35 5.3. Thẩm định về công nghệ kĩ thuật của dự án. 36 5.3.1. Quy mô sản xuất và sản phẩm của dự án 36 5.3.2. Địa điểm xây dựng dự án 36 5.3.3. Công nghệ và trang thiết bị 36 5.3.4. Quy mô và giải pháp xây dựng 37 5.3.5. Thẩm định việc nhập nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác. 37 5.4. Thẩm định tổ chức điều hành dự án. 38 5.5. Thẩm định tài chính dự án. 38 5.5.1. Nội dung thẩm định tài chính dự án. 39 5.5.1.1. Tính toán chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án. 39 5.5.2. Thẩm định phương diện kinh tế xã hội. 42 6. Lập báo cáo thẩm định dự án. 44 7. Minh họa nội dung thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 45 7.1. Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư dự án. 47 7.2. Thẩm định về thị trường. 47 7.2.1.Nhu cầu của thị trường. 47 7.2.2. Dự báo nhu cầu điện năng. 48 7.3. Thẩm định về công nghệ kĩ thuật của dự án. 49 7.4. Thẩm định về tổ chức điều hành của dự án 50 7.5. Thẩm định tài chính dự án . 51 7.6. Rủi ro và các biện pháp phòng ngừa rủi ro. 55 7.6.1. Rủi ro do tăng tổng mức đầu tư. 55 7.6.2. Rủi ro từ việc huy động vốn của chủ đầu tư vào dự án. 55 7.6.3. Không đủ nguồn nước cung cấp cho nhà máy thuỷ điện Thái An. 55 7.6.4. Rủi ro xảy ra do lũ lụt, động đất. 56 7.6.5. Rủi ro giảm giá bán điện. 56 7.7. Thẩm định về tài sản đảm bảo . 56 III. Đánh giá về công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 57 1. Những kết quả đạt được : 57 1.1. Phương pháp thẩm định. 57 1.2. Thiết bị thông tin. 58 1.3. Đội ngũ cán bộ thẩm định 58 1.4. nội dung thẩm định. 58 1.5. Tổ chức điều hành. 58 2. Những hạn chế cần khắc phục. 59 3. Nguyên nhân 60 Chương II : Một số giải pháp để hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 61 1. Phương hướng kế hoạch của NASB. 61 2. Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại NASB. 62 2.1. Quan tâm đúng mức về việc tuyển chọn và đào tạo cán bộ thẩm định. 62 2.2. Hoàn thiện quy trình và phương pháp thẩm định. 63 2.3. Tìm hiểu, xây dựng hệ thống thông tin về khách hàng. 64 2.4. Rút ngắn hơn nữa thời gian thẩm định. 65 2.5. Thực hiện quy chế, cơ chế thẩm định dự án đầu tư. 65 3. Một vài kiến nghị. 65 3.1. Kiến nghị với nhà nước. 66 3.2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước. 66 Kết luận 68 Mở đầu Công tác thẩm định dự án đầu tư luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng trước khi quyết định đầu tư góp vốn hay cho vay vốn. Vì thực tế đã cho thấy rất nhiều dự án không mang lại hiệu quả dự kiến cả về mặt kinh tế và xã hội. Nhiều dự án đang triển khai phải ngừng thực hiện, hoặc phải thay đổi trên nhiều phương diện đã đưa ngân hàng đã đầu tư vào con đường bế tắc và có nguy cơ không thu hồi được vốn. Đặc biệt là các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng là những dự án thường kéo dài và chưa thể tạo ra ngay các sản phẩm cho xã hội. Nếu không có công tác thẩm định dự án thì dự án sẽ rủi ro rất lớn, gây khó khăn cho nền kinh tế và ngay bản thân hoạt động ngân hàng.Nó có thể tạo ra có thể tạo ra các áp lực cho nền kinh tế như giá cả, lạm phát, lãi suất Chính vì vậy, công tác thẩm định dự án đầu tư là một yêu cầu cần thiết đối với các ngân hàng nói chung và ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á nói riêng khi quyết định đầu tư góp vốn hay cho vay vốn. Trong điều kiện các nguồn lực xã hội còn khan hiếm và có hạn như ở nước ta, để đảm bảo được các mục tiêu kinh tế, xã hội mà Đảng và nhà nước đã đề ra và nhằm thích ứng với quy trình phát triển kinh tế, với những thay đổi sâu sắc đã và đang diễn ra trên đất nước ta - bối cảnh một nền kinh tế đang thích ứng với cơ chế thị trường trong môi trường cạnh tranh khi ra nhập tổ chức kinh tế thế giới (WTO) và xu thế toàn cầu hoá, đòi hỏi phải sử dụng các nguồn lực trên một cách hợp lý mang lại hiệu quả như đã định không, thì chỉ có thể thông qua công tác xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư. Xuất phát từ quan điểm trên, em đã cố gắng nghiên cứu lý luận và thực tiễn và chọn đề tài : “Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á”. Với mục đích nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thẩm định dự án đầu tư cùng với việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thẩm định dự án trong hoạt động đầu tư ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á để từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện thẩm định dự án trong hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp bài viết của em được chia làm hai chương như sau : Chương I : Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á ( NASB). Chương II: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại NASB. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo đã giúp đỡ nhiệt tình để hoàn thiện đề tài này.

doc69 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 15/05/2013 | Lượt xem: 1618 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Thực trạng và một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
– Ki + SVi CFi : Là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ i của dự án, i chạy từ 0 đến n Ki : Đầu tư năm i. r : là tỷ lệ chiết khấu được chọn. Bi:  Dòng thu năm i. Ci : Dòng chi năm i SVi: Giá trị còn lại năm i. n là thời gian hoạt động của dự án. · Ý nghĩa của NPV: NPV là một chỉ tiêu rất quan trọng giúp cho các chủ đầu tư cũng như các ngân hàng ra quyết định tài trợ dự án nên có thể coi đây là chỉ tiêu chính nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. + Khi NPV>0 thì tỉ lệ lợi nhuận của dự án lớn hơn tỉ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro (lãi suất chiết khấu), trong khi đó NPV<0 cho thấy dự án sinh lời với tỉ lệ thấp hơn tỉ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro. + NPV0, dự án đủ trả vốn và lãi vay, có lợi nhuận bằng NPV ở hiện tại. + NPV<0, dự án không có hiệu quả tài chính, cần xem xét lại. · Chỉ tiêu tỉ suât hoàn vốn nội bộ ( IRR ). Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiết khấu mà ứng với nó tổng giá trị hiện tại thu nhập bằng tổng giá trị hiện tại chi phí. Hay IRR của một dự án được định nghĩa là lãi suất chiết khấu làm cho NPV của dự án bằng 0. Tức là khi đó lãi suất chiết khấu k = IRR. Nếu chủ đầu tư huy động vốn với lãi suất r để thực hiện một dự án đem lại lãi suất IRR thì: Nếu IRR < r dự án sẽ lỗ, tức là NPV <0 Nếu IRR = r thì dự án sẽ hoà vốn, tức là NPV = 0. Nếu IRR > r thì dự án sẽ lãi, tức là NPV > 0 Qua đó ta thấy rằng: IRR là một tỷ lệ lãi rất quan trọng để xác định hiệu quả tài chính của một dự án. Điều đó giúp các ngân hàng khi ra quyết định cho vay dự án nhằm hạn chế những rủi ro mà dự án đem lại. IRR là tỷ lệ lãi mà nếu thay nó để xác định NPV thì NPV = 0 tức là: NPV = = 0. Vì vậy để xác định IRR ta cho NPV = 0 và giải phương trình này để tìm nghiệm IRR. Tuy nhiên việc giải phương trình này một cách trực tiếp rất phức tạp, nhiều khi không thể được. Chính vì vậy mà ta có thể sử dụng phương pháp nội suy hay ngoại suy để tìm nghiệm. Phương pháp nội suy và ngoại suy đều cho công thức tính là: Công thức : IRR = r1 + Trong đó: Chọn r1,  r2 sao cho NPV cùng lớn hơn 0 (hoặc cùng nhỏ hơn 0) và cùng gần bằng 0. NPV1, NPV2 là NPV tương ứng với lãi suất chiết khấu. · Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (PP). Thời gian hoàn vốn của một dự án là khoảng thời gian cần thiết để những khoản thu nhập tăng thêm được tạo ra từ dự án hoàn trả số vốn đầu tư ban đầu. Nói một cách tổng quát là khoảng thời gian để chủ đầu tư thu hồi được số vốn đã đầu tư vào dự án. Công thức: PP = Số năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư + Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đầy biến động và rủi ro thì thời gian thu hồi vốn đầu tư là vấn đề được chủ đầu tư và ngân hàng rất quan tâm. Vì thời gian thu hồi vốn đầu tư càng dài thì nhà tài trợ càng phải đương đầu với rủi ro trong việc thu hồi vốn. Do đó nhà tài trợ cũng như Ngân hàng thường ưa thích những dự án có thời gian hoàn vốn thấp. Tuy nhiên chỉ tiêu này có nhược điểm là không quan tâm đến giá trị theo thời gian của tiền và không quan tâm đến dòng tiền sau mốc hoàn vốn. Để khắc phục nhược điểm này, Người ta đã đưa ra phương pháp tính PP theo phương pháp trừ dần hoặc cộng dồn, dưới đây là phương pháp trừ dần: Gọi Ki là số vốn đầu tư quy về năm i để thu hồi tiếp CFi là lợi nhuận + khấu hao năm i Ti = Ki – CFi là số vốn đầu tư đã thu hồi một phần tại năm i sẽ chuyển sang năm i + 1 để thu hồi tiếp. Ta có: Ki+1 = Ti (1+r) hay Ki = Ti-1 (1+r) · Điểm hòa vốn của dự án. Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ trang trải các khoản chi phí bỏ ra. Công thức : Sản lượng hòa vốn: Xhv = f/ ( p – v ) Doanh thu hòa vốn : DThv = f/ ( 1 – v/p ) Trong đó : X là số lượng sản phẩm bán ra P là giá bán một đơn vị sản phẩm V là biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm F là định phí 5.5.2. Thẩm định phương diện kinh tế xã hội. Hiện nay tiêu chuẩn môi trường ở các nước phát triển thường quy định khắt khe, buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải chi những khoản tiền rất tốn kém để chống ô nhiễm. Trước tình hình đó nhiều nhà sản xuất để giảm chi phí thì đã chuyển công nghệ hiện đại gây ô nhiễm nặng sang các nước kém phát triển để đầu tư. Ở các nước chậm phát triển vì nghèo nên vấn đề bảo vệ môi trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Hậu quả là chỉ trong một thời gian không dài sau khi mở cửa vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng và khó khắc phục. Đây là bài học cho các nhà đầu tư và quản lý đầu tư phải quan tâm. Các nhà thẩm định phải thẩm định hiệu quả gia tăng của sản phẩm hàng hóa gồm giá trị gia tăng trực tiếp của sản phẩm hàng hóa tức là do chính hoạt động của dự án sinh ra hay giá trị gia tăng gián tiếp là giá trị sản phẩm hàng hóa thu được từ các dự án khác hoặc các hoạt động kinh tế khác do phản ứng dây chuyền mà dự án đang xem xét. Ngoài ra, để thẩm định về phương diện kinh tế xã hội thì phải thẩm định khả năng tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, mức độ đóng góp cho ngân sách (như thuế, thuê tài sản cố định, ….),và thẩm định dự án có góp phần phát triển các ngành khác, phát triển khu nguyên liệu,hay góp phần phát triển kinh tế địa phương, tăng cường kết cấu hạ tầng địa phương và phát triển các dịch vụ thương mại, du lịch tại địa phương. Thực tế, các cán bộ thẩm định dự án của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã thực hiện việc phân tích rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, song đôi lúc, việc đánh giá rủi ro chưa được thực hiện bài bản, chưa khoa học, chỉ mang tính hình thức. Để đánh giá dự án một cách xác đáng, cán bộ tín dụng phải phân định rõ hai khái niệm, tài trợ dự án và tài trợ doanh nghiệp. Phân định rõ hai khái niệm này sẽ giúp cho cán bộ thẩm định xác định rõ những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án. Bảng 1.5: Phân biệt tài trợ dự án và tài trợ doanh nghiệp. Các khái niệm Tài trợ dự án Tài trợ doanh nghiệp Tính chất dự án Dự án mới Dự án mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc lắp đặt dây chuyền sản xuất mới Chủ đầu tư Doanh nghiệp mới thành lập trực tiếp quản lý, điều hành dự án Doanh nghiệp đã và đang hoạt động sản xuất kinh doanh, không chỉ quản lý một dự án mà còn rất nhiều dự án đã đi vào hoạt động. Nguồn trả nợ ngân hàng Nguồn thu của dự án Nguồn thu của doanh nghiệp Nếu là tài trợ dự án, rủi ro sẽ nằm trong các mối quan hệ liên quan dự án: quan hệ giữa chủ đầu tư với nhà thầu, với nhà cung cấp nguyên vật liệu, với người tiêu thụ sản phẩm… nếu là tài trợ doanh nghiệp, rủi ro không chỉ ở dự án mà ngân hàng định đầu tư mà còn ở chính bản thân chủ đầu tư với tình hình tài chính và khả năng điều hành những dự án khác… 6. Lập báo cáo thẩm định dự án. Trên cơ sở kết quả thẩm định theo các nội dung quy định như trên, cán bộ Phòng tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á lập Báo cáo thẩm định để trình lên cấp trên. Báo cáo thẩm định là tài liệu dạng văn bản trong đó nêu rõ, cụ thể những kết quả của quá trình thẩm định, đánh giá dự án xin vay vốn của khách hàng cũng như các ý kiến đề xuất đối với các kiến nghị của khách hàng. Trong quá trình thẩm định dự án, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á có hai loại báo cáo thẩm định : Báo cáo thẩm định của Cán bộ thẩm định tại các chi nhánh. Báo cáo thẩm định của Cán bộ thẩm định tại Hội sở chính. Đối với các dự án đề nghị vay vốn của khách hàng có mức đề nghị vay vượt quá mức uỷ quyền phán quyết của Tổng Giám đốc cho chi nhánh thì chi nhánh phải chuyển hồ sơ và báo cáo thẩm định lên Hội sở chính Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á để xem xét, thẩm định và lập Báo cáo thẩm định trình lên Tổng Giám đốc xem xét, quyết định. Báo cáo thẩm định phải đảm bảo có các nội dung chính sau: Giới thiệu về khách hàng và dự án đề nghị vay vốn. Kết quả thẩm định về hồ sơ pháp lý và khách hàng vay vốn. Kết quả thẩm định dự án. Kết quả thẩm định biện pháp bảo đảm tiền vay. Phân tích và đề xuất các biện pháp giảm thiểu rủi ro. Sau khi phân tích, cán bộ Phòng tín dụng sẽ tổng hợp đánh giá dự án trên hai mặt chính : Thuận Lợi và Khó khăn của dự án. Từ đó đưa ra các ý kiến đề xuất về việc cho vay hay không cho vay. Theo quy định chung thì việc thẩm định do phòng thẩm định đảm nhiệm, nhưng do hiện nay Hội sở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á chưa có phòng thẩm định riêng nên việc thẩm định diễn ra tại Phòng tín dụng và do Cán bộ tín dụng trực tiếp đảm nhiệm và thực hiện đúng theo các nội dung và hướng dẫn tại quy trình thẩm định do Hội sở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á ban hành. 7. Minh họa nội dung thẩm định dự án đầu tư vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. Tên dự án : dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện Thái An. Giới thiệu về chủ đầu tư : Công ty cổ phân thủy điện Thái An. Công ty cổ phần thuỷ điện Thái An có tư cách pháp nhân, giấy phép đăng ký kinh doanh do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hà Giang cấp ngày 13/01/2000.. Địa chỉ của trụ sở chính : Khu chung cư Hà Trung, phường Quang Trung, thị xã Hà Giang, tỉnh Hà Giang. · Ngành nghề đăng ký kinh doanh gồm có: Sản xuất kinh doanh điện năng, sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng các công trình điện trung, hạ áp và trạm biến áp đến 35KV, kim loại màu, khai thác khoáng sản, kim loại màu, xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ điện, giao thông, dịch vụ thương mại. · Mục tiêu trước mắt là đầu tư xây dựng, quản lý và vận hành nhà máy thuỷ điện Thái An tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Công ty cổ phần thuỷ điện Thái An được thành lập theo đúng các quy định của pháp luật. Trong đăng ký kinh doanh của công ty có thể hiện rõ công ty được phép làm chủ đầu tư xây dựng quản lý các công trình thuỷ điện. Như vậy, có thể đánh giá công ty có đủ năng lực pháp lý để xây dựng và vận hành nhà máy thuỷ điện Thái An, hồ sơ pháp lý đầy đủ, đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng. Giới thiệu dự án đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện Thái An và nhu cầu vay vốn. · Tên dự án: Công trình thuỷ điện Thái An. · Địa điểm đầu tư: Huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. · Chủ đầu tư: Công ty thuỷ điện Thái An. · Hình thức đầu tư: Xây dựng mới đồng bộ, hoàn chỉnh. · Hình thức quản lý: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án. · Phương thức cho vay: Tài trợ dự án. · Công suất lắp máy: 82MW · Công suất đảm bảo: 13,5MW. · Sản phẩm chính: Điện năng. · Điện năng trung bình một năm: 375,5x106KWh. · Tổng vốn đầu tư cho dự án : 1.689.818 triệu đồng. Trong đó: Vốn chủ sở hữu và nguồn vốn tự huy động: 489.689 triệu đồng chiếm gần 29% tổng vốn đầu tư. Vốn vay Ngân hàng: 1.200 tỷ đồng. Chiếm 71% tổng vốn đầu tư. Nhu cầu vay vốn của khách hàng: Số tiền xin vay: 1.200.000 triệu đồng. Thời hạn xin vay: 12 năm. 7.1. Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư dự án. Tỉnh Hà Giang có điều kiện tự nhiên rất phức tạp, nhiều đồi núi, sông, suối. Nguồn thủy năng đó rất phù hợp với việc xây dựng các nhà máy thủy điện. Xác định rõ những tiềm năng hiện có, đồng thời để phát huy hết năng lực về nguồn vốn cũng như khả năng hoạt động kinh tế của mình, công ty cổ phần thủy điện Thái An đã thành lập dự án xây dựng nhà máy thủy điện Thái An và được UBND tỉnh chấp nhận cho thực hiện dự án xây dựng nhà máy thuỷ điện Thái An tại Tỉnh Hà Giang có nhiệm vụ sản xuất điện năng và cung cấp điện cho hệ thống điện Quốc gia thông qua đường dây 110 Kv thủy điện Thái An - TBA 110 KV Hà Giang. Hàng năm nhà máy sản xuất một lượng điện bình quân 357 triệu KWh để cung cấp cho hệ thống. Phần này thì cán bộ thẩm định đã tham khảo quy hoạch phát triển ngành, đây là văn bản quan trọng mang tính định hướng trong việc phát triển ngành điện, do vậy cán bộ thẩm định nêu được dự án mà ngân hàng đang thẩm định nằm trong quy hoạch phát triển ngành là rất tốt. 7.2. Thẩm định về thị trường. 7.2.1.Nhu cầu của thị trường. Theo các nhà chuyên môn đánh giá thì Hà Giang là tỉnh có tiềm năng thủy điện. Chỉ tính riêng hai con sông Miện và Nho Quế đã có tổng lượng điện năng kỹ thuật có thể khai thác là 1.200 triệu KWh. Sông Miện có trữ năng lý thuyết khoảng 720 đến 820 triệu KWh và trữ năng kỹ thuật hơn 550 đến 650 triệu KWh, với công suất lắp máy khoảng 120 MW. Theo số liệu hiện có, tỉnh Hà Giang có 11 trạm thủy điện nhỏ công suất từ 40 KW đến 1600 KW và khoảng 3000 đến 5000 chiếc máy thủy điện cực nhỏ. Để dự phòng và chạy bù vào mùa kiệt trong toàn tỉnh có 8 trạm Diesel gồm 11 máy với công suất đạt 1.420 KW trong đó có công suất khả dụng 895 KW. Sản lượng điện thương phẩm cung cấp cho tỉnh tăng từ 8 triệu KWh năm 1995 lên tới 45,2 triệu KWh năm 2002, bình quân tăng 22%/năm, và đến năm 2005 là 64,1 triệu KWh. Như vậy, để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn theo phương hướng của tỉnh, trong chiến lược phát triển dài hạn, nhằm để tăng tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ trong GDP hàng năm của tỉnh, tỉnh ta đã có nhiều biện pháp thiết thực như khuyến khích mở rộng đa ngành nghề các loại hình sản xuất công nghiệp và dịch vụ của tỉnh, tăng cường hợp tác và mở rộng trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua cửa khẩu với tỉnh bạn Trung Quốc, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng phát triển kinh tế trong đó có việc đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh... 7.2.2. Dự báo nhu cầu điện năng. Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước với mức tăng GDP khoảng 8,5% - 9%/năm giai đoạn 2006 - 2010 và cao hơn, dự báo nhu cầu điện nước ta tăng ở mức 17%/năm (phương án cơ sở), 20%/năm (phương án cao) trong giai đoạn 2006 - 2015, trong đó xác định phương án cao là phương án điều hành, chuẩn bị phương án 22%/năm cho trường hợp tăng trưởng đột biến. Phát triển nguồn điện phải đáp ứng nhu cầu phụ tải nêu trên. Đảm bảo thực hiện tiến độ xây dựng các nhà máy thủy điện có các lợi ích tổng hợp như: chống lũ, cấp nước, sản xuất điện; phát triển hợp lý, có hiệu quả các nguồn nhiệt điện khí; đẩy mạnh xây dựng nhiệt điện than; phát triển thủy điện nhỏ, năng lượng mới và tái tạo cho các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo; chủ động trao đổi điện năng có hiệu quả với các nước trong khu vực; đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển bền vững. Bên cạnh đó là phát triển lưới điện truyền tải và phân phối một cách đồng bộ với chương trình phát triển nguồn điện. Thực hiện việc hiện đại hóa và từng bước ngầm hóa lưới điện các thành phố, thị xã, hạn chế tác động xấu đến cảnh quan, môi trường. Áp dụng các biện pháp giảm tổn thất điện năng theo quy định. Tiếp tục thực hiện các chương trình đầu tư phát triển điện nông thôn đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phấn đấu đến năm 2010 có 95% và năm 2015 có 100% các xã có điện. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia xây dựng các dự án nguồn điện và các dự án lưới điện phân phối theo các hình thức đầu tư được pháp luật nhà nước quy định. Tính toán giá mua - bán điện theo hướng thị trường và khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia đầu tư các dự án nguồn điện. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là đơn vị giữ vai trò chính trong việc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện đầu tư phát triển các công trình lưới điện đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư; đầu tư các dự án nguồn điện theo nhiệm vụ được giao.  Bộ Công nghiệp căn cứ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Ban hành kèm theo quyết định này là danh mục các dự án điện sẽ đi vào vận hành. Theo đó năm 2007 sẽ đưa vào hệ thống thêm  2.096 MW, 2008 là 3.721MW, 2009 là 3.393 MW, 2010 là 4.960 MW, năm 2011 là 5.401 MW, 2012 là 6.554 MW, 2013 là 7.309 MW, 2014 là 7.177 MW và 2015 là 7.722 MW...  7.3. Thẩm định về công nghệ kĩ thuật của dự án. Tính đến giữa tháng 3, Công ty Xây dựng số 1 (đơn vị nhận thầu xây dựng đập dâng nước của Thủy điện Thái An) đã đổ bê tông vai trái đập từ cao trình 384 lên cao trình 387, với khối lượng 1.118m3bê tông. Theo thiết kế, đập dâng nước có chiều rộng 26m, chiều dài 43m, cao 47m (tính từ đáy đập). Hiện nay, đập dâng nước đã ở độ cao 3m. Với hạng mục này, chủ đầu tư và nhà thầu quyết tâm sẽ thi công đạt 10.000 m3 bê tông trước mùa mưa lũ (từ nay đến tháng 6.2008). Đến nay, nhà thầu đã thi công đào 500 m3đất đá đường vai phải của đập, đánh nhám, tẩy rửa 400 m2 khối bê tông từ mặt cắt 51 – 70; ghép cốt pha, chuẩn bị vật liệu đổ khối đổ thứ 2 của mặt cắt này với khối lượng 400m3bê tông. Cùng với hạng mục đổ bê tông đập dâng nước, Công ty Xây dựng số 1 cũng tiến hành đào cửa nhận nước được hơn 1.000 m3 đất đá, đổ bê tông cốt thép, mở xong cửa hầm nhận nước. Tuyến năng lượng và khu vực nhà máy do Công ty TNHH Xây dựng và lắp đặt thủy điện Triết Giang đảm nhiệm. Đường hầm tuyến năng lượng của Thủy điện Thái An có chiều dài khoảng 4 km, từ đập dâng nước đến khu vực nhà máy. Đường hầm sẽ được đào xuyên qua núi, yêu cầu phải có thiếtbị hiện đại, đội ngũ kỹ sư, công nhân lành nghề, kinh nghiệm thi công mới đảm bảo độ chính xác cũng như tiến độ thi công chung của công trình. Để thực hiện được tuyến hầm năng lượng, Công ty TNHH Xây dựng và lắp đặt thủy điện Triết Giang đã mở 3 đường hầm phụ ở các điểm khác nhau trên trục đường hầm năng lượng để thi công, mỗi đường hầm phụ có chiều dài từ 120m đến 170m. Hiện nay, cửa hầm phụ số 1 đã đưa được 2 máy nén khí, kéo đấu nối điện 0.4 kv vào đến cửa hầm phục vụ thi công; đang tập kết vật liệu để đổ bê tông vòm cửa hầm. Cửa hầm phụ số 2 đang tiến hành gia công cốt thép chuẩn bị đổ bê tông; thiết kế kỹ thuật mở cửa hầm phụ số 3. Công ty TNHH Xây dựng và lắp đặt thủy điện Triết Giang còn đảm nhiệm san ủi mặt bằng nhà máy, mặt bằng trạm tăng áp. Hiện nay, 2 hạng mục trên đã thi công xong, xây xong kênh dẫn dòng có chiều dài 190m. Thời điểm này, công ty đang thi công phần móng của nhà máy. Theo thiết kế, móng của nhà máy có độ sâu 9m, đây cũng là một hạng mục quan trọng cần có trình độ kỹ thuật và chuyên môn cao. Với những nỗ lực của chủ đầu tư, nỗ lực của các nhà thầu, có thể nói Thủy điện Thái An đang được đẩy nhanh tiến độ thi công. Theo kế hoạch, đến quý IV. 2009 tổ máy số 1 của nhà máy sẽ đi vào hoạt động là điều hết sức khả thi. 7.4. Thẩm định về tổ chức điều hành của dự án Dự án do Công ty cổ phần thủy điện Thái An làm chủ đầu tư.Với đội ngũ công nhân, kỹ sư lành nghề, dày dạn kinh nghiệm, hai nhà thầu đã thi công đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công các hạng mục của công trình. 7.5. Thẩm định tài chính dự án . Bảng 1.6 : Cân đối tài chính của doanh nghiệp. Đơn vị: Triệu đồng. CHỈ TIÊU NĂM 2006 NĂM 2007 NĂM 2008 Tài sản 660.357 710.562 790.456 I.TSLĐ và ĐTNH 280.256 276.567 275.023 Tiền Các khoản phải thu Hàng tồn kho TSLĐ khác 56.230 95.345 120.561 8.120 64.230 102.565 100.421 9.351 69.234 109.982 95.510 297 II. TSCĐ và ĐTDH 380.101 433.995 515.433 - TSCĐ - Đầu tư tài chính dài hạn - Chi phí xây dựng cơ bản dở dang. 270.361 230 9.510 398.895 230 34.870 440.567 230 74.636 Nguồn vốn 660.357 710.562 790.456 I. Nợ phải trả 378.267 310.849 280.102 - Nợ ngắn hạn - Nợ dài hạn - Nợ khác 152.256 143.678 82.333 150.675 130.012 30.162 160.564 91.380 28.158 II, Vốn chủ sở hữu 282.090 399.713 510.354 (Nguồn: Báo cáo tài chính của công ty Cổ phần Thái An) Bảng 1.7 : Kết quả sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá của doanh nghiệp. CHỈ TIÊU Đơn vị Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Kết quả hoạt động kinh doanh Doanh thu thuần Triệu đồng 750.562 770.230 800.125 Lợi nhuận sau thuế Triệu đồng 120.102 110.023 99.290 ROE = LNST/VCSH % 42,58 27,53 19,45 ROA = LNST/ΣTS % 18,19 15,48 12,56 Khả năng thanh toán Khả năng thanh toán ngắn hạn (= TSLĐ/ Nợ đến hạn) Khả năng thanh toán nhanh = (TSLĐ - Tồn kho)/ Nợ NH. Lần Lần 1,84 1,05 1,83 1,17 1,71 1,12 Khả năng thanh toán tức thời = ( Tiền mặt/ Nợ đến hạn) Lần 0,37 0,43 0,44 Cơ cấu nguồn vốn/ đòn cân nợ. Tỷ lệ nợ trên tài sản % 57,28 43,75 35,44 Tỷ lệ VCSH trên TS % 42,72 56,25 64,56 Tỷ lệ nợ trên VCSH 1,34 0,78 0,55 Vốn lưu động thường xuyên (= TSLĐ và ĐTNH - Nợ NH) Triệu đồng 128.000 125.892 114.459 Sử dụng vốn Vòng quay vốn lưu động ( = DTT/ TSLĐ bình quân) Vòng 1,68 2,71 2,91 Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho BQ Vòng 5,43 6,87 7,35 Vòng quay các khoản phải thu = DTT/ Các khoản phải thu BQ Vòng 7,87 7,51 7,28 (Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty Thái An). Nhận xét về cơ cấu nguồn vốn: Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty tăng qua các năm, năm 2008 nguồn vốn chủ sở hữu của công ty đạt hơn 510 tỷ đồng, tăng 228,264 tỷ đồng (80,9%) so với năm 2006 do được bổ sung từ nguồn lợi nhuận hằng năm của công ty. Điều này cho thấy rằng khả năng tự chủ về tài chính của công ty được đảm bảo, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán ngắn hạn đều được đảm bảo. Đối với cơ cấu tài sản: Tổng tài sản của công ty giảm chủ yếu là tài sản cố định và đầu tư dài hạn giảm qua các năm, nguyên nhân là do tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có lãi nên công ty thực hiện trích khấu hao nhanh để thu hồi vốn, điều này cũng chứng tỏ rằng hiệu suất sử dụng tài sản nói chung và tài sản cố định nói riêng của công ty đạt hiệu quả cao. Cân đối giữa nợ phải thu và nợ phải trả cho biết công ty đã chiếm dụng được vốn của các bạn hàng và các đơn vị có liên quan để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong khi đó việc thu hồi các khoản phải thu của công ty diễn ra nhanh bình quân 45 đến 50 ngày / vòng. Đặc biệt, công ty cổ phần thủy điện Thái An luôn có mối quan hệ tốt với ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội và ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á, được thể hiện trong quan hệ tín dụng công ty luôn vay trả đúng hạn, không có nợ quá hạn. Dựa vào tình hình hoạt động và sản xuất kinh doanh của nhà máy thuỷ điện, dựa vào báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong bảng trên, ngân hàng còn tiến hành thẩm định về mặt tài chính của dự án theo các dữ liệu sau: · Tổng vốn đầu tư: 1.689.818 triệu đồng. Trong đó: Chi phí xây dựng: 682.378 triệu đồng. Chi phí thiết bị : 437.395 triệu đồng. Chi phí quản lý dự án và chi phí khác: 265.734 triệu đồng. Chi phí giao thông ngoài công trường: 144.011 triệu đồng. Chi phí đường dây 110KV: 34.276 triệu đồng. Chi phí đền bù, di dân, tái định cư: 5.764 triệu đồng. Dự phòng: 120.261 triệu đồng. · Nguồn vốn đầu tư. Trong đó : Vốn chủ sở hữu và nguồn vốn tự huy động: 489.689 triệu đồng chiếm gần 29% tổng vốn đầu tư. Vốn vay Ngân hàng: 1.200 tỷ đồng. Chiếm 71% tổng vốn đầu tư. Sản lượng điện hàng năm E0 : 331,88 triệu KWh. Giá bán điện (chưa thuế VAT) là 656đ/ 1 số điện. · Lãi suất vay: Tối thiểu bằng VNĐ : 13,8%/năm. Tối thiểu bằng USD: 7,5%/năm. · Ưu đãi về thuế TNDN: 4năm đầu kể từ khi có lãi: 0%/năm 8 năm tiếp theo tính là 5%/năm 3 năm tiếp theo tính là 10%/năm Kể từ năm thứ 16 thuế TNDN tính là 28%/năm. Trong 4 năm đầu và năm thứ 21 đến 22 dự án thu được nguồn VATdv sẽ được khấu trừ. Sau khi thiêt lập các bảng tính doanh thu, chi phí… Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã đưa ra các kết luận thẩm định tài chính dự án như sau: · Giá trị hiện tại ròng của dự án (NPV) là 110.178 triệu đồng ( với tỷ suất chiết khấu là 11,53%/năm). · Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR) là 12,52 %. · Thời gian hoàn vốn của dự án là 18 năm kể từ khi dự án đi vào hoạt động. · Thời gian hoàn vốn vay: 9,5 năm. · Lãi suất cho vay: bình quân tạm tính cho dự án là 12,16%/năm. · Lãi suất chiết khấu: được xác định theo nguyên tắc bình quân gia quyền của các chi phí về nguồn vốn đầu tư tại thời điểm thẩm định (bao gồm cả chi phí vốn tự có và chi phí vốn vay), theo đó tính được lãi suất chiết khấu là 12,7%/năm. Nhận xét: Dự án có NPV>0 với giá trị là 110.178 triệu đồng và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR cao hơn so với tỷ suất chiết khấu. Thời gian hoàn vốn của dự án là 18 năm , đây là thời gian hoàn vốn trung bình so với các dự án thuỷ điện cùng quy mô. Như vậy dự án này có tính khả thi cao và doanh nghiệp có đủ khả năng trả nợ Ngân hàng. 7.6. Rủi ro và các biện pháp phòng ngừa rủi ro. 7.6.1. Rủi ro do tăng tổng mức đầu tư. Theo các nhà tư vấn thiết kế thì tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt rất khó, có khả năng tăng vượt trội so với con số hiện tại. Tuy nhiên, phần thiếu hụt này nếu có xảy ra thì chủ đầu tư đã có văn bản cam kết sẽ bổ sung thêm vốn tự có. Với cơ chế cổ phần, khi hiện tại cổ phiếu ngành điện cũng đang được thị trường rất quan tâm thì khả năng huy động vốn từ việc phát hành thêm cổ phiếu là không quá khó khăn, do đó rủi ro này có thể kiểm soát được. 7.6.2. Rủi ro từ việc huy động vốn của chủ đầu tư vào dự án. Qua việc phân tích, đánh giá khả năng góp vốn của chủ đầu tư vào dự án thì thấy rằng rủi ro này đối với dự án nhà máy thuỷ điện Thái An là tương đối thấp. Thực tế khi đi thẩm định khách hàng, qua quá trình làm việc với công ty cổ phần thuỷ điện Thái An, thấy rằng chủ đầu tư hoàn toàn có khả năng góp đủ vốn như đã cam kết với ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 7.6.3. Không đủ nguồn nước cung cấp cho nhà máy thuỷ điện Thái An. Theo các chuyên gia trong ngành thuỷ điện thì phương pháp tính toán để xác định thuỷ năng của các nhà máy thuỷ điện là xác định dòng chảy bình quân của số liệu lịch sử trong vòng 25 năm. Tuy vậy, lưu vực tuyến công trình nhà máy thuỷ điện Thái An lại hoàn toàn không có tài liệu đo dòng chảy, do đó quá trình tính toán xác định dòng chảy thiết kế tại tuyến công trình phải sử dụng các phương pháp tính trong trường hợp không có tài liệu. Tư vấn thiết kế đã lựa chọn kết quả tính dòng chảy năm theo phương pháp tương tự thuỷ văn, chọn trạm thuỷ văn Đạo Đức (Hà Giang) làm trạm tương tự. Trạm Đạo Đức có tài liệu nghiên cứu dài, liên tục từ năm 1960 đến nay nên chất lượng tài liệu rất đáng tin cậy. Hơn thế nữa, lưu vực tuyến Thái An là một lưu vực nhánh của sông Lô nằm ở thượng lưu trạm thuỷ văn Đạo Đức, nên các điều kiện tương tự nhau. Vì vậy, số liệu tính toán có độ tin cậy cao. Tóm lại thì các tính toán đã khẳng định lượng nước cung cấp cho nhà máy thuỷ điện Thái An đủ để dự án phát huy hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế. Do đó rủi ro này cũng nằm trong tầm kiểm soát. 7.6.4. Rủi ro xảy ra do lũ lụt, động đất. Các nhà tư vấn thiết kế và thẩm định thiết kế đã tính toán rất kỹ lưỡng đến vấn đề này trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật. Tuy nhiên, để giảm rủi ro có thể xảy ra do nguyên nhân này, ngân hàng đã yêu cầu chủ đầu tư mua bảo hiểm công trình trong quá trình xây dựng và khi nhà máy đi vào hoạt động. 7.6.5. Rủi ro giảm giá bán điện. Khi nhà máy chủ trương thị trường hoá ngành điện trong tương lai thì việc bán điện sẽ căn cứ theo cung cầu điện tại từng khu vực và thời điểm, thông qua hình thức đấu giá. Hiện nay, EVN đã áp dụng thử việc đấu giá giá bán điện và sản lượng bán đối với các nhà máy thuộc EVN. Để việc này diễn ra được, theo nhận định của một số chuyên gia EVN cần thời gian rất dài. Tuy vậy, hiện nay cần khẳng định là cầu về điện năng đang vượt qua cung và trong vòng 15 năm tới tình trạng này sẽ vẫn tiếp tục. Bên cạnh đó, căn cứ giá điện hiện nay của Việt Nam so với khu vực thì điện Việt Nam hiện đang thấp hơn khoảng từ 5 đến 10%, dự đoán giá điện bán cho EVN chỉ có thể tăng chứ không giảm. 7.7. Thẩm định về tài sản đảm bảo . Qua thẩm định, thấy giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có thời hạn là 50 năm. Tuy nhiên, đây là đất được mà nhà nước cho thuê nên không có giá trị thế chấp khi vay vốn ngân hàng. Ngân hàng chỉ sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo tính pháp lý, giá trị tài sản thế chấp tạm tính thep tổng vốn đầu tư là 1.689.818 triệu đồng. Tóm lại là đủ khả năng đảm bảo cho khoản vay. III. Đánh giá về công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 1. Những kết quả đạt được : Công tác thẩm định dự án đầu tư tại NASB trong thời gian qua đã góp phần nâng cao doanh số cho vay cũng như chất lượng tín dụng, mở rộng các hoạt đông, tỷ lệ nợ quá hạn và rủi ro tín dụng giảm bớt. Các kiến nghị, kết luận của các cán bộ tín dụng được rút ra qua quá trình thẩm định dự án đầu tư là cơ sở quan trọng để hội đồng tín dụng cũng như tổng giám đốc xem xét ,đánh giá và quyết định các khoản vay.Còn đối với chủ dự án, thì kết quả thẩm định tín dụng dự án đầu tư và các yêu cầu của ngân hàng đối với chủ đầu tư sẽ giúp chủ đầu tư hoàn thiện dự án, tuân thủ các quy định về quản lý đầu tư, về tài chính kế toán cũng như các quy định, quy chế về cho vay của Nhà nước. Ngoài ra, với trình độ chuyên môn và kiến thức sâu rộng của mình, các cán bộ thẩm định còn đóng vai trò như nhà tư vấn giúp cho chủ đầu tư về các lĩnh vực như nguồn cung cấp đầu vào, phương thức tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ, phương án địa điểm, lựa chọn thị trường…Mặc dù vẫn còn nhiều điểm thiếu sót trong công tác thẩm định dự án đầu tư tại NASB nhưng nó cũng đã đạt được những kết quả nhất định như: 1.1. Phương pháp thẩm định. Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã biết kết hợp giữa các phòng ban trong ngân hàng đặc biệt là phòng công nghệ tin học và phòng tín dụng đã giúp các cán bộ tín dụng có được các thông tin chính xác, nhanh chóng và phong phú hơn. Để nâng cao chất lượng thẩm định bên cạnh việc chủ động thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài, các cán bộ tín dụng văn phòng hội sở ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã phối hợp với các cơ quan hữu quan để thu thập thông tin nhằm giải quyết những vướng mắc nảy sinh, góp phần hạn chế đáng kể việc đầu tư cho các dự án xấu, giảm thiểu rủi ro cho hoạt động của ngân hàng. 1.2. Thiết bị thông tin. Công tác thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã được quan tâm, đầu tư thỏa đáng, tất cả các cán bộ thẩm định đều được trang bi mỗi người một máy vi tính nối mạng internet, một điện thoại cố định, bàn làm việc riêng biệt, không gian làm việc rộng rãi, thoáng mát….Đặc biệt, để hỗ trợ cho hoạt động thẩm định thì ngân hàng đã ứng dụng một số phần mềm cho soạn thảo, tính toán nên đã làm tăng đáng kể tốc độ và tính chính xác của các chỉ tiêu cần thẩm định. 1.3. Đội ngũ cán bộ thẩm định Cán bộ thẩm bộ ở ngân hàng được tuyển chọn kĩ lưỡng và không ngừng được đào tạo, nâng cao trình độ từ thực tế làm việc tại ngân hàng và qua quá trình học tập tại các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ thẩm định cho cán bộ ngân hàng nên đội ngũ cán bộ thẩm định dự án đều là những cán bộ có kinh nghiệm công tác và đạt được một trình độ nhất định, có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực kinh tế cũng như các chính sách và qui chế của ngân hàng, đặc biệt ở đây đều là những người có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình với nghề nghiệp, có trách nhiệm cao trong công việc. Với xu hướng hội nhập quốc tế, nội dung thẩm định không chỉ dừng lại ở việc xem xét dự án riêng lẻ mà còn kết hợp phân tích tình hình doanh nghiệp, khả năng quản lý của cán bộ quản lý doanh nghiệp. Sắp tới ngân hàng còn cử các cán bộ thẩm định đi học tiếp lớp nâng cao nghiệp vụ thẩm định, cho thấy ngân hàng đang rất quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ thẩm định trở thành những chuyên viên lành nghề và có thể đáp ứng được mọi yêu cầu của công việc. 1.4. nội dung thẩm định. Nội dung thẩm đinh dựa theo quy chế đã đặt ra, các dự án đầu tư đều phải được tiến hành thẩm định theo các nội dung qui trình một cách đầy đủ và chi tiết. Do đó, các báo cáo thẩm định bao giờ cũng rất chi tiết và kỹ lưỡng. 1.5. Tổ chức điều hành. Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã xây dựng được một quy trình thẩm định từ hội sở đến chi nhánh. Những dự án có tầm quan trọng lớn, đòi hỏi nguồn vốn lớn vượt quá mức phán quyết của chi nhánh đều gửi tới bộ phận tái thẩm định ở Hội sở ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á thẩm định lại. Vì vậy, các thông tin, kết quả thẩm định được sàng lọc, kế thừa và có độ chính xác cao. Trên đây là một số đóng góp và thành tựu đáng khích lệ của hoạt động thẩm định dự án trong thời gian qua. Tuy nhiên, xét một cách khách quan, toàn diện thì bên cạnh những kết quả đáng mừng đó, công tác thẩm định dự án vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục. 2. Những hạn chế cần khắc phục. Nhìn chung, tất cả các dự án đều đã được cán bộ phòng tín dụng của văn phòng hội sở ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á thẩm định và đi tới quyết định có nên cho vay hay không. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, vì văn phòng hội sở mới chỉ có phòng tín dụng, các anh chị trong phòng vẫn phải kiêm luôn cả việc thẩm định do đó, tại văn phòng hội sở này vẫn chưa có một lưu đồ quy trình thẩm định dự án cụ thể hướng dẫn các cán bộ trong phòng tín dụng thực hiện thẩm định nên nhiều khi việc thẩm định dự án chưa được quan tâm đúng mức.Ngoài ra, đội ngũ cán bộ thẩm định của ngân hàng, chuyên môn về kỹ thuật và xây dựng còn nhiều hạn chế. Đây cũng chính là mặt tồn tại ở hầu hết các ngân hàng. Các cán bộ thẩm định đa phần chỉ có được sự hiểu biết ở một số lĩnh vực nhất định, trong khi đó, các dự án lại đa lĩnh vực, yêu cầu phải có kiến thức tổng hợp về rất nhiều ngành. Vì vậy, những vấn đề này cần phải được quan tâm, khắc phục sớm. Ngân hàng còn có hạn chế trong việc thẩm định tài chính dự án đầu tư khi chưa quan tâm đến việc tính toán điểm hoà vốn của dự án. Chỉ tiêu độ nhạy của dự án tuy đã được đề cập đến song chỉ có một số ít dự án là được cán bộ thẩm định xem xét và phân tích chỉ tiêu này, còn lại hầu hết các dự án đều không đề cập đến, nếu có cũng chỉ mang tính hình thức. Điều đó cho thấy, cán bộ thẩm định của ngân hàng dường như chưa hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp này, mà như đã biết, một số dự án chỉ cần một sự thay đổi nhỏ các chỉ tiêu như giá, lãi suất… đã làm cho dự án đó thay đổi về hiệu quả, từ đó dự án có tính khả thi có thể trở thành không còn khả thi nữa. Đó chính là rủi ro do biến động của thị trường. Đối với các dự án có độ dài từ 5 năm trở nên thì biến động thị trường là không thể tránh khỏi. 3. Nguyên nhân Do các văn bản pháp luật hiện đang trong quá trình điều chỉnh để phù hợp với điều kiện kinh tế mới nên gây ra nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong đó có NASB trong việc nắm bắt để hoạch định chính sách tín dụng cho phù hợp, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Các cán bộ thẩm định ở NASB phần lớn đều được đào tạo chính quy từ các trường thuộc khối kinh tế có uy tín, năng động và hiểu biết. Tuy nhiên, mặt bằng chung họ còn khá trẻ, kinh nghiệm chưa lớn. Mặt khác, họ đều chủ yếu được đào tạo từ các trường thuộc khối kinh tế do đó về mặt kĩ thuật trong quá trình thẩm định còn rất nhiều hạn chế. Hệ thống thông tin được sử dụng trong thẩm định tuy khá hoàn chỉnh nhưng ngân hàng cũng cần tăng cường hơn các biện pháp, nhằm thu thập thông tin chính xác, giảm việc phải dựa nhiều vào tổ chức nước ngoài trong việc tìm kiếm thông tin và thẩm định thông tin sẽ dẫn tới giá cả thông tin cao, buộc ngân hàng phải mất thêm một khoản chi phí. Việc kiểm tra sau khi cho vay, Ngân hàng cũng đã thực hiện khá tốt. Tuy nhiên, cũng cần tăng cường kiểm tra hơn nữa vì các dự án đầu tư thường vay vốn trong thời gian dài với số tiền lớn, do đó, nếu khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích sẽ làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng của dự án sau này và ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng. Chính vì vậy, cùng với sự phát triển của ngân hàng, hoạt động thẩm định dự án cũng đạt được nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên bên cạnh những gì đã đạt được thì hoạt động thẩm định dự án của ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót mà ngân hàng cần phải sớm khắc phục trong thời gian tới để nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thẩm định. Chương II : Một số giải pháp để hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á. 1. Phương hướng kế hoạch của NASB. Trong điều kiện cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn ngày càng diễn ra đa dạng và gay gắ, để đạt được các chỉ tiêu trên chi nhánh thực hiện các giải pháp sau: - Chú trọng các hình thức huy động vốn, trên cơ sở mở rộng và đa dạng hoá các hình thức huy động. Đa dạng hoá các dịch vụ Ngân hàng, tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ Ngân hàng có hiệu quả như: phát triển mạng lưới, ứng dụng công nghệ hiện đại, đổi mới phong các phục vụ khách hàng và áp dụng chính sách khách hàng. - Thường xuyên theo dõi tình hình diễn biến của thị trường tiền tệ, tình hình lãi suất, mức phí của các ngân hàng trên địa bàn đề ra chính sách linh hoạt, mức chi phí phù hợp nhằm giữ vững khách hàng truyền thống và thu hút được khách hàng mới có nhiều tiềm năng. - Chủ động và tích cực tìm kiếm khách hàng tiềm năng, các dự án, các phương án sản xuất kinh doanh khả thi, tạo điều kiện hỗ trợ kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho vay các dự án theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội. Bên cạnh đó, luôn quan tâm duy trì và củng cố đội ngũ khách hàng truyền thống. - Tích cực trao đổi thêm thông tin với các đầu mối thông tin trong nước như Tổng cục thống kê, Bộ thương mại, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ tài chính, Tổng cục hải quan, Văn phòng Chính phủ… để tạo nguồn cung cấp thông tin không chỉ về tín dụng mà cả các thông tin trên thị trường, quy hoạch phát triển, định hướng và chính sách trong từng thời kỳ. - Tích cực áp dụng các chinh sách ưu đãi phù hợp với khách hàng như tặng quà cho các khách hàng có số dư tiền gửi lớn, giao dịch thường xuyên; tặng thẻ VIP của khách hàng lớn; Chính sách ưu đãi về phí lãi suất và tiếp tục đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, tuyên truyền sản phẩm; Xây dựng văn hoá giao dịch của Ngân hàng Bắc Á: nhanh nhẹn, văn minh, lịch sự, ân cần và chu đáo với khách hàng. 2. Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư tại NASB. 2.1. Quan tâm đúng mức về việc tuyển chọn và đào tạo cán bộ thẩm định. Trong môi trường kinh doanh mang tính hội nhập, một ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì nhân sự là vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu, một ngân hàng có được những chuyên viên giỏi, cán bộ quản lý trung và cao cấp tâm huyết với nghề, đạo đức nghề nghiệp tốt thì sẽ là thế mạnh để ngân hàng có thể phát triển và cạnh tranh với các ngân hàng khác.Đặc biệt, những chuyên viên thẩm định dự án đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tham mưu cho các cấp lãnh đạo của ngân hàng để ra quyết định đối với việc tài trợ hoặc cho vay vốn dự án. Do đó, cán bộ thẩm định cần phải hội tụ nhiều yếu tố như trình độ nghề nghiệp, khả năng nắm bắt diễn biến và phân tích thị trường, am hiểu sâu về pháp luật và có đạo đức nghề nghiệp tốt.Chính vì vậy, để xây dựng được một đội ngũ cán bộ thẩm định có năng lực, có trình độ, ngân hàng cần chú trọng đến công tác chọn lọc cán bộ, ngay từ bước đầu cần tuyển chọn những cán bộ có năng lực trong công tác thẩm định. Sau đó phải không ngừng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao tay nghề cho các cán bộ đã được lựa chọn, đặc biệt là đối với cán bộ lãnh đạo phụ trách công tác thẩm định; bằng cách tổ chức những lớp học, những khoá huấn luyện về nghiệp vụ, tổ chức những buổi hội thảo … Ngân hàng đồng thời phải chú ý đến việc tăng cường trách nhiệm của cán bộ tín dụng và lãnh đạo phòng, ban giám đốc trong việc quyết định cho vay và theo dõi, kiểm soát món vay, tránh đại khái, qua loa, hời hợt, thiếu tinh thần trách nhiệm. Những sai phạm của cán bộ thẩm định phải được xem xét, xử lý kỷ luật một cách nghiêm túc. Có như vậy mới có thể có được những cán bộ tốt, có đủ năng lực cũng như đạo đức nghề nghiệp để có thể đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của công tác thẩm định. Ngoài ra, ngân hàng còn phải phân công cán bộ thẩm định một cách khoa học. Việc phân công bố trí công tác thẩm định rất được ngân hàng quan tâm sau khi đã đảm bảo tuyển chọn những cán bộ có năng lực cho hoạt động thẩm định. Bởi vì, sự bố trí đúng người đúng việc là việc làm rất cần thiết, nó làm phát huy được năng lực, sức mạnh của cán bộ thẩm định, từ đó sẽ phục vụ tốt hơn cho quá trình phát triển của ngân hàng. Do đó, cần chú ý các điểm sau : · Trong quá trình công tác, cán bộ quan lý cấp phòng cần chú ý đến năng lực và sở trường của từng cán bộ để có thể phân công công việc phù hợp với năng lực của từng người. · Những cán bộ thẩm định mới vào làm thì cần có cán bộ thẩm định đã có kinh nghiệm rồi hướng dẫn tận tình về quy trình nghiệp vụ và các vấn đề luôn quan khác · Những cán bộ thẩm định mới nếu sau một thời gian rồi mà vẫn không đáp ứng được yêu cầu của công việc thì có thể bố trí sang lĩnh vực khác phù hợp hơn. · Đặc biệt, cần có những biện pháp khen thưởng cũng như kỷ luật kịp thời để tạo được tinh thần làm việc tốt cho các cán bộ. · NASB cần hỗ trợ kinh phí hơn nữa cho công tác thẩm định để trang bị đầy đủ các trang thiết bị và phương tiện làm việc nhằm tạo điều kiện làm việc tốt nhất để cán bộ thẩm định có thể phát huy hết tiềm năng của mình. 2.2. Hoàn thiện quy trình và phương pháp thẩm định. Để có thể hoàn thiện hơn nữa phương pháp thẩm định, ngân hàng cần phải xây dựng được một hệ thống định mức tiêu chuẩn phản ánh hiệu quả tài chính cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Khi đã có được hệ thống định mức này thì cần phải xây dựng được phương pháp tính toán sao cho hợp lý dựa trên những định mức này. Phải chú ý tới những tác động khách quan từ bên ngoài như tình hình kinh tế của đất nước, của quốc tế … Đây chính là vấn đề mà ngân hàng phải xem xét lại. Các chỉ tiêu thẩm định xét về mặt nội dung hầu hết được xây dựng tính toán từ các thành phần liên quan đến doanh thu và chi phí của dự án. Hiệu quả của dự án là sự so sánh giữa hai kết quả trên, do đó có xác định chính xác hai yếu tố bên trong từng trường hợp mới đánh giá đúng hiệu quả của dự án đầu tư. Khi xác định doanh thu và chi phí cần phải nắm vững tất cả các khoản có thể phát sinh từ các loại doanh thu và chi phí chung đến tất cả các loại doanh thu và chi phí riêng có của các dự án đặc thù. Một số tính toán chi phí trong xây dựng chủ yếu dựa trên định mức của nhà nước, trong đó có những định mức không còn phù hợp với những định mức thực tế việc đánh giá dự án mới chỉ dừng lại ở mặt tĩnh, các đánh giá về yếu tố ảnh hưởng đến dự án như lạm phát ít được tính tới. 2.3. Tìm hiểu, xây dựng hệ thống thông tin về khách hàng. Tìm hiểu khách hàng, dự án đầu tư từ các luồng thông tin chính thống, ngoại ngạch, có thể thu thập thông tin từ bạn hàng của khách hàng, từ những đối tượng có liên quan đến khách hàng, uy tín của khách hàng trong công tác thanh toán, chỗ đứng của sản phẩm dịch vụ của khách hàng trên thị trường. Phần lớn các doanh nghiệp khi họ có nhu cầu vay vốn ngân hàng, họ sẽ bằng mọi biện pháp để đạt được mục đích vì vậy hầu hết các thông tin từ nguồn cung cấp của doanh nghiệp phải được xem xét đánh giá lại bằng các nguồn thông tin ngoại ngạch khác. Xây dựng hệ thống thông tin về ngành hàng và khách hàng ngay từ khi họ còn là khách hàng tiềm năng để có được sự đánh giá chính xác về khách hàng trong một quá trình đồng thời tìm kiếm được các khách hàng tốt, dự án phương án tốt, tránh tình trạng chỉ bắt đầu tìm kiếm thông tin về khách hàng, khi họ đặt vấn đề quan hệ tín dụng với ngân hàng dễ dẫn đến tình trạng hiểu biết không đầy đủ về khách hàng và công việc của họ vội vã đưa ra các quyết định tín dụng. Hoàn thiện hệ thống thông tin để hình thành kho dữ liệu về ngành hàng và khách hàng. Hệ thống dữ liệu này phải đáp ứng được các yêu cầu sau: · Phản ánh được tính đặc thù của ngành hàng và khách hàng trong nền kinh tế và đối với việc vay vốn ngân hàng. ·Phản ánh được thực trạng của ngành hàng, khách hàng về hoạt động kinh doanh,tài chính. ·Những ảnh hưởng của cơ chế chính sách và triển vọng phát triển của ngành hàng, khách hàng. Các thông tin này không đòi hỏi phải là thông tin pháp quy, do đó cần thường xuyên cập nhật và phổ biến đến chi nhánh theo đường thông tin nội bộ nhằm phục vụ cho công tác thẩm định và quyết định tín dụng. 2.4. Rút ngắn hơn nữa thời gian thẩm định. Phải đảm bảo thời gian thẩm định là ngắn nhất có thể, để đảm bảo không mất đi cơ hội đầu tư của khách hàng. Điều này đòi hỏi cần có sự cố gắng nỗ lực của cán bộ thẩm định, đòi hỏi cán bộ thẩm định phải luôn làm việc nghiêm túc, chăm chỉ và có trách nhiệm cao. 2.5. Thực hiện quy chế, cơ chế thẩm định dự án đầu tư. Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á cần thường xuyên cập nhật các quy định, chủ trương của nhà nước, của ngành ngân hàng, quán triệt để thực hiện triệt để chủ trương, định hướng chỉ đạo tín dụng cũng như các văn bản chỉ đạo trong từng thời kỳ cụ thể. Để tránh những thiếu sót, nhầm lẫn không đáng có về quy trình, thủ tục trong công tác thẩm định dự án đầu tư. Nghiêm túc thực hiện đầy đủ nội dung, nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao nhất của từng thành viên thẩm định và quyết định cho vay theo trình tự các bước, nội dung cụ thể trong từng bước công việc đã được quy định trong quy trình nghiệp vụ cho vay tại chi nhánh. 3. Một vài kiến nghị. Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thẩm định thì ngoài sự nỗ lực của bản thân các ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á thì sự giúp đỡ của ngân hàng nhà nước và các cơ quan hành chính khác của nhà nước là điều kiện rất quan trọng. 3.1. Kiến nghị với nhà nước. Để công tác thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng thương mại diễn ra thuận lợi thì nhà nước với vai trò là người quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô, nhà nươc cần phải : · Phải công bố quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo từng thời kì. Quy hoạch tổng thể này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại có cơ sở lập kế hoạch tín dụng sao cho phù hợp với yêu cầu của từng ngành kinh tế, đảm bảo được nhu cầu về vốn đầu tư của các doanh nghiệp và phục vụ được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đồng thời tránh được những rủi ro đầu tư sai chỗ của ngân hàng thương mại. · Đối với những doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả thì nên tìm giải pháp cho tiến hành cổ phần hóa hoặc ngừng hoạt động. Chỉ nên duy trì những doanh nghiệp làm ăn có lãi, hoặc những doanh nghiêp có vai trò thực sự quan trọng đối với nền kinh tế. Từ đó sẽ giúp ngân hàng thương mại hạn chế được rủi ro. · Với những quan điểm khuyến khích phát triển và thực hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thì nhà nước cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung các chế độ chính sách để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm…Cần hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính doanh nghiệp hợp lý, khoa học mà không gây phiền hà nhưng chặt chẽ, hiệu quả đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đặc biệt, nhà nước cần tăng cường các biện pháp giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định chính trị để tạo môi trường tốt cho các ngân hàng thương mại hoạt động, cạnh tranh lành mạnh. 3.2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước. Ngân hàng nhà nước Việt Nam với vai trò là ngân hàng trung ương, là cơ quan của nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, do đó, việc tạo sân chơi bình đẳng, hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại phát triển. Chính vì vậy, ngân hàng nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn, định mức hoàn thiện cũng như phải có những quy định, hướng dẫn cụ thể đối với việc thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt về quy trình và thủ tục thẩm định nhằm giúp cho việc thẩm định diễn ra được nhanh chóng thuận tiện và đi vào khuôn khổ. · Cần nâng cao chất lượng thông tin tín dụng CIC. Trung tâm tín dụng CIC là một trong những kênh thông tin quan trọng của ngân hàng thương mại, nó giúp ích cho các ngân hàng thương mại rất nhiều trong việc thẩm định các dự án. Tuy nhiên, với một nền kinh tế đang phát triển sôi động như Việt Nam hiện nay thì lại cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin, cũng như việc phải cập nhật các thông tin mới một cách liên tục, có như vậy thì mới có thể giúp ích hơn nữa cho sự phát triển của ngành ngân hàng. · Ngân hàng nhà nước cần tăng cường hỗ trợ cho việc nâng cao nghiệp vụ thẩm định, trợ giúp về thông tin và kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại. Ngân hàng nhà nước cần phải thương xuyên tổ chức các cuộc hội nghị kinh nghiệm toàn ngành để tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các ngân hàng thương mại trong công tác thẩm định dự án đầu tư. · Ngân hàng nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các ngân hàng thương mại để phát hiện kịp thời những khiếm khuyết trong công tác thẩm định nhằm giảm thiểu rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng nhà nước cần tạo mọi điều kiện để các chính sách, văn bản, nghị quyết của Đảng và chính phủ đến được các ngân hàng thương mại một cách kịp thời và chính xác nhất. Kết luận Kể từ năm 1994, ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á đã có quá trình hình thành và phát triển trong 15 năm, với uy tín trên thị trường tài chính trong nước và quốc tế ngày càng được nâng cao. Để có được vị thế trên con đường phát triển, ngân hàng không chỉ tập trung vốn điều lệ, đầu tư công nghệ kĩ thuật hiện đại, mở rộng mạng lưới mà còn chú trọng việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong các nghiệp vụ. Công tác thẩm định dự án đầu tư là một trong những nghiệp vụ giữ vai trò rất quan trọng trong các nghiệp vụ của ngân hàng. Tuy ngân hàng đã có những thành tựu nhất định về công tác thẩm định nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót cần phải khắc phục.Do đó, ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á cần phải quan tâm, xem xét, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp cho công tác thẩm định dự án đầu tư để nâng cao hơn nữa năng lực và sức cạnh tranh. Do thời gian thực tập và sự hiểu biết của em còn hạn chế nên còn nhiều thiếu sót trong khóa luận tốt nghiệp này, mong cô giáo và các anh chị cán bộ nhân viên của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á thông cảm và đóng góp ý kiến để em hoàn thiện hơn nữa. Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thi Thu Hà và các anh chị cán bộ nhân viên đã hướng dẫn, giúp đỡ em nhiệt tình trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này. Danh mục tài liệu tham khảo Giáo trình lập dự án đầu tư.PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt. Nhà xuất bản khoa học Thống Kê 2005. Phân tích và thẩm định dự án đầu tư.TS. Phước Minh Hiệp. Nhà xuất bản thống kê 1999. Giáo trình quản lý dự án đầu tư. TS. Từ Quang Phương.Nhà xuất bản lao động – xã hội 2005 Báo cáo thường niên của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á các năm 2005,2006,2007,2008. Báo cáo tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á các năm 2007,2008. Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam. Lập – thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư. Ths. Đinh Thế Hiển. NXB thống kê 2004. Ngân hàng thương mại. GS.TS Lê Văn Tư. NXB Tài chính.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA5524.DOC
Luận văn liên quan